1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối tượng của nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam

32 403 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về tài sản Có rất nhiều các quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về tài sản; Theo Điều 899 BLDS Canada quy định: “Tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình, được chia thành bất đ

Trang 1

iao dịch dân sự là tọa độ pháp lí phổ biến trong bản đồ pháp luật Các chủ thểxây dựng một quan hệ pháp luật dân sự mà trong đó quyền và nghĩa vụ dân sựcủa các bên chủ thể luôn đối lập nhau Nghĩa vụ dân sự cũng là một quan hệpháp luật Vậy đối tượng của nghĩa vụ dân sự là gì? Những đặc điểm của chúng được biểuhiện như thế nào? Chính vì vậy mà bài viết này tôi muốn tập trung khai thác đề tài:

G

“Đối tượng của nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam”;

1 Một số vấn đề cơ bản về đối tượng nghĩa vụ dân sự

rong quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể sẽ tác động vào một tài sản, mộtcông việc cụ thể nào đó Những tài sản, công việc này chính là đối tượng củaviệc thực hiện nghĩa vụ dân sự Tùy thuộc vào tính chất cũng như nội dung củatừng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà đối tượng của nó có thể là một tài sản, một công việcphải làm hoặc một công việc không được làm Theo điều 282 BLDS năm 2005 quy định

về đối tượng của nghĩa vụ dân sự:

T

“1 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện.

2 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định cụ thể.

3 Chỉ những tài sản có thể giao dịch được, những công việc có thể thực hiện được mà pháp luật không cấm, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của nghĩa vụ dân sự”;

Nhà làm luật đã đưa ra khái niệm đối tượng nghĩa vụ dân sự theo phương pháp gic liệt kê Do đó, đối tượng của nghĩa vụ bao gồm:

lô-Đối tượng của nghĩa vụ dân sự

Đối tượng của nghĩa vụ dân sự

Tài sản Công việc phải thực

Trang 2

2 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự

2.1 Tài sản

2.1.1 Khái niệm về tài sản

Có rất nhiều các quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về tài sản; Theo Điều 899 BLDS Canada quy định: “Tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình, được chia thành bất động sản và động sản”; Đối với BLDS Pháp 1804 tuy không đưa ra định nghĩa về tài sản nhưng theo các luật gia thì tài sản được tiếp cận từ hai hướng là “vật” và “quyền”; Còn BLDS của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kì) thì các nhà làm luật đa đưa ra khái niệm: “Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư; tài sản hữu hình và vô hình; động sản và bất động sản” (Điều 448);

hái niệm tài sản đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự (BLDS) 1995 tại Điều 172: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền

và các quyền tài sản” Sau đó, trong Điều 163 BLDS 2005 sửa đổi thành: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”;

K

Khái niệm tài sản theo BLDS 2005 đã mở rộng hơn BLDS 1995 về đối tượng nàođược coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cảnhững vật chắc chắn sẽ có trong tương lai cũng được gọi là tài sản Vật có thực là một bộphận của thế giới vật chất có thể đáp ứng được một hay nhiều nhu cầu nào đó của conngười, vật có thực với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, cóđặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự Vật chắc chắn sẽ có trongtương lai được quy định tại điều 175 BLDS 2005, đó là: hoa lợi và lợi tức Tương tự, tiền

và giấy tờ trị giá được bằng tiền như cổ phiếu, trái phiếu, … cũng là loại tài sản có tínhchất đặc biệt;

2.1.2 Đặc điểm của tài sản

Thứ nhất, nó có thể lượng hóa được bằng tiền hoặc vật trao đổi ngang giá;

Thứ hai, tài sản phải đáp ứng một mục đích nào đó cho chủ thể có quyền;

Thứ tư, nó phải đáp ứng lợi ích nhất định cho con người;

Thứ năm, nó phải mang tính giá trị;

