HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁCBÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ NGHỀ CÔNG CHỨNG Chuyên đề: “Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người y
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ NGHỀ CÔNG CHỨNG
Chuyên đề: “Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người yêu cầu công chứng – Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật”
Họ và tên: LÊ THỊ THẢO Sinh ngày: 01 tháng 08 năm 1993
Số báo danh: 229 Lớp: CCV24.1.D1 TẠI HÀ NỘI
Trang 2Hà Nội, ngày 14 tháng 08 năm 2021
Trang 4Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Hoạt động công chứng thì việc quy địnhpháp luật về công chứng rất quan trọng, được quy định trong hệ thống pháp luật, cónhững sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để phù hợp với bối cảnh xã hội Việt Nam qua cácthời kỳ cụ thể Một trong các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng
là quy định về các chủ thể tham gia hoạt động công chứng trong đó, người yêu cầu côngchứng là một trong các chủ thể của hoạt động công chứng được quy định trong Luật côngchứng năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tạo cơ sở pháp lý chobước phát triển của hoạt động công chứng
Nhằm mục đích và mong muốn hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật đối vớinghĩa vụ của người yêu cầu công chứng hiện nay có những ưu điểm, nhược điểm, bất cập,
thiếu sót gì cần phải khắc phục và hoàn thiện hơn thì tôi xin lựa chọn chuyên đề “Quy
định của pháp luật về nghĩa vụ của người yêu cầu công chứng – Thực tiễn thực hiện
và giải pháp hoàn thiện pháp luật” tìm hiểu và nghiên cứu về các vấn đề lý luận, tìm
hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến đề tài đưa ra, để từ đó phân tích những ưuđiểm, nhược điểm và có những đánh giá cần thiết để giải quyết các khó khăn, vướng mắc,hạn chế trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người yêu cầu công chứng góp phầnvào sự phát triển, hoàn thiện hành lang pháp lý của pháp luật nói chung và của hoạt độngcông chứng nói riêng
Trang 5NỘI DUNG
I Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người yêu cầu công chứng
1 Một số quy định chung của pháp luật về người yêu cầu công chứng
1.1 Khái niệm người yêu cầu công chứng
Tại Khoản 3 Điều 2 –Luật công chứng năm 2014 quy định như sau:“ Người yêu
cầu công chứng là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài có yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của Luật này”.
Từ khái niệm trên chúng ta có thể thấy người yêu cầu công chứng là “cá nhân” hay
“tổ chức” Việt Nam hoặc là “cá nhân” hay “tổ chức” nước ngoài Do đó, người yêu cầucông chứng trong hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật Việt Nam có phạm
vi rất rộng Tuy nhiên không phải mọi cá nhân, tổ chức Việt Nam hay cá nhân, tổ chứcnước ngoài đều trở thành người yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng Đề trởthành người yêu cầu công chứng thì cá nhân, tổ chức Việt Nam hay nước ngoài phải cónhững điều kiện nhất định được pháp luật quy định
1.2 Điều kiện để cá nhân, tổ chức trở thành người yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng.
Điều kiện thứ nhất để trở thành người yêu cầu công chứng là: Người yêu cầu
công chứng là “Cá nhân, tổ chức có yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch hay yêu
cầu công chứng bản dịch” Điều kiện này đã được quy định ngay trong khái niệm về
người yêu cầu công chứng
Trong thực tế, việc nhận diện người yêu cầu công chứng vẫn có những nhầm lẫngiữa người yêu cầu công chứng và người đại diện của người yêu cầu công chứng nênchúng ta bắt buộc phải nắm rõ: “Người yêu cầu công chứng phải là người có quyền đưa rayêu cầu công chứng, đó chỉ có thể là chủ thể của hợp đồng giao dịch” Vấn đề nhận diệnđược đúng chủ thể công chứng là việc rất quan trọng trong quá trình công chứng củaCông chứng viên nên việc xác định được ai là người yêu cầu công chứng trong hoạt độngcông chứng có ý nghĩa rất quan trọng vì chỉ khi công chứng viên, tổ chức hành nghề côngchứng xác định và nhận diện chính xác chủ thể là người yêu cầu công chứng mới xác định
Trang 6được chính xác quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu công chứng được thực hiện tronghoạt động công chứng
Điều kiện thứ hai được quy định tại khoản 1 điều 47 Luật công chứng năm 2014:
“Người yêu cầu công chứng là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự Trường hợp người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó”.
