1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

18 554 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp, một điều có nhiều khoản thì Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử những khoản có khung hình phạt cao nhất thuộc thẩm quyền của mình..

Trang 1

Lời mở đầu

Nội dung chính I Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự………1

1 Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự……….1

2 Phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của pháp luật……… 2

2.1, Thẩm quyền xét xử theo sự việc……… 2

2.2, Thẩm quyền xét xử theo đối tượng……… 5

2.3, Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ………6

3 Chuyển thẩm quyền xét xử vụ án hình sự……… 8

II Thực trạng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự……….9

1 Thực trạng về việc thực hiện quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án………9

2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự……… 12

Lời kết……… 14

Trang 2

Lời mở đầu

Nếu như chức năng, nhiệm vụ của cơ quan an ninh là điều tra, phòng chống tội phạm thì chức năng, nhiệm vụ của Tòa án là xem xét, quyết định mức độ trừng trị đối với các loại tội phạm đó Để có được hiệu quả trong hoạt động tiến hành tố tụng nói chung và trong công tác xét xử nói riêng thì một yêu cầu đặt ra đó là phải có sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm các loại tội phạm khác nhau Bộ luật tố tụng hình sự đã

có những quy định khá cụ thể về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và trong quá trình áp dụng đã thấy được nhiều ưu điểm Tuy nhiên, bên cạnh những thành công thì còn khá nhiều hạn chế trong các quy định pháp luật này

Nội dung chính

I Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự.

1 Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng và là cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong giai doạn tiếp theo Thẩm quyền của Tòa án theo nghĩa chung nhất được hiểu là quyền xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

Trong tố tụng hình sự thẩm quyền xét xử của Tòa án theo nghĩa rông bao gồm quyền xem xét và quyền giải quyết vụ án, ra bản án hoặc quyết định khác như đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án…Như vậy thẩm quyền của Tòa án bao gồm thẩm quyền về hình thức (quyền xem xét) và thẩm quyền nội dung (quyền hạn giải quyết) Tuy nhiên, trong bài viết này chỉ đề cập đến thẩm quyền hình thức

Trang 3

Nói một cách khái quát nhất, thẩm quyền xét xử sơ thẩm (thẩm quyền về hình thức)

là quyền mà pháp luật quy định cho phép tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn

cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đối tượng phạm tội; nơi phạm tội…

2 Phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của pháp luật.

2.1, Thẩm quyền xét xử theo sự việc.

Sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo sự việc dựa vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm Do Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm nên thẩm quyền xét xử sơ thẩm được phân định giữa hai cấp Tòa

án cấp huyện và tỉnh

Thứ nhất, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án

quân sự khu vực

Khoản 1 Điều 170 BLTTHS quy định: “Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án

quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224,

225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.”

Như vậy, vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện và Tòa án quân sự là những vụ án về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng Đó là những tội phạm có mức định khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù Mặc dù vậy nhưng quy định này không được áp dụng đối với mọi Tòa án nhân dân huyện và Tòa án quân sự khu vực mà tùy theo Tòa án đó

Trang 4

đã được giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ việc hay chưa Quyết định số 24/2003/QH11 về việc thi hành bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ rõ chậm nhất đến ngày 1/7/2009 phải thống nhất thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS Tuy nhiên, cho đến hiện nay thì tinh thần này vẫn chưa được đáp ứng

Trong trường hợp, một điều có nhiều khoản thì Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử những khoản có khung hình phạt cao nhất thuộc thẩm quyền của mình Cấp tòa án này có thẩm quyền xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội nếu các tội phạm đó đều thuộc thẩm quyền xét xử của các tòa

án này Trường hợp, một người đang chấp hành hình phạt mà lại bị truy tố về tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án này thì cũng có thẩm quyền xét xử; trừ trường hợp người bị kết án đã bị tuyên hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà chưa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Tuy nhiên, không phải mọi tội phạm có mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù đều thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án này mà những tội xâm phạm an ninh quốc gia; phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội giết người; giết người trong trạng thái thần kinh bị kích động mạnh… quy định tại điểm a, b, c của khoản 1 Điều

170 BLTTHS dù là tội phạm ít nghiêm trọng đi chăng nữa thì Tòa án nhân dân huyện và Tòa án quân sự đều không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Sở dĩ, để xét xử sơ thẩm một vụ

án hình sự thì một điều rất quan trọng là cơ quan xét xử có đủ năng lực, trình độ chuyên môn hay không và cơ sở vật chất, các cơ quan liên quan có đủ điều kiện cho hoạt động tố tụng hình sự nói chung và công tác xét xử nói riêng hay không Mặc dù một tội phạm thuộc tội ít nghiêm trọng nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng nhưng trong vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, khó xác định, khó chứng minh hay liên quan đến nhiều người, nhiều cấp, nhiều ngành thì cần một trình độ chuyên môn cao hơn và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động điều tra, xét xử cao hơn nhằm nhanh chóng, kịp thời xử lí vụ án, tránh hiện tượng tồn đọng án, bỏ lọt tôi phạm, xử oan, xử sai dẫn đến giảm niềm tin vào cơ quan xét

xử của nhân dân Ví dụ, khi một vụ án giết người có tình tiết “thần kinh bị kích động

