Trách nhiệm của Chủ tịch UBND xã đối với người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn Theo khoản 3, 4 điều 70 pháp lệnh xử lí hành chính Khoản 3, trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày kết th
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ.
Quan hệ pháp luật hành chính là một quan hệ xã hội pháp sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính gữa các cơ quan, cá nhân, tổ chức mang quyền
và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính Vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính là một nội dung quan trọng của quan
hệ pháp luật hành chính
B NỘI DUNG
I Định nghĩa trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm hành chính.
Trong khoa học pháp lí, thuật ngữ “trách nhiệm pháp lí” của tổ
chức, cá nhân thường được biểu hiện là hậu quả pháp lí bất lợi mà Nhà nước buộc tổ chức, các nhân vi phạm phải gánh chịu thể hiện ở việc họ
bị buộc phải thực hiện các biện pháp chế tài đã được quy định trong pháp luật Tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật là một hình thức trách nhiệm pháp lí nhất định
Trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý Nó có những nét chung, đồng thời cũng có những điểm khác biệt với các loại trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm kỷ luật Về khái niêm trách nhiệm hành chính, trong giới khoa học pháp lý có những quan điểm khác nhau Khái niệm trách nhiệm theo nghĩa chủ động được sử dụng để chỉ nghĩa vụ, bổn phận,nhiệm vụ của công dân, tổ chức trong lĩnh vực quản lý nhà nước Trách nhiệm hành chính theo nghĩa bị động gắn liền với hành vi vi phạm pháp pháp luật hành chính, tức là phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm pháp luậthành chính của mình thông qua các chế tài Ðó là sự phản ứng của Nhà nước đối với những
Trang 2chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật hành chính, vì thế nó gắn liền với sự cưỡng chế của Nhà nước trong những trường hợp cần thiết, cho dù chủ thể
vi phạm pháp luật hành chính có chấp nhận hay không chấp nhận
Thuật ngữ “trách nhiệm pháp lý” của tổ chức, cá nhân thường được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước buộc tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Quan điểm truyền thống hiểu trách nhiệm hành chính là sự đánh giá phủ nhận của nhà nước và xã hội đối với những vi phạm pháp luật chưa đến mức là tội phạm xâm hại đến trật tự quản lý Hậu quả là người vi phạm pháp luật phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện Một quan điểm khác cho rằng, trách nhiệm hành chính là quan hệ có trách nhiệm của chủ thể pháp luật đối với các nghĩa vụ, bổn phận được giao phó trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý và
từ những căn cứ trên ta có thể đi đến khẳng định rằng”trách nhiệm hành chính là hậu quả pháp lý mà các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu trước nhà nước vì đã có hành vi vi phạm hành chính, trong đó, chủ thể vi phạm hành chính bị nhà nước hạn chế về quyền hay lợi ích mà lẽ ra họ đang hoặc sẽ được hưởng bằng cách áp dụng các hình thức xử phạt được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật hành chính.” Nói khái quát, trách nhiệm hành chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà nhà nước buộc các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu Thực hiện trách nhiệm pháp lý vừa có mục đích giáo dục cụ thể, vừa có ý nghĩa giáodục chung cho mọi người hiểu và tôn trọng các qui tắc quản lý nhà nước
Trang 3II Các biện pháp xử lý hành chính khác
2.1 Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
A Đối tượng thi hành
Khoản 1, 2 điều 70 quy định
1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tự mình hoặc theo đề nghị của một cơ quan, tổ chức sau đây quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn:
a Trưởng công an cấp xã
b Chủ tịch Ủy ban Mặt trận cấp xã
c Đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cũng có thể quyết định việc giáo dục tại
xã, phường, thị trấn trên cơ sở hồ sơ, biên bản về hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng do cơ quan công an cấp huyện, cấp tỉnh cung cấp
2 Trước khi quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức họp gồm trưởng công an cấp xã đại diện ban tư pháp, Ủy ban Mặt trận tổ quốc, các tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan, đại diện dân cư ở cơ sở, gia đình của người được đề nghị giáo dục để xem xét việc áp dụng biện pháp này
B Đối tượng áp dụng
Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự
Người từ đủ 12 tuổi đến trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng
Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên
Người trên 55 tuổi đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam có hành vi vi phạm pháp luật theo Khoản 2, Điều 25, pháp lệnh xử hành chính
C Nội dung
