1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TIỂU LUẬN môn văn học PĀLI đề tài GIÁO lý năm uẩn TRONG KINH TẠNG PĀLI

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Lý Năm Uẩn Trong Kinh Tạng Pāli
Người hướng dẫn TS.NS.TN.Hiếu Liờn
Trường học Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Học Pāli
Thể loại Bài Tiểu Luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 171,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH  BÀI TIỂU LUẬN MÔN VĂN HỌC PĀLI Đề tài 3 : GIÁO LÝ NĂM UẨN TRONG KINH TẠNG PĀLI Giảng Viên Phụ Trách: TS.N

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



BÀI TIỂU LUẬN MÔN VĂN HỌC PĀLI

Đề tài 3 :

GIÁO LÝ NĂM UẨN TRONG KINH TẠNG PĀLI

Giảng Viên Phụ Trách: TS.NS.TN.Hiếu Liên Sinh viên thực hiện: Lê Văn Can

Pháp danh: Trí Cường

Mã sinh viên: TX 6031 Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

TP Hồ Chí Minh, năm 2021

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trang 2

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



BÀI TIỂU LUẬN MÔN VĂN HỌC PĀLI

Đề tài 3 :

GIÁO LÝ NĂM UẨN TRONG KINH TẠNG PĀLI

Giảng Viên Phụ Trách: TS.NS.TN.Hiếu Liên Sinh viên thực hiện: Lê Văn Can

Pháp danh: Trí Cường

Mã sinh viên: TX 6031

Lớp: ĐTTX Khóa VI

Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

TP Hồ Chí Minh, năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

A.MỞ ĐẦU 1

B.NỘI DUNG 2

Chương 1:GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC PĀLI 1.1 GIẢI THÍCH CÁC KHÁI NIỆM 2

1.1.1 Văn học là gì? 2

1.1.2 Pāli là gì? 2

1.2 Văn học Pāli là gì? 2

1.3.Nguồn gốc tiếng Pāli 3

Chương 2:GIÁO LÝ NĂM UẨN TRONG KINH TẠNG PĀLI 2.1.ĐỊNH NGHĨA VỀ NĂM UẨN VÀ NỘI DUNG NĂM UẨN 4

2.1.1 Định nghỉa năm uẩn 4

2.1.2.Nội dung của Năm uẩn 4

2.2.Những bài kinh trong kinh tạng pāli liên hệ tới năm uẩn .6

Chương 3:ỨNG DỤNG SỰ TU TẬP NĂM UẨN TRONG ÐỜI SỐNG HIỆN TẠI 3.1.NHẬN DIỆN NĂM UẨN TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI 10

3.1.1 Nguyên nhân của khổ đau của con người 10

3.1.2.Phát triển tâm linh 10

C.KẾT LUẬN 12

D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 4

A.MỞ ĐẦU

Đạo phật ra đời cách đây hơn 2600 năm ,gắn với sự kiện đản sanh của bồ tát Siddhārtha(Sĩ Đạt Ta)năm 624 BC tại Lumbini Con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Maya Năm 29 tuổi ngài cưới công chúa Da-du-đà-la 10 tháng sau rời hoàng cung, gia đình vợ con, thành đạo sĩ 6 năm tu khổ hạnh, mong tìm ra con đường diệt khổ Năm 35 tuổi giác ngộ dưới cội cây Bồ đề ở Gaya, sau 49 ngày thiền định.Chuyển pháp luân tại Sarnath: Kinh Chuyển Pháp Luân, Kinh Vô ngã tướng, Kinh Thế gian bốc cháy Suốt 45 năm tiếp theo, thuyết giảng hàng ngàn Kinh về triết học, đạo đức, giải phóng khổ đau Năm 544 BC, qua đời tại Kusinagara, tròn 80 tuổi Sự nghiệp 45 năm thuyết pháp độ sinh của đức Phật để lại nhiều ấn tượng lớn và lưu lại nhiều thành quả văn hóa tâm linh sâu sắc không ngừng đánh thức và khuyến khích thiện tâm trong lòng mọi người ở trong mọi thời đại.Theo đạo Phật, những nỗi khổ đau của con người đều xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, thiếu trí huệ Vô minh thường được coi là nỗi bất hạnh lớn nhất của chúng sinh Đức Phật dạy:

