LỜI MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài: Dân tộc Việt Nam trải qua hơn 1000 năm dưới chế độ phong kiến thì trong khoảng thời gian do cũng có tới hàng nghìn phong trào khởi nghĩa của nông dân chốn
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ VIỆT NAM
Đề tài:
PHONG TRÀO VÀ VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN
Giảng Viên Phụ Trách: PGS.TS.Trần Thuận Sinh viên thực hiện: Bùi Ngọc Bích
Pháp danh: Ngọc Linh
Mã sinh viên: TX 6022 Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
TP Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2021
Trang 2HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ VIỆT NAM
Đề tài:
PHONG TRÀO VÀ VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN
Giảng Viên Phụ Trách: PGS.TS.Trần Thuận Sinh viên thực hiện: Bùi Ngọc Bích Pháp danh: Ngọc Linh
Mã sinh viên: TX 6022
Lớp: ĐTTX Khóa VI
Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
TP Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2021
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Ngày….tháng…năm 2021
PGS.TS Trần Thuận
MỤC LỤC
Trang 4B.Nội dung 2
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA ĐÀNG TRONG VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ XVIII 1.1 Sự thối nát của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn 2
1.2 Kinh tế ở Đàng Trong 3
1.3 Phong trào nông dân nổ ra 4
CHƯƠNG 2: PHONG TRÀO TÂY SƠN BÙNG NỔ VÀ THẮNG LỢI 2.1 Vài nét về phong trào Tây Sơn và căn cứ Tây Sơn 5
2.1.1 Anh em Tây Sơn 5
2.1.2 Căn cứ Tây Sơn 6
2.1.3 Những ngày đầu khởi nghĩa 6
2.2 Đập tan tập đoàn Lê – Trịnh, xóa bỏ ranh giới sông Gianh 6
2.2.1 Chiến dịch Phú Xuân 1786 6
2.2.2 Tiến ra Thăng Long, lật đổ họ Trịnh 8
2.4 Đánh tan 20 vạn quân Thanh 8
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA PHONG TRÀO TÂY SƠN TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC 3.1.Phong trào nông dân Tây Sơn là đỉnh cao của lịch sử chiến tranh nông dân Việt Nam 13
3.2.Phong trào nông dân Tây Sơn là một phong trào độc đáo 13
C.KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 5A LỜI MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài:
Dân tộc Việt Nam trải qua hơn 1000 năm dưới chế độ phong kiến thì trong khoảng thời gian do cũng có tới hàng nghìn phong trào khởi nghĩa của nông dân chống chính quyền phong kiến Sự bùng nổ của phong trào nông dân xuất phát từ điều kiện kinh tế
- xã hội khủng hoảng dưới các triều đại phong kiến Họ vùng lên để tự giải phóng, để giành lấy ruộng đất và xác lập một vương triều phong kiến tiến bộ hơn
Vào thế kỷ XVIII, throng bối cảnh đất nước loạn lạc, các thế lực phong kiến đánh nhau để giành địa vị, đất nước bị chia năm xẻ bảy, cuộc sống nhân dân khốn cùng Chính lúc đấy, các cuộc khởi nghĩa nông dân lại bùng nổ, rầm rộ và mạn hơn bao giờ hết
Chính trong hoàn cảnh do đã xuất hiện phong trào nông dân Tây Sơn Phong trào nông dân Tây Sơn có một ý nghĩa và vai trò lịch sử vô cùng to lớn trong lịch sử dân tộc Đã vươn lên làm cả hai nhiệm vụ dân tộc và giai cấp Hoàn thành cả hai nhiệm vụ
