1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TIỂU LUẬN Mô hình phát triển kinh tế đông á, bài học mô hình phát triển kinh tế Việt nam trong tương lai

18 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô hình Phát Triển Kinh Tế Đông Á, Bài Học Mô Hình Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Trong Tương Lai
Tác giả Trần Thị Khánh Huyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hà Phương
Trường học Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 610,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngược lại, ngay cả trong những giai đoạn phát triển nhanh nhất của mình, các nước Đông Nam Á cũng chưa thể thực hiện được những sự chuyển hóa về chính trị, kinh tế, và xã hội như của các

Trang 1

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

ĐỀ TÀI : MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐÔNG Á BÀI HỌC MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI.

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : TS NGUYỄN HÀ PHƯƠNG SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN THỊ KHÁNH HUYỀN

NGÀY SINH : 03/09/2002

MÃ SINH VIÊN : 20030547

NGÀNH HỌC : ĐÔNG NAM Á HỌC

MÃ LỚP HỌC PHẦN : HK211 - SEA1102

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

*********

HÀ NỘI, THÁNG 1 NĂM 2022

Trang 3

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐÔNG Á.

BÀI HỌC MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI.

Trần Thị Khánh Huyền

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN.

Email : tranthikhanhhuyenk65@gmail.com

Tóm tắt :

Kinh tế được diễn ra dưới nhiều loại mô hình khác nhau nhằm phù hợp với hướng đi, mục đích định hướng của từng chủ thể nhất định Phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế, đây trở thành một cuộc đua của toàn thế giới Có thể thấy, phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển Muốn phát triển kinh tế phải cần một mô hình phát triển phù hợp Nhờ có mô hình phát triển kinh tế phù hợp, các quốc gia Đông Á đã và đang vô cùng phát triển, để lại cho Việt Nam cùng toàn thế giới những bài học sâu sắc.

Từ khoá : mô hình phát triển kinh tế, kinh tế Đông Á, kinh tế Việt Nam.

East Asia economic development model.

Learning model of Vietnam economic development in the future.

Abstract:

The economy is conducted under many different models in order to suit the direction and purpose of each certain subject Economic development is the top goal of every country, especially in the period of international integration, this has become a race

of the whole world It can be seen that economic development is an evolutionary process over time and is determined by the internal factors of the economy to the entire development process To develop the economy, it is necessary to have a suitable development model Thanks to the appropriate economic development model, East Asian countries have been developing extremely well, leaving Vietnam and the whole world with profound lessons.

Keywords: Economic development model, economic in East Asia, economic in

Vietnam.

1 Đặt vấn đề

Mục tiêu phát triển của Việt Nam đầy tham vọng : “Phấn đấu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”, nhấn mạnh đến năm 2030, Việt Nam có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo… không ngừng nâng cao mọi mặt đời sống của người dân." Thế nhưng, nếu những xu thế hiện nay vẫn được tiếp tục thì

có lẽ Việt Nam sẽ không thể đạt được những mục tiêu này, ít nhất là trong một khoảng thời gian khả dĩ chấp nhận được về mặt chính trị Thất bại trong việc đạt được những mục tiêu phát triển sẽ là một sự thụt lùi to lớn đối với người dân Việt Nam Tuy nhiên,

Trang 4

từ góc độ kinh tế khách quan mà nói thì điều này, nếu có xảy ra, cũng không có gì quá ngạc nhiên Trong số các quốc gia đã thoát nghèo và có mức thu nhập trung bình - vốn

là mục tiêu Việt Nam đang hướng tới - chỉ có một vài nước tiếp tục vươn lên trở thành những quốc gia giàu có, hiện đại, và có thế lực Nói một cách khác, xu hướng phát triển phổ biến không đứng về phía Việt Nam Mặc dù vậy, xu hướng này không phải

là một định mệnh Ngược lại, Việt Nam đang có những tiềm năng to lớn mà không phải quốc gia nào cũng có Chỉ trong vòng hơn 20 năm, Việt Nam đã xây dựng được một nền kinh tế năng động và hội nhập Tuy nhiên, bài viết này cũng sẽ chỉ ra rằng, thành công trong quá khứ không phải là một sự bảo đảm vững chắc cho tương lai Nắm bắt được những cơ hội từ toàn cầu hóa, đồng thời tránh được những "cạm bẫy" của nó sẽ là những thách thức to lớn đối với Chính phủ Việt Nam