«Này các Tỳ kheo, tất cả những nỗi sợ hãi, thất vọng, vấp ngã và tai nạn đều do ngu

si mà sinh khởi Tất cả những điều ấy không sinh khởi nơi người có trí tuệ, cũng như ngọn lửa bùng cháy từ bụi lau, bụi cỏ làm cháy luôn cả nhà cửa, lầu gác và cung điện Cũng vậy, ngọn lửa ngu si bùng lên làm cho những nỗi sợ hãi, thất vọng, vấp ngã và tai nạn có mặt« (Kinh Đa Giới, Trung Bộ kinh III) Đức Phật khuyên dạy mọi

người hãy trở thành kẻ hiền trí bằng cách suy tư quán chiếu để biết được bản chất của nhân sinh và vũ trụ, qua đó dập tắt ngọn lửa ngu si, thành tựu trí tuệ và đoạn diệt khổ đau.Đối tượng mà chúng ta cần suy tư và quán chiếu chính là đời sống của chính ta: con người và thế giới mà chúng ta đang sống Nhưng con người và thế giới quá bao la, thiên hình vạn trạng, muôn màu muôn vẻ làm sao rõ biết hết được? Đối tượng của tư duy là vô tận, vậy phải tư duy theo hướng nào?

Để giải quyết vấn đề ấy, đạo Phật đã phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa những cái tưởng như phức tạp ấy thành những phạm trù, những lãnh vực có thể nắm bắt được, đó là Uẩn, Xứ, Giới Sự biết rõ về Uẩn, Xứ, Giới nghĩa là biết rõ về bản chất của thế giới hiện tượng bao gồm con người và thế giới mà con người đang sống Đó

cũng là lý do mà học viên chọn đề tài “Giáo lý năm uẩn trong văn học Pāli” để làm

đề tài tiểu luận của mình.Vì kiến thức hạn chế,học viên chỉ đi xâu nghiên cứu :phân tích năm uẩn -chú trọng về con người và nhấn mạnh phần tâm lý hơn vật lý gồm Mở đầu&Nội dung, Phần kết luận & Danh mục tài liệu tham khảo

Học viên cũng trình bày “Giáo lý Ngũ uẩn trong văn học Pāli” được dựa trên 5 bộ Kinh Nikāya.Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đã đề ra, tiểu luận dựa trên cơ sở thế giới quan,đồng thời kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp: phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, hệ thống hoá, diễn dịch, quy nạp… để nghiên cứu, phân tích và trình bày tiểu luận,từ đó đi đến kết luận để làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu

Trang 5

A NỘI DUNG Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC PĀLI

1.1 GIẢI THÍCH CÁC KHÁI NIỆM

1.1.1 Văn học là gì?

Vincent B Leitch và một số tác giả khác trong quyển “The Norton Anthology of Theory and Criticism” cho biết, định nghĩa về Văn học thay đổi theo thời gian

Về mặt từ nguyên, ‘văn học’ bắt nguồn từ tiếng Latin ‘Literatura’, trong đó ‘Litera’

có nghĩa là ‘chữ cái trong bảng chữ cái’ hay ‘chữ viết tay’’ ‘tura’ là hậu tố thêm vào danh từ Do đây, ‘Literatura’ được dùng để chỉ các tài liệu được viết thành văn

Theo nghĩa rộng, ‘Văn học’ chỉ cho các tác phẩm được viết thành văn; theo nghĩa hẹp, ‘Văn học’ là một dạng văn bản có giá trị nghệ thuật và trí tuệ

Dựa vào các định nghĩa hiện đại, ‘Văn học’ bao gồm các văn bản thành văn và Văn học dân gian (Văn học truyền miệng) Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, Văn học bao gồm cả Văn học điện tử

