1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn cứ xác định nghĩa vụ chung,nghĩa vụ riêng của vợ chồng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

16 432 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀHệ thống pháp luật hôn nhân gia đình của nước ta từ năm 1945 đến trước năm 1986 không quy định một cách cụ thể về vấn tài sản chung, tài sản riêng và nghĩa vụ cần thực hiện đối

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ thống pháp luật hôn nhân gia đình của nước ta từ năm 1945 đến trước năm 1986 không quy định một cách cụ thể về vấn tài sản chung, tài sản riêng và nghĩa vụ cần thực hiện đối với các loại tài sản đó Đời sống kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi các quy định của pháp luật cũng cần thay đổi cho phù hợp với yều cầu của thực tế Nhận thức được vấn đề này các nhà làm luật đã biết khéo léo dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội hiện tại cùng với tập quán truyền thống của gia đình Việt Nam; kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đặc biệt là năm 2000 đã có những quy định rất mới về vấn đề tài sản chung, tài sản riêng trong đó có nói đến nghĩa vụ của chồng đối với các tài sản này Đây là một thành công lớn bởi nó phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tạo cho vợ chồng linh hoạt khi thực hiện quyền sở hữu chung

và tính độc lập khi định đoạt tài sản riêng của vợ chồng, vì lợi ích chung của gia đình; vùa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người khác có liên quan đến tài sản của vợ chồng Ngoài ra những quy định này còn tạo cơ sở pháp lý trong thực tế

áp dụng khi Tòa án giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau

và với người khác Nhưng một câu hỏi đặt ra là: Căn cứ nào để ghi nhận các

Nhằm có một cách hiểu sâu rộng hơn những quy định về vụ thực hiện đối với tài sản chung, tài sản riêng của mỗi người và tầm quan trọng của vấn đề này

đối với đời sống xã hội Em xin chọn đề tài: “Căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng và giải pháp hoàn thiện pháp luật”.

NỘI DUNG

Trang 2

1 Căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng

Cuộc sống vợ chồng khi quan hệ hôn nhân được xác lập đồi hỏi phải có một khối tài sản trong đó có tài sản chung, tài sản riêng nhằm đảmm bảo nhu cầu của gia đình và mỗi cá nhân Kế thừa và phát huy quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 về những quy định có liên quan đến tài sản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dự liệu về căn cứ để thực hiện nghĩa vụ đối với các loại tài sản Các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề tài sản cụ thể, dễ vận dụng hơn nhiều so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 trước đây Điều

25 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về trách nhiệm liên đới của

vợ, chồng đối với giao dịch dân sự do một bên thực hiện

"

Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình"

Như vậy từ Điều 25 ta có thể thấy các nhà làm luật đã dự liệu căn cứ để xác định việc thực hiện nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng chính là nhờ vào mục đích xác lập giao dịch của mỗi bên vợ chồng Nếu một bên thực hiện nghĩa vụ giao dịch

vì lợi ích chung của gia đình, đảm bảo nhu cầu cuộc sống thì đó là nghĩa vụ chung,

từ đó có thể suy ra nếu một bên thực hiện nghĩa vụ giao dịch vì lợi ích riêng của cá nhân thì sẽ được xác định là nghĩa vụ riêng

Cũng như vậy, Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung:

"Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng,

định đoạt tài sản chung.

Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản

chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản

Trang 3

chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này".

Quy định này lại cho ta thấy một căn cứ nữa đó chính là sự thỏa thuận của vợ

và chồng Đối với tài sản chung của vợ chòng đều phải có sự thỏa thuận của hai bên nếu hai bên đồng ý thì mới là nghĩa vụ chung của cả hai vợ chồng trừ trường hợp tài sản chung đã được chia còn ngược lại nếu không có sự thỏa thuận thì đó là nghĩa vụ riêng của mỗi bên vợ chồng và khi có hậu quả xảy ra thì mỗi bên phải tự gánh chịu

Cũng theo quy định tại Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình lật ngược lại vấn