Sự phát triển của Đông Á và Đông Nam Á cung cấp cho Việt Nam những bài học quý báu Sau chiến tranh thế giới lần hai, các nước Đông Á và Đông Nam Á đều trở lại cùng một vạch xuất phát từ mức thu nhập và phát triển thấp Thế nhưng chưa đầy 20 năm sau, tức là từ những năm 1960, các nước Đông Á đã trải qua một giai đoạn phát triển vượt bậc chưa từng có trong lịch sử Trong các nước Đông Á, chỉ có Trung Quốc xuất phát chậm hơn cả do bị sa lầy vào thảm họa “Đại nhảy vọt” và

“Cách mạng Văn hóa”

Ngày nay, những quốc gia này đều tự hào vì có Chính phủ năng động, hiệu quả, quyền năng, và xã hội tiên tiến Họ đã hoặc đang nhanh chóng xây dựng được một nền giáo dục và y tế đẳng cấp thế giới cho người dân của mình Những thành phố của những quốc gia này năng động về mặt văn hóa, trật tự về mặt xã hội, và an toàn về mặt vệ sinh, môi trường

Ngược lại, ngay cả trong những giai đoạn phát triển nhanh nhất của mình, các nước Đông Nam Á cũng chưa thể thực hiện được những sự chuyển hóa về chính trị, kinh tế, và xã hội như của các nước Đông Á, và đây chính là điểm khác biệt lớn lao giữa các nước Đông Á và các nước Đông Nam Á nói riêng cũng như các nước đang phát triển nói chung Cho đến nay, nền kinh tế của Đông Nam Á vẫn dựa vào việc khai thác lao động giá rẻ và tài nguyên tự nhiên Ngoại trừ Malaysia, các nước đang phát triển ở Đông Nam Á đều đã từng trải qua những giai đoạn thăng trầm chính trị và biến động xã hội Chính phủ ở các nước này đã bị suy yếu một cách đáng kể vì tham nhũng và chính trị chạy theo đồng tiền Các cuộc biểu tình lớn và đảo chính quân sự

đã từng lật đổ chính quyền ở Indonesia, Thái Lan, Philippin, Myanmar Quá trình đô thị hóa ở những nước này đang diễn ra một cách hỗn loạn, với hàng triệu con người đang phải sống lay lắt trong các khu ổ chuột, dọc theo bờ sông hay bên rìa thành phố

ở Jakarta, Bangkok, và Manila Dịch vụ giáo dục và y tế tốt là điều gì đó xa xỉ mà chỉ những người giàu có mới với tới được Tóm lại, con đường của các nước Đông Á là con đường thẳng để đạt tới sự thịnh vượng, ổn định và kính trọng của cộng đồng quốc

tế Còn con đường của các nước Đông Nam Á thì gồ ghề và khúc khuỷu hơn, dẫn các quốc gia này tới một hiện tại mong manh hơn và một tương lai bất định hơn, với nỗi

ám ảnh của bất công và bất ổn Đáng tiếc là dường như Việt Nam lại đang đi lại con đường của các nước Đông Nam Á Sự cất cánh của Việt Nam chỉ mới bắt đầu, Việt Nam vẫn còn nghèo so với các nước Đông Nam Á khác và rất nghèo so với các nước phát triển ở Đông Á Là người đi sau, Việt Nam có ưu thế là có thể học kinh nghiệm thành công và thất bại của các nước đi trước, trong đó một bài học bao trùm là các quốc gia quyết định tốc độ tăng trưởng của mình thông qua việc thực hiện hay không thực hiện những quyết sách chiến lược thường là khó khăn về mặt chính trị Tương lai

Trang 5

của Việt Nam sẽ phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng các quyết sách của Chính phủ Nói một cách khác, thành công hay thất bại là sự lựa chọn chứ không phải là định mệnh

Chính vì thế, bài viết này sẽ đưa ra đặc điểm mô hình phát triển kinh tế của Đông Á qua việc phân tích những đặc điểm, các giai đoạn từ đó nêu ra những ưu nhược điểm của hệ thống mô hình phát triển kinh tế này, để cuối cùng tổng hợp được những bài học kinh nghiệm về việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế phù hợp với định hướng, mục tiêu của Việt Nam

