1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận môn học tác phẩm kinh điển KTCT

23 845 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 129,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phần giá trị sứclao động cho người công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóc lột giá trịthặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá

Trang 1

PHẦN I : LỜI NÓI ĐẦU

Từ giữa thế kỷ XVII đến nay, các nhà kinh tế chính trị học tư sản trong chừngmực nhất định đã nghiên cứu vấn đề giá trị thặng dư được tạo ra như thế nào.Nhưng “tất cả các nhà kinh tế chính trị học đều phạm phải sai lầm là đã không xétgiá trị thặng dư dưới dạng thuần tuý, với tư cách là giá trị thặng dư mà xét dướihình thái đặc thù là lợi nhuận và địa tô” Chẳng hạn như W.Petty và trường pháitrọng nông Pháp đã coi địa tô là hình thái chung của giá trị thặng dư A Smith tuy

là người đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống các phạm trù lợi nhuận, địa tô vàlợi tức, nhưng ông không coi bản thân giá trị thặng dư là một phạm trù chuyênmôn có hình thái đặc thù khác với lợi nhuận và địa tô Về sau Ricardo lại nghiêncứu sâu thêm các hình thái đặc thù này; nhưng ông chỉ chú ý nghiên cứu mối quan

hệ về lượng, lợi tức và địa tô và vẫn không phát hiện ra phạm trù chung- giá trịthặng dư

Trong lịch sử các học thuyết kinh tế, rất nhiều các nhà kinh tế phạm phải cácsai lầm này Không kể đến một số nguyên nhân như học thuyết giá trị lao động của

họ bị hạn chế về tính giai cấp và thiếu tính khoa học, thì một nguyên nhân quantrọng khác là sự vận dụng sai lầm phương pháp luận của họ được biểu hiện trên haimặt: Thứ nhất, họ không thể vạch ra tính quy định bản chất từ các hiện tượng kinh

tế, “họ chộp lấy một cách thô bạo những tài liệu do kinh nghiệm đem lại và họ chỉquan tâm đến thứ tài liệu này mà thôi” Thứ hai, họ chỉ xem xét một cách cô lậpcác hiện tượng cá biệt trong vận hành kinh tế, không thể vạch ra quan hệ nội tạicủa các hiện tượng này và sự chuyển hoá quan hệ của chúng Họ không thông quabất cứ khâu trung gian chuyển tiếp nào, mà lẫn lộn trực tiếp giá trị thặng dư với cáchình thái cụ thể của nó tức là lợi nhuận, lợi tức và địa tô, do đó nảy sinh một loạtcác vấn đề: Trình bày không mạch lạc, các mâu thuẫn không được giải quyết vànhững điều nhảm nhí khác Và chỉ đến khi Mác phát hiện ra lý luận giá trị thặng dưthì mọi vấn đề khoa học, bản chất mới được làm sáng tỏ

Trang 2

Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của họcthuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C Mác là “nội dung căn bảncủa chủ nghĩa Mác” Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản đã muasức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm,thu về giá trị thặng dư Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phần giá trị sứclao động cho người công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóc lột giá trịthặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất Trong xã hội tưbản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất,xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó Giá trị thặng dư, phần giá trị

do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài sức lao động và bị nhà tưbản chiếm không, phản ánh mối quan hệ cơ bản nhất đó Giá trị thặng dư do laođộng không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra là nguồn gốc làm giàu củagiai cấp các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tưbản Toàn bộ hoạt động của nhà tư bản hướng đến tăng cường việc tạo ra giá trịthặng dư thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối vàtạo ra giá trị thặng dư tương đối Do vậy, sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa chonhà tư bản là nội dung chính của quy luật giá trị thặng dư Nó tác động đến mọimặt của xã hội tư bản Nó quyết định sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản

và sự thay thế nó bằng một xã hội khác cao hơn, là quy luật vận động của phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Việc nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất ra giátrị thặng dư có ý nghĩa quan trọng, là chìa khóa dẫn đến những vấn đề khác trongphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Trang 3

PHẦN II:

LÍ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

Các nhà kinh tế học trước Các Mác không xây dựng được cơ sở lý luận vữngchắc để làm rõ nguồn gốc, bản chất giá trị thặng dư, đó là lý luận giá trị lao động.Phái cổ điển không nhất quán lý luận giá trị lao động hoặc rời bỏ lý luận này Họgiải thích tư bản, giá trị thặng dư không thoát khỏi bản chất giai cấp của họ và chorằng chủ nghĩa tư bản là vĩnh hằng, đồng nhất phương thứ sản xuất tư bản chủnghĩa với các phương thức sản xuất khác Do đó xoá nhoà ranh giới giai cấp

Với Các Mác ông đã làm cuộc cách mạng trong khoa học kinh tế chính trị, ông

là người đầu tiên dùng phạm trù giá trị thặng dư, nghiên cứu giá trị thặng dư dướidạng chung nhất sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa sự thốngnhất giữa quá trình sản xuất và lưu thông, Các Mác mới quy lợi nhuận về giá trịthặng dư ông thấy được sự khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận, sự khácbiệt nhau này cùng giống như sự khác nhau giữa giá trị hàng hoá và giá cả của nónhưng không hề đề cập đến hình thái của giá trị thặng dư là lợi nhuận, chỉ sau khilàm rõ nguồn gốc, bản chất giá trị thặng dư thì ông mới xem xét lợi nhuận

Dựa trên nền tảng lý luận giá trị lao động của mình ông cho rằng lao động sảnxuất giá trị thặng dư không nằm ngoài sản xuất hàng hoá, là loại sản xuất hàng hoáđặc biệt, giá trị thặng dư là sự kết tinh về mặt giá trị của lao động thặng dư

Trong nề sản xuất tư bản chủ nghĩa sản xuất và lưu thông quyện chặt vào nhau

mà chỉ có sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư Giá trị thặng dư chỉ là một bộ phậncủa giá trị hàng hoá Khi giá trị thặng dư hình thành thì giá trị thặng dư biểu hiệnquan hệ sản xuất mới, vì khi đó đã có sự chuyển biến về chất của sản xuất hànghoá Nếu giá trị thặng dư đã biểu hiện quan hệ sản xuất mới thì giá trị thặng dư là

cơ sở tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản, vì vậy bản chất của phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa là chiếm đoạt giá trị thặng dư, bản chất đó được thể hiện

ở mục đích và phương tiện để đạt mục đích đó, vì thế lý luận giá trị thặng dư là

Trang 4

một trong hai phát kiến vĩ địa của Các Mác, là nền tảng của học thuyết kinh tếMác.

I- PHẠM TRÙ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ:

C Mác đã vạch ra rằng, tư bản không hề phát minh ra lao động thặng dư, rằng:

"Nơi nào mà một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi

đó người lao động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian laođộng cần thiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động dôi ra dùng

để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất" Quyluật kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất bóc lột người lao động không có tư liệu sảnxuất, được thực hiện dưới những hình thức và cơ chế khác nhau trong những hìnhthái xã hội khác nhau

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp nô lệ bị lệ thuộc hoàn toàn về thân thểvào giai cấp chủ nô, thì ngoài việc bị bóc lột lao động thặng dư, nô lệ còn bị chiếmmột phần lớn sản phẩm cần thiết của giai cấp nô lệ Trong chế độ phong kiến, giaicấp nông nô đã có một phần tự do về thân thể đối với giai cấp địa chủ và chế độbóc lột lao động thặng dư biểu hiện dưới hình thức bóc lột địa tô, lao động thặng

dư và lao động cần thiết được phân chia rõ ràng Bởi vậy, theo C Mác cơ chế bóclột thời phong kiến có nhiều tiến bộ hơn chiếm hữu nô lệ

Giai cấp tư sản bước lên vũ đài lịch sử cũng là giai cấp độc chiếm tư nhânnhững tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Khác với cơ chế bóc lột trong hai hìnhthái kinh tế – xã hội trước chủ yếu dựa trên quan hệ hiện vật, cơ chế bóc lột tư bảnchủ nghĩa dựa trên quan hệ giá trị; nói cách khác là quan hệ trao đổi những vậtngang giá (tức là tuân theo quy luật giá trị) Quan hệ này che dấu sự bóc lột trongmột cơ chế trao đổi với vẻ bề ngoài như là tự do và bình đẳng, chính vì vậy mà cácnhà kinh tế học trước C Mác đã không thành công trong việc lý giải bản chất bóclột tư bản chủ nghĩa

