ĐẶT VẤN ĐỀTrong khoa học pháp lí, quan hệ pháp luật hành chính được xác định là một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật, là kết quả của sự tác động của quy phạm pháp luật hành chính theo p
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong khoa học pháp lí, quan hệ pháp luật hành chính được xác định
là một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật, là kết quả của sự tác động của quy phạm pháp luật hành chính theo phương pháp mệnh lệnh – đơn phương tới các quan hệ hành chính nhà nước.Do những đặc điểm mang tính đặc trưng của quản lí hành chính nhà nước nên quan hệ pháp luật hành chính cũng có nhưng nét đặc thù, một trong số đó là tính bất bình đẳng trong quan hệ pháp luật hành chính, vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến sự bất bình đẳng đó, biểu hiện của nó ra sao và ý nghĩa của nó là gì,qua bài tiểu luận này chúng ta sẽ
đi làm rõ hơn vấn đề này
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lí luận dẫn đến sự bất bình đẳng
1 Khái niệm về bất bình đẳng
Bất bình đẳng theo nghĩa Hán – Việt có nghĩa là sự không ngang bằng, có nghiã là trong một quan hệ có các bên tham gia thì họ không có được sự ngang bằng nhau về mọi mặt, điều đó có nghĩa là có một bên sẽ có nhiều quyền hơn và bên kia mang nhiều nghĩa vụ.Đó là nghĩa rộng nói chung, còn nếu áp dụng trong quan hệ pháp luật hành chính thì đó sự không ngang bằng
về địa vị pháp lí của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính, một bên
có nhiều quyền hơn có thể áp đặt ý chí của mình lên bên còn lại, bắt buộc bên kia phải thực hiện những gì mà bên này quy định, nếu như bên kia không thực hiện đúng thì bên ra quyết định có quyền dùng biện pháp cưỡng chế
2 Cơ sở pháp lí dẫn đến sự bất bình đẳng trong quan hệ pháp luật hành
chính.
Như chúng ta đã biết quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ giữa các chủ thể trong quản lí hành chính nhà nước.Trong quan hệ đó các chủ thể
Trang 2được phân thành chủ thể đặc biệt và chủ thể thường, chủ thể đặc biệt là các
cơ quan, tổ chức, cán bộ được mang quyền lực nhà nước, được nhân danh nhà nước trong việc quản lí hành chính nhà nước, còn chủ thể thường có nghĩa vụ phải tuân thủ những mệnh lệnh của các chủ thể đặc biệt, cho nên gọi quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ “ mệnh lệnh – phục tùng” Quản
lí hành hính nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà Nước được thực hiện chủ yếu và trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính Nhà Nước,
có nội dung là dảm bảo chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết, của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính -chính trị.Nói cách khác, quản lí hành -chính nhà nước là hoạt động chấp hành
- điều hành của nhà nước
Tính chất chấp hành thể hiện ở mục đích của quản lí hành chính nhà nước là đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước.Mọi hoạt động quản lí hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật
Tính chất điều hành của quản lí hành chính nhà nước thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế, các chủ thể của quản lí hành chính nhà nước phải tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với đối tượng quản lí thuộc quyền
Trong quá trình điều hành, cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước ban hành ra các văn bản pháp luật để đặt ra các quy phạm pháp luật hay các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lí có liên quan phải thực hiện
Như vậy, các chủ thể quản lí hành chính nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để điều khiển và tổ chức hoạt động của các đối tượng quản lí, qua
đó thể hiện một cách rõ nét mối quan hệ “quền lực – phục tùng” giữa các chủ thể trong quản lí hành chính nhà nước
Trang 3Chủ thể của quản lí hành chính nhà nước là các tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động tới đối tượng quản lí
Chủ thể của quản lí hành chính nhà nước là các cơ quan nhà nước (chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước), các cán bộ nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền quản lí hành chính trong một số trường hợp cụ thể
Những chủ thể trên khi tham gia vào các quan hệ quản lí hành chính có quyền sử dụng quyền lực nhà nước để chỉ đạo các đối tượng quản lí thuộc quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lí đồng thời đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính
Để thấy được sự bất bình đẳng trong quan hệ pháp luật hành chính, chúng ta phải xem xét đến đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính, các đặc điểm
đó là:
- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của chủ thể quản lí hay đối tượng quản lí hành chính nhà nước
Việc điều chỉnh pháp lí đối với các quan hệ quản lí hành chính nhà nước không chỉ nhằm mục đích dảm bảo lợi ích của nhà nước mà còn ảnh hưởng nhiều mặt của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội.Thẩm quyền quản
lí hành chính nhà nước chỉ có thể thực hiện nếu có sự tham gia tích cực từ phía các đối tượng quản lí.Mặt khác nhiều quyền lợi của đối tượng quả lí hành chính nhà nước chỉ có thể được đảm bảo nếu có sự hỗ trợ tích cực của các chủ thể quản lí bằng nhiều những hành vi pháp lí cụ thể
- Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính là các quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính của các bên tham gia quan hệ đó