Trang 3

2.1.3 Phân loại tài sản

Thứ nhất, xem xét dưới góc độ đặc tính vật lí thực tế có thể phân loại tài sản thành bất động sản và tài sản

Bất động sản và động sản là hai tiêu chí để phân

loại tài sản trong quyền sở hữu; Khái niệm động sản và

bất động sản tương đối phổ biến trong hệ thống pháp

luật thành văn, chịu sự ảnh hưởng của dân luật các

nước phương Tây, trực tiếp là bộ dân luật Pháp, Bộ dân

luật của chế độ Việt Nam cộng hòa ban hành năm 1972

ghi nhận bất động sản có 3 loại sau đây:

Loại thứ nhất gồm những vật dụng không thể

chuyển dời do bản chất tự nhiên (Điều 363);

Loại thứ hai là bất động sản vì công dụng riêng,

đó là những động sản được xem như là bất động sản

nhằm mục đích làm gia tăng giá trị bất động sản (Điều

"1 Bất động sản là các tài sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể

cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng trên đó;

c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.

2 Bất động sản là những tài sản không phải là bất động sản";

Trang 4

Việc phân loại trên chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí vềkhả năng di dời Đây là cách phân loại truyền thốngcủa khá nhiều nước trên thế giới; song cách phânloại này cũng mang tính tương đối vì trong hệ cảnhnày, tài sản là bất động sản; trong hệ cảnh khác nó lại

là động sản; Ở đây, nhà làm luật định nghĩa tài sảntheo phương pháp logic liệt kê; Tuy nhiên cách liệt

kê này ở điểm c) và điểm d) còn rất đỗi mơ hồ: Cáctài sản khác ở đây là tài sản gì? Pháp luật quy địnhnhững thứ gì là tài sản nữa? Nhà làm luật cũngkhông dự tính hết được những tài sản nào khác là bấtđộng sản bởi theo định hướng, tài sản luôn tuântheo quy luật vận động khách quan

Bất động sản: Nhà gắn liền trên đất

Động sản: Xe đạp

Song cũng không thể phủ nhận rằng cách phân loại này cũng mang lại một số ýnghĩa Đó là việc xác lập thủ tục đăng kí đối với tài sản (Điều 167 BLDS 2005); Xác địnhthời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản (Điều 168 BLDS 2005); Xác địnhquyền năng của chủ thể đối với tài sản nhất định (Từ Điều 273 đến 278 BLDS năm 2005);Xác lập địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản màcác bên không có thỏa thuận (Điều 284 BLDS năm 2005); Xác lập căn cứ xác lập quyền

sở hữu; Trường hợp vật vô chủ (Điều 239 BLDS năm 2005), trường hợp người chiếm hữungay tình (Điều 247 BLDS năm 2005); Xác định hình thức của hợp đồng; Điều 459 BLDSquy định việc mua bán đấu giá bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng,chứng thực; Căn cứ xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ tục khác; Xác định phươngthức kiện dân sự; Nếu không áp dụng được phương thức kiện đòi lại tài sản thì chủ thể cóthể áp dụng phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại;

Thứ hai, dựa vào nguồn gốc và cách thức hình thành, có thể phân loại thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức

Trang 5

Tài sản gốc là tài sản khi sử dụng vàkhai thác công dụng thì nó sẽ sinh ra lợi íchvật chất nhất định Hoa lợi là những sản vật

tự nhiên như lúa thu hoạch trên cánh đồng,trứng trong trang trại gà, sữa trên nông trại

bò sữa,

Lợi tức là khoản lợi nhuận thu được

từ việc khai thác tài sản mà do quá trìnhquan hệ xã hội mang lại Thông thườngngười ta thường nghĩ lợi tức chính là giá trịthặng dư mà nhà tư bản bóc lột lao độnglàm thuê mà có

