quan hệ dân sự khác áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện, đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong biện phá
Trang 1Khi các giao dịch dân sự được xác lập và thực hiện không tránh khỏi tình trạng một bên tham gia không thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình Vì vậy, các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như thực hiện các nghĩa vụ dân sự ra đời nhằm khắc phục tình trạng đó Pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp thích hợp Trong đó, quyền tài sản cũng có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Trên thực tế, quyền tài sản khi dùng để đảm bảo nghĩa vụ dân sự cũng có thể xảy ra tranh chấp Sau đây, nhóm chúng em xin trình bày 3 vụ việc có liên quan đến vấn đề này
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm về quyền tài sản.
Tại Điều 181 BLDS 2005 đã quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong trong giao dịch dân sự, kể cả quyền
sở hữu trí tuệ”.
Theo đó thì quyền tài sản trước tiên được hiểu là xử sự được phép của chủ thể mang quyền Quyền này phải trị giá được thành tiền hay nói cách khác là phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định Quyền tài sản thì có rất nhiều nhưng chỉ có quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản Hiện nay pháp luật dân sự việt nam công nhận một số quyền tài sản là tài sản như quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm hại, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng
2 Những quy định chung về quyền tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghiã vụ dân sự.
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự về mặt khách quan được hiểu: Là sự quy định của pháp luật, cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự hoặc các
Trang 2quan hệ dân sự khác áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện, đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong biện pháp đó Còn về mặt chủ quan thì bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận giữa các bên nhằm qua đó đặt ra biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra
Quyền tài sản là một tài sản cũng là một trong những đối tượng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Theo đó tại Điều 322 BLDS năm
2005 đã quy định về các loại quyền tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cụ thể như sau:
“1 Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh
từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
2 Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.
3 Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về tài nguyên.”
Từ đây ta thấy không phải bất kì quyền tài sản nào cũng được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Vậy điều kiện để quyền tài sản được dùng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là gì?
Thứ nhất, quyền tài sản trước tiên phải là một tài sản Theo đó, quyền tài
sản phải trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong các giao dịch dân sự
Thứ hai, quyền tài sản phải có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối
với một đối tượng của nghĩa vụ dân sự nói chung Nghĩa là, Quyền tài sản phải đáp ứng được một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền; nó phải được xác định
cụ thể và phải có khả năng thực hiện được
Thứ ba, các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm
Trang 3Ngoài ra, quyền tài sản được dùng để bảo đảm phải không bị tranh chấp
để đảm bảo cho việc sử lý tài sản khi có vi phạm nghĩa vụ xảy ra
II BÌNH LUẬN MỘT SỐ BẢN ÁN THỰC TẾ
1.Vụ việc thứ nhất: Bản án số 212/2009 của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội về việc tranh chấp tài sản thế chấp.
a Địa điểm: phường Ngô Quyền, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
b Nguyên đơn:
- Chị Nguyễn Thị Bích Quyên: sinh năm 1972
- Anh Trần Ngọc Hùng: sinh năm 2965
Trú tại: Tổ 51, thôn Thuần Nghệ, phường Quang Trung, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội
- Anh Đàm Quang Hùng: sinh năm 1970, trú tại thông Yên Thịnh, phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây, Hà Nội
Bị đơn: Chị Hoàng Thanh Bình: sinh năm 1972, trú tại phường Ngô Quyền,
Sơn Tây, Hà Nội
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Anh Trần Ngọc Hà, sinh năm 1963, tại phường Ngô Quyền, Sơn Tây, Hà Nội
- Ông Nguyễn Công Sức, bà Nguyễn Thị Nhung, đều trú tại phường Lê lợi, thị xã Sơn Tây, Hà Nội
c Tóm tắt nội dung vụ việc:
Từ tháng 4/2005 đến tháng 10/2005, anh Trần Ngọc Hùng và chị Nguyễn Thị Bích Quyên đã vay tiền của chị Hoàng Thanh Bình 3 lần:
+ Lần 1: Vay 100 triệu đồng từ 1/11/2005 đến 30/4/2006, thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Công Sức và bà Nguyễn Thị Nhung Sổ đỏ này là do ông Sức cho vợ chồng anh Hùng – chị Quyên mượn để thế chấp, bà Nhung hoàn toàn không biết về việc này
+ Lần 2: vay 50 triệu, trong thời hạn từ 14/6/2005 đến 14/8/2006; thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đàm Quang Hùng Sổ đỏ này cũng chỉ do anh Quang Hùng cho vợ chồng anh Ngọc Hùng và chị Quyên mượn, chị Ngô Thị Thảo (vợ anh Quang Hùng) không biết việc này
Trang 4+ Lần 3: vay 16 triệu đồng không có thế chấp.