do một cách xuất sắc Đó cũng là lý do yếu điểm mà học viên chọn đề tài “phong trào Tây Sơn và vương triều Tây Sơn”
2.Phương pháp nghiên cứu:
Học viên chọn nghiên cứu với phương pháp phân tích,so sánh và tổng hợp từ đó đi đến kết luận để làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu
3.Nội dung nghiên cứu:
Vì kiến thức hạn chế,học viên chỉ đi xâu nghiên cứu Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi trên bình diện cơ bản nhất
4.Bố cục tiểu luận:
Gồm 4 phần :
Mở đầu&Nội dung,Nội dung gồm 03 chương có 03 mục và 04 tiểu mục
Phần kết luận & Tài liệu tham khảo
Trang 6A NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA ĐÀNG TRONG VIỆT
NAM VÀO THẾ KỶ XVIII 1.1 Sự thối nát của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn:
Thế kỷ XVI – XVIII là giai đoạn diễn ra nhiều biến đổi trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội trong lịch sử dân tộc Sự tha hóa của bộ mày nhà nước đã làm cho tình hình xã hội thêm rối ren Các thế lực địa phương nổi lên Đất nước bước vào thời kỳ loạn lạc Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê Sự xuất hiện của nhà Mạc làm cho tình hình thêm phức tạp, tạo nên cục diện Nam – Bắc triều Trong khi chiến tranh Nam – Bắc triều chưa kết thúc thì cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh lại diễn ra, đưa đất nước vào cảnh huynh đệ tương tàn, đất nước bị chia làm hai miền
Ở Đàng Ngoài, triều Lê Trung hưng không còn đủ khả năng lập lại một chính quyền trung ương tập quyền vững mạnh như trước mà phải dựa hẳn vào các thế lực của họ Trịnh Thiết chế triều đình – phủ chúa thực chất là sự nương tựa vào nhau của hai thế lực: vua Lê – đã mất hết sinh khí nhưng có hào quan của quá khứ, ít nhiều có uy tín trong dân chúng và Chúa Trịnh – những người có thực lực quân sự Trong thiết chế này, mọi quyền lực đều nằm trong tay chúa Trịnh còn vua Lê chỉ là bù nhìn Càng về thế kỷ thứ XVIII, bộ máy chính quyền càng mục nát đến cực độ, đặc biệt là từ khi Trịnh Sâm lên nắm quyền(1767) Triều đình mục rỗng, quan lại địa phương tham tiền, thiên tai mất mùa làm cho nhân dân lâm vào cảnh khốn cùng Khủng hoảng ở Đàng Ngoài bước vào giai đoạn sâu sắc và toàn diện
Ở Đàng Trong, trong những ngày đầu nam tiến, do nhu cầu tăng tiềm lực cho vùng đất mình cai trị, làm cơ sở chống lại chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã thi hành những chính sách cởi mở để phát triển kinh tế và mở rộng lãnh thổ Trong vòng hai thế kỷ, lãnh thổ Đàng trong đã phát triển đến tận mũi Cà Mau Đồng bằng sông Cửu long trở thành trung tâm nông nghiệp lớn trong khu vực
Tuy nhiên, vào nửa đầu thế kỷ XVIII, trong khi chế độ phong kiến Đàng Ngoài đã bộc
lộ rõ bước đường suy yếu của nó, thì ở Đàng Trong, chế độ phong kiến họ Nguyễn bước vào thời kỳ tiền khủng hoảng