1.1.2 Pāli là gì?

a.Định nghĩa:

Theo ngài Buddhaghosa, ‘Pāli’ dùng để chỉ cho Chánh tạng như trong cụm từ

“Pāliñca Aṭṭhakathañca” (Chánh tạng và Chú giải) Ở đây, Pāli được hiểu là lời dạy của đức Phật và chư vị Thánh Tăng thời Phật.Trong Saddanīti, ngài Aggavaṃsa Thera định nghĩa: “Atthaṃ pāletīti Pāli”; nghĩa là: “Ngôn ngữ có thể giữ được nguyên nghĩa của từ được gọi là Pāli”

Theo B.C.Law trong ‘A History of Pāli Literature’, Pāli là tên viết tắt của một ngôn

ngữ, viết đầy đủ là: ‘Pāli-bhāsā’, trong đó ‘Pāli’ nghĩa là ‘Kinh điển’ và ‘bhāsā’ nghĩa

là ‘ngôn ngữ’

b.Giải tự

Trong tác phẩm ‘An Introduction to Pāli Literature’, Tiến sĩ S.C Banerji đưa ra 3 giả thuyết khác nhau về cách giải tự từ Pāli:

-Pāli thoát thai từ chữ Pamkti Tiến trình biến hóa ngữ âm như sau:

Pamkti - Pamti -Paṃti - Paṃli - Pāli

Pāli có nguồn gốc từ chữ Pālli

Pāti -Patti - Paṭṭi -Pālli - Pāli

Pāli là tên gọi ngôn ngữ thành Pātaliputta

-Pātaliputta - Pātali –Pāli

1.2 Văn học Pāli là gì?

Như đã định nghĩa: “Văn học chỉ chung cho các tác phẩm viết hoặc truyền miệng”;

và Pāli, theo nghĩa ‘Pāli-bhāsa’, là tên ngôn ngữ dùng để chuyển tải những lời dạy của đức Phật và chư vị Thánh Tăng Do đây, Văn học Pāli chỉ chung cho các tác phẩm văn học được viết hoặc nói bằng tiếng Pāli

+ Văn học Pāli truyền miệng: gồm Tam tạng Kinh điển được truyền tụng từ thời đức Phật cho đến thế kỷ I trước Tây lịch

Trang 6

+ Văn học Pāli thành văn: gồm các văn bản được viết từ thế kỷ I trước Tây lịch cho đến hiện nay

1.3.Nguồn gốc tiếng Pāli

Pàli là ngôn ngữ xưa nhất trong nhóm ngôn ngữ Ấn Âu trung đại. 

Chữ "Pàli" được dùng để chỉ các Tam Tạng Kinh Luật Luận (hệ Phật Giáo  Nam truyền). Theo Childers1, tiếng Magadhi (Ma-Kiệt-Đà) là một trong những tiếng bản  xứ

Prakrits hoặc Arya của thời Ấn Độ cổ Ngôn ngữ Prakrits này được nói  ở thế kỷ thứ

6 trước CN ở Magadha (Ma- Kiệt-Đà), gần tỉnh Bihar ngày nay,  là một trong những trung tâm quan trọng nhất của nền văn minh Ấn Độ vào  thời của Đức Phật. [1A Dictionary of the Pali Language (Từ Điển Ngôn Ngữ Pali), tác giả Robert Caesar Childers, tái bản năm 1974, Nxb Buddha Sasana Council, Yangon, Myanmar.]

Một nghĩa trong từ Pali có nghĩa là “đường thẳng, hàng, dãy” và Phật Giáo Nguyên Thủy dùng từ này để biểu thị ý nghĩa là những hàng, dãy hay hệ thống kinh sách đã tạo nên kho tàng Kinh Điển Phật Giáo Vì vậy, từ Kinh Điển Pali (tiếng Anh: Pali Text), là đồng nghĩa với “Kinh Điển Phật Giáo Nguyên Thủy” Và Pāḷi-bhāsā có nghĩa là “ngôn ngữ của kinh điển đó, ngôn ngữ dùng trong kinh”, và dĩ nhiên nó đồng nghĩa với chữ: “ngôn ngữ magadhi” (Ma-Kiệt-Đà) là tên ngôn ngữ duy nhất được dùng trong kinh sách của Phật Giáo Nguyên Thủy, được xem là ngôn ngữ thiêng liêng của Phật giáo Là một ngôn ngữ, tiếng Pali là nhất quán trong một ý nghĩa đó là: được bảo tồn hoàn toàn (để sử dụng) cho một chủ đề, đó là chỉ để ghi chép một chủ