Tổng cộng số nợ sau 3 lần vay là 166 triệu đồng Các khoản vay trên thỏa thuận lãi suất 7.5%/ tháng và đã thanh toán lãi đến hết ngày 15/11/2005 Do không có khả năng trả nợ, anh trai của anh Ngọc Hùng là anh Trần Ngọc Hà đã đứng ra trả nợ thay em mình vào ngày 04/7/2006 là 180 triệu, trong đó 166 triệu
là gốc, còn lại là lãi Chị Bình đã nhận tiền, sau đó đưa lại cho anh Hùng 3 giấy biên nhận vay nợ: 01 giấy 100 triệu đồng; 01 giấy 50 triệu đồng và 01 giấy 30 triệu đồng Tuy nhiên khi vợ chồng anh Bình, chị Quyên đến nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đã thế chấp cho hai khoản nợ 100 triệu và 50 triệu) thì sau nhiều lần hẹn gặp, chị Bình không chịu trả Lý do mà chị Bình đưa
ra là chị đã nhiều lần cho vợ chồng anh Hùng, chị Quyên vay tiền với tổng số là
375 triệu Anh Hà mới trả thay 180 triệu, vẫn còn thiếu nợ 195 triệu đồng nên chị không trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nhận thế chấp
Nay: Vợ chồng anh Hùng, chị Quyên khởi kiện yêu cầu chị Bình phải trả lại cho mình hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên để chị trả lại cho vợ chồng ông Sức, bà Nhung và anh Quang Hùng Anh Đàm Quang Hùng cũng yêu cầu được lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình
d Nội dung giải quyết và kết luận của Tòa án.
Căn cứ vào những tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội xét thấy:
Thứ nhất, mặc dù vợ chồng anh Hùng, chị Quyên có vay của chị Bình nhiều
tiền và nhiều lần, các lần vay đều viết giấy biên nhận thể hiện rõ ràng, cụ thể số tiền vay, thời hạn vay và nghĩa vụ của mỗi bên nhưng chỉ có hai khoản vay 100 triệu và 50 triệu là có thế chấp tài sản ( là 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã nêu trên) Hai khoản vay này đều đã được thanh toán vào ngày 04/07/2006, hai bên không có thỏa thuận nào khác, nên lẽ ra chị Bình phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng chị Quyên
Thứ hai, việc ông Sức và anh Đàm Quang Hùng cho vợ chồng chị Quyên
mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không được sự đồng ý của bà Nhung và chị Thảo thì giao dịch này cũng vô hiệu Nay bà Nhung và chị Thảo
Trang 5có yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì dù cho vợ chồng chị Quyên và chị Bình tiếp tục thế chấp vào các khoản vay khác cũng không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận
Thứ ba, trong vụ án này, yêu cầu khởi kiện của vợ chồng chị Quyên là giải
quyết tranh chấp trong tài sản thế chấp (02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
và chứng minh đã thanh toán xong hai khoản nợ có thế chấp Còn việc vợ chồng chị Quyên còn nợ hay không còn nợ và còn nợ bao nhiêu đối với chị Bình không đặt ra trong vụ việc này Chị Bình có thể khởi kiện bằng một vụ án riêng đối với
vợ chồng chị Quyên
Với những lập luận trên, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 357, 471, 472, 473, 474, 478 BLDS; Điều 28 khoản 3 Luật Hôn nhân gia đình; điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự:
1 Buộc chị Hoàng Thanh Bình phải trả lại cho vợ chồng chị Nguyễn Thị Quyên, anh Trần Ngọc Hùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Công Sức, Nguyễn Thị Nhung số 01032/QSDĐ cấp ngày 18/06/2004 để
vợ chồng chị Quyên trả lại cho vợ chồng ông Sức
2 Buộc chị Hoàng Thanh Bình phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Đàm Quang Hùng số 00377/QSDĐ cấp ngày 25/12/2003 cho anh Quang Hùng
3 Chị Hoàng Thanh Bình nộp 50.000đồng án phí
e Nhận xét của nhóm về cách giải quyết của Tòa.