Cây cam: Vật gốc Quả cam: Hoa lợi

Con gà mái: Vật gốc Trứng gà: Hoa lợi

Tuy nhiên, cách hiểu này mang hơi hướng tiêu cực đối với việc nhìn nhận quan hệkinh tế tư bản từ góc độ xã hội chủ nghĩa Lợi tức là khoản lợi nhuận thu được từ việc khaithác tài sản mà do quá trình quan hệ xã hội mang lại Thông thường người ta thường nghĩlợi tức chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản bóc lột lao động làm thuê mà có Tuy nhiêncách hiểu này mang hơi hướng tiêu cực đối với việc nhìn nhận quan hệ kinh tế tư bản từgóc độ xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, lợi tức còn bao hàm cả lợi nhuận thu được khi cungcấp dịch vụ, chẳng hạn như tiền thuê nhà, tiền gửi tiết kiệm ngân hàng, Việc phân loạihoa lợi và lợi tức chỉ đóng vai trò thứ yếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Khi xem xét hoa lợi, lợi tức thì cần phải lưu ý: Có những tài sản là tài sản gốc đốivới vật này nhưng lại là hoa lợi, lợi tức của tài sản khác; Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức vớicác bộ phận của tài sản Chỉ khi tài sản tách ra khỏi tài sản gốc nó mới được coi là hoa lợi,lợi tức của tài sản đó; trong trường hợp nó vẫn gắn liền với tài sản gốc thì nó được coi làmột bộ phận của tài sản đó Ví dụ: sữa vẫn ở trong bầu vú con bò; quả vẫn ở trên cây, …;Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với sản phẩm;

Trang 6

Việc phân loại này có ý nghĩa trong một số trường hợp nhất định Chẳng hạn đốivới việc xác định chủ sở hữu hợp pháp của tài sản, đặc biệt là trong việc phân chia tài sảntrong quan hệ hôn nhân và quan hệ kinh doanh Theo Điều 416 BLDS năm 2005, trongtrường hợp cầm giữ tài sản, hợp đồng song vụ thì bên cầm giữ tài sản có quyền thu hoa lợi

từ tài sản cầm giữ và dùng để bù trừ nghĩa vụ;

Thứ ba, tài sản có đăng kí quyền sở hữu và không đăng kí quyền sở hữu

Căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò và ýnghĩa của tài sản đối với kinh tế, chính trị, anninh, quốc phòng thì pháp luật có quy địnhđăng kí quyền sở hữu với tài sản nhất định;

Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản bắtbuộc phải đăng kí, nếu không sẽ không được

Tài sản không đăng

2.1.4 Tài sản theo quy định của pháp luật

Vật

ới nghĩa vật lí, vật là một bộ phận của thế giới vật chất nhưng không phải mọi vật của thế giới vật chất đều được coi là vật (tài sản) trong quan hệ pháp luật dân sự Xét theo tiêu chuẩn lí học, vật trước hết là một vật thể tồn tại xác định được bằng các đơn vị đo lường về khối lượng, hình dáng, tính chất hóa, lí, sinh và những thuộc tính khác của vật trong mối tương quan với thế giới khách quan, cả về mặt tự nhiên và xã hội Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lí, vật phải tồn tại, phải sử dụng được trong sản xuất kinh doanh, sinh hoạt tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của con người Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng nhu cầu của con người, vật thực có tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng giao lưu dân sự;

V

- Phân loại vật

Trang 7

Thứ nhất, vật chính và vật phụ

Theo Điều 176 BLDS năm 2005 phân loại vật thành: vật

chính và vật phụ Có thể hiểu vật chính là vật độc lập, có thể khai

thác công dụng theo tính năng còn vật phụ là một bộ phận của

vật chính, hỗ trợ khai thác công dụng của vật chính nhưng có thể

tách rời

Ví dụ: Laptop (vật chính), chuột máy vi tính (vật phụ);

Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc giao vật, giao vật chính

thì phải chuyển cả vật phụ

Vật chính: Laptop

Vật phụ: Chuột

Thứ hai, vật chia được và vật không chia được

Căn cứ vào hình dáng tính năng của vật người ta chia vật

thành vật chia được và vật không chia được Vật chia được là

vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử

dụng ban đầu; còn vật không chia được thì ngược lại Chẳng

hạn: Đỗ xanh (vật chia được), cái đĩa sứ (vật không chia được);

Cách phân loại này có ý nghĩa trong trường hợp khi cần

phân chia vật không chia được thì phải quy đổi thông qua vật

ngang giá, đặc biệt trong việc phân chia tài sản chung của vợ

chồng;

Vật chia được: Đỗ xanh

Vật không chia được: Cái đĩa

Thứ ba, vật tiêu hao và vật không tiêu hao

Trang 8

Căn cứ vào tính chất tương đối của vật lí, Điều 178BLDS năm 2005 phân chia vật thành vật tiêu hao và vậtkhông tiêu hao Vật tiêu hao là vật đã qua sử dụng mộtlần không giữ được tính chất, hình dáng, thậm chí là tínhnăng ban đầu Ví dụ: bút mực, tẩy bút chì, các loại mĩphẩm,

Còn vật không tiêu hao là vật qua sử dụng nhưng tươngđối vẫn giữ nguyên được tính chất, hình dáng và tínhnăng ban đầu Ví dụ: quạt điện, siêu đun nước,

Vật tiêu hao: Xà bông

Vật không tiêu hao: Kính mắt

dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí Ví dụ bức tranh: “Phố

cổ”- Bùi Xuân Phái;

Cách phân loại trên có ý nghĩa trong việc chuyển giao

vật Đối với vật cùng loại nếu làm hư hại thì có thể thay thế

bằng vật khác cùng loại Còn đối với những vật đặc định, do

tính chất duy nhất nên trong quá trình chuyển giao phải dùng

Trang 9

bộ phận không đúng quy cách, chủng loại, thông số kĩ thuật thì không sử dụng được hoặcgiá trị sử dụng của nó giảm sút; chẳng hạn như đôi dép, đôi giầy, bộ tranh tứ bình,…;

Nhưng theo tôi, có những vật đồng bộ khi thiếu một trong các phần còn lại thì vẫnthể hiện được tính năng của nó, phụ thuộc vào mục đích sử dụng của người sở hữu nó,chẳng hạn một chiếc khuyên tai, một chiếc găng tay,…

Vật đồng bộ: Tranh tứ bình

Theo nguyên tắc chung, vật đồng bộ là đối tượngthống nhất trong giao dịch dân sự Vì vậy khi thực hiệnnghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ phải chuyển giao toàn bộcác phần hoặc các bộ phận hợp thành đồng bộ Tuy nhiêncách phân loại này không thông dụng khoa học pháp lí dân

sự, người ta dễ nhầm lẫn với các cách phân loại trên;

Ngoài ra, năng lượng được xem như là vật đặc biệt Nó không có hình dạng vàkhông thể quan sát được nếu không có những phương tiện kĩ thuật chuyên dùng Việcchiếm hữu và chuyển giao thực hiện bằng phương thức riêng; Nó được coi là vật và được

đo lường chủ yếu bằng đơn vị Kw/h;

- Chế độ pháp lí đối với vật

ăn cứ vào giá trị và giá trị sử dụng của nó đối với xã hội về kinh tế, an ninh, quốc phòng, BLDS

đã quy định cách thức phát sinh quyền sở hữu, trình tự, các nguyên tắc dịch chuyển quyền sở hữu đối với vật Tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự, phương thức dịch chuyển vật gọi là chế đọ pháp lí đối với vật đó Căn cứ vào chế độ pháp lí của vật, người ta chia vật thành các chế độ: vật cấm lưu thông, vật hạn chế lưu thông và vật tự do lưu thông;