A Smith và D Ri-các-đô đã quan niệm một cách hời hợt, bề ngoài rằng, muabán giữa tư bản và công nhân hình như là mua bán lao động nên cả hai ông đều

Trang 5

gặp bế tắc trong việc lý giải một cách khoa học bản chất và nguồn gốc của lợinhuận Chẳng hạn, nếu lao động là hàng hóa thì nó phải được kết tinh vào vật, nhưvậy là công nhân bán hàng hóa chứ không bán lao động; lao động được xác định làthước đo của mọi giá trị thì không thể tự lấy nó để đo lường giá trị của bản thân nó.Mặt khác, nếu mua bán lao động mà trao đổi ngang giá thì không còn cơ sở tồn tạicủa lợi nhuận, nhưng thực tế lợi nhuận tồn tại một cách khách quan Vậy, theo cáccách giải thích đó, quy luật giá trị mâu thuẫn với quy luật sản xuất ra lợi nhuận vàngược lại.

C Mác đã phát hiện rằng, quan hệ mua bán giữa công nhân và tư bản khôngphải là mua bán hàng hóa lao động mà là mua bán một loại hàng hóa đặc biệt –

hàng hóa sức lao động Hàng hóa này có giá trị và giá trị sử dụng khác với các

hàng hóa thông thường Giá trị của hàng hóa sức lao động là giá trị những tư liệusinh hoạt tối thiểu cần thiết để tái sản xuất sức lao động của công nhân và bao hàmnhững yếu tố tinh thần, lịch sử và dân tộc… – Giá trị sử dụng của hàng hóa này(tức là tiêu dùng nó trong quá trình sản xuất) có khả năng tạo ra một lượng giá trịlớn hơn giá trị của chính nó là sức lao động Do đó dù nhà tư bản trả đủ giá trị sứclao động cho công nhân trên cơ sở trao đổi ngang giá thì vẫn thu được phần giá trịdôi ra, biến thành lợi nhuận Như vậy, quy luật giá trị và quy luật sản xuất ra lợinhuận không phủ định lẫn nhau mà song song tồn tại: trao đổi giữa tư bản và côngnhân tuân theo quy luật ngang giá (quy luật giá trị sức lao động) nhưng nhà tư bảnvẫn thu được phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động; phần dôi ra đó được C Mácgọi là giá trị thặng dư Như vậy, bóc lột lao động thặng dư biểu hiện thành bóc lộtgiá trị thặng dư là quy luật bóc lột đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa và là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất đó

Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản: Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hìnhthái một số tiền nhất định Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, mà tiền chỉbiến thành tư bản khi được sử dụng để bóc lột lao động của người khác Nếu tiềnđược dùng để mua bán hàng hoá thì chúng là phương tiện giản đơn của lưu thônghàng hoá và vận động theo công thức: Hàng- Tiền- Hàng(H-T-H), nghĩa là sự

Trang 6

chuyển hoá của hàng hoá thành tiền tệ, rồi tiền tệ lại chuyển hoá thành hàng Còntiền với tư cách là tư bản thì vận động theo công thức: Tiền - Hàng - Tiền (T-H-T),tức là sự chuyển hoá tiền thành hàng và sự chuyển hoá ngược lại của hàng thànhtiền Bất cứ tiền nào vận động theo công thức T-H-T đều được chuyển hoá thành tưbản Do mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng nên vòng lưuthông chấm dứt ở giai đoạn hai Khi những người trao đổi đã có được giá trị sửdụng mà người đó cần đến Còn mục đích lưu thông của tiền tệ với tư cách là tưbản không phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm Vì vậynếu số tiền thu bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa Do đó,

số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ của tưbản là: T-H-T’, trong đó T’= T + ∆T ∆T là số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra,

C Mác gọi là giá trị thặng dư Số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản.Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư Mục đích của lưu thông T-H-T’ là

sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động T-H-T’ là không có giớihạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn

Sự vận động của mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông theo công thức T’, do đó công thức này được gọi là công thức chung của tư bản

