Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay, thì nước ta đang đứng trước nhiều vấn đề xã hội mà Đảng, Nhà nước và toàn thể mọi ngườidân quan tâm như tệ nạn xã hội, vấn đề về dân số, nâng ca
Trang 1- -BÀI TIỂU LUẬN:
Giảng viên hướng dẫn: Phan Nguyễn Khánh Long
- Huế, 4/2012 –
Trang 2MỤC LỤC
A.ĐẶT VẤN ĐỀ 3
B NỘI DUNG 4
1 Các khái niệm liên quan 4
2 Ảnh hưởng của thất nghiệp 5
2.1 Thiệt thòi cá nhân 5
2.2 Ảnh hưởng tâm lý 6
2.3 chi phí doanh nghiệp và tang trưởng kinh tế 7
3 Thực trạng thất nghiệp tại Việt Nam 8
4 Một số nguyên nhân 9
4.1 Áp lực dân số 9
4.2 Tình hình kinh tế vĩ mô 10
4.3 Mất cân đối cơ cấu ngành, nghề tuyển sinh 10
4.4 Chất lượng lao động 11
4.5 Tâm lý xã hội 11
5 Chính sách của Đảng và Nhà nước 12
5.1 Giải quyết theo nghị quyết Đại hội XI 12
Đánh giá tình hình việc làm sau 25 năm đổi mới 13
Một số giải pháp giải quyết tình hình việc làm hiện nay 15
5.2 Chiến lược việc làm giai đoạn 2011 – 2020 18
5.3 Chính sách bảo hiểm thất nghiệp……… 19
C KẾT LUẬN 22
Tài liệu tham khảo 22
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa , chúng tađang từng bước đổi mới, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dânđặc biệt là nhân dân lao động Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay, thì nước
ta đang đứng trước nhiều vấn đề xã hội mà Đảng, Nhà nước và toàn thể mọi ngườidân quan tâm như tệ nạn xã hội, vấn đề về dân số, nâng cao đời sống người dân…thì vấn đề thất nghiệp và các chính sách giải quyết việc làm được xem là vấn đềnóng bỏng “và không kém phần bức bách” đang được toàn xã hội đặc biệt quantâm hiện nay Giải quyết được “vấn đề việc làm rất bức xúc và nan giải” này cũngđồng thời là góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội Bởi lẽ, thất nghiệp tăng sốngười không có công ăn việc làm nhiều hơn gắn liền với sự gia tăng các tệ nạn xãhội như: cờ bạc, trộm cắp làm xói mòn nếp sống lành mạnh, có thể phá vỡ nhiềumối quan hệ truyền thống, gây tốn thương về mặt tâm lý và niềm tin của nhiềungười Bài viết này chúng tôi xin trình bày về: thực trạng thất nghiệp tại Việt Namhiện nay; những ảnh hưởng của thất nghiệp tới cá nhân, gia đình và xã hội; nguyên
nhân thực tại và cuối cùng là “chính sách của Đảng và Nhà nước trong giải quyết
vấn đề việc làm góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế bền vững” Tuynhiên do thời gian hạn hẹp và trình độ của sinh viên có hạn, bài tiểu luận này chỉxin dừng lại ở việc tổng kết những gì đã được học ở trường, các ý kiến và số liệukèm theo về vấn đề nói trên đã được một số nhà nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu vàđược đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 4B NỘI DUNG
1 Các khái niệm liên quan:
Những người trong độ tuổi lao đông là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và
quyền lợi lao động theo quy định đã ghi trong Hiến Pháp Độ tuổi lao động đượcquy định ở Việt Nam là : Nam từ 16-60 tuổi và nữ từ 16-55 tuổi
Người có việc làm là những người trong độ tuổi lao động đang làm cho các
cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội…Theo quy định của Bộ lao động-Thương binh và xãhội, một người được coi là có việc làm nếu người đó sử dụng hầu hết tuần trướckhi điều tra để làm công việc có trả lương
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động hiện đang chưa tìm được