C

Thứ nhất, vật cấm lưu thông

Đó là những vật có vai trò to lớn hoặc có nguy hại lớn đối

với nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia: vũ

khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật, chất nổ, ma túy, … Nhà nước

cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ,

Lựu đạn

Trang 10

Thứ hai, vật hạn chế lưu thông

Đó là những vật có tầm quan trọng hoặc nguy hiểm cho nền kinh tế quốc dân, anninh quốc phòng, lợi ích quốc gia nhưng không phải là vật cấm lưu thông Nhà nước sẽkiểm soát sự dịch chuyển các loại vật đó; những vật này không chỉ thuộc sở hữu nhà nước

mà còn có thể thuộc sở hữu của các cơ quan trong chừng mực nhất định Trong một sốtrường hợp phải có sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì hợp đồng mớikhông bị coi là vô hiệu; Các loại vũ khí thể thao, súng săn, …

Thứ ba, vật tự do lưu thông

Đó là những vật không phải vật cấm lưu thông và vật hạn chế lưu thông; đó có thể

là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt thông thường hay những hàng hóa được phép trao đổitrong giao dịch dân sự

* Tiền

- Khái niệm

ó rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về tiền Theo C.Mác, tiền "là một thứ

hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lương và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa"; Trong

BLDS hiện hành của Việt Nam đã quy định tiền là một loại tài sản nhưng không quy địnhnhững loại tiền nào là phù hợp với quan hệ dân sự Bản chất của tiền vừa là vật ngang giáthể hiện chức năng thước đo giá trị, vừa là một thứ hàng hóa đặc biệt lưu thông trên thịtrường

C

Mặc dù "tiền cổ" có thể được coi là hàng hóa trên thịtrường, có thể làm vật ngang giá nhưng nó không cóthuộc tính phổ biến khi tham gia lưu thông vào quan

Trang 11

hệ dân sự, nên không được coi là tiền theo cách hiểuthông thường;

- Các tính chất của tiền

Thứ nhất, chủ thể là nhà nước phát hành;

Thứ hai, tính trao đổi ngang giá, lưu thông phổ biến; Thứ ba, tính dễ nhận biết;

Thứ tư, tính giá trị lâu bền;

Một số loại tiền cổ của Việt Nam

- Bản chất pháp lí của tiền

Thứ nhất, tiền là một loại tài sản đặc biệt

Nó vừa là một tài sản, đồng thời cũng là một công cụ đo giá trị các tài sản khác; Tất

cả các tài sản đều có thể quy đổi ra tiền;

Thứ hai, tiền có chức năng pháp lí riêng biệt

Tiền Việt Nam

Mệnh giá: 20.000VNĐ

Tiền Hoa Kì Mệnh giá: 100 dollar

Tiền Hàn Quốc Mệnh giá: 1000 Won

* Giấy tờ có giá

- Khái quát hình thành và phát tiển giấy tờ có giá

iấy tờ có giá được hình thành dựa trên quan hệ mua bán chịu hàng hóa, sử dụng các chứng thư nợ của các thương nhân mà ngày nay chúng ta gọi là tín dụng thương mại; Tuy nhiên việc áp dụng các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng các chứng thư này không

Công cụ tích lũy tài sảnThước đo giá trị

Chức năng pháp lí của tiền

Trang 12

đảm bảo quyền và lợi ích của các bên liên quan đòi hỏi nhà nước phải pháp luật hóa các quan hệ bán chịu này; Năm 1603, Pháp lệnh về Humburg về hối phiếu được ban hành Năm 1874, pháp lệnh chung

về hối phiếu Đức được tập hợp hóa từ 55 pháp lệnh hối phiếu của từng bang riêng rẽ; Năm 1882, Vương quốc Anh ban hành luật hối phiếu; Đầu thế kỉ XX xuất hiện Công ước 1930 về hối phiếu; Từ cuối thế kỉ