Sau khi chiến tranh Trịnh – Nguyễn chấm dứt(1672), nền thống trị của họ Nguyễn được củng cố: địa vị cát cứ, quyền lực chính trị, thế lực kinh tế ổn định… Giai cấp thống trị họ Nguyễn tăng cường bóc lột nhân dân, tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược.Các chúa Nguyễn không ngừng tăng cường xây dựng các lâu đài ở kinh đô mới
Từ năm 1687, Nguyễn Phúc Trăn cho dời kinh đô từ Ái Tử (Quảng Trị) về Phú Xuân (Huế) Kinh đô Huế được xây dựng không chỉ lớn mạnh về quy mô mà công nhiều công trình chùa chiền, miếu mạo
Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) tự cho mình là sùng đạo Phật, lấy hiệu là Thiên Túng nhân đạo để xây dựng nhiều chùa tháp Năm 1714, Nguyễn Phúc Chu sai trùng tu và mở rộng chùa Thiên Mụ, bắt hàng ngàn người phục vụ trong cả năm trời
Y còn sai người sang Triết Giang (Trung Quốc) mua Kinh Đại Tạng cùng với các thứ luật lệ, mua trên 1000 bộ về đặt trong chùa Nhưng đời sống của riêng ông ta thì rất xa hoa, trụy lạc, một mình có 146 người con
Năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, cho xây dựng kinh đô ở Phú Xuân (Huế) Quan lại cấp cao đua nhau xây dựng dinh thự, tiêu phí vô cùng tốn kém cho
2
Trang 7việc ăn chơi, tổ chức yến tiệc linh đình Họ “coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn,
xa xỉ hết mực” Tiền của cung ứng cho cuộc sống xa hoa của nhà Nguyễn đều bổ vào đầu dân Trong vòng 7 năm (1746 – 1752), chúa Nguyễn thu vào 5.768 lượng vàng, 45.404 lượng bạc, 2 triệu quan tiền Số dân phải đóng góp còn gấp 2, 3 lần số đó vì
“về nhà nước được một phần thì kẻ trưng thu lấy 2 phần” Theo nhận xét của Lê Qúy Đôn: “hàng năm có hàng trăm thứ thuế mà trưng thu thì phiền phức, gian lận, nhân dân khổ vì nởi một cổ hai tròng”
Đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777), chính quyền họ Nguyễn ngày càng thêm thối nát hơn Thần quyền Trương Thúc Loan đã phế truất Hoàng Tôn Dương, đưa Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi chúa khi mới 12 tuổi Mặc dù mới 12 tuổi nhưng cũng rất hoang dâm, tốn kém, Nguyễn Phúc Thuần tự xưng là “Khách Phủ Đạo Nhân” ngày đêm bày trò ca hát, không lo gì đến triều chính
Quyền thần Trương Thúc Loan thâu tóm mọi quyền hành, lôi bè kéo phái Ông ta một mình 5 lộc lớn, hằng năm thu trên 200 lạng bạc, tham ô từ 3 – 4 vạn quan tiền Tương truyền, hằng năm y bắt quan lại, bính lính nộp 5 gánh dây mây dùng để xâu tiền Trong nhà Loan “vàng bạc, châu báu, gấm vóc đầy rẫy, nô bộc, trâu ngựa không biết bao nhiêu mà kể xiết Qua mỗi mùa mưa, Loan đem vàng bạc ra phơi nắng sáng chói
cả góc sân” Nội bộ chính quyền phân chia bè phái, những người chống Loan đều bị giết hại
Như vậy, bức tranh toàn cảnh tình hình chính trị của Việt Nam trong thế kỷ XVIII nói chung và của Đàng Trong nói riêng, chế độ phong kiến đang bước vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc, trầm trọng Cơ đồ thống trị của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn đang lung lay tới tận gốc rễ.Sứ mệnh quật nhào thế lực phong kiến rỗng mục ấy, lịch