2 Nội hàm mô hình phát triển kinh tế

Mô hình phát triển kinh tế về bản chất chính là các quan điểm cơ bản nhất về kinh tế thông qua các biến số kinh tế trọng yếu và mối liên hệ giữa chúng dưới dạng công thức Mối liên hệ này có thể dưới dạng biểu thức toán học, có thể là dưới dạng

sơ đồ, bảng biểu hay có thể là dạng hệ các quan điểm về kinh tế

Theo quan điểm truyền thống, để xây dựng mô hình phát triển kinh tế người ta thường dựa trên ba tiêu chí là (1) Nhà nước; (2) Thị trường; (3) Xã hội Cũng căn cứ vào các tiêu chí này mà người ta chia ra làm nhiều trường phái và mô hình phát triển kinh tế Mô hình phát triển kinh tế Thị trường tự do để cao vai trò dẫn dắt của thị trường như là “Bàn tay vô hình”, Ngược lại, trong học thuyết của nhà kinh tế học Anh John Maynard Keynes lại đề cao vai trò của “Nhà nước” trong việc điều tiết thị trường như là “Bàn tay hữu hình” Một số quốc gia dựa vào học thuyết kinh tế chính trị Mác-Lênin để xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa lại lấy mô hình Phát triển kinh tế Kế hoạch hóa tập trung phi thị trường để phát triển kinh tế Bên cạnh các tiêu chí về thị trường và nhà nước thì nhiều quốc gia lại lấy tiêu chí xã hội làm trọng, coi trọng việc đảm bảo phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và phát triển cộng đồng, Hiện nay, cùng với

sự phát triển của toàn cầu hóa, khu vực hóa là sự phát triển của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm cho kinh tế phát triển nhanh chóng, tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, dẫn tới tiêu thụ nhiều năng lượng hơn và môi trường ô nhiễm nhiều hơn nên trong việc phân định các mô hình kinh tế người ta còn tính đến nhân tố phát triển nền kinh tế xanh và phát triển kinh tế khu vực

Hình 1 Các tiêu chí phân biệt mô hình phát triển kinh tế

Trong thực tiễn phát triển thì ngoài những tiêu chí trên còn rất nhiều tiêu chí khác để phân các mô hình phát triển thành nhiều loại khác nhau Qua mỗi thời gian,

Xã hội Thị trường

Nhà nướcNhà

Môi trường

Xã hội Thị trường

Nhà nướcNhà

Trang 6

mỗi thời kì các quốc gia đều có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp : có lúc nhấn mạnh vai trò của thị trường, có lúc đề cao vai trò của nhà nước, cũng có lúc đẩy cao vai trò của các tổ chức xã hội cũng như các yếu tố khác Trong thực tế phát triển của thế giới, cùng sự tương đối trong việc phân định các mô hình phát triển kinh tế, chúng

ta có thể thấy có sáu mô hình phát triển kinh tế nổi lên (Hình 2)

Hình 2 Các mô hình phát triển kinh tế trên thế giới tiêu biểu

3 Mô hình phát triển kinh tế Đông Á và mô hình phát triển kinh tế Việt Nam

Trong bài viết lần này, chúng ta tập trung phân tích mô hình phát triển kinh tế Đông Á và mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam về đặc trưng, điều kiện ra đời và tồn tại, các giai đoạn và ưu nhược điểm của những mô hình phát triển này

3.1 Mô hình phát triển kinh tế Đông Á

3.1.1 Đặc trưng chính của mô hình phát triển kinh tế Đông Á

Mô hình phát triển Đông Á là thuật ngữ mà các chuyên gia Harvard và nhiều chuyên gia ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, các tổ chức quốc

tế, đặc biệt là các tổ chức có trách nhiệm toàn cầu về phát triển như UNDP, WB, IMF, đã sử dụng để ám chỉ một cách tương đối mô hình phát triển của các nền kinh

tế mới công nghiệp hoá Châu Á NICs/NIES (NICS - Newly Industrializing Countries/ NIEs-Newly Industrialized Economies) gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Singapore Trong 5 nền kinh tế này thì Singapore nằm trong số các quốc gia Đông Nam Á nhưng xét về sự tương đồng một cách tương đối về mô hình phát triển kinh tế thì người ta đặt mô hình phát triển kinh tế của Singapore vào mô hình phát triển Đông Á, Với tốc độ phát triển nhanh, nên vào những năm 1990 người ta gọi sự kiện phát triển của các nền kinh tế này là “sự thần kỳ Đông Á” Giới truyền thông và các học giả thường gọi các nền kinh tế này là “Những con rồng Châu Á” Có rất nhiều