XX, hối phiếu đã được sửu dụng rộng rãi trong quan hệ quốc tế; Hiệp ước thống nhất về hối phiếu đòi

nợ đã được Ủy ban luật thương mại liên hợp quốc thông qua vào năm 1988;

Ở Việt Nam, thời kì trước năm 1975, cơ chế quản lí nền kinh tế của nhà nước tamang tính chất tập trung quan liêu bao cấp nên quan hệ tín dụng thương mại chưa đượcthừa nhận; ngoài một số loại tem phiếu có giá ra thì giấy tờ có giá không xuất hiện tronggiai đoạn này; Sau năm 1986, Nhà nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần;

Sau các loại công trái xây dựng tổ quốc, giao dịch phát hành giấy tờ có giá của ngânhàng trong Pháp lệnh ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh hợp tác xã tín dụng và công ti tàichính ngày 24/5/1990; Sau đó được tiếp tục quy định trong Luật các tổ chức tín dụng banhành ngày 12/12/1997 (SĐBS năm 2004); Năm 1995, BLDS đầu tiên ra đời ghi nhận tàisản gồm giấy tờ có giá tại Điều 172; Trong nghị quyết số 07/2008/QĐ_NHNN(24/3/2008) về quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng thì giấy

tờ có giá được hiểu là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong

đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong thời gian nhất định, điều kiện trả lãi vàcác điều khoản cam kết giữa các tổ chức tín dụng và người mua (khoản 1 Điều 4)

Như vậy, căn cứ vào thời hạn, nhà làm luật chia giấy tờ có giá thành hai loại: ngắnhạn và dài hạn; còn căn cứ vào hình thức phát hành thì phân thành giấy tờ có giá ghi danh

và vô danh;

- Phân loại giấy tờ có giá

Phân loại theo chức năng

Trang 13

Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người kí phát lập, yêu cầu

người bị kí phát thanh toán không điều kiện với một số tiền xác định khi

có yêu cầu hoặc vào một thời điểm trong tương lai cho người hưởng

thụ;

Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành thành

lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền nhất định khi có

yêu cầu hoặc vào một thời điểm trong tương lai cho người hưởng thụ;

Séc là giấy tờ có giá do người kí phát lập, ra lệnh cho người bị

kí phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

được phép của ngân hàng nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất

định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người hưởng thụ.

Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu ưu

đãi và cổ phiếu thường.

Trái phiếu bao gồm công trái,

tín phiếu kho bạc, trái phiếu đầu

tư, trái phiếu huy động vốn cho công trình, trái phiếu huy động vốn cho quỹ phát triển và trái phiếu công ty; Cổ phiếu và trái phiếu đều phân thành hai loại: ghi danh và không ghi danh;

* Quyền tài sản

- Khái niệm

Quyền tài sản theo quy định của Điều 163, 181 BLDS

năm 2005 thì quyền tài sản cũng được coi là tài sản nhưng có

tính chất đặc thù Chỉ những quyền nào trị giá được bằng tiền

và có thể chuyển giao cho người khác trong giao lưu dân sự thì

mới được coi là quyền tài sản Nghĩa là nó có thể trở thành đối

tượng của hợp đồng dân sự cụ thể

Trong cổ luật của Việt Nam, đặc biệt Quốc triều hình

thư thì khái niệm quyền tài sản rất mới mẻ Khái niệm quyền

tài sản cũng mới được đưa vào bắt đầu từ BLDS năm 1995

Quyền tài sản là một thuật ngữ pháp lí xuất hiện từ lâu ở

phương Tây, bao gồm quyền đối vật và quyền đối nhân;

Quyền đối vật là quyền thực hiện các quyền năng trên các vật

cụ thể và xác định còn quyền đối nhân được hiểu là các quyền

tương ứng với các nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực

hiện đối với người có quyền;