việc làm nhưng mong muốn và đang tìm kiếm việc làm Để được tính là người thấtnghiệp, một người phải có hành động cụ thể chứ không đơn thuần chỉ nghỉ đếncông việc Một người được coi là thất nghiệp nếu người đó hoạt động đi tìm việctrong 4 tuần qua hoặc trong tuần tính từ thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việcdưới 8 giờ, muốn và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc làm
Lực lượng lao động là tổng số người đang có việc và những người thất
nghiệp Còn lại là những người nằm ngoài lực lượng lao động: người đi học, nộitrợ gia đình, nghỉ hưu, những người không có khả năng lao động do ốm đau, bệnhtật và một bộ phận không muốn tìm việc làm với nhứng lý do khác nhau
Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm của lực lượng lao động bị thất nghiệp
Phân loại thất nghiệp
Trang 5Thất nghiệp tự nhiên: mức thất nghiệp mà bình thường nền kinh tế phải trải
qua, không tự biến mất ngay cả trong dài hạn
+ Thất nghiệp tạm thời: người lao động đang trong thời gian tìm công việchoặc nơi làm tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng ( lương cao hơn, gần nhà hơn…),hoặc những người mới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc làm hoặcchờ đi làm (thanh nhiên mới gia nhập lực lượng lao động, sinh viên mới tốt nghiệpđang đi tìm việc làm…), hoặc một số người bị sa thải ( không đáp ứng được yêucầu công việc hoặc các hang gặp khó khăn trong kinh doanh cần cắt giảm laođộng…)
+ Thất nghiệp cơ cấu: khi không có sự ăn khớp giữa cơ cấu của cung và cầulao động về kỹ năng, ngành nghề hoặc địa điểm
+ Thất nghiệp cổ điển: là dạng thất nghiệp liên quan tới loại việc làm mà tiềncông thực tế trả cho người làm công việc đó cao hơn mức tiền công thực tế bình quâncủa thị trường lao động chung, khiến cho lượng cung về lao động đối với công việcnày cao hơn lượng cầu Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp tiền côngthực tế
Thất nghiêp chu kỳ: là loại thất nghiệp liên quan đến chu kỳ kinh tế tại pha
mà tổng cầu thấp hơn tổng cung dẫn tới doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất và phảigiảm thuê mướn lao động
2 Ảnh hưởng của thất nghiệp tới cá nhân, gia đình và xã hội
2.1 Thiệt thòi cá nhân
Đối với cá nhân, thất nghiệp là một gánh nặng Không có việc làm đồngnghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vônghĩa, không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng
Trang 6hóa tiêu dùng những yếu tố này là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa
vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh…
Theo một số quan điểm, rằng người lao động nhiều khi phải chọn côngviệc thu nhập thấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảohiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó Cái giá kháccủa thất nghiệp còn là, khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợi xã hội , cá nhânbuộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực Như vậy thấtnghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng Về phía người sử dụng lao độngthì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công chomình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao,trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến, v.v )
2.2 Ảnh hưởng tới tâm lý