Mô hình Scandnava, mô hình Rhenan, mô hình Địa Trung Hải – Nam Âu BaLan,

Bungan, Liên xô cũ, Trung Á (Mô hình Đông Âu,

mô hình kinh tế nhà nước)

Thái Lan, Malaysia, Philippin, Indonesia

Một số mô hình phúc lợi xã hội

Mô hình

kế hoạch hoá tập trung

Mô hình Đông Nam Á

Một số mô hình phát triển kinh

tế tiêu biểu

Mô hình

tư bản nhà nước

Mô hình Đông Á Trung

Quốc (Đồng thuận Bắc Kinh)

Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapo, Đài Loan

Mô hình thị trường tự do

Mỹ, Anh ( mô hình Anglo- Saxon, mô hình Tây Âu – Bắc

Mỹ, Đồng thuận Washington)

Trang 7

nghiên cứu về mô hình phát triển Đông Á nhưng tựu chung lại thì mô hình này có những đặc trưng chính sau:

1) Nhà nước:

- Các nước Đông Á đều có chính phủ năng động, hiệu quả Đặc trưng cơ bản của

mô hình phát triển Đông A là khả năng của nhà nước trong việc áp đặt kỷ cương đối với nhóm lợi ích, nhất là khi các nhóm này cản trở sự phát triển của nền kinh tế Mặc

dù trong lịch sử phát triển, cũng có thời điểm các nước theo mô hình này cũng không tránh khỏi vấn đề về lợi ích nhóm Việc áp đặt kỷ cương của nhà nước ở các NICs/NIEs luôn bị phương Tây phê phán là độc tài, thiếu dân chủ hoặc có sự can thiệp của giới quân sự

- Mỗi khi có những biến động về kinh tế hoặc cần có những thay đổi thì các

quốc gia Đông Á luôn có được những quyết tâm mạnh mẽ từ lời nói tới thành động trong việc cải cách hay thay đổi để loại bỏ những yếu kém trong cấu trúc tiền kinh tế Điều này được thể hiện rất rõ nét trong cuộc khủng hoảng 1997 và khủng hoảng 2008

2) Thị trường:

- Các quốc gia Đông Á luôn phát triển doanh nghiệp theo hướng làm gia tăng

sức cạnh tranh quốc tế Các nước này đã thực hiện tốt chính sách kiên trì nhiều khi đến cực đoan trong việc theo đuổi kỹ năng, công nghệ và tri thức tiên tiến để giúp các doanh nghiệp của mình xâm nhập vào thị trường quốc tế và hiện đại hóa sản xuất Nhà nước căn cứ vào thành công trong kinh doanh để đánh giá các doanh nghiệp Nhà nước định một ranh giới rạch ròi giữa những thế lực kinh tế và chính trị, Chính phủ thường xuyên từ chối yêu cầu, ngay cả của những tập đoàn có thể lực nhất về mặt chính trị mỗi khi lợi ích xã hội bị xâm phạm

- Các nước Đông Á xây dựng cho mình một hệ thống tài chính năng động, hiệu

quả và minh bạch Chính phủ các nước này thường dành một phần lớn thu nhập quốc dân cho các hoạt động đầu tư một cách có hiệu quả Chính phủ đóng vai trò then chốt trong việc điều tiết thị trường để giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống

- Các nước Đông Á đều phát triển kinh tế theo hướng xây dựng những thành phố

đầu tàu, năng động về mặt văn hóa, trật tự về mặt xã hội, an toàn về mặt vệ sinh, môi trường, làm động lực cho tăng trường và đổi mới kinh tế

- Các nước Đông Á đầu tư hết sức mạnh mẽ cho giáo dục ở tất cả các cấp, có

tầm nhìn chiến lược toàn diện cho sự phát triển nguồn lực con người Họ đã xây dựng được một nền giáo dục và y tế đạt chuẩn quốc tế cho người dân của mình Năm 1971, khi số kỹ sư ở các nước có mức thu nhập trung bình thời đó là 4,6/1000 dân, thì tỷ lệ này ở Singapore là 10/1000, ở Đài Loan là 8/1000 Không những thế, ngay cả những chiến lược công nghệ có tính định hướng của chính phủ các nước này cũng được bắt đầu từ việc đầu tư vào vốn con người Ngày nay, nhiều trường đại học của các nước này nằm trong danh sách 100 trường đại học hàng đầu của Châu Á Trong đó, Singapore là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á có trường đại học năm trong danh sách trên