Quyền tài sản hiểu

theo nghĩa rộng là quyền của

cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành

vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu cũng là một tài sản (Vật quyền); Quyền yêu cầu người khác phải thực hiện nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình cũng là một tài sản (Trái quyền); Theo quan niệm của các nhà làm luật La Mã thời cổ đại thì người ta chia quyền tài sản thành vật quyền (quyền đối vật) và trái quyền (quyền đối nhân) mà không chia thành

Hối phiếu đòi nợ

Hối phiếu đòi nợ

Trang 14

Quyền đối vật trong quan niệm Latin quyền đối với vật

hoặc quyền được đảm bảo bằng giá trị của vật;

Quyền đối nhân là quyền được thiết lập trong mối quan

hệ giữa các chủ thể theo pháp luật; Đó là quyền cho phép một

người yêu cầu người khác đáp ứng đòi hỏi của mình nhằm

thỏa mãn một nhu cầu gắn liền với lợi ích vật chất của mình;

Chẳng hạn người mua hàng có quyền yêu cầu người bán

hàng sửa chữa sản phẩm trong thời gian bảo hành;

quyền tài sản và quyền sở hữu vì xét cho cùng thì quyền

sở hữu là một phần của quyền tài sản;

Điều 181 BLDS năm 2005 quy định quyền tài sản là quyền giá trị được bằng tiền Theo quy định này nhà lập pháp muốn nói tới quyền đối nhân;

Pháp luật Việt Nam không có sự kế thừa về quyền tài sản mà tiếp thu những quyđịnh này từ nước ngoài; Tại Điều 181 BLDS năm 2005 đã quy định về quyền tài sản:

"Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân

sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ"; Thông qua khái niệm về quyền tài sản trong BLDS năm

2005 thì có thể hiểu đó là những xử sự được phép của chủ thể mang quyền; Các luật gia

đã giải thích rằng quyền tài sản là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện cácquyền đó chủ sở hữu sẽ có một tài sản; Quyền sáng chế kiểu dáng công nghiệp, quyền tácgiả đối với tác phẩm văn học,

- Đặc điểm pháp lí của quyền tài sản

Thứ nhất, quyền tài sản trị giá được bằng tiền; bởi vậy khi một "quyền" được lượng hóa

thành một số tiền nhất định thì nó cũng được coi là tài sản: quyền sử dụng đất,quyền sở hữu trí tuệ, ;

Thứ hai, quyền tài sản cũng được tham gia vào giao lưu dân sự;

Thứ ba, quyền tài sản là tài sản vô hình;

2.2 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự là công việc phải thực hiện

ông việc phải làm được coi là đối tượng của nghĩa vụ, nếu từ một công việc được nhiều người xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ mà theo đó, người có nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định;

C

Trang 15

Công việc phải làm có thể phải hoàn thành với kết

quả nhất định

Ví dụ 1: Chủ đầu tư thuê nhà thầu dự án xây biệt thự.

Kết quả của hoàn thành việc thi công xây dựng là ngôi

biệt thự mới hoàn chỉnh;

Nhưng công việc cũng có thể không gắn liền với

kết quả (do các bên thỏa thuận hoặc do tính chất của

công việc)

Ví dụ 2: Công việc làm vệ sĩ

Nếu có sự xâm hại thì kết quả của công việc bảo vệ là

đảm bảo cho thân chủ an toàn Nhưng nếu không có

sự xâm hại nào tới thân chủ thì công việc bảo vệ đó

không nhất thiết gắn liền với kết quả;

Biệt thự

Tập duyệt vệ sĩ

Mặt khác, kết quả của công việc phải làm có thể được biểu hiện dưới dạng một vật

cụ thể (hàng hóa, tài sản) nhưng cũng có thể không biểu hiện dưới dạng một vật cụ thểnào (các loại dịch vụ);

Ví dụ1: Trong hợp đồng gia công tài sản, kết quả của công việc được biểu hiện dưới dạng

một tài sản được xác định từ trước;