Trang 5

mạnh” thì rất dễ nhầm lẫn trong việc định tội danh theo Điều 93 khoản 2 có tình tiết định khung tăng nặng với tội giết người trong trạng thái thần kinh bị kích động mạnh (Điều 95)

So với Điều 145 BLTTHS năm 1988 thì Điều 170 BLTTHS năm 2003 đã mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện và Tòa án quân sự khu vực Đây là một quy định mang ý nghĩa rất lớn nhằm chuyên môn hóa hoạt động của các cấp tòa án và có ý nghĩa chiến lược trong quá trình cải cách tư pháp Quy định này được áp dụng góp phần giảm lượng án tồn đọng ở Tòa án cấp trên, phù hợp với tình hình ngành tòa án hiện nay khi trình độ chuyên môn của Tòa án cấp huyện đang ngày được nâng cao, cơ sở vật chất cũng đã đáp ứng được với những vụ án phức tạp hơn

Thứ hai, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án quân sự

quân khu

Khoản 2 Điều 170 BLTTHS quy định: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án

quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử”

Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án quân sự quân khu có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện và Tòa

án quân sự khu vực Đó là những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc những tội phạm

ít nghiêm trọng, đặc, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng nhưng thuộc các tội được liệt kê tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 và những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp dưới nhưng được Tòa án tỉnh và Tòa án quân sự quân khu lấy lên xét xử Hiện nay, BLTTHS 2003 không có điều nào quy định cụ thể về một vụ án như thế nào thì được Tòa án tỉnh lấy lên xét xử và cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này Vì vậy, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát và Thủ trưởng cơ quan điều tra căn cứ vào tình hình thực tế của các vụ án và năng lực của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán cấp huyện để quyết định vụ án nào cần lấy lên điều tra, truy tố, xét

xử ở cấp tỉnh Thực tế, các tòa án vẫn dựa theo hướng dẫn của thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 12/1/1989 của TANDTC để đưa ra quyết định lấy vụ án lên xét xử

Trang 6

Theo đó, Tòa án cấp tỉnh thường lấy lên xét xử những vụ án phức tạp khó chứng minh hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan công an…

Điều 173 BLTTHS quy định: “Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm

thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên, thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án.”

2.2, Thẩm quyền xét xử theo đối tượng.

Thẩm quyền xét xử theo đối tượng chính là sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào chủ thể của tội phạm và đối tượng bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Thứ nhất, đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án quân sự

BLTTHS năm 2003 không có điều nào quy định cụ thể về các đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nhưng các đối tượng này lại được quy định chi tiết tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức tòa án quân sự 2002 và Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA hướng dẫn về thẩm quyền xét xử Tòa án quân sự Đó

là những người phạm tội là quân nhân, những người có nghề nghiệp hoặc nghĩa vụ quân

sự như quân nhân tại ngũ, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng, quân nhân dự

bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu; dân quân tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; những người được tập trung làm nghĩa vụa quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lí Những người thuộc đối tượng trên khi bị truy tố về

vụ án hình sự sẽ do Tòa án quân sự xét xử mà không phụ thuộc vào họ phạm tội gì hay địa điểm họ phạm tội

Ngoài ra, còn có những đối tượng không thuộc các trường hợp trên cũng do Tòa

án quân sự xét xử đó là những trường hợp phạm tội liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội Bí mật quân sự là bí mật của quân sự, bí mật về an ninh quốc phòng được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Trang 7

ban hành Gây thiệt hại cho quân đội là gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng tự do, danh

dự, nhân phẩm của những đối tượng trên hoặc tài sản của họ được quân đội cấp phát để thực hiện nghĩa vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội (quy định tại điểm 2 mục 1 Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA)

Trong trường hợp một vụ án có cả bị can và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự và có bị can và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ trừ trường hợp tách được vụ án Đối với những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trong thời gian phục vụ trong quân đội hoặc những người đang phục vụ trong quân đội mà phát hiện hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trước khi vào quân đội, thì Toà án quân sự xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội; những tội phạm khác do Tòa án nhân dân xét xử

Thứ hai, thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân có thẩm

quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình có đối tượng không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa

án quân sự Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân rộng hơn Tòa án quân sự vì đối tượng phạm tội lớn hơn và mức độ đa dạng, phức tạp của vụ án cao hơn

2.3, Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.

Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ được phân định căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra vụ án

Khoản 1 Điều 171 BLTTHS quy định: “Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình

sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra” Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ

án hình sự là Tòa án nơi có tội phạm xẩy ra Đối với các tội phạm kéo dài hoặc tội phạm liên tục, khi hành vi phạm tội trong khoảng thời gian khác nhau và địa điểm khác nhau

Trang 8

thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc hành vi phạm tội Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa

án nơi kết thúc việc điều tra

Khoản 2 Điều 171 quy định: “Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt

Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét

xử Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân

sự trung ương”.

Theo quy định trên thì bất kì loại tội phạm nào được thực hiện ở nước ngoài mà xác định được nơi cư trú cuối cùng thì đều do Tòa án nhân dân tỉnh đó xét xử, Tòa án cấp huyện không có thẩm quyền xét xử Sở dĩ, chỉ cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh mới đủ chuyên môn, cơ sở vật chất đáp ứng giải quyết các vụ án có yếu tố nước ngoài, đảm bảo cho các hoạt động tố tụng ở nước ngoài, các quan hệ với các cơ quan tố tụng ở nước ngoài trong ủy thác hoạt động tư pháp, trong tương trợ hoạt động tư pháp, trong dẫn độ tội phạm…

Ngoài những quy định trên Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA còn có quy định cụ thể việc xác định thẩm quyền xét xử những

vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự: các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực thuộc quân khu được xét xử theo quy định tại Điều 171 BLTTHS, còn các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân chủng hải quân và các Tòa án quân sự khu vực quân chủng hải quân thì không áp dụng nguyên tắc lãnh thổ

Có nhiều trường hợp tội phạm xẩy ra trên tàu bay hoặc tàu biển đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam thì vấn đề xác định thẩm quyền xét xử

Trang 9

như thế nào? Như chúng ta đã biết, tàu bay hoặc tàu biển của nước ta là một phần lãnh thổ của nước ta (lãnh thổ di động); vì vậy, mọi tội phạm xảy ra ở đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển được đăng kí (theo quy định tại Điều 172 BLTTHS) Tùy thuộc vào loại tội phạm là loại tội gì để xác định cấp Tòa án xét xử

3 Chuyển thẩm quyền xét xử vụ án hình sự.

Theo quy định tại Điều 174 BLTTHS, khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử Việc chuyển vụ án cho Tòa án ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu quyết định Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Tòa án phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, báo cho bị cáo và những người có liên quan trong vụ án Việc chuyển thẩm quyền xét xử vụ án hình sự được thực hiện trong hai trường hợp trước khi

mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa

Trước khi mở phiên tòa, nếu thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền bất kể đó là vụ việc gì Việc chuyển vụ

án phải do chánh án tòa án quyết định

Trong khi phiên tòa đang diễn ra mới phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đang xét xử thì Tòa án đó tiếp tục xét xử vụ án trừ hai trường hợp: vụ

án đang xét xử thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên hoặc vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; và việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định Như vậy, pháp luật cho phép vi phạm thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ nhưng không cho phép Tòa án cấp dưới vi phạm thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên và Tòa án nhân dân vi phạm thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Quy định này đảm bảo cho việc xét xử diễn ra hiệu quả hơn, linh hoạt trong việc khắc phục sai sót của Tòa án, nếu

vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án này mà việc xét xử lại được tiến hành bởi một Tòa

Trang 10

án ngang cấp khác và việc xét xử đó không làm ảnh hưởng gì đến kết quả khách quan của vụ việc thì việc cứ để cho Tòa án đó xét xử sẽ tránh được những lãng phí, thủ tục không cần thiết, đảm bảo vụ án được nhanh chóng, kịp thời xét xử từ đó nâng cao hiệu quả của công tác xét xử cũng như tránh những khó khăn đối với bị can, bị cáo và những người có liên quan

II Thực trạng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

1 Thực trạng về việc thực hiện quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án.

1.1, Tình hình chung.

Từ khi quy định mới về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được ban hành ngành Tòa án nước ta đã thu được những thành công nhất định trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và trong công tác xét xử nói riêng

Tính từ khi được giao thẩm quyền xét xử mới về hình sự đến ngày 31/12/2007, các Tòa án được giao thẩm quyền mới này thụ lí được 71.618 vụ hình sự với 112.203 bị cáo trong đó số vụ thụ lí theo thẩm quyền mới là 16.057 vụ án và 25.212 bị cáo; giải quyết được 69.706 vụ án và 107.314 bị cáo trong đó số vụ giải quyết theo thẩm quyền mới là 14.932 vụ án với 23.034 bị cáo

Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, năm 2010 toàn ngành Tòa án giải quyết được 201.400/258.800 vụ án hình sự; nếu tính cả số vụ án được giải quyết trong tháng 8, 9 thì tỉ lệ đạt 91,4%

(theo nguồn: http:/www.toaan.gov.vn) Việc tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án cấp huyện đã làm giảm số lượng vụ án xét xử sơ thẩm ở Tòa án cấp tỉnh kéo theo giảm số lượng án tồn đọng, số lượng án phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao Từ năm 2005 tới

Ngày đăng: 17/02/2016, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w