3) Xã hội:

- Công bằng xã hội là một trong những đặc trưng quan trọng của mô hình Đông

Á Mặc dù có mức thu nhập cao nhưng các nước Đông Á vẫn có phân phối thu nhập tương đối đồng đều (hơn hẳn so với các nước Đông Nam Á) Ngay từ những năm

1980, các nền kinh tế này đã đã có mức thu nhập bình quân đầu người vượt qua chuẩn nghèo của UN cũng như của WB ( chuẩn nghèo của UN là 960 USD/ người, của WB

là 875 USD/ người) Vào những năm 1990, các nước này đã vượt qua bẫy thu nhập

Trang 8

trung bình và trở thành các nền kinh tế mới công nghiệp hoá với thu nhập trung bình cao (trên 1000 USD/ người)

Hình 3 Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế theo phần trăm thay đổi hàng năm của các con rồng châu Á (%)

1 9 8 0 1 9 9 4 1 9 9 8 2 0 0 0 2 0 1 0 2 0 1 9 2 0 2 1

-10

-5

0

5

10

15

20

tốc độ tăng trưởng gpd thực tế (%)

Nhật Bản Hồng Kông Đài Loan Singapo Hàn Quốc

Nguồn : Theo số liệu IMF.

3.1.2 Điều kiện ra đời, tồn tại, phát triển và những giai đoạn

Vào những năm 1990, trước sự phát triển nhanh của bốn nền kinh tế châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Singapore đã gây được sự chú ý của thế giới Nhiều chuyên gia nghiên cứu, các trường đại học, các viện nghiên cứu cũng như các tổ chức quốc tế đã nghiên cứu và đúc kết kinh nghiệm phát triển của bốn nền kinh tế này và dùng thuật ngữ Mô hình phát triển Đông Á để ám chỉ một cách tương đối mô hình phát triển của các nền kinh tế mới Công nghiệp hoá Châu Á NICS/NIES

Về mặt thị trường, nhìn chung sự phát triển của các nước theo mô hình này có chiến lược phát triển được chia làm ba giai đoạn :

- Giai đoạn 1: Thay thế nhập khẩu: Ưu tiên cho phát triển các ngành Công

nghiệp phục vụ trong nước như dệt may, thực phẩm, hàng tiêu dùng,

- Giai đoạn 2: Hướng ra xuất khẩu: Đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng truyền

thống có hiệu quả kinh tế cao, đồng thời dựa vào vốn đầu tư nước ngoài phát triển các ngành Công nghiệp mũi nhọn, từng bước hướng ra xuất khẩu

- Giai đoạn 3 : Phát triển các ngành công nghệ cao : Đẩy mạnh nghiên cứu và

phát triển các ngành kỹ thuật cao như điện tử, tin học, hóa chất, kỹ thuật hàng không

vũ trụ,

Ban đầu phải kể đến Nhật Bản, đây là nước bại trận sau thế chiến thứ hai (1945), Nhật Bản đã dồn toàn lực vào phát triển kinh tế theo “Mô hình đàn nhạn bay” Ban đầu Nhật Bản bắt đầu phát triển ngành nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ (như dệt may, thực phẩm, hàng tiêu dùng, ) phục vụ nhu cầu trong nước, sau đó mới hướng ra xuất khẩu và phát triển các ngành công nghệ cao

Sau này, mô hình phát triển kinh tế của nhiều nước Đông Á nghiên cứu kỹ lưỡng Nhiều điểm chính của chiến lược phát triển kinh tin tế của Nhật Bản đã được các con rồng châu Á” (như Hàn Quốc, Singapore) nghiên cứu kỹ lưỡng và học tập Các nước này đều hiểu Nhật Bản khởi đầu từ những ngành công nghiệp sử dụng nhiều

Trang 9

lao động và sử dụng thu nhập từ xuất khấu trong các ngành này để mua mới trang thiết bị, máy móc,…