sử đã trao cho phong trào Tây Sơn
1.2 Kinh tế ở Đàng Trong
Ngoại thương sa sút: lúc này tàu buôn phương tây hầu như không đến nữa, tàu buôn nước ngoài tham gia vào hoạt động ngoại thương ở Đàng Trong chỉ có thương nhân Hoa Kiều Năm 1773, toàn bộ số tàu đến Hội An chỉ có 8 chiếc
Đàng trong không có mỏ đồng nên thứ nguyên liệu này phải nhập khẩu hoàn toàn Khi ngoại thương suy giảm, đồng để đức tiền củng không đủ Họ Nguyễn cho phép tư nhân được đúc tiền tự do để thu lợi Kết cục đã gây ra tình tạng rối loạn nội tệ, mà sử học gọi là “nạn tiền hoang” Trong khi tình hình ngoại thương suy thoái gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế hàng hóa thì sự rối loạn tiền tệ đã dẫn đến tình trạng đầu cơ tích trữ, làm ngưng truệ mọi hoạt động lưu thông Các đô thị mới đều hưng thịnh như Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn dần dần lụi tàn
Kinh tế Đàng Trong lâm vào tình trạng đình đốn, suy thoái nghiêm trọng Kinh tế suy thoái, thế nkháo nặng nề, quan lại tham nhũng đã làm cho đời sống nhân dân Đàng Trong cơ cực, gây bất bình cho mọi tầng lớp nhân dân Từ những năm 30, thiên tai lụt lội xảy ra liên miên khiến cho những vùng đất trù phú nhất cũng lâm vào nạn đói.Năm 1752, một nạn đói lứon đã xảy ra làm cho nhiều người chết đói Đói kém xảy
ra liên tục trong 4, 5 năm liền Thê thảm nhất là nạn đói lớn ở Thuận Hóa 1774 Theo lời mô tả của giáo sĩ La Bactet thì: “gạo đắt như vàng (…) tình trạng đói khổ đã bày ra lắm cảnh thương tâm khó tả, xác chết chồng lên nhau”
Ngoài sự cướp đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ, nông dân còn phải chịu thêm gánh nặng thuế khóa Vào cuối thế kỷ XVIII, họ Nguyễn tăng thêm một số ngạch thuế của và đặt thêm một số thứ thuế khác Riêng thuế đò, thuế chợ cũng tăng lên gấp bội
Trang 8+ Năm 1752, nạn đói lại xảy ra, một phương gạo đến 3 quan tiền.
+ Năm 1774, cả xứ Thuận Hóa lâm vào nạn đói lớn “ người ta phải ăn thịt nhau” Tình trạng không được chính quyền phong kiến và giai cấp địa chủ giải quyết càng làm cho nền kinh tế nông nghiệp bị suy sụp
Như vậy, do sự thối nát của chính quyền phong kiến ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, mà đời sống nhân dân trở nên khốn cùng Mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt, nông dân không còn con đừơng nào khác là phải nổi dậy khởi nghĩa
1.3 Phong trào nông dân nổ ra.
Trong lịch sử dân tộc, thế kỷ XVIII được mệnh danh là “ thế kỷ chiến tranh nông dân” Cuộc khủng hoảngvề chính trị diễn ra ở cả hai miền, do vậy phong trào nông dân diễn ra suốt chiều dài đất nước
Chính quyền Lê – Trịnh tỏ ra hoàn toàn bất lực trước các vấn đề kinh tế - xã hội Triều đình mục nát, suy đồi Các vùng nông thôn bị các thế lực cường hào, lý dịch thao túng Đất đai bị tranh chiếm, dân nghèo bị ức hiếp, nông dân bị đẩy ra khỏi làng
xã, trở thành lực lượng xã hội đông đảo, bất bình với chính quyền phong kiến Do vậy,