Vải- vật chưa gia công Áo- vật đã gia công Hướng dẫn viên du lịch

Ví dụ 2: Trong hợp đồng dịch vụ du lịch, đối tượng của nghĩa vụ là công việc

hướng dẫn tham quan du lịch;

2.3 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự là công việc không được thực hiện

Trang 16

ông việc không được làm là đối tượng của nghĩa vụ dân sự trong nhữngtrường hợp cụ thể các trường hợp thỏa thuận mà theo đó người có nghĩa vụkhông được thực hiện công việc theo nội dung mà các bên đã xác định Nếucác bên đã thỏa thuận một bên không thực hiện công việc đã xác định mà bên có nghĩa

vụ lại thực hiện công việc đó thì coi như là vi phạm nghĩa vụ

C

Ví dụ: Anh A và ông B có nhà ở liền kề nhau Vườn cây của anh A trồng rất

nhiều bưởi năng suất cao ở sát bên tường và vách nhà của ông B Anh A đã đưa cho ông B một khoản tiền và thỏa thuận rằng trong vòng 2 năm ông B không được xén tỉa bất cứ bộ phận nào của cây vươn sang nhà ông B Ông B nhận tiền đồng ý.

Trong pháp luật Dân sự nói riêng thì đối tượng của nghĩa vụ dân sự là côngviệc không được thực hiện ít thấy trong đời sống thực tiễn cũng như hệ thống pháp lý.Công việc không được thực hiện thường là những điều khoản nhỏ trong một số hợpđồng nhất định;

3 Đặc điểm của đối tượng của nghĩa vụ

Thứ nhất, phải đáp ứng được lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền

Thông thường lợi ích mà chủ thể có quyền

hướng tới là lợi ích vật chất (vật, tiền,…) Chẳng hạn

trong Hợp đồng thuê tài sản thì chủ thể có quyền

hướng tới là một khoản tiền Nhưng cũng có thể là

một lợi ích tinh thần như: thuê ca sĩ hát, thuê diễn

Để chủ thể có quyền đạt được lợi ích vật chất nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự làmột vật cụ thể thì vật đó phải mang đầy đủ các thuộc tính của hàng hóa (giá trị và giá trị

Đặc điểm

Đáp ứng lợi ích cho chủ thể có quyền

Đáp ứng lợi ích cho chủ thể có quyền

Xác định cụ thể Phải thực hiện được

Ngày đăng: 29/01/2016, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luận văn tốt nghiệp: "Tài sản theo quy định của bộ luật dân sự";Phạm Thị Minh Trang DS31C;Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài sản theo quy định của bộ luật dân sự
7. Tạp chí luật học;“Tiền - một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự”;Bùi Đăng Hiếu;Trang 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền - một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự
2. Luận văn thạc sĩ luật họcGiấy tờ có giá- một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự Nguyễn Thị Anh ThơHà Nội, 2006 Khác
3. Luận văn thạc sĩ luật họcMột số vấn đề lí luận và thực tiễn về bảo hộ tài sản ảo trong trò chơi trực tuyến tại Việt NamNguyễn Văn Tuấn Hà Nội, 2007 Khác
4. Luận văn tốt nghiệp luật họcGiấy tờ có giá- một loại tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành' Nguyễn Thị Hoàng ĐiệpHà Nội, 2010 Khác
5. Nghiên cứu về tài sản trong Luật Dân sự Việt Nam TS. Nguyễn Ngọc Điện Khác
6. Luận văn thạc sĩ luật học;Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu- một số vấn đề lí luận và thực tiễn;Phạm Thị Thương;Hà Nội, 2007 Khác
8. Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1;NXB. Công anh nhân dân (2006) Khác
9. Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 2;NXB. Công anh nhân dân (2006) Khác
10. Tình yêu ai bán mà mua: Lạ lùng dịch vụ cho thuê chồng Website: dantri.com.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w