Khi nói tới mô hình phát triển kinh tế Đông Á, người ta thường nhắc tới vai trò của người lãnh đạo, Nhật Bản chịu nhiều ảnh hưởng của cải cách Minh Trị trước đó, Đài Loan có Tưởng Giới Thạch, Singapore khi bắt đầu thành lập có Lý Quang Diệu, Hàn Quốc có Park Chung Hee, Choe Gyu Ha và Chun Doo Hwan đều là những người thực thi chính sách độc đoán, thiếu dân chủ, vận hành trong sự thao túng của giới quân sự

Các nước Đông Á đi sau cũng thấy được vai trò then chốt của chính phủ trong việc dẫn dắt những thay đổi Những gì các nước Đông Á thấy được từ mô hình của Nhật Bản đã cho họ một niềm tin rằng họ cũng có thể thành công vào những gì họ theo đuổi

Tuy nhiên, khoảng 15 năm trở lại đây, tốc độ phát triển kinh tế các nước Đông Á đều chậm lại, đặc biệt là Nhật Bản Hơn thế nữa, với khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, thì các nền kinh tế này lại bộc lộ nhiều vấn đề bất cập như :

- Hình thái phát triển theo phong cách riêng :

Sự phụ thuộc theo định hướng của mô hình phát triển Đông Á là một trở ngại cho khả năng góp phần vào việc tái cân bằng kinh tế toàn cầu cần thiết của các nước trong khu vực Chúng tôi nhận thấy có 3 yếu tố liên kết với nhau

Thứ nhất, sự phát triển định hướng xuất khẩu ở Đông Á đã thành công trong quá khứ và tạo ra một chế độ gồm các thể chế, các lợi ích và các ý thức hệ phụ thuộc lẫn nhau theo một hướng nhất định và do đó khó thay đổi

Thứ hai, mối quan hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp lớn và nhà nước đã tạo ra một mô hình phát triển do đầu tư dẫn đầu, với xu hướng (mang tính hệ thống) tạo ra thặng dư tài khoản vãng lai

Thứ ba, chủ nghĩa nghiệp đoàn phi lao động Đông Á làm suy yếu khả năng trở thành một xã hội tiêu thụ hàng loạt theo kiểu “Ford” của Đông Á

Chủ nghĩa tư bản Đông Á là một mô hình chủ nghĩa tư bản có sự phụ thuộc theo định hướng nhất định riêng biệt mà không giống với các phiên bản có nền kinh tế thị trường tự do hay phối hợp của Hoa Kỳ hay châu Âu Trên thực tế, bất chấp sự khác biệt lớn giữa Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc trong các giai đoạn phát triển của mỗi nước, những quốc gia này có mô hình tăng trưởng và những mất cân bằng và

“khiếm khuyết” nội địa với nhiều điểm tương đồng đáng ngạc nhiên Điều này chỉ ra rằng các thể chế của chủ nghĩa tư bản Đông Á không chỉ đơn thuần là chức năng của một giai đoạn phát triển kinh tế cụ thể, mà là một hình thức mang phong cách riêng của chủ nghĩa tư bản

- Nhà nước kiểm soát kinh tế và tỷ lệ nghèo đói vẫn cao :

Mô hình tăng trưởng theo định hướng đầu tư không chỉ đơn thuần là một chiến lược phát triển, nó còn được gắn chặt vào các mối liên hệ giữa nhà nước và các doanh nghiệp ở các nước Đông Á Những học giả theo chủ nghĩa hiện thực giả định một cách trực tiếp hay ngầm giả định rằng chiến lược phát triển kinh tế này là một phần của một chiến lược quốc gia để đoạt lấy quyền lực toàn cầu Mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước và khu vực doanh nghiệp là cách giải thích thuyết phục nhất cho sự thành công trong phát triển kinh tế của Đông Á

Tiêu dùng thấp không chỉ có nguồn gốc từ nghèo đói mà còn bắt nguồn từ nguyên nhân mang tính cơ cấu và là kết quả của sự tương tác giữa các thể chế khác nhau Thí dụ, đặc trưng của tất cả các nước Đông Á là thị trường lao động có hai mặt

Trang 10

đối lập, với một phần nhỏ là lao động thường xuyên trong các công ty lớn với mức lương cao và đa số là lao động không thường xuyên hoặc bán thời gian với mức lương

và phúc lợi thấp hơn Ngoài ra, không giống như ở Hoa Kỳ, các hộ gia đình nghèo ở Đông Á thường không được tiếp cận với tín dụng cho người tiêu dùng hoặc phải dựa vào thị trường tín dụng xám Các mức lãi suất cực kỳ cao trong thị trường này lại càng làm suy yếu tiêu dùng