đề là ‘Giáo Pháp của Đức Phật’, chứ không phải là một ngôn ngữ được bảo tồn để sử dụng vào những mục đích giao tiếp, ghi chép khác

Thật rõ một điều là các Trưởng Lão (Theras) đã thật sự ghi nhớ được tất cả kinh Pháp (Dhamma) và kinh Luật (Vinaya) bằng ngôn ngữ gốc của Đức Phật vốn sau đó

đã trở thành một ngôn ngữ trong Kinh văn cổ (không còn là ngôn ngữ nói như xưa) Nhờ vào lòng nhiệt tâm tôn giáo, sự cống hiến tận tụy và kỹ năng về trí nhớ của những Tỳ kheo thời cổ xưa trong việc bảo tồn và lưu truyền những Giáo Pháp của Đức Phật thông qua con đường truyền miệng (cho đến kỳ kiết tập Kinh Tạng lần thứ 3 (khoảng 235 năm sau khi Đức Phật nhập Niết bàn.) Tiếng Pali là ngôn ngữ ‘nói’, không có chữ viết đi theo và trong những đất nước nó được dùng như ngôn ngữ thiêng, thánh ngữ của cư dân mình, như: Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện (Myanmar) và Thái Lan, Pali được viết theo bộ chữ viết riêng của mỗi nước

Mẫu chữ Pāli tại các quốc gia

Devanagari Sinhala Thailand Khrme Latin

Bước qua thời kỳ hiện đại, bảng chữ cái La-tinh (the Roman alphabets) đã  được sử

dụng rộng rãi (để ghi chú nhiều ngôn ngữ trên thế giới, như Việt  Nam, Mỹ, Anh, v v…), cho nên sự hữu ích này cũng được nhìn thấy rõ và  người ta đã phiên chuyển

Trang 7

cách viết tiếng Pali bằng mẫu tự La-tinh: dễ đọc,  rõ ràng, dễ đánh máy Từ đó, việc học và phổ biến Kinh Điển Pali được phát  triển theo hướng này đến ngày hôm nay

Chương 2 GIÁO LÝ NĂM UẨN TRONG KINH TẠNG PĀLI

2.1.ĐỊNH NGHĨA VỀ NĂM UẨN VÀ NỘI DUNG NĂM UẨN

2.1.1 Định nghỉa năm uẩn.

Năm uẩn, Phạn ngữ là Pãnca-skandha (Sanskrit), Pãnca khandha (Pāli) Pãnca là năm; Khandha là nhóm, là yếu tố là tích tụ, Ngài Huyền Trang dịch là Ngũ uẩn; Ngài

La Thập dịch là Ngũ ấm, ấm nghĩa là ngăn che, chướng ngại (che mất chân tánh) - Năm uẩn là năm yếu tố hay năm nhóm kết hợp lại tạo thành con người; hay nói cách khác, con người là một hợp thể của năm yếu tố, gồm có: Sắc uẩn (Rūpa) là yếu tố sinh

lý - vật lý; Thọ uẩn (Vedanā) là yếu tố cảm giác; Tưởng uẩn (Sãnnã) là yếu tố tri giác,

là sự nhận biết đối tượng giác quan hay tâm lý; Hành uẩn (Sankhāra) là yếu tố tâm lý hoạt động ngoài Thọ và Tưởng là những tâm lý tạo động lực đi tới tạo nghiệp và kết quả của nghiệp như ước muốn, quyết định thuộc ý chí còn gọi là Tư; Thức uẩn (Vinãna) là yếu tố nhận thức, phát hiện sự có mặt của đối tượng, gồm có sáu thức Thức làm nền tảng cho Thọ, Tưởng và Hành, theo Duy thức học thì có tám thức Thức

là Tâm vương (Citta); Thọ, Tưởng, Hành là Tâm sở (Cetasika)