Trang 4 1 Trách nhiệm của Chủ tịch UBND xã đối với người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Theo khoản 3, 4 điều 70 pháp lệnh xử lí hành chính
Khoản 3, trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc họp được quy định tại khoản 2 điều này, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn Tùy theo từng đối tượng mà chủ tịch UBND cấp
xã quyết định giao người được giáo dục cho cơ quan, tổ chức, gia đình quản
lí, giáo dục
Khoản 4, quyết định giao dục tại xã, phường, thị trấn có hiệu lực từ ngày
kí và phải được gửi ngay cho người được giáo dục, gia đình người đó, HĐND cấp xã và các cơ quan tổ chức có liên quan
2 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức quản lí người được giáo dục
Theo điều 72 pháp lệnh xử lí hành chính, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày quyết định có hiệu lực cơ quan, tổ chức được giao quản lí, giáo dục phải tổ chức cuộc họp để thi hành quyết định đó đối với người được giáo dục Tùy đối tượng được giáo dục mà cuộc họp có sự tham gia của đại diện Ủy ban Mặt trận tổ quốc, cơ quan công an, hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên ở cơ sở, nhà trường và gia đình của người được giáo dục
Sau cuộc họp, cơ quan, tổ chức được giao quản lí, giáo dục có trách nhiệm giúp đỡ động viên người được giáo dục trong cuộc sống, giúp đỡ họ tìm kiếm việc làm hoặc đề xuất với UBND cấp xã tạo điều kiện tìm kiếm việc làm cho người được giáo dục
Mỗi tháng 1 lần cơ quan tổ chức, gia đình được giao nhiệm vụ quản lí, giáo dục có trách nhiệm báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã về việc thi hành quyết định, nếu người được giáo dục có sự tiến bộ rõ rệt thì theo đề nghị của
cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm quản lí và ý kiến bằng văn bản của
Trang 5các cơ quan, tổ chức có liên quan, Chủ tịch UBND cấp xã miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn là từ 3 đến 6 tháng
2.2 Đưa vào trường giáo dưỡng
Theo điều 2 chương I nghị định Số: 142/2003/NĐ-CP của chính phủ
về việc Quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thì:
1 Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính do Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) quyết định đối với người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại khoản 2 Điều này để học văn hoá, giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của trường.Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là từ sáu tháng đến hai năm
2 Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm :
a) Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự;
b) Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định;
c) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã bị
Trang 6áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định;
Căn cứ pháp lý để xác định độ tuổi là Giấy khai sinh Nếu không có Giấy khai sinh thì phải căn cứ vào Chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu Độ tuổi nói tại các điểm a, b, c khoản 2 này là độ tuổi khi đối tượng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Nếu vào thời điểm ký quyết định đưa vào trường giáo dưỡng mà người đó đã đủ 18 tuổi trở lên thì không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng mà xem xét, lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục nếu thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp này
3 Trường hợp người chưa thành niên thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh Cơ quan đã thụ lý hồ sơ có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ về người đó cho Hội đồng tư vấn về việc đưa vào cơ
sở chữa bệnh để tiến hành các thủ tục tiếp theo theo quy định của pháp luật
4 Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người nước ngoài
Cũng theo điều 3 của nghị đinh này quy đinh về nguyên tắc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng:
o 1 Mọi hành vi vi phạm được quy định tại khoản 2 Điều 2 của Nghị định này đều phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan
o 2 Người chưa thành niên chỉ bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng nếu thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật được quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 2 của Nghị định này
Trang 7o 3 Việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng phải bảo đảm đúng người, đúng thủ tục, thẩm quyền quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định này
o 4 Khi quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng phải căn cứ vào các quy định của pháp luật, tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân của người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hành chính để quyết định cho phù hợp
o 5 Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Tại điều 4 nghị định này quy định về Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thi
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được quy định như sau :
