Đây là vấn đề hệ trọng vì nó liên quan đến lợi ích của nhiều bên: công ty, chủ sở hữu, chủ nợ… Song, quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xác định các loại tài sản được góp vốn
Trang 1Đề bài: Vấn đề định giá tài sản góp vốn được quy định như thế nào trong Luật doanh nghiệp và những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham gia định giá
BỐ CỤC BÀI VIẾT
A Phần mở đầu
Trang 2B Nội dung chính
I Vấn đề định giá tài sản góp vốn được quy định trong Luật doanh nghiệp 2005
1 Xác định loại tài sản được dùng để góp vốn vào công ty
2 Xác định giá trị của tài sản góp vốn vào công ty
3 Định gía tài sản góp vốn
II Những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham gia định giá
C Kết luận
D Danh mục các tài liệu tham khảo
Trang 3
Góp vốn vào công ty là việc các cá nhân hay pháp nhân chuyển quyền
sở hữu tài sản và/hoặc các quyền khác liên quan đến tài sản cho công ty để trở thành chủ sở hữu hay đồng chủ sở hữu của công ty theo tỷ lệ vốn góp Xác định giá trị tài sản góp vốn được đặt ra đối với các loại tài sản góp vốn không phải là tiền, vàng và ngoại tệ tự do chuyển đổi Đây là vấn đề hệ trọng
vì nó liên quan đến lợi ích của nhiều bên: công ty, chủ sở hữu, chủ nợ… Song, quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xác định các loại tài sản được góp vốn, xác định giá trị tài khi góp vốn còn có nhiều điểm chưa rõ ràng, cần được hoàn thiện Vì vậy trong phạm vi một bài tiểu luận, tôi xin được trình bày vấn đề định giá tài sản góp vốn được quy định như thế nào trong Luật doanh nghiệp và những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham gia định giá để từ đó có thể hiểu phần nào về vấn đề này cũng như những kiến nghị để hoàn thiện thêm về vấn đề này trong Luật doanh nghiệp 2005 Trước hết, vấn đề định giá tài sản góp vốn được quy định tại điều 30 của LDN 2005 như sau:
1.Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá
2.Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định
và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá
Trang 43 Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá
Từ quy định tại khoản 1 điều 30 ta nhận thấy trước hết để hiểu được vấn đề định giá tài sản vốn góp, ta phải hiểu được thế nào là tài sản vốn góp
và sự khác nhau giữa tài sản vốn góp với phần vốn góp
Phần vốn góp theo giải thích tại khoản 5 điều 4 LDN 2005 là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ.Theo các quy định của pháp luật, chủ sở hữu phần vốn góp hay còn gọi là người góp vốn có các quyền sau:
_Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng với
tỷ lêh giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi đang hoạt động cũng như khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản
_Quyền phi tài chính như quyền biểu quyết, quyền thong tin
Trang 5Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là một tài sản có giá trị tiền tệ nên chủ sở hữu được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự.Tuy nhiên việc chuyển giao này bị hạn chế bởi một số quy định theo LDN nhằm bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Như vậy phần vốn góp là một tài sản đặc biệt được hình thành thông qua việc góp vốn vào doanh nghiệp và tồn tại song song với sự tồn tại của doanh nghiệp.Phần vốn góp không phải là tài sản cụ thể như những tài sản khi đem góp vốn
Còn tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ,
bí quyết kĩ thuật , các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty.Những tài sản này khi được người góp vốn đem góp vào doanh nghiệp theo một trình tự, thủ tục nhất định thì nó đã trở thành tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp (pháp nhân) Do đó, cá nhân người góp vốn không còn quyền sở hữu đối với tài sản đã góp vốn.Đổi lại họ được sở hữu phần vốn góp và có các quyền như đã nêu trên