Với các quyết định của Tòa như trên, nhóm đồng ý với Tòa ở những điểm sau:
Thứ nhất, việc ông Sức và anh Đàm Quang Hùng cho vợ chồng chị Quyên,
anh Hùng mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tài sản bảo đảm nhưng không được sự đồng ý của vợ ông Sức là bà Nhung và vợ anh Đàm Quang Hùng là chị Thảo thì giao dịch này cũng vô hiệu Điều này căn cứ theo
những quy định của Luật hôn nhân gia đình “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng
có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng” (Điều 27) và “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá
Trang 6trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình…phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận”( Khoản 2 Điều 28) Nay bà Nhung và chị Thảo đều có yêu cầu đòi
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cho dù vợ chồng chị Quyên và chị Bình có thỏa thuận tiếp tục thế chấp vào các khoản vay khác cũng không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận
Thứ hai, trong nhiều lần anh Hùng, chị Quyên vay tiền chị Bình, thì chỉ có hai
khoản vay 100 triệu đồng và 50 triệu đồng là có tài sản thế chấp, còn các lần vay khác không có Hai khoản tiền này anh chị cũng đã hoàn trả đầy đủ cho chị Bình, nên chị Bình phải có nghĩa vụ trả lại hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng chị Quyên Việc chị Bình lý luận rằng vợ chồng chị Quyên vẫn còn nợ tiền chị, nên chị vẫn phải giữ lại hai giấy chứng nhận này làm tài sản thế chấp là không đúng, bởi một tài sản sẽ chỉ được bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ khi mà hai bên đã phải có thỏa thuận trước đó
Bên cạnh đó, cũng có một số vấn đề mà Tòa án chưa làm rõ được khi giải quyết vụ việc này, cụ thể là giao dịch bảo đảm giữa vợ chồng anh Hùng, chị Quyên với chị Bình liệu có nên cho là có hiệu lực hay không, khi mà giao dịch
này đã vi phạm Khoản 1 Điều 320 BLDS “Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm…” trong khi hai giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mà vợ chồng chị Quyên đem đi thế chấp lại mang tên của người khác Vấn đề thứ hai, là mặc dù trong án không đề cập đến vấn đề việc thế chấp này đã được công chứng, chứng thực ở cơ quan có thẩm quyền hay chưa, nhưng trong quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án cũng nên điều tra kỹ vấn đề này, bởi theo Điêu 343 BLDS thì việc thế chấp quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký
2.Vụ việc thứ 2: Bản án số 07/2008 của Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối
cao về việc tranh chấp hợp đồng.
a Địa điểm: Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
b Nguyên đơn: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam –
chi nhánh Nơ Trang Long, tỉnh Đăk Lăk
Bị đơn: Doanh nghiệp tư nhân thương mại và dịch vụ TIMI.
Trang 7Địa chỉ: 252 Trần Phú, TP Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắc Lăk, do ông Phan Chu Doãn Cường đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị Hiền chủ doanh nghiệp Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Văn Hùng và bà Bùi Thị Thu, địa chỉ: Thôn 2, xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk
- Ông Phan Chu Doãn Cường, địa chỉ: 252 Trần Phú, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk
c Tóm tắt nội dung vụ việc.