hộ đã đứng dậy đấu tranh Các phong trào phát triển sâu rộng ở cả miền núi và miền xuôi, trong đó có cả những cuộc khởi nghĩa thu hút cả hàng vạn người tham gia và kiên cường bền bỉ đứng dậy đấu tranh chống lại ách áp bức, cường quyền hàng chục năm Tiêu biểu như các cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật(1738 – 1770), Hoàng Công Chất(1739 – 1769), Nguyễn Hữu Cầu(1741 – 1751), Nguyễn Danh Phương(1741 – 1751) Tuy nhiên, những phong trào này đến năm 1770 đều bị dập tắt Mặt yếu của các phong trào nông dân trong giai đoạn này là bế tắc về đường lối Các cuộc khởi nghĩa chỉ thể hiện sự phản kháng quyết liệt của những người bị trị cùng khổ đối với chính quyền tham nhũng tàn bạo, họ không đưa ra được bất cứ một chương trình cải cách tiến bộ nào và với bản chất nông dân họ không có được sự liên kết thống nhất Năm 1747, ở Gia Định, cuộc khởi nghĩa của thưong nhân Hoa Kiều cùng Văn Quang cầm đầu bùng nổ Bât bình với chính sách chèn ép thương nhân của Nguyễn Phúc Khoát, Quang nhóm họp bạn bè khoản 300 người, chiếm cứ bãi Đông Phố và dự định đánh úp dinh Trấn Biên Tuy nhiên cuộc nổi dậy chóng bị dập tắt
Các cuộc đấu tranh của người Chăm cũng đã diễn ra mạnh mẽ Lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của thủ lĩnh Dương Bao Lai, Diệp Mã Lăng ở trấn Thuận Thành vào năm
1746 Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng đã giáng vào nền thống trị của ho Nguyễn một đòn mạnh mẽ Năm 1714, nhân dân các dân tộc thiểu số ở Cam Lộ (Quảng Trị) cũng nổi dậy gây cho họ Nguyễn nhiều lúng túng
Như vậy, tình thế cách mạng sôi sục trong cả nước cùng với sự suy yếu cực độ của các thế lực phong kiến và sự dạn dày chiến đấu của những người nông dân ở thế kỷ XVIII đã là nhân tố hết sức quan trọng giúp cho phong trào nông dân ở cuối thế kỷ XVIII có thể phát động thành một cuộc chiến tranh nông dân lớn mạnh đủ sức đánh tan mọi thế lực phong kiến lớn nhỏ trong cả nước Chính trong hoàn cảnh lịch sử thuận lợi đó, phong trào nông dân Tây Sơn đã xuất hiên và có đủ điều kiên để phát triển ngày càng lớn mạnh
4
Trang 9CHƯƠNG 2: PHONG TRÀO TÂY SƠN BÙNG NỔ VÀ THẮNG LỢI
2.1 Vài nét về phong trào Tây Sơn và căn cứ Tây Sơn
2.1.1 Anh em Tây Sơn
Năm 1771, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo.Tổ tiên 4 đời của anh em Tây Sơn có gốc ở Hưng Nguyên (Nghệ An), thuộc đất Đàng Ngoài Trong chiến tranh Trịnh – Nguyễn, năm 1655 khi quân Nguyễn vượt sông Gianh đánh chiếm Đàng Ngoài đã bắt tù binh và nông dân vào Đàng Trong Trong đó có người tên là Hồ Phi Khanh (chính là tổ 4 đời của anh
em Tây Sơn) cùng với một số nông dân đưa vào khai khẩn vùng đất thuộc ấp Tây Sơn Sau một quá trình lao động cần cù, cực khổ, tổ tiên của anh em Tây Sơn đã tạo đựoc một cơ ngơi khá giả Anh em thân sinh của ba anh em Tây Sơn là Hồ Phi Thúc đã lấy