Đối với người yêu cầu công chứng là cá nhân thì để trở thành người yêu cầu
công chứng trong hoạt động công chứng phải có năng lực hành vi dân sự Theo quy định
từ Điều 19 đến Điều 24 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì năng lực hành vi dân sự đượcchia thành các mức, đó là: người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và cónăng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23, 24 Bộ luậtDân sự năm 2015 (Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015); người chưa thành niên là ngườichưa đủ mười tám tuổi, có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ (Điều 21 Bộ luật Dân
sự năm 2015); người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác màkhông thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình bị Toà án xác định là mất năng lựchành vi dân sự); người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23 Bộ luậtDân sự năm 2015); người hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24 Bộ luật Dân sự năm
-2015 - người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người bị nghiện ma tuý, nghiện chấtkích thích làm phá tán tài sản và bị Toà án tuyên là hạn chế năng lực hành vi dân sự) Như vậy theo quy định từ Điều 19 đến Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người cónăng lực hành vi dân sự là người từ đủ 6 tuổi trở lên và không bị tuyên là mất, có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
Đối với người yêu cầu công chứng là tổ chức để trở thành người yêu cầu công
chứng được quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật Công chứng năm 2014 thì điều kiệnđược xác định thông qua tư cách của người đại diện Tổ chức phải là tổ chức được thànhlập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, đây là điều kiện tuykhông được ghi nhận rõ trong luật, nhưng công chứng viên phải nắm rõ điều này đểchúng ta xác định và nhận diện đúng người yêu cầu công chứng
2 Nghĩa vụ của người yêu cầu công chứng
Trang 72.1 Nghĩa vụ nộp đầy đủ giấy tờ tài liệu cần thiết trong hồ sơ yêu cầu công chứng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Công chứng năm 2014:“Người yêu cầu
công chứng nộp một bộ hồ sơ theo quy định tại các điểm a, c, d và đ khoản 1 và khoản 2 Điều 40 của Luật này và nêu nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch” có nghĩa là
người yêu cầu công chứng khi yêu cầu công chứng phải có nghĩa vụ nộp đầy đủ hồ sơ yêucầu công chứng mà hồ sơ yêu cầu công chứng gồm các giấy tờ được quy định tại khoản 1Điều 40 của Luật công chứng năm 2014 Khi công chứng viên tiếp nhận hồ sơ của ngườiyêu cầu công chứng, công chứng viên có quyền từ chối tiếp nhận yêu cầu công chứng nếu
hồ sơ công chứng không đầy đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật hoặc những giấy tờtrong hồ sơ yêu cầu công chứng của người yêu cầu công chứng không đảm bảo tính chínhxác, tính hợp pháp khi tính chính xác, tính hợp pháp này đã được Công chứng viên kiểmtra, hướng dẫn và giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ để thực hiện đúngnghĩa vụ cung cấp đầy đủ hồ sơ tài liệu công chứng Vì vậy, việc người yêu cầu côngchứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng phải đảm bảo đầy đủ giấy tờ liên quan đến việccông chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ hồ sơ màmình cung cấp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Công chứng năm 2014 liên quan đến côngchứng di chúc, người yêu cầu công chứng chỉ không phải nộp hồ sơ yêu cầu công chứngtrong trường hợp tính mạng bị đe dọa và yêu cầu công chứng là lập di chúc thì người yêucầu công chứng không phải xuất trình đầy đủ giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 40 LuậtCông chứng năm 2014, nhưng việc tính mạng bị đe dọa phải ghi rõ trong văn bản côngchứng
Nếu các giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng mà người yêu cầu công chứng nộpkhông đảm bảo tính chính xác, tính hợp pháp như: Sửa chữa, tẩy xóa trái pháp luật hoặclàm giả mạo… thì người yêu cầu công chứng có thể bị xử lý vi phạm hành chính với mức
xử phạt từ 7 triệu đồng đến 10 triệu đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định số110/2013/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP; hoặc có thể bị truycứu trách nhiệm hình sự
2.2 Nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu đúng sự thật
Trang 8Theo quy định tại khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014: “Trong trường
hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được
mô tả cụ thể thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng” theo đó, ta
