1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thất nghiệp và phân loại thất nghiệp

34 794 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thất nghiệp BHTN Th ất n ghi ệp  Những hình thức thực hiện trợ cấp thất nghiệp đầu tiên trên thế giới được hình thành trước thế kỷ 19..  Các giới

Trang 1

THẤT NGHIỆP

Trang 3

1.2 Phân loại thất nghiệp:

Trang 4

1.2.2 Căn cứ vào ý chí người lao động

Trang 5

1.3 Nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp

1.3.1 Nguyên nhân

Chu kỳ kinh doanh: Khi mở rộng thì thu hút thêm lao động, nhưng khi thu hẹp thì lại

dư thừa lao động.

Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật những dây chuyền sản suất tự động hóa có thể thay thế cho hang trăm công nhân viên.

Sự gia tăng dân số và nguồn lao động cùng với quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế.

Do người lao động không ưa thích công việc hoặc địa điểm đang làm.

Trang 6

1.3 Nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp

Trang 8

Chính phủ tăng cường đầu tư cho nền kinh tế.

Trợ cấp thôi việc, mất việc làm.

Trang 9

1.2 Bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)

Th ất n

ghi ệp

Những hình thức thực hiện trợ cấp thất nghiệp đầu tiên trên thế giới được hình thành

trước thế kỷ 19.

Sau đó thì hình thức trợ cấp thất nghiệp đã được áp dụng rộng rãi ở châu Âu và các

nước có nền công nghiệp hóa.

Các giới chủ sử dụng lao động đã trích một phần thu nhập của mình để đóng góp vào

quỹ chung (quỹ trợ cấp thất nghiệp) để tiến hành trợ cấp thất nghiệp tạm thời hoặc thất

nghiệp một phần.

Trang 10

Nhược điểm lớn nhất của hình thức tự nguyện trong thực hiện trợ cấp thất nghiệp là:

Các hiệp hội tư nhân không đủ khả năng tài chính để tiến hành trợ

cấp cho tất cả các rủi ro thất.

Mỗi khi có khủng khoảng kinh tế xảy ra thì quỹ bị thâm hụt và ảnh

hưởng xấu đến hoạt động quỹ.

10

Th ất n

ghi ệp

Trang 11

Các nhà kinh tế thời bấy giờ đã rút ra được một logic của việc phát triển trợ cấp thất nghiệp là phải thực hiện bởi Nhà nước và trên quy mô toàn

Đầu thập niên 20 của thế kỷ 20, Đức và Na Uy là 2 quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành Luật về

BHTN Luật này cho phép thành lập quỹ BHTN trên nguyên tắc tự nguyện nhưng có sự hỗ trợ của Nhà

nước.

Sau thế chiến lần thứ hai, một số nước châu Âu cũng ban hành Luật BHTN Anh là nước đầu tiên ban

hành Luật BHTN bắt buộc năm 1911.

Cho đến nay đã có 63 nước trên thế giới thực hiện chế độ BHTN.

Trang 12

Tại Việt Nam, các chính sách về BHTN được quy định tại:

Chương IV Luật bảo hiểm xã hội, nghị định số

Trang 13

1.2.2 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

BHTN trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp >tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có những cơ hội việc làm mới Do đó, BHTN không chỉ đem lại lợi ích cho người lao động mà còn đem lại lợi ích cho người sử dụng lao động, cho xã hội góp phần bảo đảm ASXH.

Trang 14

1.2.2.1 Về đối tượng đóng BHTN

14

Đối với người lao động: tham gia BHTN là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động

(HĐLĐ), hợp đồng làm việc (HĐLV) với người sử dụng lao động tham gia BHTN theo các loại hợp đồng

đã quy định.

Đối với người sử dụng lao động: có sử dụng từ 10 người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức,

doanh nghiệp theo quy định.

Người lao động có HĐLĐ, HĐLV từ đủ 12 tháng trở lên hoặc không xác định thời hạn nhưng phải đang làm việc cho người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHTN mới thực hiện đóng BHTN.

Trang 15

- Người tham gia BHTN phải nộp phí bảo hiểm trong một thời gian nhất định

- Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động

- Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm kiếm việc làm tại cơ quan lao động có thẩm quyền do Nhà nước quy định.

Trang 16

1.2.3 Quỹ bảo hiểm và các chế độ của BHTN:

Người tham gia bảo hiểm đóng góp.

Ngoài ra còn được bổ sung từ lãi suất đầu tư đem lại từ phần quỹ nhàn rỗi.

Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa người thất nghiệp so với lực lượng lao động

Trang 17

Quỹ BHTN được sử dụng chủ yếu để:

Chi trả trợ cấp BHTN.

+ Cho các hoạt động nhằm đưa người thất nghiệp mau chóng trở lại vị trí làm việc.