Thay vì đang nắm quyền kiểm soát nền kinh tế quốc gia của mình, các nhà nước kiến tạo phát triển Đông Á đang ngày càng thiên về phát triển kinh tế và lợi ích kinh doanh; đổi mới thể chế có sự phối hợp giữa nhà nước và khu vực doanh nghiệp

Mô hình tăng trưởng do đầu tư dẫn đầu và sự kết nối chặt chẽ giữa chính phủ và doanh nghiệp là một mặt của đồng xu về những mất cân bằng nội địa trong mô hình tăng trưởng Đông Á Mặt kia của đồng xu là sự yếu kém của tiêu dùng trong nước và

tổ chức lao động Định hướng xuất khẩu và tăng trưởng do đầu tư dẫn đầu tương ứng với tình trạng mức tiêu thụ trong nước thấp và tỷ lệ tiết kiệm cao

Điểm yếu về nhập khẩu của Đông Á thường được hiểu là chủ nghĩa bảo hộ Gần đây nhất, Hoa Kỳ và châu Âu đã áp dụng hàng rào thuế quan để đối phó với những tấm pin mặt trời Trung Quốc được chính phủ trợ cấp Một nghiên cứu đã ước tính rằng các ngành công nghiệp ở Trung Quốc được trợ cấp khoảng 20 tỷ USD mỗi năm Khuynh hướng tiêu dùng thấp có nguồn gốc sâu xa trong mô hình phát triển Đông Á, cũng là lý do rõ ràng nhất cho sự thặng dư tài khoản vãng lai và sự thiếu thốn tiêu dùng trong nước đối với các sản phẩm và dịch vụ nước ngoài Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên đối với Trung Quốc; bất chấp tăng trưởng kinh tế, quốc gia này vẫn là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người khoảng 5000USD Hơn nữa, 30% dân số Trung Quốc vẫn sống dưới mức nghèo khổ, khi thu nhập hàng ngày thấp hơn 2 USD theo thang PPP

Ngay cả ở các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) của Đông Á như Hàn Quốc và Nhật Bản, cầu vẫn thấp do nghèo đói và bất bình đẳng xã hội Không chỉ có số lượng gia đình thu nhập thấp lớn hơn nhiều so với trung bình của OECD, 2 quốc gia này còn có khoảng cách giữa thu nhập trung bình của nhóm gia đình nghèo và ngưỡng nghèo đói vượt quá mức trung bình 27,4% của các nước OECD; 36,8% ở Hàn Quốc và 34,4% ở Nhật Bản

- Mất cân bằng thương mại :

Tiêu dùng trong khu vực Đông Á càng bị giới hạn về cấu trúc bởi tỷ lệ tiết kiệm cao Trong năm 2012, tỷ lệ tiết kiệm cao nhất là ở Trung Quốc với 50%, tiếp theo là Hàn Quốc với 31% Ngay cả ở Nhật Bản, tỷ lệ tiết kiệm 22% cũng cao hơn nhiều so với tỷ lệ tiết kiệm 13% ở Hoa Kỳ Vì tỷ lệ tiết kiệm ở Đông Á cao hơn so với tỷ lệ đầu

tư trong nước, các nước Đông Á là những nhà xuất khẩu vốn, làm trầm trọng hơn sự

ưu tiên cho các đồng tiền định giá thấp

Tỷ lệ tiết kiệm cao và sự thiếu hụt tiêu dùng đại chúng ở Đông Á tương ứng với một ý thức hệ sản xuất và một nền văn hóa tiết kiệm Không giống như “xã hội tiêu dùng” phương Tây, các nước Đông Á có thể được xem là “xã hội sản xuất” Người Đông Á có xu hướng coi mình như người sản xuất hoặc ít nhất họ không tách rời danh tính người tiêu dùng với danh tính người sản xuất của mình Ngay cả những nhóm người tiêu dùng cũng không muốn chạy theo lợi ích của họ nếu việc này có thể làm tổn thương lao động và nông dân địa phương Mặc dù tiêu dùng, tín dụng tiêu dùng và

nợ thẻ tín dụng gần đây đã tăng lên trong khu vực Đông Á

Ngày đăng: 09/09/2022, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w