có thể hiểu rằng: Nếu trong quá trình thực hiện việc công chứng, công chứng viên kiểmtra hồ sơ công chứng có những vấn đề chưa rõ, nghi ngờ về chủ thể, đối tượng… của hợpđồng chưa cụ thể cần người yêu cầu công chứng làm rõ những vấn đề chưa rõ thì ngườiyêu cầu công chứng có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin, tài liệu đúng sự thật cho côngchứng viên
Pháp luật hiện hành đã đưa ra quy định nghiêm cấm việc cung cấp thông tin, tàiliệu sai sự thật của người yêu cầu công chứng, cụ thể tại Điểm b khoản 2 Điều 7 LuậtCông chứng năm 2014 đưa ra quy định nghiêm cấm người yêu cầu công chứng cung cấpthông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữatrái pháp luật để yêu cầu công chứng Nếu người yêu cầu công chứng vi phạm nghĩa vụnày thì công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng được quyền từ chối yêu cầucông chứng của người yêu cầu công chứng đưa ra
Như vậy, để thực hiện việc công chứng thì người yêu cầu công chứng phải cónghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu đúng sự thật cho công chứng viên để đảm bảo tínhxác thực, chính xác và tính hợp pháp trong hoạt động công chứng
2.3 Nghĩa vụ thực hiện việc công chứng tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng
Tại Khoản 1 Điều 44 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Việc công chứng
phải thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” nên việc thực hiện yêu cầu công chứng và việc công chứng tại trụ
sở của tổ chức hành nghề công chứng cũng là nghĩa vụ của người yêu cầu công chứng trừcác trường hợp khác được pháp luật quy định công chứng viên được thực hiện việc côngchứng ngoài trụ sở Ngoài ra, đối với trường hợp thực hiện việc công chứng ngoài trụ sởtheo khoản 2 Điều 44 Luật Công chứng thì người yêu cầu công chứng cũng phải có nghĩa
Trang 9vụ chứng minh việc yêu cầu thực hiện công chứng ngoài trụ sở thuộc các trường hợp quyđịnh tại điều này và trường hợp “có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổchức hành nghề công chứng” cũng được Luật cho phép công chứng viên thực hiện côngchứng ngoài trụ sở Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có văn bản nào quy định cụ thể trườnghợp nào được xem là “có lý do chính đáng khác” Điều này gây ra nhiều khó khăn cho cơquan quản lý nhà nước, các tổ chức hành nghề công chứng trong hoạt động công chứng
2.4 Nghĩa vụ ký và điểm chỉ vào hợp đồng, giao dịch trước mặt công chứng viên
Nghĩa vụ ký và điểm chỉ vào hợp đồng, giao dịch trước mặt công chứng viên củangười yêu cầu công chứng được quy định tại Điều 48 Luật Công chứng năm 2014
Tại Khoản 1 Điều 48 Luật công chứng quy định “Người yêu cầu công chứng,
người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào văn bản công chứng trước mặt công chứng viên”
Trong trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người
đó có thể ký trước vào hợp đồng; công chứng viên phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện việc công chứng”
Theo đó, người yêu cầu công chứng khi thực hiện việc công chứng trong hoạt độngcông chứng phải ký vào hợp đồng, giao dịch trước mặt công chứng viên nghĩa là việc giaokết, thực hiện văn bản công chứng phải có sự chứng kiến của Công chứng viên tránhtrường hợp người yều công chứng không thành thật, lừa dối hoặc bị đe dọa… trừ trườnghợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác đãđăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng được thực hiện việc ký trước vào
hợp đồng quy định theo điều luật nêu trên (Ví dụ: Giao kết Hợp đồng thế chấp giữa bên
thế chấp (Nguyễn Văn A) và bên nhận thế chấp ( Ngân hàng B) thì người đại diện pháp luật của bên nhận thế chấp (Ngân hàng B) đã đăng ký mẫu dấu, mẫu chữ ký với Văn phòng công chứng X) thực hiện việc công chứng Hợp đồng thế chấp có thể ký trước vào hợp đồng, công chứng viên của Văn phòng công chứng X sẽ đối chiếu chữ ký của người đại diện pháp luật của bên nhận thế chấp (Ngân hàng B trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện việc công chứng).
Trang 10Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong văn bản công chứng của người yêu cầucông chứng trong các trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, ngườiphiên dịch không ký được do khuyết tật hoặc không biết ký Khi điểm chỉ, người yêu cầucông chứng, người làm chứng sử dụng ngón trỏ phải; nếu không điểm chỉ được bằngngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm chỉ bằng haingón trỏ đó thì điểm chỉ bằng ngón khác và phải ghi rõ việc điểm chỉ đó bằng ngón nào,của bàn tay nào (quy định tại Khoản 2 Điều 48 Luật công chứng năm 2014).