Người thất nghiệp dễ ở trong tình trạng mình là người thừa tuy nhiên sự tácđộng là khác nhau giữa hai giới Ở phụ nữ nếu không có việc làm ngoài thì việc nộitrợ và chăm sóc con cái vẫn có thể được chấp nhận là sự thay thế thỏa đáng, ngượclại ở người nam, đem thu nhập cho gia đình gắn chặt đến giá trị cá nhân, lòng tựtrọng Nam giới khi mất việc làm thường tự ti, rất nhạy cảm và dễ cáu gắt, họ cóthể tìm đến rượu , thuốc lá để quên đi buồn phiền, tình trạng này kéo dài ngoài khảnăng gây nghiện ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe còn có thể khởi tạo vấn đề bạohành gia đình Họ cũng dễ bị rối loạn tâm lý như buồn phiền, mất ngủ , trầm cảm vàthậm chí đôi khi còn dẫn đến hành vi tự sát
“Nhàn cư vi bất thiện” - “Rảnh rỗi sinh nông nỗi” :
Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với giatăng tỷ lệ tội phạm , các tệ nạn xã hội… Theo Dorothea Schmidt, đồng tác giả bảnnghiên cứu về tình trạng thất nghiệp trong thanh niên của Tổ chức Lao động Quốc
tế ILO: “Khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, các hành động tội phạm cũng tăng theo”
Ở Việt Nam, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp và thiếu việc làm tăng cao, lại tỷ lệthuận với con số các vụ án được xét xử do tòa án công bố: Số thanh niên phạm tội
Trang 7hình sự ngày càng tăng, số thống kê chưa đầy đủ cũng đã cho thấy trên 60% ngườiphạm tội hình sự ở trong độ tuổi thanh niên từ 15-30 Hệ lụy nhãn tiền đã rõ!?Thậm chí một khi nền kinh tế không lo đủ việc làm cho những người trẻ có tri thứcthì dễ tạo ra một thế hệ bất mãn và là mầm mống gây ra những xung đột dẫn đến sựrối loạn xã hội, những bất ổn về chính trị.
Đối với xã hội, không có một giá trị bằng tiền nào có thể nói hết những thiệthại về người và tâm lý của những thời kỳ thất nghiệp không tự nguyện kéo dài, nóảnh hưởng mạnh nhất đến thanh niên và những nhóm dân cư nghèo
2.3) Chi phí cho doanh nghiệp và giảm tăng trưởng kinh tế
Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp –các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sảnphẩm và dịch vụ
Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn Giảm tính hiệu quả của sảnxuất theo quy mô Vì thế tỷ lệ thất nghiệp tang dẫn đến tình trạng nền kinh tế bịsuy giảm, đời sống của người dân càng trở nên khó khăn hơn
Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm Hàng hóa và dịch vụ không cóngười tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm.Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khinhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn
Tuy nhiên cần nhìn nhận rằng trong một chừng mực nào đó một tỷ lệ thấtnghiệp vừa phải (tỷ lệ thất nghiệp thực tế bằng với mức thất nghiệp tự nhiên) sẽgiúp cả người lao động và chủ sử dụng lao động Người lao động có thể tìm những
cơ hội việc khác phù hợp với khả năng, mong muốn và điều kiện cư trú Về phíagiới chủ, tình trạng thất nghiệp giúp họ tìm được người lao động phù hợp, tăng sựtrung thành của người lao động Do đó trong một chừng mực nhất định thất nghiệpđưa đến tăng năng suất lao động và góp phần làm tăng sản lượng của nền kinh tếtrong dài hạn
Trang 83 Thực trạng thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay:
Năm 2011, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của Việt Nam là 46,48triệu người, tăng 0,12% Cả nước có 1,3 triệu lao động thất nghiệp, tỷ lệ thấtnghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,27%, trong số những người thất nghiệpnhóm tuổi từ 16-29 chiếm tới 64,9% (lớn nhất là nhóm tuổi 20-24 với 26,6%, nhómtuổi 25-29 với 20,9%, nhóm tuổi lao động trẻ nhất 16-19 vẫn có tới 17,4% thấtnghiệp) và tình hình càng nghiêm trọng hơn khi mỗi năm có thêm 1,6 triệu thanhniên bước vào tuổi lao động