Ngày 17/01/2006, Doanh nghiệp tư nhân thương mại và dịch vụ TIMI ( doanh nghiệp TIMI) do bà Bùi Thị Hiền làm chủ đã ký một hợp đồng tín dụng số 014/04KD với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Nơ Trang Long, tỉnh Đăk Lăk để vay 400 triệu đồng; lãi suất 15/tháng; lãi suất nợ quá hạn 1.5%/tháng; thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 17/01/2006 Để bảo đảm cho số tiền vay trên, cùng ngày, ông Bùi Văn Hùng và bà Bùi Thị Thu
đã ký hợp đồng bảo lãnh giá trị quyền sử dụng lô đất 200 m2 tại địa chỉ 252 Trần Phú, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk (lô đất này có giá trị khoảng 10 tỷ đồng theo giá thị trường) Nguồn gốc tài sản bảo đảm tiền vay là của ông Phan Chu Doãn Cường và bà Bùi Thị Hiền đã tặng cho ông Bùi Văn Hùng và bà Bùi Thị Thu theo hợp đồng tặng cho ngày 10/12/2005, hợp đồng này có xác nhận của Phòng công chứng số 1 tỉnh Đăk Lăk;
Quá hạn trả nợ, Doanh nghiệp TIMI chỉ trả được 14.400.000 đồng, nên ngày 18/01/2007 Ngân hàng đã khởi kiện đến Toà án, yêu cầu Doanh Nghiệp TIMI phải trả cả gốc và lãi số tiền đã vay Ngày 4/8/2007 TAND tỉnh Đăk Lăk đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó, Doanh nghiệp TIMI phải trả hết nợ 468.000.000 đồng chậm nhất vào ngày 30/08/2007, nếu không, Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng lô đất
số 252 Trần Phú, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk của người bảo lãnh nợ vay
là ông Bùi Văn Hùng và bà Bùi Thị Thu theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, ngày 17/4/2008, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị Quyết định của TAND tỉnh Đăk Lăk, đề nghị Tòa Kinh tế TAND tối cao hủy quyết định của TAND tỉnh Đăk Lăk, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm
Trang 8xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm với lý do: Thứ nhất, hợp đồng bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất của người bảo lãnh là ông Hùng, bà Thu với bên được bảo lãnh là ông Cường, bà Hiền là trái với quy định về bảo lãnh tại Khoản 2 Điều
320 BLDS: “Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm…”, tức là tài sản đem ra bảo lãnh phải thuộc quyền sở hữu của
bên bảo lãnh, trong khi đó, quyền sử dụng lô đất tại địa chỉ 252 Trần Phú, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk thuộc quyền sở hữu của ông Phan Chu Doãn Cường và bà Bùi Thị Hiền Ngày 10/12/2005, ông Cường, bà Hiền lập hợp đồng tặng cho ông Bùi Văn Hùng và bà Bùi Thị Thu nhưng mới chỉ được công chứng, chưa đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Theo quy định tại Điều 467 BLDS thì giá trị quyền sử dụng lô đất trên vẫn thuộc về của ông Cường, bà Hiền Thứ hai, tài sản trên đã được thi hành án dân sự tỉnh Đăk Lăk
kê biên theo Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản vào ngày 23/06/2006 để thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự của TAND tỉnh Đăk Lăk, theo đó Doanh nghiệp TIMI phải trả cho Công ty TNHH nước giải khát CocaCola 3.021.608.000 đồng và bản phúc thẩm của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng, theo đó, Doanh nghiệp TIMI phải trả cho Công ty chế biến thực phẩm Interfood 92.222.800 đồng Vụ án sau đó đã được Tòa xem xét lại như sau:
d Nội dung giải quyết và quyết định của tòa.