+ Chi cho tổ chức hoạt động BHTN…

Theo quy định của pháp luật bảo hiểm thì người lao động khi bị thất nghiệp sẽ được hưởng bốn chế độ bao gồm:

1) trợ cấp thất nghiệp

2) hỗ trợ học nghề

Các chế độ của BHTN:

Trang 18

Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội, là vấn đề nan giải đối với mỗi quốc gia Để khắc phục và đẩy lùi hiện tượng thất nghiệp, các nước đã có nhiều biện pháp và chính sách cụ thể Song BHTN vẫn luôn được coi là chính sách hữu hiệu mang tính chiếm lược lâu dài

Trang 19

1.2.4 Mục đích của chế độ

Việc ban hành chế độ BHTN là cần thiết nhưng phải nghiên cứu thấu đáo, cụ thể và thận trọng trong

tổ chức thực hiện.

Việc tổ chức thực hiện chế độ trợ cấp thất nghiệp phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan bảo hiểm

và cơ quan lao động để nắm chắc số lượng người thất nghiệp, tình trạng thất nghiệp thật sự của người lao động, trong quá trình thực hiện cần thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện những vướng mắc, bất cập để kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định của Luât.

Đây là những vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của chế độ BHTN.

Trang 20

1.2.5 Về điều kiện hưởng BHTN (Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội)

1 Đã đóng BHTN đủ mười hai tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn

tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo

quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo

quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

2 Đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp

đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

3 Chưa tìm được việc làm sau mười năm ngày kể từ ngày đăng ký thất

nghiệp với tổ chức BHXH.

20

Trang 21

1.2.6 Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp:

đến 1 năm) Thời hạn tạm chờ từ 3-7 ngày đầu thất nghiệp không được hưởng trợ cấp

Để khắc phục và đẩy lùi hiện tượng thất nghiệp, các nước đều có biện pháp và chính sách cụ thể Song BHTN vẫn luôn được coi là chính sách hữu hiệu mang tính chiến lược lâu dài.

Trang 22

Chương II Luật Lao động Chương V về Bảo hiểm thất nghiệp (Điều 80 đến Điều 87)

Điều 80: Đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp

Điều 81: Điều kiện hưởng BHTN

Điều 82: Trợ cấp thất nghiệp

Điều 83: Hỗ trợ học nghề

Điều 84: Hỗ trợ tìm việc làm

Điều 85: Bảo hiểm y tế

Điều 86: Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp

Điều 87: Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

22

Trang 23

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VỀ BHTN Ở VIỆT NAM

Theo công bố gần đây nhất

của Tổng cục Thống kê, tỷ

lệ thất nghiệp của người

trong độ tuổi lao động 9

tháng đầu năm 2012 là

2,17%, trong khi năm

trước là 2,22% và năm 2010

Trang 24

3.1 Thực trạng triển khai bảo hiểm thất nghiệp

Theo số liệu tổng kết của BHXH Việt Nam, sau 3 năm thực hiện, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) liên tục tăng nhanh qua các năm Năm 2009 chỉ có 5,993 triệu người thì đến năm 2010 đã có 7,206 triệu người, năm 2011 là 7,931 triệu người Đáng nói, chỉ trong 3 tháng đầu năm 2012, số người tham gia BHTN đã gần bằng tổng số tham gia đóng BHTN trong cả năm 2011 (đạt 7,9 triệu người)

24

Trang 25

Trong số những người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng năm 2010 thì dưới 24 tuổi có 37.284 người, chiếm 23,8%; từ 25-40 tuổi có 97.405 người, chiếm 62,1%; trên 40 tuổi có 22.076 người, chiếm 15%; nam giới có 62.423 người, chiếm 40%; Nữ giới có 94.342 người, chiếm 60%

Đối tượng tham gia tính đến cuối năm 2011 được thực hiện là 7.930.567 người, chiếm tỷ lệ là 78,7% tổng số đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc và so với năm 2010 tăng 10.1%, tương ứng tăng 724.404 người.

Thu vào quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp 5.731 tỷ đồng, tăng 6% tương ứng với 331 tỷ đồng so với năm 2011 Ước chi 1.096,35 tỷ đồng, tăng so với năm 2010 là 138,7% Trong đó chi trợ cấp hàng tháng cho 386.511 người với tổng

số tiền 1.068,9 tỷ đồng.