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khu vực thành thị cao hơn khu vựcnông thôn: thành thị là 3,96% và nông thôn là 2,02% Chất lượng lao động thấpcũng kéo theo lao động phi chính thức gia tăng do lao động di cư từ nông thôn rathành phố ngày càng phổ biến Lực lượng lao động này phần lớn là lao động thời
vụ, trong khu vực phi chính thức Phần lớn họ bị bỏ quên và không nhận đượcnhững hỗ trợ pháp lý, phúc lợi cần thiết, đối mặt với nhiều rủi ro Bà Phan NgọcMai Phương - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tưcho biết, mỗi năm mức gia tăng lực lượng lao động của Việt Nam khoảng 1,1 triệungười/năm và lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp khoảng 600.000 người/năm
Vấn đề nan giải_“Thừa thầy, thiếu thợ”:
Việc “thừa thầy thiếu thợ” vẫn luôn là một thực trạng nhức nhối của Việt Namtrong nhiều năm nay, và cho đến nay, thực trạng này được cho là căn bệnh kinh niênchưa có thuốc đặc trị Cũng chính vì điều này khiến cho không ít người lao động rơivào tình trạng “cao không tới thấp không thông”, khó tìm được việc làm ổn định dùcầm tấm bằng đại học trong tay, trong khi các doanh nghiệp vẫn mỏi mắt đi tìm cáclao động có tay nghề
Trang 9Điều tra của Bộ GD-ĐT, cả nước có tới 63% sinh viên tốt nghiệp ĐH-CĐ ratrường không có việc làm, 37% có việc làm nhưng nhiều SV phải làm trái nghề hoặcphải qua đào tạo lại.“Mỗi năm cũng còn khoảng 800.000 học sinh không vào đượcĐH-CĐ, bao nhiêu người kiên trì thi lại? Bao nhiêu người “bổ sung” vào đội quânthất nghiệp hằng năm?” Ngay trong các sinh viên tốt nghiệp đại học, tỷ lệ thất nghiệpcũng không phải nhỏ Điều này trở thành nỗi ám ảnh của các tân cử nhân
Trong điều tra mới đây về “Thiếu hụt lao động kỹ năng ở Việt Nam” tại1.000 doanh nghiệp với 9 ngành nghề ở 6 tỉnh thành phố trên cả nước cho thấy: cứtrong hai DN được hỏi thì một DN cho rằng lực lượng lao động chưa tốt và mộttrong ba người sử dụng lao động cho rằng họ không tìm được lao động có kỹ năng
Sự thiếu hụt kỹ năng nghiêm trọng của công nhân cũng như cấp quản lý trong một
số ngành nghề đang trở nên phổ biến Cụ thể hơn, ông Cao Văn Sâm, Phó Tổngcục trưởng Tổng cục Dạy nghề cho biết bình quân mỗi DN thiếu khoảng 6 - 7 côngnhân kỹ thuật bậc cao, công nhân lành nghề Như vậy, hiện 240.000 DN của cảnước đang cần khoảng từ 1,4 - 1,7 triệu lao động qua đào tạo nghề
Đi đôi với chất lượng lao động và chất lượng việc làm thấp là chế độ tiềnlương trả cho người lao động cũng thấp, cùng với đó là năng suất lao động cònthấp kém và sự mất cân đối giữa cung - cầu lao động là nguyên nhân khiến thunhập của đa số người lao động làm công ăn lương ở Việt Nam chưa đảm bảo để táisản xuất sức lao động cũng như có tích lũy
4 Một số nguyên nhân thực tế gây nên tình trạng thất nghiệp hiện nay
4.1 Áp lực dân số:
Năm 2011, Viêt Nam có dân số là 87.84 triệu người, đứng thứ 13 thế giới
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 10.3%(sơ bộ năm 2010) Theo dự báo của Bộ LĐ TB&XH, đến năm 2020 sẽ có thêm khoảng 9,5 triệu người tham gia lực lượng lao