đề ta sẽ thấy căn cứ thứ ba để xác định nghĩa vụ chung, hay nghĩa vụ riêng của vợ chồng đó chính là việc vợ chồng dùng loại tài sản nào để thực hiện giao dịch Nếu dùng tài sản chung của vợ chồng đã được sự thỏa thuận của hai bên thì tất nhiên đó

là nghĩa vụ chung, còn nếu lấy tài sản riêng để thực hiện thì có thể xảy ra hai trường hợp Thứ nhất là tài sản riêng dùng vào mục đích riêng thì sẽ là nghĩa vụ riêng, nhưng trường hợp thứ hai là tài sản riêng lại dùng để trang trải cho cuộc sống gia đình thì nó lại là nghĩa vụ chung

Tóm lại, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những căn cứ nhất định trong việc xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng đối với vợ, chồng Những căn

cứ này có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở pháp lí bảo đảm quyền và lợi ích của mỗi bên vợ, chồng; giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản trên thực tế

2 Nội dung nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình

2.1 Về nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng

Khoản 2 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

"Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình,

Trang 4

thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng".

Nhu cầu đời sống chung của gia đình bao gồm các lợi ích về tinh thần, vật chất của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình Tài sản chung của vợ chồng là cơ sở kinh tế nhằm đáp ứng những lợi ích của vợ, chồng và các thành viên trong gia đình Tính tất yếu phải có tiền bạc, tài sản của vợ chồng để đảm bảo cho gia đình tồn tại và phát triển, bảo đảm nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng, nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con cái

Trong trường hợp cần phải chia tài sản chung của vợ chồng (như khi vợ chồng ly hôn ) thì người vợ, chồng do lười biếng, ít công sức đóng góp để tạo lập tài sản chung hoặc đã có hành vi hoang phí, phá tán tài sản chung của gia đình sẽ không thể được chia phần tài sản ngang bằng hay nhiều hơn phía người chồng, người vợ kia (điểm a khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Khi thiết lập các giao dịch xuất phát từ tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo nhu cầu chung của gia đình, vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiệm và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả hai bên Việc ủy quyền phải được thành lập văn bản Vợ chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó (Điều 24 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Những giao dịch mà vợ, chồng thiết lập với người khác nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của cuộc sống gia đình (ăn, ở, học hành, chữa bệnh ) thì pháp luật luôn coi là đã có sự thỏa thuận mặc nhiên của cả vợ chồng; nếu liên quan đến tài sản có giá trị lớn mới cần có sự thỏa thuận của hai vợ chồng Theo khoản 2 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 thì cần phải làm rõ mục đích sử dụng tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo nhu cầu của gia đình Chưa có một văn bản nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, giải thích, hướng dẫn về vấn đề này Cần phải hiểu "nhu

Trang 5

cầu gia đình" một cách chính xác từ đó mới thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của

vợ chồng trong việc tạo lập tài sản chung và đóng góp cần có vì nhu cầu đời sống chung của gia đình

Theo khoản 2 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản chung của vợ chồng phải được bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng (tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình và thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng) Cần xác định những nghĩa vụ nào là nghĩa

vụ chung của vợ chồng thì khối tài sản chung của vợ chồng mới phải bảo đảm cho nghĩa vụ chung đó? Cho đến nay, các văn bản quy định, hướng dẫn áp dụng luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa thực sự chú ý đến vấn đề này Cuộc sống chung giữa vợ chồng và nhu cầu đời sống chung của gia đình đòi hỏi vợ chồng phải có mối quan hệ với nhiều người khác và những phí tổn về vật chất (tiền bạc, tài sản ) để đáp ứng cho quyền lợi của vợ chồng và gia đình Nhiều khi, tài sản chung của vợ chồng không đủ đáp ứng với quyền lợi của gia đình, vợ, chồng đã phải "vay, mượn" tiền bạc, tài sản của người khác vì nhu cầu gia đình Đó chính là những khoản nợ mà vợ chồng phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho người chủ nợ Khối tài sản chung của vợ chồng phải được bảo đảm cho các món nợ đó Theo nguyên tắc, nếu là vợ chồng thì cả vợ chồng phải có nghĩa

vụ trả nợ (có thể lấy từ khối tài sản chung của vợ chồng hoặc xác định nghĩa vụ của cả hai vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm chi trả khoản nợ đó), ngược lại, nếu vợ, chồng cho vay nợ sử dụng vào mục đích riêng, bảo đảm cho nhu cầu riêng thì người vợ, chồng đó phải có nghĩa vụ thanh toán bằng tài sản riêng