1 Xác định loại tài sản được dùng để góp vốn vào công ty
Theo Điều 4.4 LDN 2005 “…Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền
sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều
lệ công ty…” Điều 5 Nghị định số 102/2010/NĐ- CP hướng dẫn bổ sung
về tài sản góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật sở hữu trí
Trang 6tuệ mà cá nhân, pháp nhân góp vốn là chủ sở hữu các quyền sở hữu trí tuệ
đó
Vốn góp vào công ty là một loại vốn đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, ngoài việc khẳng định vốn đầu
tư là tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ tự do chuyển đổi, còn liệt kê nhiều loại tài sản hữu hình và vô hình khác cũng có thể được sử dụng là vốn đầu tư, với điều kiện những tài sản đó là tài sản hợp pháp.Nếu như trước đây tài sản hữu hình được coi là nhân tố chính tạo nên giá trị của doanh nghiệp thì ngày nay hoàn toàn có thể nói rằng phần lớn giá trị doanh nghiệp nằm ở tài sản vô hình Tuy đây là loại tài sản không thể xác định bằng các đặc điểm vật chất nhưng lại có giá trị lớn do khả năng sinh lợi lớn nên thường được pháp luật bảo vệ Nhà nước, thông qua các quy định của pháp luật, cho phép sử dụng nhiều loại tài sản để góp vốn vào công ty, một mặt là sự bảo đảm trên thực tế các quyền năng của chủ sở hữu tài sản, mặt khác tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các công ty khi tạo lập sản nghiệp thương mại để đầu tư kinh doanh Việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ
Đối với từng công ty, các loại tài sản góp vốn khác nhau thì sự nhạy cảm về giá trị, tính hữu dụng đối với hoạt động kinh doanh tại từng thời điểm… là khác nhau Do vậy, việc công ty có nhận loại tài sản nào đó là tài sản góp vốn hay không, nhận làm tài sản góp vốn và thời điểm nào… còn phụ thuộc vào quyết định của chính công ty
Điều 4.4 LDN 2005 có đề cập đến vấn đề “Điều lệ công ty quy định loại tài sản góp vốn” Theo đó điều lệ công ty ban đầu được thông qua theo nguyên tắc nhất trí của thành viên sáng lập công ty Tiếp đến, Điều lệ công
ty có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo quyết định của chủ
Trang 7sở hữu hoặc nhóm chủ sở hữu chiếm đa số vốn Pháp luật quy định tài sản góp vốn phải được ghi nhận tại Điều lệ đồng nghĩa với việc pháp luật quy định thẩm quyền quyết định loại tài sản góp vốn thuộc về chủ sở hữu hoặc hội đồng thành viên các công ty trách nhiệm hữu hạn và đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần (theo nguyên tắc biểu quyết đa số của các cơ quan này) Hơn thế nữa, riêng vấn đề thay đổi loại tài sản góp vốn đã cam kết góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Điều 39 LDN 2005 còn yêu cầu áp dụng nguyên tắc nhất trí của các thành viên công
ty Những quy định trên là hợp lý bởi vấn đề vốn góp quyết định đến quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các chủ sở hữu tại công ty, quyết định đến hiệu quả
sử dụng tài sản, rủi ro và lợi nhuận của công ty
Tuy nhiên, quy định tại Điều 4.4 LDN 2005 đang tạo ra hai cách hiểu khác nhau, mà việc nghiêng về quan điểm nào cũng không thoả đáng:
- Cách hiểu thứ nhất, mọi loại tài sản được dùng để góp vốn vào công ty đều phải được Điều lệ công ty quy định rõ, kể cả các loại tài sản
là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật
- Cách hiểu thứ hai, những loại tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật đương nhiên được sử dụng là tài sản góp vốn theo quy định của pháp luật Ngoài ra, những loại tài sản khác chưa được liệt kê tại điều luật chỉ được công ty chấp nhận là tài sản góp vốn khi Điều lệ công ty đã quy định
Các công ty sẽ gặp vướng mắc và dễ nảy sinh tranh chấp nếu quy định không rõ ràng của Điều 4.4 LDN 2005 được sao chép y nguyên vào Điều lệ công ty Khắc phục vướng mắc này, các công ty, khi xây dựng và thông qua
Trang 8Điều lệ, nên quy định rõ những loại tài sản nào được sử dụng là tài góp vốn Khi nhận thấy cần bổ sung loại tài sản góp vốn cần kịp thời sửa đổi điều lệ công ty và kịp thời thông báo để đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật Cần lưu ý rằng, sửa đổi Điều lệ công ty về vấn đề này thuộc trường hợp sửa đổi nội dung Điều lệ có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên hoặc cổ đông Thành viên hoặc cổ đông biểu quyết phản đối có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp hoặc mua lại cổ phần mà họ đang sở hữu theo các quy định tương ứng của LDN
2005, Điều 43 và Điều 90
Đối với công tác hoàn thiện pháp luật, để bảo đảm tính quy phạm phổ biến, pháp luật chỉ nên quy định loại tài sản đương nhiên được sử dụng làm tài sản góp vốn là tiền, vàng và ngoại tệ tự do chuyển đổi Còn đối với những loại tài sản khác, pháp luật cần quy định rõ, chỉ có thể được sử dụng làm tài sản góp vốn nếu đã được quy định tại Điều lệ công ty và phù hợp với quy định của pháp luật
2 Xác định giá trị của tài sản góp vốn vào công ty
Về bản chất, giao dịch góp vốn giữa công ty và chủ sở hữu công ty có thể là giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng tài sản hoặc chuyển nhượng quyền chủ thể hợp đồng… Tài sản góp vốn sẽ thuộc sở hữu của công ty, đổi lại, người góp vốn nhận về cổ phần hoặc phần vốn góp Trên cả hai phương diện kinh tế và pháp lý, vấn đề xác định giá trị tài sản góp luôn cần được đặt ra, ngoại trừ tài sản góp vốn là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và vàng Điều 30 LDN 2005 quy định:
“ Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghi ệp ph ải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu
Trang 9tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổđông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trịđược định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá “
Quy định tại Điều 30 trên đây có nhiều điểm chưa được rõ ràng, mâu thuẫn với những quy định khác trong chính LDN 2005 Các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành LDN 2005 và pháp luật về đầu tư đều không có hướng dẫn bổ sung về vấn đề này
Trước hết, Điều luật đã phân biệt hai thời điểm có sự kiện góp vốn bằng tài sản phải định giá: (i) khi thành lập công ty, và (ii) khi công ty đã được thành lập và đang hoạt động
Vào thời điểm thành lập công ty, giá trị của tài sản góp vốn được xác định theo nguyên tắc nhất trí giữa các sáng lập viên Quy định này là phù hợp vì mọi thoả thuận về thành lập công ty đều phải được các sáng lập viên nhất trí theo nguyên tắc tự do hợp đồng
Vào thời điểm công ty đã thành lập và đang hoạt động, giá trị của tài sản góp vốn được xác định bởi sự thoả thuận giữ công ty và người góp vốn Về hình thức, áp dụng nguyên tắc thoả thuận giữa công ty và người góp vốn khi xác định giá trị tài sản góp vốn là phù hợp
Nhưng về phương diện quản trị công ty, điều luật lại không quy định rõ cơ quan nào trong công ty trực tiếp có thẩm quyền quyết định giá làm cơ sở để công ty thoả thuận với người góp vốn Các cơ quan được nói đến gồm: đại hội đồng cổđông, hội đồng quản trị của công ty cổ phần; hội đồng thành viên, chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn, giám đốc (tổng giám đốc) của công ty (các loại) hay người đại diện theo pháp luật của công ty (các loại)