1 Một năm kể từ khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Nghị định này;
2 Sáu tháng kể từ khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b hoặc kể
từ khi thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại điểm
c khoản 2 Điều 2 của Nghị định này;
3 Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người có hành vi vi phạm cố tình trốn tránh việc truy cứu trách nhiệm hành chính, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ
2.3 Đưa vào cơ sở giáo dục
Theo điều 2 chương 1 nghị đinh Số: 76/2003/NĐ-CP của chính phủ quy định như sau:
Trang 8 1.Đưa vào cơ sở giáo dục là biện pháp xử lý hành chính nhằm giúp
đỡ, giáo dục ngườicó hành vi vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 3 Nghị định này có điềukiện học văn hoá, học nghề, lao động và sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sởgiáo dục để sửa chữa lỗi lầm, sớm trở thành công dân lương thiện, có ích cho xãhội
2.Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục do Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
Thờihạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là từ sáu tháng đến hai năm
o Điều3 Đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục quy định
1.Đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bao gồm những người có một trong các hànhvi vi phạm pháp luật sau đây có tính chất thường xuyên (có từ hai lần vi phạmtrở lên trong một năm), nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự và đãbị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị
áp dụngbiện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú nhấtđịnh:
a)Xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài;
b)Xâm phạm tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài;
c)Gây rối trật tự công cộng; chống người thi hành công vụ;
d)Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khácxâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân;
đ)Tổ chức cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nướcngoài trái phép
2.Không đưa vào cơ sở giáo dục người chưa đủ 18 tuổi; người trên 55 tuổi đối vớinữ, trên 60 tuổi đối với nam
Trang 9Thờiđiểm tính độ tuổi nêu trên là ngày ký quyết định đưa vào cơ sở giáo dục; căn cứpháp lý để xác định độ tuổi là giấy khai sinh, nếu không có giấy khai sinh thìphải căn cứ vào giấy chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu
3.Các trường hợp sau đây thì không ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục hoặckhông bắt họ tiếp tục chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục mà chuyển hồsơ để Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ra quyết định
áp dụng biệnpháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với họ theo quy định của pháp luật:
a)Người đã bị lập hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng đến ngày ký quyết định đưavào cơ sở giáo dục thì họ đã trên 55 tuổi đối với nữ hoặc trên 60 tuổi đối với nam;
b)Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng chưa chấp hành mà
bỏ trốn,đến khi bị bắt lại đã trên 55 tuổi đối với nữ hoặc trên 60 tuổi đối với nam
4.Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người không có Quốc tịchViệt Nam, người mang hộ chiếu nước ngoài
Thời hạn là từ 6 tháng đến 2 năm
2.4 Đưa vào cơ sỏ chữa bệnh
Biện phấp này do Chủ Tịch Ủy Ban Nhân dân huyện ra quyết định áp dụng
Theo đó, có 3 đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật Phòng, chống ma túy và cơ sở chữa bệnh, theo Pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính (gọi chung là Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội) là:
Thứ nhất là, người nghiện ma túy từ đủ 18 – 55 tuổi đối với nữ, 18 –
60 tuổi đối với nam có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã chấp hành
Trang 10xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về việc sử dụng trái phép chất
ma
túy, hoặc đã hết thời hiệu thi hành Quyết định
nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử
phạt vi phạm hành chính; hoặc người chưa bị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn so
sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không có nơi
cư trú nhất định
Thứ hai là, người bán dâm từ đủ 16 – 55 tuổi đối với nữ, 16 – 60 tuổi
đối với nam và thuộc một trong các trường hợp sau: Đã chấp hành xong Quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi bán dâm hoặc đã hết thời hiệu thi hành các Quyết định
Theo quy định, các trường hợp sau đây được coi là không có nơi cư trú nhất định:
1 Không xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc đăng
ký tạm trú thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở nhất định
2 Có nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú nhưng không thường xuyên sinh sống tại đó và thường xuyên đi lang thang, không ở nhất định tại nơi đăng ký thường trú, tạm trú