2.1.2.Nội dung của Năm uẩn

Các yếu tố hình thành con người

Năm thủ uẩn (Pañcupādāna-kkhandha): D III.278; S.III.47; PS.II.109; Vism.505:

1 Sắc thủ uẩn (Rūpūpādānakkhandha), nội sắc uẩn (lục phủ ngũ tạng ), ngoại sắc uẩn (địa, thủy, hỏa, phong) Thắng Pháp: Sắc pháp được cấu tạo bởi bốn đại chủng: đất, nước, gió, lửa (mahabhutani) và tứ đại sở tạo sắc (upadaya rupani) là sắc do 4 đại hợp thành Cái gì cứng là địa đại, ướt là thủy đại, nóng là hỏa đại, động là phong đại

2 Thọ thủ uẩn (Vedanūpādānakkhandha), khổ, lạc, ưu, hỷ, xả Câu xá luận: ‘Thọ lãnh nạp tùy xúc’ có nghĩa là sự lãnh nạp tùy theo cảnh của xúc thọ y nơi xúc mà sanh vậy’

3 Tưởng thủ uẩn (Saññūpādānakkhandha), kinh nghiệm, hồi tưởng và ký ức về sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp Gồm có tưởng sắc, thọ, tưởng thức tưởng Câu xá luận:

‘Tưởng thủ tượng vi thể’, nghĩa là tưởng có công năng đối cảnh rồi chấp giữ các hình tượng sai khác - Thành duy thức luận nói: Tác nghiệp của tưởng là thi thiết các loại ngôn từ và tên gọi để xây dựng các cảnh tướng ‘Cũng như những cảm giác (thọ), tưởng được phát sanh do sự tiếp xúc giữa 6 căn với ngoại giới Chính những tri giác này, nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh’

4 Hành thủ uẩn (Saṅkhārūpādānakkhandha) tư duy, nghĩ thiện ác bao gồm mọi hoạt động xấu hay tốt của ý chí và những gì được xem là nghiệp (kamma) - Ðại Thừa ngũ uẩn luận: ‘Tư là chủ của hành uẩn vì nó dẫn đầu tất cả các pháp’, vì chức năng của tư

là hướng ý đi vào phạm vi các hành động Hành bao gồm sắc tư, thọ tư, thức tư, là

sự thể hiện, hình thành các pháp hữu vi Cũng chính là nghiệp thiện, ác dẫn chúng sinh đi thọ thai và luân hồi sanh tử

5 Thức thủ uẩn (Viññāṇūpādānakkhandha), sáu thức giác quan.- Thiền sư Khuê Phong nói: ‘Thức như huyễn và mộng mị, chỉ bản tâm là thực có’

Trang 8

b) Vô ngã luận (anatta vada)- S.I.134: “Tự ngã (atta/ atman) chẳng phải tự có, chẳng

do ai tạo, do nhân duyên (ketum paticca) mà sinh, do nhân duyên mà diệt, cũng như hạt giống ngoài đồng ruộng gặp đất, nước và ánh sáng mà nảy nở.” Kinh Thủ Lăng Nghiêm:(1) Thân thể giống như hoa đốm: chẳng phải ngẫu nhiên, tự nhiên.(2) Cảm giác do duyên tiếp xúc, hội đủ duyên thì có, thiếu duyên thì tan, vốn là hư vọng.(3) Tri giác giống như việc tưởng trái mơ chua thì tiết ra nước miếng, nghĩ đến leo dốc cao thì lòng bàn chân ghê rợn => hư vọng (4) Tâm tư như dòng nước chảy mạnh, làn sóng nối tiếp, lớp trước lớp sau chẳng vượt khỏi nhau (5) Thức ấm như hư không, đặt trong dụng cụ nào thì có hình thù đó.- Trị liệu khổ đau: Tương Ưng bộ III, 95 96 (TMC dịch): “Thế nào là năm uẩn? Bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, quá khứ, hiện tại, vị lai thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần Cần phải như thật quán với chánh trí huệ: năm uẩn là vô thường, cái gì vô thường cái đó gây khổ đau, cái gì khổ đau thì hãy quán chiếu rằng ‘Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’”