Thực tế cho thấy, vấn đề phân biệt nợ chung hay nợ riêng của vợ, chồng là rất khó khăn trên cơ sở đó để xác định nghĩa vụ chung của vợ chồng hay trách nhiệm cá nhân của vợ, chồng Cuộc sống vợ chồng có rất nhiều vấn đề phức tạp đặc biệt là các gia đình truyền thống phương Đông Người ta thường chỉ coi trọng

sự gắn kết tình cảm yêu thương trong gia đình mà quên đi một vấn đề bất cứ lúc

Trang 6

nào cũng có thể ảnh hưởng đến tình cảm đó, chính là vấn đề tiền bạc, tài sản Khi

có tranh chấp xảy ra, chẳng hạn như việc ly hôn những vấn đề có liên quan đến tiền bạc giải quyết rất khó khăn và phức tạp, thực tế các vụ án giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng ở nước ta nhiều năm qua đã chứng minh điều đó

Có trường hợp món nợ đó do một bên vợ, chồng vay hoặc cả hai vợ chồng cùng đi vay, nhưng chỉ có một bên vợ, chồng kí vào giấy nợ Khi có tranh chấp, việc xác định "nợ chung" hay "nợ riêng" giữa vợ chồng với chủ nợ thường gặp nhiều khó khăn

Một giải pháp đã được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 25) đưa

ra đó là:

"Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình".

Quy định này nhằm xác định nghĩa vụ chung của hai vợ chồng đối với các giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện vì nhu cầu thiết yếu của gia đình (nghĩa là tài sản chung của vợ chồng được bảo đảm cho các giao dịch hợp pháp dù chỉ có một bên vợ, chồng thực hiện vì lợi ích gia đình) Đây cũng là một trong những quy định mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khi dự liệu quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung Như vậy, nếu một bên vợ, chồng vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (ăn, ở, học hành, chữa bệnh ) thì khoản nợ đó được bảo đảm thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng, nghĩa là cả hai vợ chồng đều có chung nghĩa vụ trả khoản nợ

đó Tuy nhiên, cần phải xác định vợ, chồng vay nợ có nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình hay không và "nhu cầu sinh hoạt thiết yếu" bao gồm những gì? Luật và những văn bản hướng dẫn áp dụng của các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền chưa quy định và hướng dẫn cụ thể về vấn đề này

Ngoài ra khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

Trang 7

"Trong trường hợp tài sản riêng của vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng".

Và theo quy định tại khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì:

"Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết".

Từ những quy định này, có ý kiến cho rằng Luật cần quy định cụ thể tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để thanh toán các khoản nợ như:

- Nợ phát sinh nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu

- Nợ liên quan đến việc tạo lập, quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản chung của

vợ chồng

- Nợ liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình

- Nợ phát sinh có liên quan đến công việc mà cả hai vợ chồng cùng thực hiện

- Nợ theo thỏa thuận của hai vợ chồng

2.2 Nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ chồng

Vợ, chồng với tư cách là chủ sở hữu tài sản riêng của mình, có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng đó một cách độc lập, không bị chi phối bởi

ý chí của người chồng, vợ kia (trừ trường hợp được quy định tại khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Đồng thời, theo quy định, vợ, chồng cũng phải thực hiện nghĩa vụ đối với hành vi của vợ, chồng liên quan đến tài sản của mỗi bên

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2000, "tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết

yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng" Nói cách

Trang 8

khác, trường hợp cuộc sống chung của gia đình gặp nhiều khó khăn, tài sản chung của vợ chồng không đủ bảo đảm cho những nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình mà người vợ, chồng có tài sản riêng thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu đó của gia đình, bảo đảm cuộc sống của vợ chồng và các con Đây cũng là một trong những quy định mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, liên quan đến tài sản riêng của

vợ chồng Nghĩa vụ này của vợ, chồng xuất phát từ việc bảo đảm lợi ích chung của gia đình

Thứ hai, theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhần và gia đình năm 2000 thì

"nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó".

Nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng tức là nợ riêng của vợ chồng phát sinh từ các khoản nợ mà vợ, chồng vay người khác, sử dụng vào mục đích cá nhân, mà không vì lợi ích chung của gia đình; hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng hay các loại nghĩa vụ khác theo luật định(nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình như cha, mẹ, vợ chông, con mà vợ, chồng phải thực hiện) Như vậy, theo quy định của pháp luật, vợ, chồng bằng tài sản riêng của mình để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

Một là, nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác từ trước khi kết hôn mà không vì nhu cầu đời sống chung của gia đình

Hai là, nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác trong thời kì hôn nhân sử dụng vào mục đích riêng, không đáp ứng nhu cầu thiết yếu vì lợi ích chung của gia đình

Các khoản nợ trên đây vợ, chồng vay từ trước hoặc trong thời kì hôn nhân

đã chỉ bảo đảm cho quyền lợi riêng của vợ, chồng Vì vậy, vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đó bằng tài sản riêng của mình, không thể buộc người chồng,

vợ kia phải liên đới thực hiện các nghĩa vụ này Trước đây, Nghị quyết số

Trang 9

01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 cũng đã hướng dẫn: đối với các khoản nợ mà vợ, chồng vay riêng tù trước khi kết hôn hoặc trong thời kì hôn nhân sử dụng vào mục đích riêng thì có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tài sản riêng Nếu tài sản riêng không đủ trả nợ thì phải trích phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung của vợ chồng (Theo Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986) để trả nợ

Ba là, nghĩa vụ trả các khoản nợ phát sinh trong quá trình quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nợ phát sinh khi vợ, chồng đã tiến hành khai thác các hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân mà vợ chồng không

có thỏa thuận những hoa lợi, lợi tức đó vẫn thuộc tài sản riêng của mỗi người

Qúa trình quản lí, sử dụng, bảo quản tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân bằng các khoản chi phí mà vợ, chồng vay của người khác, theo nguyên tắc, vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản riêng của mình

Bốn là, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi vợ, chồng là người quản lí di sản thừa kế mà đã có hành vi thực hiện các giao dịch nhằm tẩu tán, phá tán hoặc làm

hư hỏng, mất mát di sản (khoản 3 Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001) Trong trường hợp này, những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và có quyền yêu cầu chia di sản; vợ, chồng còn sống mà quản lí di sản đó có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho những người thừa kế khác theo quy định của pháp luật

Năm là, các khoản nợ phát sinh khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân vợ, chồng như các khoản chi phí cho con riêng của mình (trừ trường hợp theo quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, vợ, chồng với tư cách

là bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 34, 36, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000); hoặc các chi phí cho người mà vợ, chồng làm người giám hộ của người đó theo quy định của pháp luật dân sự và Luật hôn nhân

và gia đình

Trang 10

Sáu là, nghĩa vụ cấp dưỡng mà vợ, chồng phải thực hiện liên đới với các thành viên trong gia đình theo quy định tại Chương V (quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại, giữa anh chị em và giữa các thành viên trong gia đình) và Chương VII (cấp dưỡng) của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, theo luật định, được thực hiện nhằm bảo đảm quyền được cấp dưỡng của các thành viên trong gia đình Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để

tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật hôn nhân

và gia đình (khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)

Như vậy, trong các quan hệ gia đình, vợ, chồng với tư cách là ông, bà, cha,

mẹ, con, cháu, anh, chị, em phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các thành viên trong gia đình theo quy định tại các điều từ Điều 47 đến Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Bảy là, nghĩa vụ bồi thường khoản tiền cấp dưỡng mà vợ, chồng là người được giao quản lí nhưng đã làm tiêu tán hoặc sử dụng không đúng mục đích (khoản 4 Điều 18 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)

Tám là, nghĩa vụ trả các khoản nợ phát sinh dựa trên cơ sở vợ, chồng đã có hành vi tự mình tiến hành các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình (vi phạm khoản 3 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)

Chín là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật của vợ, chồng

Về nguyên tắc, đối với các khoản nợ và nghĩa vụ phát sinh trên đây, vợ, chồng có nghĩa vụ phải thanh toán, bồi thường bằng tài sản riêng của mình; nếu tài

Ngày đăng: 29/01/2016, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w