Việc điểm chỉ cũng có thể thực hiện đồng thời với việc ký trong các trường hợpCông chứng di chúc; Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng và trường hợp côngchứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng (quy định tạiKhoản 3 Điều 48 Luật công chứng năm 2014)
Ngoài ra, việc ký và điểm chỉ của người yêu cầu công chứng còn được quy định tạiKhoản 3 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 16/02/2015 như sau:
“Các bên tham gia hợp đồng, giao dịch phải ký trước mặt người thực hiện chứng thực Trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp đã đăng ký chữ ký mẫu tại cơ quan thực hiện chứng thực thì có thể ký trước vào hợp đồng; người thực hiện chứng thực phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện chứng thực, nếu nghi ngờ chữ ký trong hợp đồng khác với chữ ký mẫu thì yêu cầu người đó ký trước mặt.
Trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký được thì phải điểm chỉ; nếu người
đó không đọc được, không nghe được, không ký, không điểm chỉ được thì phải có 02 (hai) người làm chứng Người làm chứng phải có đủ năng lực hành vi dân sự và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng, giao dịch”
Như vậy, người yêu cầu công chứng có nghĩa vụ ký và điểm chỉ vào hợp đồng,giao dịch trước mặt công chứng viên theo luật định và trong các trường hợp cụ thể sẽ ápdụng việc ký, điểm chỉ hoặc đồng thời ký và điểm chỉ vào Văn bản công chứng, chứngthực Nghĩa vụ này có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận diện con người, thể hiện ý chí tựmình tham gia giao dịch để tránh các rủi ro tranh chấp, khiếu kiện không cần thiếu saunày góp phần đảm bảo tính xác thực, hợp pháp và chính xác của Văn bản công chứngtrong hoạt động công chứng của công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng
Trang 112.5 Nghĩa vụ trả phí, thù lao công chứng và các nghĩa vụ tài chính khác cho tổ chức hành nghề công chứng
Nghĩa vụ trả phí, thù lao công chứng và các nghĩa vụ tài chính khác cho tổ chứchành nghề công chứng của người yêu cầu công chứng được quy định tại Điều 66 , Điều
67, Điều 68 Luật công chứng năm 2014 và một số văn bản pháp luật liên quan quy định
về Mức thu và cách tính phí công chứng theo Thông tư 257/2016/TT-BTC được sửa đổitại Thông tư 111/2017/TT-BTC
Như chúng ta đã biết, phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản
bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp cônglập và tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công (khoản
1 Điều 3 Luật Phí và lệ phí 2015) Theo đó, phí công chứng được hiểu là khoản tiền màngười yêu cầu công chứng phải trả cho tổ chức hành nghề công chứng nhằm bù đắp mộtphần chi phí
Quy định tại Điều 66 Luật công chứng năm 2014 và Thông tư Số: BTC của Bộ tài chính ngày 11/11/2016 thì Người yêu cầu công chứng khi tham gia vàohoạt động công chứng, chứng thực và được công chứng viên cung cấp dịch vụ côngchứng thì phải nộp phí công chứng Phí công chứng theo quy định của Luật Công chứnggồm: phí công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch, phí lưu giữ di chúc, phí cấp bản saovăn bản công chứng Mức thu, chế độ thu phí công chứng được thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật Bên cạnh đó, Tổ chức hành nghề công chứng có nghĩa vụ phải niêm yếtcông khai mức phí công chứng mà pháp luật quy định tại tổ chức hành nghề công chứngcủa mình
257/2016/TT-Người yêu cầu công chứng phải trả thù lao khi thực hiện công chứng mà sử dụngmột số dịch vụ khác của tổ chức hành nghề công chứng như: Soạn thảo hợp đồng, giaodịch; đánh máy; sao chụp, dịch giấy tờ, văn bản và các việc khác liên quan đến hoạt độngcông chứng thì người yêu cầu công chứng ngoài việc phải nộp phí cho tổ chức hành nghềcông chứng Thù lao công chứng do tổ chức hành nghề công chứng xác định, nhưngkhông được cao hơn mức trần thù lao công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành
Tổ chức hành nghề công chứng phải có nghĩa vụ niêm yết công khai về các mức thù lao