Nguồn gốc con người

a) Các học thuyết căn bản

* Thần ý luận (issara nimmana hetu) => Duy thần = Đại phạm thiên là đấng sáng thế,

* Ngẫu nhiên luận (ahetu apaccaya) * Duy vật luận.* Duy tâm luận

b) Vòng luân hồi 12 mắc xích (Paṭiccasamuppāda):

Vin.I.1; S.II.1; Vbh.135; Vism.517: Mười hai duyên sinh = hữu luân (bhavacakka) = bánh xe sanh tử

1 Vô minh (Avijjā) si mê, thiếu trí tuệ về nhân quả và đạo đức

2 Hành do duyên vô minh (Avijjāpaccayā saṅkhārā) phi phúc hành, phúc hành và bất động hành

3 Thức do duyên hành (Saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ) gồm sáu thức giác quan do nghiệp hành tạo ra

4 Danh sắc do duyên thức (Viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ) Danh là ba uẩn sở hữu tâm đồng sanh với thức uẩn quả Sắc ở đây là sắc nghiệp tục sinh

5 Lục nhập do duyên danh sắc (Nāmarūpa-paccayā saḷāyatanaṃ), còn gọi là sáu nội xứ: nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, và ý xứ

6 Xúc do duyên lục nhập (Saḷāyatanapaccayā phasso) sự tiếp xúc giữa căn với cảnh

và thức, gồm có nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc

7 Thọ do duyên xúc (Phassapaccayā vedanā) gồm khổ, lạc và phi khổ, phi lạc, hoặc khổ, lạc, ưu, hỷ và xả

8 Ái do duyên thọ (Vedanāpaccayā taṇhā) dục ái, hữu ái và phi hữu ái

9 Thủ do duyên ái (Taṇhāpaccayā upādānaṃ) gồm dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã chấp thủ

10 Hữu do duyên thủ (Upādānapaccayā bhavo) Hữu ở đây là nghiệp hữu, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp có thiện và bất thiện

11 Sanh do duyên hữu (Bhavapaccayā jāti) tức sanh hữu, cõi sống của chúng sanh như là dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu, hoặc ngũ uẩn hữu, tứ uẩn hữu và nhất uẩn hữu

12 Lão, tử => sầu, bi, khổ, ưu, ai do duyên sanh (Jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhado-manassupādāyāsā)

A- Ba thời (Addhā):

1 Quá khứ: gồm hai chi là vô minh và hành

2 Hiện tại: gồm tám chi là thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu

Trang 9

3 Vị lai: gồm hai chi là sanh, Lão-tử, (sầu - bi - khổ - ưu - ai).

B- Bốn yếu lược (Saṅkhepa):

1 Nhân quá khứ: vô minh, hành

2 Quả hiện tại: thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ

3 Nhân hiện tại: ái, thủ, hữu

4 Quả vị lai: sanh, lão-tử-sầu-bi-khổ-ưu-ai

C- Hai mươi hành tướng (Ākāra):

a) 5 nhân quá khứ: vô minh, hành, ái, thủ, hữu

b) 5 quả hiện tại: thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ

c) 5 nhân hiện tại: vô minh, hành, ái, thủ, hữu

d) 5 quả vị lai: thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ

D- Ba luân (Vaṭṭa):