Trang 10Việc quy định thẩm quyền xác định giá trị tài sản góp vốn trong công
ty là cần thiết bởi đây là một loại giao dịch tài sản rất quan trọng và phổ biến Đối với các giao dịch tài sản nói chung của công ty, LDN 2005 đã phân biệt các các giao dịch tài sản thông thường, các giao dịch tài sản có giá trị lớn (có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản của công ty trong báo cáo tài chính gần nhất hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn được Điều lệ công ty quy định) và các giao dịch tài sản giữa công ty với các bên chủ thể
có quyền và lợi ích liên quan (tập quán gọi là các giao dịch dễ phát sinh tư lợi) Trên cơ sở đó, LDN 2005 quy định rõ thẩm quyền quyết định các loại giao dịch; quy định trình tự, thủ tục để công khai thông tin khi xác lập các giao dịch tài sản có giá trị lớn và các giao dịch tài sản dễ phát sinh tư lợi để ngăn ngừa xung đột lợi ích và bảo vệ tài sản của công ty Vậy giao dịch góp vốn cũng có tính chất là một giao dịch tài sản của công ty có chịu sựđiều chỉnh của quy chế này không? Về bản chất của giao dịch thì câu trả lời là có, nhưng nội dung của Điều 30.2 LDN 2005 dường như lại đưa ra câu trả lời ngược lại Thiết nghĩ, pháp luật cũng cần có những quy định bổ sung về phân cấp thẩm quyền giữa các cơ quan trong bộ máy quản trị công ty để áp dụng cơ chế này cho các giao dịch góp vốn vào công ty
Thứ hai, Điều 30.2 LDN 2005 quy trách nhiệm cho người đại diện theo pháp luật của công ty về việc xác định giá trị tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế là không thoả đáng
Có nhiều lý do để lãnh đạo các công ty “cố ý” xác định giá trị tài sản góp vốn cao hơn so với giá trị thực tế, trong đó không loại trừ các lý do chủ quan có tính chất tiêu cực, như: gia tăng chi phí khấu hao tài sản để giảm số
Trang 11thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, làm ảo tổng số vốn góp của chủ sở hữu nhằm giả tạo năng lực tài chính của công ty, giúp cho người góp vốn bằng tài sản (phải định giá) được hưởng quyền lợi nhiều hơn các cổđông, thành viên khác… Khi đó, quyền lợi của công ty, của chủ nợ và của các đồng chủ sở hữu khác đồng thời bị xâm phạm Do vậy, cần phải xác định trách nhiệm pháp lý, trước hết là trách nhiệm dân sự, cho những cá nhân trực tiếp “thiết lập” các giao dịch góp vốn có tính chất man trá này
II.Những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham gia định giá.
Điều 30 LDN 2005 đã đề cập đến trách nhiệm dân sự liên đới của một
số cá nhân về nghĩa vụ trả nợ của công ty với mức trách nhiệm bằng giá trị chênh lệch giữa giá trị thực và giá trị định giá ảo của tài sản góp vốn Tuy nhiên, trách nhiệm này mới chỉ hướng đến bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, mà chưa bảo vệ được quyền lợi của công ty và bảo vệ quyền lợi của các đồng chủ sở hữu khác của công ty
Chủ thể phải chịu trách nhiệm liên đới khi tài sản góp vốn được xác định cao hơn so với giá trị thực vào thời điểm góp vốn, Điều 30 LDN 2005 xác định trách nhiệm thuộc về các sáng lập viên nếu việc góp vốn bằng tài sản được thực hiện vào thời điểm thành lập công ty, và người đại diện theo pháp luật của công ty, nếu việc góp vốn được thực hiện trong quá trình công
ty đang hoạt động Trường hợp thứ hai xét thấy có nhiều điểm không hợp lý:
- Về logic, ai quyết định thì người đó phải chịu trách nhiệm Phải chăng
có thể suy diễn, LDN 2005 đã dành quyền quyết định giá trị tài sản góp vốn cho người đại diện theo pháp luật? Suy diễn này không phù hợp, ít nhất là