bà Nguyễn Thị Đồng và chuyển về sinh sống ở làng Kiên Thành (Tây Sơn Hạ đạo) Ngay từ thuở nhỏ, ba anh em Nguyễn Nhạ, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã đựoc thầy Nguyễn Văn Hiến dạy học Thầy giáo Nguyễn Văn Hiến vốn là một môn khách của Ngoại hữu Trương Văn Hạnh Năm 1765, Trương Phúc Loan cùng một số quan đại thần trong triều đã làm giả duy mệnh của chúa Nguyễn Phúc Khoát, bỏ Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, lập Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi
Ngoài việc truyền kiến thức, thầy Nguyễn văn Hiến còn dạy cho anh em Tây Sơn sự thối nát của chốn quan trường và nổi khổ của dân Anh em Tây Sơn lại sinh trưởng ở vùng Quảng Nam – là nơi mâu thuẩn giai cấp phát triển gay gắt nhất ở Đàng Trong
Do vây, ba anh em Tây Sơn sớm bất bình với chế độ phong kiến thống trị của chua Nguyễn và oán ghét bọn quan lại, cường hào
2.1.2 Căn cứ Tây Sơn
Căn cứ Tây Sơn thuộc ấp Tây Sơn, huyện Phù Mỹ, phủ Quy Nhơn, dinh Quảng Nam (gồm các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai ngày nay) Vùng quảng Nam vốn là một vùng trù phú Các nhà buôn bán nước ngoài thường coi Quảng Nam
là một trung tâm kinh tế giàu có vào loại bậc nhất Đàng Trong Và Quảng Nam cũng
là nơi có chế độ thuế khóa nặng nề nhất.Ấp Tây Sơn có hai vùng là Tây Sơn Thượng đạo và Tây Sơn Hạ đạo Ban đầu, anh em Tây Sơn chọn Tây Sơn Thượng đạo là nơi xây dựng căn cứ và chuẩn lực lượng Tây sơn Thượng đạo là một vùng cao nguyên và rừng núi rộng lớn chiếm gần ¾ đất đai của phủ Quy Nhơn Căn cứ Tây Sơn Thượng đạo nằm trọn vẹn ở thung lũng An Khê (Gia Lai) gồm hai phần: Tây Sơn nhất và Tây Sơn nhị Phần lớn căn cứ của nghĩa quân ở Tây Sơn nhị, nơi đây là vùng cư trú chủ yếu của người Bana và một số ít người Việt Ở đây, Nguyễn Nhạc đã đắp lũy dựa trên địa thế núi rừng hiểm trở Dấu tích còn lại là lũy An khê gồm có 7 cạnh, 4 cửa Bắc, Nam, Đông, Tây, vừa kiểm soát được con đường độc đạo lên cao nguyên Plâycu, vừa
dễ dàng rút lui vào rừng núi
Toàn bộ căn cứ Tây Sơn Thượng đạo nằm trong một thung lũng khá rộng liên hệ với Tây sơn Hạ đạo qua đèo Mang và cao nguyên Plâycu qua đèo Mang Giang Từ căn
cứ, nghĩa quân có thể theo đường mòn suống Tây sơn Hạ đạo và vùng đất Phú Yên Theo đường thủy, nghĩa quân có thể xuôi dòng sông Ba tới Phú Yên, theo dòng sông Côn tới Tây Sơn Hạ đạo và phủ lỵ Quy Nhơn Chính những con đuờng thủy, bộ này
đã tạo khả năng liên kết các vùng làm cơ sở cho anh em Tây Sơn liên kết lực lượng và
là con đường buôn bán để cung cấp lực lượng cho nghĩa quân
Trang 10Tây Sơn Hạ đạo là một vùng đất bằng phẳng, khá trù phú gần với phủ thành Quy Nhơn Cuối 1772, Nguyễn Nhạc mở rộng căn cứ, tiến quân từ Tây sơn Thượng đạo xuống Tây Sơn Hạ đạo, thành lập đại bản doanh ở Kiên Thành
2.1.3 Những ngày đầu khởi nghĩa
Để phát động lực lượng dân nghèo đứng dậy đấu tranh, Nguyễn Nhạc nêu cao khẩu hiệu “lấy của người giàu chia cho dân nghèo” Khẩu hiệu đấu tranh thiết thực đã đáp ứng nguyện vọng của người dân nghèo khổ và có tác dụng lôi cuốn mạnh mẽ đông đảo quần chúng lao động vùng dậy khởi nghĩa