Thứ nhất, hợp đồng tặng cho bất động sản ngày 10/12/2005 giữa ông Cường,
bà Hiền và ông Hùng, bà Thu mới chỉ được công chứng, chưa đăng kí quyền sở hữu nên theo quy định tại khoản 2 điều 467 BLDS 2005 thì hợp đồng tặng cho chưa có hiệu lực Cho nên hợp đồng bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất nêu trên là không có giá trị pháp lý Như vậy, quyền sử dụng đất ở tại 252 Trần Phú vẫn còn thuộc quyền sở hữu của ông Cường và bà Hiền và bà Hiền có quyền đưa tài sản này để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng Tại đơn yêu cầu đăng ký bảo lãnh ngày 17/01/2005 ông Cường và bà Hiền đã ký đơn “Bên bảo lãnh” cùng ông Hùng và bà Thu đưa quyền sử dụng đất trên để đảm bảo nghĩa
vụ hợp đồng tín dụng ngày 17/01/2005, UBND phường Thành Công TP.Buôn
Ma Thuột đã đăng ký giao dịch đảm bảo này theo đúng quy định tại pháp luật
Trang 9Vì thế, việc ông Cường bà Hiền thể hiện ý chí tự nguyện dùng tài sản thuộc sở hữu của mình đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là không trái với các quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Thứ hai, về việc tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng trên đã bị kê biên, xét
thấy, tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ngày 7/10/2005 của TAND tỉnh Đăk lăk và tại bản phúc thẩm kinh tế số 01 ngày 4/3/2006 của TAND tối cao tại Đà Nẵng không có quyết định kê biên quyền sử dụng lô đất tại
252 Trần Phú để bảo đảm thi hành án Ngày 17/1/2006, tài sản này được đăng
kí bảo đảm cho hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và Doanh nghiệp TIMI, không có tài liệu nào thể hiện có sự xóa đăng ký trước thời hạn, nên đăng kí bảo đảm vẫn còn hiệu lực và vẫn có giá trị đối với ngân hàng Đồng thời nó cũng có giá trị pháp lý trong “thứ tự ưu tiên thanh toán giữa những người cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản được xác định theo thứ tự đăng kí” Do Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản ngày 23/6/2006 của Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Lăk ban hành sau khi tài sản là quyền sử dụng lô đất trên đã được đăng kí giao dịch bảo đảm cho Ngân hàng
Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, ông Cường và bà Hiền đều thể hiện ý chí thống nhất với ông Hùng bà Thu Mục đích và nội dung của
sự thỏa thuận là chủ doanh nghiệp TIMI trả nợ cho Ngân hàng, nên việc Tòa án nhân dân tỉnh Đắc Lăk công nhận sự thỏa thuận này là thực hiện đúng nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của đương sự, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 điều 291 khoản 297 bộ luật tố tụng dân
sự, Tòa :
QUYẾT ĐỊNH
1 không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao
2.Giữ nguyên quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 25/2005/QĐST-KDTM ngày 04/8/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăc Lăk
e Ý kiến của nhóm.
Trang 10Trong vụ việc trên, nhóm đồng ý với cách giải quyết của Tòa án ở những điểm: Việc ông Hùng và bà Thu đem giá trị quyền sử dụng đất để bảo lãnh cho hợp đồng tín dụng giữa Doanh Nghiệp TIMI và ngân hàng, trong khi tài sản bảo đảm lại không thuộc quyền sở hữu của ông bà – bên bảo lãnh là trái với quy định của pháp luật Tuy nhiên, tài sản bảo đảm trên lại thuộc quyền sở hữu của ông Cường, bà Hiền – là đại diện của một bên trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng; ông Cường, bà Hiền lại cùng ký đơn “bên bảo lãnh” tại đơn yêu cầu đăng
ký bảo lãnh của ông Hùng, bà Thu và việc đăng ký giao dịch bảo đảm này vẫn theo đúng quy định của pháp luật; vì vậy, việc quyền sử dụng mảnh đất trên của ông Cường, bà Hiền được dùng để làm tài sản bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng tín dụng giữa ông bà Cường Hiền và ngân hàng có thể được công nhận Tuy nhiên, còn một vấn đề nữa Tòa cần nói rõ hơn, là trong vụ việc trên, bà Hiền đã đem quyền sử dụng đất của mình để bảo lãnh cho nhiều hợp đồng khác nhau Cụ thể là hợp đồng với công ty TNHH nước giải khát Coca Cola và công
ty chế biến thực phẩm Interfood Việc dùng 1 tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự không trái với quy định của pháp luật, nhưng ngay từ đầu, bà Hiền đã phải có nghĩa vụ thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ khác, theo
đúng quy định tại khoản 2 Điều 324 “Trong trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác…”, thì sẽ tránh việc dẫn đến những tranh chấp như trên Vì thế,
theo nhóm em, Tòa cũng cần lưu ý đến chi tiết này
3 Vụ việc thứ 3: Bản án số 185/2010 ngày 21/10/2010 của Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
a Địa điểm: phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
b Nguyên đơn: Anh Tạ Đình Phong và vợ là chị Đỗ Thị Bích Hà, nơi cư trú:
số nhà 2 đường La Thành, phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội
- Bị đơn: Ông Đỗ Xuân Hải và vợ là bà Nguyễn Thị Thành, nơi cư trú: số nhà
19 phố Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội
c Tóm tắt vụ việc.