T-H-Tiền ứng trước, tức là tiền đưa vào lưu thông, khi trở về tay người chủ của nóthì thêm một lượng nhất định (∆T) Vậy có phải do bản chất của lưu thông đã làmcho tiền tăng thêm, và do đó mà hình thành giá trị thặng dư hay không?Các nhàkinh tế học tư sản thường quả quyết rằng sự tăng thêm đó là do lưu thông hàng hoásinh ra Sự quả quyết như thế là không có căn cứ.Thật vậy, trong lưu thông nếuhàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, còntổng số giá trị, cũng như phần giá trị thuộc về mỗi bên trao đổi là không đổi Vềmặt giá trị sử dụng, trong trao đổi cả hai bên đều không có lợi gì Như vậy, không

ai có thể thu được từ lưu thông một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra (tức

là chưa tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T) C.Mác cho rằng trong xã hội tư bản không

có bất kì một nhà tư bản nào chỉ đóng vai trò là người bán sản phẩm mà lại khôngphải là người mua các yếu tố sản xuất Vì vậy khi anh ta bán hàng hoá cao hơn giá

Trang 7

trị vốn có của nó, thì khi mua các yếu tố sản xuất ở đầu vào các nhà tư bản kháccũng bán cao hơn giá trị và như vậy cái được lợi khi bán sẽ bù cho cái thiệt hại khimua Cuối cùng vẫn không tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T Nếu hàng hoá được bánthấp hơn giá trị, thì số tiền mà người đó sẽ được lợi khi là người mua cũng chính là

số tiền mà người đó sẽ mất đi khi là người bán Như vậy việc sinh ra ∆T không thể

là kết quả của việc mua hàng thấp hơn giá trị của nó

Mác lại giả định rằng trong xã hội tư bản có một loại nhà tư bản rất lưu manh

và xảo quyệt, khi mua các yếu tố sản xuất thì rẻ, còn khi bán thì đắt Điều này chỉgiải thích được sự làm giàu của những thương nhân cá biệt chứ không thể giảithích được sự làm giàu của tất cả giai cấp tư sản, vì tổng số giá trị trước lúc traođổi cũng như trong và sau khi trao đổi đều không thay đổi mà chỉ có sự thay đổitrong việc phân phối giá trị giữa những người trao đổi mà thôi Và Mác kết luậnrằng đây chẳng qua là hành vi móc túi lẫn nhau giữa các nhà tư bản trong cùng giaicấp

Vậy từ ba trường hợp cụ thể trong lưu thông Mác cho rằng: Trong lưu thôngkhông thể tạo ra giá trị và giá trị thặng dư vì vậy không thể là nguồn gốc sinh ra

∆T Ở ngoài lưu thông Mác xem xét cả hai yếu tố là hàng hoá và tiền tệ: Đối vớihàng hoá ngoài lưu thông: Tức là đem sản phẩm tiêu dùng hay sử dụng và sau mộtthời gian tiêu dùng nhất định thì thấy cả giá trị sử dụng và giá trị của sản phẩm đềubiến mất theo thời gian.Đối với yếu tố tiền tệ: Tiền tệ ở ngoài lưu thông là tiền tệnằm im một chỗ Vì vậy không có khả năng lớn lên để sinh ra ∆T Vậy ngoài lưuthông khi xem xét cả hai yếu tố hàng hoá và tiền tệ đều không tìm thấy nguồn gốcsinh ra ∆T “ Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thểxuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thờikhông phải trong lưu thông” (C.Mác: Tư bản NXB Sự thật, HN, 1987, Q1, tập1,tr 216) Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.Khi Mác trở lại lưuthông lần thứ hai và lần này Mác đã phát hiện ra rằng: Ở trong lưu thông người cótiền là nhà tư bản phải gặp được một người có một thứ hàng hoá đặc biệt đem bán,

mà thứ hàng hoá đó khi đem tiêu dùng hay sử dụng nó có bản tính sinh ra một

Trang 8

lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, hàng hoá đặc biệt đó chính là sứclao động.