Từ căn cứ, nghĩa quân thường chia thành các toán nhỏ gồm vài trăm người về giải phóng các làng xã Nghĩa quân trừng trị bọn xã trưởng, tịch thu các loại giấy tờ,
kế ước phong kiến rồi đốt trước mặt quần chúng, tuyên bố bãi bỏ mọi thứ thuế Vì vậy, nhân dân ở mọi nơi đều tích cực tham gia hưởng ứng Mặt khác, lợi dụng mâu thuẩn giữa các phe phái phong kiến và để cô lập kẻ thù, Nguyễn Nhạc còn khôn khéo nêu lên khẩu hiệu: “Ủng hộ Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, diệt trừ bọn Dương Thúc Loan” Đi tới đâu nghĩa quân cũng được ủng hộ, số người tham gia ngày càng đông Với sự nhiệt tình phản ứng của quảng đại quần chúng nhân dân ngay từ ngày đầu khởi nghĩa, lực lượng vũ trang của phong trào Tây Sơn đã tới 3000 người Căn cứ địa Quy Nhơn lại có nhiều voi, ngựa tốt Đồng bào miền núi Quy Nhơn có truyền thống đua ngựa, quản tượng giỏi Đồng bào cả miền Quy Nhơn, Kinh, Thượng đều có truyền thống thượng võ, giỏi quân sự Cho nên những đội quân đầu tiên của phong trào Tây Sơn đã là những đội quân thiện chiến và dũng cảm
Tới năm 1773, lực lượng vũ trang của nghĩa quân đã có tới hàng vạn người Căn
cứ địa của nghĩa quân gồm một khu vực rộng lớn của phủ Quy Nhơn Vùng An Khê
và ba huyện Phù Ly, Bồng Sơn, Tuy Viễn Tới đây, công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa đã đựoc hoàn thành Nghĩa quân có thế kiểm soát hoàn toàn vùng Quy Nhơn Giờ khởi nghĩa đã tới Nghĩa quân có thể mở những cuộc tấn công đầu tiên vào quân địch và nắm chắc phần thắng lợi
2.2 Đập tan tập đoàn Lê – Trịnh, xóa bỏ ranh giới sông Gianh
2.2.1 Chiến dịch Phú Xuân 1786
Sau khi làm chủ Nam Trung Bộ và Nam Bộ, Tây Sơn được rãnh tay đói phó với quân Trịnh ở phía bắc Nhận thấy thời cơ đánh Bắc Hà, Nguyễn Huệ đề nghị Nguyễn Nhạc đánh ra bắc nhưng Nguyễn Nhạc ngần ngại chưa quyết.Sang tháng 4/1786, Phạm Ngô Cầu sai sứ là Nguyễn Phú Như vào Quy Nhơn mượn tiếng trao đổi vấn đề biên giới, nhưng thực ra muốn dò tình hình Tây Sơn Phú Như vốn có quen biết với Nguyễn Hữu Chỉnh, bèn mang tình hình Thuận Hóa nói lại Hữu Chỉnh bèn xin Nguyễn Nhạc ra quân đánh Thuận Hóa Lúc đó Nguyễn Nhạc mới quyết định Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy các cánh quân thủy bộ, Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc, Nguyễn Lữ chỉ huy đội dự bị thủy quân Theo giáo sĩ La Grand de la Liraye trong cuốn Notes historiques sur la nation annamite, tổng số quân Tây Sơn tham chiến gồm 5.000 tiền quân, 2.000 hậu quân và 3.000 thủy binh, tất cả 1 vạn người.Phía quân Trịnh có trên 3 vạn quân Từ khi Hoàng Ngũ Phúc và Bùi Thế Đạt rút đi (1775) đã bố trí lực lượng phòng bị Từ sông Gianh tới đèo Hải Vân, có nhiều đồn để cứu ứng cho nhau Tuy nhiên, đất Thuận Hóa trong nhiều năm không có chiến tranh, quân số tuy khá đông nhưng phòng thủ không chặt chẽ Chủ tướng Phạm Ngô Cầu chuyên làm việc buôn bán, không sắm sửa khí giới phòng bị lương thực nên quân Trịnh và dân đều chán nản
6