3.1 Thực trạng triển khai bảo hiểm thất nghiệp

Trang 26

3.1.1 Tình hình thu tiền BHTN

Theo quy định tại Điều 140 của Luật Bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 Sau hơn 3 năm thực hiện bảo hiểm thất nghiệp bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, theo BHXH Việt Nam năm 2010 có 7.054.962 người tham gia BHTN, tăng 17,7% so với năm 2009 về số thu đạt 4.864 tỷ đồng tăng 27,9% so với năm 2009, đưa tổng quỹ bảo hiểm thất nghiệp lên 8.200 tỷ đồng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế còn có những khó khăn, nhiều bất cập phát sinh:

* Các chủ sử dụng lao động né tránh đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động:

* Người lao động thiếu thông tin và thói quen chỉ lo mưu sinh trước mắt:

26

Trang 27

3.1.2 Tình hình chi tiền BHTN

 Theo thống kê báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và xã hội, tính đến ngày 1/3/2011: Số lượng đăng

ký thất nghiệp: TP Hồ Chí Minh là 59.142 người, Bình Dương 56.676 người, Đồng Nai 25.403 người, Hà Nội 4.192 người

 Theo báo cáo của các địa phương về tình hình tiếp nhận và giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp trên toàn quốc, đến hết tháng 2/2011 có tới 225.675 số

 người đăng ký, và 176.894 người đã có quyết định được hưởng bảo hiểm thất nghiệp Năm 2010, quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã chi trả trên 550 tỷ đồng.

Trang 28

3.2 Tình hình giới thiệu việc làm cho người lao động thất nghiệp hưởng BHTN

Theo thông tư 32 do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành ngày 25/10/2010, Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được Trung tâm Giới thiệu việc làm tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí Việc hỗ trợ tìm việc làm phải phù hợp với trình độ đào tạo, kinh nghiệm làm việc của người lao động

28

Trang 29

Số người được tư vấn giới thiệu việc làm các tỉnh có sự khác

nhau: TP Hồ Chí Minh bình quân 5 lượt người/1 lần tư vấn,

riêng Phú Thọ lên tới 1 lượt người có 3 lần tư vấn.

Có nhiều khó khăn trong việc giới thiệu việc làm như: Trung

tâm giới thiệu việc làm mỏng, trang thiết bị phục vụ công tác

còn thiếu, chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động tư vấn, giới

thiệu việc làm chưa có chuyên ngành đào tạo…

3.2 Tình hình giới thiệu việc làm cho người lao động thất nghiệp hưởng BHTN

Trang 30

3.3 Tình hình hỗ trợ đào tạo học nghề cho người lao động hưởng BHTN

Năm 2010 cả nước có 90 trường CĐ nghề, 270 trường trung cấp nghề và 750 trung tâm dạy nghề Trong đó, 50% số trường CĐ nghề, trung cấp nghề được kiểm định và công nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng.

Đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện nay rất thiếu và yếu

Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn

Nhu cầu học nghề và số người được hỗ trợ học nghề ở các tỉnh, thành phố cũng là khá khiêm tốn, chưa tương xứng với mục tiêu của chính sách hỗ trợ

30

Trang 31

CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ BẢO HIỂM THẤT

NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Để thực hiện tốt hơn nữa chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền

Xây dựng và thực hiện các biện pháp để quản lý lao động

Phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm

Tăng cường các điều kiện để thực hiện bảo hiểm thất nghiệp

4.1 Giải pháp

Trang 32

4.2 Một số kiến nghị

Sau đây là một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách BHTN ở Việt Nam:

Đối với đối tượng tham gia

Đối với vấn đề nợ đọng đã tồn tại từ lâu trong BHXH

Hiện nay, hệ thống thông tin thị trường lao động của chúng ta chưa minh bạch, vì vậy chúng ta cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động điện tử và sẽ dần từng bước minh bạch hóa thị trường này.

32

Trang 33

KẾT LUẬN

Việc ban hành chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam là rất cần thiết để đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước rủi ro thất nghiệp, giúp họ yên tâm sản xuất đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước Đồng thời cũng góp phần đảm bảo an toàn xã hội, thể hiện vai trò của Nhà nước đối với người lao động Việc đưa BHTN vào hệ thống BHXH là một bước hoàn thiện mới trong vấn đề xử lý tình trạng thất nghiệp và cũng đưa nước ta hòa nhập với các nước trên thế giới, tiếp tục sự nghiệp toàn cầu hóa nền kinh tế.

Trang 34

KẾT LUẬN

Việc ban hành chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam là rất cần thiết để đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước rủi ro thất nghiệp, giúp họ yên tâm sản xuất đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước Đồng thời cũng góp phần đảm bảo an toàn xã hội, thể hiện vai trò của Nhà nước đối với người lao động Việc đưa BHTN vào hệ thống BHXH là một bước hoàn thiện mới trong vấn đề xử lý tình trạng thất nghiệp và cũng đưa nước ta hòa nhập với các nước trên thế giới, tiếp tục sự nghiệp toàn cầu hóa nền kinh tế.

34

Ngày đăng: 25/01/2016, 17:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w