Hàng hoá - sức lao động: Số tiền chuyển hoá thành tư bản không thể tự làmtăng giá trị mà phải thông qua hàng hoá được mua vào (T-H) Hàng hoá đó phải làmột thứ hàng hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh

ra giá trị Thứ hàng hoá đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thịtrường.Như vậy, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể conngười, thể lực và trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quá trình sản xuất ramột giá trị sử dụng

Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá, mà sức lao động chỉ biếnthành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định C.Mác đã nhấn mạnh sứclao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai điều kiện tiền đề: Một là, người laođộng phải tự do về thân thể, phải làm chủ được sức lao động của mình và có quyềnđem bán cho người khác Vậy người có sức lao động phải có quyền sở hữu sức laođộng của mình.Hai là, người lao động phải tước hết tư liệu sản xuất để trở thànhngười vô sản và bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác đểsinh sống.Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức laođộng biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định của sự chuyển hoá tiềnthành tư bản.Cũng như những hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có haithuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng.Giá trị của hàng hoá sức lao động là giá trịcủa những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân, vợ con anh ta;những yếu tố tinh thần, dân tộc, tôn giáo của người công nhân, những chi phí đàotạo người công nhân

Giá trị hàng hoá sức lao động giống giá trị hàng hoá thông thường ở chỗ: Nóphản ánh một lượng lao động hao phí nhất định để tạo ra nó Nhưng giữa chúng có

sự khác nhau căn bản: Giá trị của hàng hoá thông thường biểu thị hao phí lao độngtrực tiếp để sản xuất hàng hoá nhưng hàng hoá - sức lao động lại là sự hao phí laođộng gián tiếp thông qua việc sản xuất ra những vật phẩm tiêu dùng để nuôi sốngngười công nhân Còn hàng hoá sức lao động ngoài yếu tố vật chất, nó còn có yếu

Trang 9

tố tinh thần lịch sử, dân tộc, yếu tố gia đình và truyền thống, nghề nghiệp mà hànghoá thông thường không có.Cũng giống như các hàng hoá thông thường, hàng hoásức lao động có khả năng thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của ngườimua Nhưng giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có thuộc tính đặc biệt, nókhác hoàn toàn với hàng hoá thông thường ở chỗ: Khi đem tiêu dùng hay sử dụng

nó thì không những không bị tiêu biến theo thời gian về giá trị và giá trị sử dụng

mà ngược lại nó lại tạo ra một lượng giá trị mới c + m ( c + m > v, với v là giá trị

sử dụng của bản thân nó) Khoản lớn lên được sinh ra trong quá trình sử dụng sứclao động chính là ∆T hay giá trị thặng dư.Từ đó Mác kết luận: Hàng hoá - sức laođộng là nguồn gốc tạo ra giá trị hơn thế nữa là tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tưbản Bởi vì, sức lao động càng đem tiêu dùng hay sử dụng thì người công nhân hayngười lao động càng tích luỹ được kinh nghiệm nghề nghiệp, càng nâng cao năngsuất lao động Vì vậy sẽ làm giảm giá trị hay mức tiền lương mà nhà tư bản đã trảcho họ Vì vậy, dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư bản rất ưa thích loại hàng hoáđặc biệt này.Vậy quá trình người công nhân tiến hành lao động là quá trình sảnxuất ra hàng hoá và đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bảnthân giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản

đã chiếm đoạt Như vậy, hàng hoá - sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh

ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá - sức lao động so với các hànghoá khác Nó là chìa khoá để giải thích tính mâu thuẫn của công thức chung của tưbản

Tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến hay tỷ số giữa lao động thặng dư

và lao động cần thiết là tỷ suất giá trị thặng dư; tỷ suất đó nói lên mức độ bóc lộtgiai cấp công nhân Giá trị thặng dư có biểu hiện bề ngoài là một số tiền dôi rangoài tư bản ứng trước; số tiền đó có tên gọi là lợi nhuận Phạm trù lợi nhuận chedấu quan hệ bóc lột vì nó làm cho người ta dễ lầm tưởng là con đẻ của tư bản ứngtrước (c + v) chứ không phải là con đẻ của tư bản khả biến (v)

Tổng số giá trị thặng dư bóc lột được phân chia thành các loại thu nhập ăn bámtrong xã hội tư bản: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận

Trang 10

ngân hàng; nó còn được phân chia nhỏ hơn nữa thành lợi nhuận doanh nghiệp, lợitức cho vay v.v Quá trình phân chia đó tuân thủ theo quy luật cạnh tranh bìnhquân hóa tỷ suất lợi nhuận Giá trị thặng dư còn phải phân chia cho chủ sở hữuruộng đất dưới hình thức địa tô Như vậy, tổng số giá trị thặng dư do toàn bộ giaicấp vô sản, công nhân tạo ra trong các ngành sản xuất bị toàn bộ giai cấp tư bản vàđịa chủ phân chia nhau trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng.

Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, đỉnh cao của nó là độc quyền nhànước là chủ nghĩa đế quốc, đã có nhiều biến đổi trong hình thức và cơ chế bóc lột

tư bản chủ nghĩa Quy luật sản xuất giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật tỷ suấtlợi nhuận bình quân trong thời kỳ tự do cạnh tranh thì nay, trong chủ nghĩa tư bảnđộc quyền, nó biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận độc quyền cao; quy luậtgiá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất trong thời kỳ tự do cạnh tranh naybiểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền với hệ thống giá bán độc quyền cao, giámua độc quyền thấp do tư bản độc quyền can thiệp và áp đặt v.v Những bộ phậncấu thành lợi nhuận độc quyền cao là: lao động thặng dư, thậm chí một phần laođộng cần thiết của công nhân trong xí nghiệp độc quyền; một phần lao động thặng

dư của các xí nghiệp nhỏ và vừa do xí nghiệp độc quyền xén bớt thông qua hệthống giá cả độc quyền; lao động thặng dư, thậm chí một phần lao động cần thiếtcủa nông dân và thợ thủ công cũng bị bóc lột thông qua hệ thống giá cả độc quyền;phần quan trọng là siêu lợi nhuận thuộc địa dựa trên sự bóc lột nặng nề lao độngthặng dư và một phần lao động cần thiết của nhân dân lao động ở những nướcthuộc địa hay phụ thuộc

Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật và của chủ nghĩa tưbản độc quyền nhà nước, cơ chế bóc lột đã trở nên phức tạp và tinh vi hơn (chủnghĩa Taylo, chủ nghĩa Fayol, chủ nghĩa Ford, chủ nghĩa Ford mới v.v., lần lượtxuất hiện để biện minh cho tính công bằng, sòng phẳng trong quan hệ giữa tư bảnvới lao động) Trên thực tế trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, ngày càng có nhiều thủđoạn và hình thức bòn rút lợi nhuận tinh vi để không ít người còn lầm tưởng đếnmột thứ chủ nghĩa tư bản mới "nhân văn" hơn trước đây, như "chủ nghĩa tư bản

Trang 11

nhân dân", "xã hội tham dự"… Điều không thể che dấu được đó là sự hình thànhmột tầng lớp tư sản ăn bám, quý tộc, thực lợi, tài phiệt; sự thao túng có tính chấttoàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong các quan

hệ thương mại quốc tế; sự xuất hiện của cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế; sự

áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữa các nước giàu với các nước nghèo…Bản chất giá trị thặng dư: Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế

độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích Giá trị sửdụng được sản xuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi Nhà tư bản muốn sảnxuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi, nghĩa là một hàng hoá Hơn nữa,nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tưliệu sản xuất và giá trị sức lao động mà nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốnsản xuất ra một giá trị thặng dư Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sựthống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trịthặng dư C.Mác viết: “ Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động vàquá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với

tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thìquá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bảnchủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá” Quá trình lao động với tư cách là quá trìnhnhà tư bản tiêu dùng sức lao động có hai đặc trưng: Một là, người công nhân laođộng dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống như những yếu tố khác của sản xuấtđược nhà tư bản sử dụng sao cho có hiêụ quả nhất Hai là, sản phẩm làm ra thuộc

sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của người công nhân C.Mác đã lấy ví dụ vềviệc sản xuất sợi ở nước Anh làm đối tượng nghiên cứu quá trình sản xuất giá trịthặng dư Để nghiên cứu, Mác đã sử dụng phương pháp giả định khoa học thôngqua giả thiết chặt chẽ để tiến hành nghiên cứu: Không xét đến ngoại thương, giá cảthống nhất với giá trị, toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đem tiêu dùng chuyển hết mộtlần vào giá trị sản phẩm và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế tái sản xuất giản đơn

Từ các giả định đó, Mác đưa ra một loạt các giả thiết để nghiên cứu: Nhà tư bản dựkiến kéo 10 kg sợi; giá 1 kg bông là 1 đôla; hao mòn thiết bị máy móc để kéo 5 kg

Ngày đăng: 22/01/2016, 19:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w