1 Phiền não luân: vô minh, ái, thủ

2 Nghiệp luân: hành và hữu

3 Quả luân: thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, sanh, lão-tử-sầu-bi-khổ-ưu-ai

E Tương tích nghiệp và nhân cách

- Nghiệp và quả rất thỏa đáng Bảo toàn nhân cách đời trước và đời sau

F Chặt đứt sanh tử

a) Thuyết thuận chiều (Anuloma), là trình bày theo khía cạnh tập khởi của khổ uẩn (Dukkhakkhandhassa samudayo hoti) Như là "Avijjāpaccayā saṅkhārā (Vô minh duyên hành) v.v => thấy rõ khổ tập thánh đế

b) Thuyết nghịch chiều (Paṭiloma), là trình bày theo khía cạnh đoạn diệt của khổ uẩn (dukkhak-khandhassa nirodho hoti) Như là Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho (do sự đoạn diệt vô nhiễm hoàn toàn đối với vô minh nên hành diệt) v.v "

Giải quyết các vấn nạn con người (Ariyasaccāni) D.III.277, S.V.421, Vbh.99, Vin.I.9

1 Khổ thánh đế (Dukkhaṃ ariyasaccaṃ) Như sanh già bệnh chết, oán hội ngộ, ái biệt

ly, cầu biết đắc, tóm lại ngũ thủ uẩn là khổ

2 Khổ tập thánh đế (Dukkhasamudayo ariya-saccaṃ) Gồm tham ái (dục ái, hữu ái và phi hữu ái), sân hận, si mê, chấp thủ

3 Khổ diệt thánh đế (Dukkhanirodho ariya-saccaṃ) trạng thái đoạn diệt hoàn toàn khát ái, không còn thủ truớc, vô nhiễm, an tịnh và giải thoát

4 Khổ diệt đạo lộ thánh đế (Dukkhanirodha-gāminīpaṭipadā ariyasaccaṃ) gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm

và chánh định

Tóm lại, năm uẩn là hợp thể của sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn,

là một kết hợp giữa tâm lý và vật lý để tạo nên một chúng sanh (con người) mà điểm trọng yếu khi phân tích một con người toàn diện thì ta thấy gồm hai yếu tố chính, đó

là thân và tâm hay vật chất và tinh thần.Trong năm uẩn sắc là thể chất, thọ là cảm tính cảm giác, tưởng là tri giác là so sánh, hành là chọn lựa là quyết định, thức là nhận biết phân biệt Như vậy, con người chúng ta hiện hữu không có gì khác ngoài năm yếu tố này mà danh từ chuyên môn của Phật học được gọi là Ngũ uẩn Tu tập theo giáo lý Ngũ uẩn sẽ thành tựu giải thoát nếu quán chiếu thâm sâu thấu triệt được chúng đều là Không, Duyên sinh-Vô ngã

2.2.Những bài kinh trong kinh tạng pāli liên hệ tới năm uẩn

Trang 10

Kinh Đáng được ăn (Tương ưng III, 161)

3)Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này 4)Thế nào là năm? - Này các Tỷ-kheo, có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, thân ta như thế này” Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến sắc - Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, ta có cảm thọ như thế này” Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thọ - Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ ta có tưởng có các hành có thức như thế này” Nhớ như vậy,vị ấy nhớ đến tưởng… hành… thức

5)Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc

Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói,

bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn

Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc

6) Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ

7)Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng

8)Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh - Làm cho hiện hành thọ với thọ tánh - Làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh - Làm cho hiện hành các hành với hành tánh - Làm cho hiện hành thức với thức tánh Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, nên gọi là các hành

9)Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức

10) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nay ta bị sắc chinh phục Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục” Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan.hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại

12) “Ta nay bị thọ chinh phục…

13) “Ta nay bị tưởng chinh phục ”

14) “Ta nay bị các hành chinh phục ”

15) “Ta nay bị thức chinh phục Trong thời quá khứ, ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thức chinh phục, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục” Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thức quá khứ, không có hoan hỷ đối với thức tương lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc, thọ, tưởng, hành, thức là thường hay

vô thường? - Là vô thường, bạch Thế Tôn - Cái gì vô thường là khổ hay lạc? - Là khổ, bạch Thế Tôn - Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”? - Thưa không, bạch Thế Tôn Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Ngày đăng: 26/07/2022, 10:36

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w