Trang 10-động Cùng với 1,3 triệu lao động đang thất nghiệp và trên 4,5 triệu lao động đangthiếu việc làm hoặc có việc làm nhưng vẫn nghèo hiện nay thì sẽ có tới 15,3 triệungười cần phải giải quyết việc làm trong 10 năm tới Đây đã và đang là một tháchthức lớn đối với thị trường lao động và lao động Việt Nam hướng đến có việc làm
ổn định, thu nhập phù hợp với năng suất lao động bền vững
4.2 Tình hình kinh tế vĩ mô
Mỗi doanh nghiệp phá sản kéo theo nhiều lao động mất việc Thống kê củaChi cục Thuế TP.HCM cho thấy, năm 2011 có hơn 50.000 doanh nghiệp làm ănthua lỗ, trong đó có hàng nghìn doanh nghiệp giải thể, phá sản - có hàng nghìndoanh nghiệp ngừng hoạt động và đây là con số lớn nhất trong 20 năm qua Tìnhtrạng đáng lo ngại này được dự báo là sẽ còn tiếp tục khốc liệt hơn trong thời giantới
(“Nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ của hàng loạt DN có thể kể ra rất nhiều, từnhững tác động khách quan của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đến các vấn đềtrong điều hành nền kinh tế và cả nguyên nhân chủ quan từ những yếu kém củamỗi DN Có thể thấy, dựa vào nội lực chưa đủ mạnh nếu không nói là còn yếu nêntrong những năm qua, các DN Việt Nam phát triển mạnh nhưng chủ yếu là về sốlượng, trong khi đó chất lượng lại không tỷ lệ thuận cùng với số lượng” )
4.3 Mất cân đối cơ cấu ngành, nghề tuyển sinh, đào tạo
Thời gian qua, Bộ Giáo dục và Ðào tạo (GD và ÐT) thường xuyên đề cập vấn
đề đào tạo theo nhu cầu xã hội, chuyển từ đào tạo những gì xã hội cần thay vì đàotạo những gì mình có Tuy nhiên, các con số thống kê về mất cân đối ngành, nghề,cũng như chỉ tiêu tuyển sinh không hợp lý giữa các ngành đào tạo được công bốmới đây cho thấy vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể
Trang 11Theo Bộ GD và ÐT, thống kê tuyển sinh và đào tạo của 416 trường đại học,cao đẳng (ÐH, CÐ) năm 2011 cho thấy có 248 trường (121 trường ÐH, 127 trườngCÐ) tuyển sinh một trong bốn ngành: Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Tài chính -Ngân hàng, Kế toán, chiếm tỷ lệ 59,62% số trường; còn lại 168 trường (76 trường
ÐH và 92 trường CÐ) không tuyển sinh các ngành kể trên, chủ yếu là các trườngthuộc khối y, dược, năng khiếu nghệ thuật và một số trường sư phạm Như vậy,hiện tại và trong thời gian tới sinh viên các khối ngành “hot” sẽ gặp nhiều khókhăn trong tìm việc làm
4.4 Chất lượng nguồn lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động:
Ông Đặng Đức Thành, Phó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP Hồ Chí Minhnêu thực trạng: “Rất ít doanh nghiệp lựa người được việc ngay, nên vẫn tồn tạithực tế SV cứ than thất nghiệp còn doanh nghiệp lại kêu thiếu người Đó là dochương trình đào tạo trong trường không gắn với thực tiễn, sinh viên chỉ có kiếnthức lý thuyết nhưng khả năng thực hành kém”
Đồng ý với nhận định trên, PGS-TS Nguyễn Hồi Loan - Trưởng phòng Chínhtrị và công tác SV, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ ChíMinh cho rằng có một độ “vênh” nhất định giữa đào tạo và yêu cầu của thực tiễnđời sống kinh tế - xã hội Độ vênh đó thể hiện cả trong kiến thức, các kỹ năng cứng
và mềm của sinh viên
4.5 Tâm lý xã hội và cá nhân
Thực trạng chuộng bằng cấp và tâm lý khoa bảng có lẽ đã từ lâu ăn sâu vào tâmthức của nhiều thế hệ người Việt Nam Nhiều gia đình bằng mọi giá tìm cho con emmình một tấm bằng đại học, và chỉ khi nào không có sự lựa chọn nào khác, các họcsinh mới chọn lựa các nghề lao động kỹ thuật Cùng với đó là nếp nghĩ có từ lâu trong