Các bên than gia quan hệ pháp luật hành chính có thể là cơ quan tổ chức, hay cá nhân; có thể nhân danh nhà nước, vì lợi ích của nhà nước hoặc nhân danh chính mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ do quy phạm pháp luật hành chính quy định.Việc quy định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ này
Trang 4là cần thiết đối với việc xác lập và duy trì trật tự quản lí hành chính nhà nước
- Một bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính phải được sử dụng quyền lực nhà nước
Như đã nêu, quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ quản lí hành chính nhà nước được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính.Vì vậy, về
tư cách và cơ cấu chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính phải phù hợp với
tư cách và cơ cấu chủ thể của quan hệ quản lí hành chính nhà nước tương ứng.Nếu một bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính được mang quyền lực nhà nước(chủ thể quản lí hành chính nhà nước) thì sẽ tương ứng với chủ thể đặc biệt.Mặt khác trong quan hệ quản lí hành chính nhà nước, đối tượng quản lí là bên chủ thể không được sử dụng quyền lực nhà nước và có nghĩa
vụ phục tùng quyền lực nhà nước của chủ thể quản lí thì trong quan hệ pháp luật hành chính tương ứng, các đối tượng này được xác định là chủ thể thường
Như vậy, các chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính được phân chia thành chủ thể đặc biệt và chủ thể thường.Trong đó chủ thể đặc biệt là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân danh và sử dụng quyền lực nhà nước trong quan hệ ấy.Từ đó có thể nhận định quan hệ pháp luật hành chính không thể phát sinh và tồn tại nếu thiếu chủ thể đặc biệt
- Trong một quan hệ pháp luật hành chính thì quyền của một bên này ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ “quyền lực – phục tùng”, quan
hệ bất bình đẳng về ý chí giữa các bên tham gia.Chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ sở quyền lực nhà nước và chủ thể thường có nghĩa vụ chấp hành việc sử dụng quyền lực nhà nước của chủ thể đặc biệt.Tuy nhiên, không có nghĩa là trong quan hệ pháp luật hành chính, chủ thể đăc biệt chỉ có quyền và chủ thể thường chỉ có nghĩa vụ
Trang 5Việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể đặc biệt vừa là quyền va trách nhiệm của chủ thể này.Bên cạnh đó, chủ thể thường tuy có nghĩa vụ chấp hành các mệnh lệnh của chủ thể đặc biệt song cũng có quyền nhất định xuất phát từ yêu cầu đảm bảo tính khách quan, đúng pháp luật của các hành vi quản lí hành chính nhà nước hoặc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, ví dụ quyền yêu cầu, đề nghị, khiếu nại
Việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể đặc biệt chỉ có hiệu lực khi nó làm phát sinh nghĩa vụ chấp hành của chủ thể thường.Mặt khác, việc thực hiện quyền của các chủ thể thường trong quan hệ pháp luật hành chính chỉ có ý nghĩa thực sự nếu nó làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận, xem xét giải quyết của chủ thể đặc biệt.Ví dụ: công dân có quyền khiếu nại nhưng nếu việc khiếu nại tố cáo đó của công dân không làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận, xem xét, giải quyết của người có thẩm quyết khiếu nại thì việc khiếu nại đó của công dân chỉ mang tính hành thức, không có giá trị pháp lí
của sự bất bình đẳng trong quan hệ pháp luật hành chính, mà quan trọng nhất là quan hệ “mệnh lệnh – phục tùng” của một bên mang quyền lực nhà nước và một bên là chủ thể thường.Vậy biểu hiện của sự bất bình đẳng đó được thể hiện như thế nào, sau đây sẽ đi tìm hiểu những khía cạch của nó
II Biểu hiện của sự bất bình đẳng trong quan hệ pháp luật hành chính
và các ví dụ minh họa.
Khi nói đến sự bất bình đẳng về ý chí có nghĩa là đang đề cập đến phương pháp điều chỉnh của luật hành chính.Như chúng ta đã biết phương pháp điều chỉnh là cách thức mà nhà nước áp dụng trong việc điều chỉnh bằng pháp luật để tác động vào các quan hệ xã hội
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh được hình thành từ quan hệ “ quyền lực – phục tùng” giữa một bên có quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc đối với bên kia là các cơ
Trang 6quan, tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa vụ phục tùng các mệnh lệnh đó.Chính mối quan hệ “ quyền lực – phục tùng” thể hiện sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lí hành chính nhà nước.Sự không bình đẳng đó là
sự không bình đẳng về ý chí và thể hiện rõ nét ở những điểm sau:
1 Trước hết sự không bình đẳng trong quan hệ quản lí hành chính nhà nước
thể hiện ở chỗ chủ thể quản lí có quyền nhân danh nhà nước để áp đặt ý chí của mình đối tượng quản lí.Các quan hệ này rất đa dạng nên việc áp đặt ý chí của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí cũng được thực hiện gtrong nhiều trường hợp khác nhau:
- Hoặc một bên có quyền ra các mệnh lệnh cụ thể hay đặt ra các quy định bắt buộc đối với bên kia và kiểm tra việc thực hiện chúng.Phía bên kia có nghĩa vụ thực hiện các quy định, mệnh lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trong trường hợp này có một bên mang quyền quyết định bên kia phải làm gì và làm như thế nào cho hợp lí, hợp pháp bên kia phải chấp hành theo đúng nghĩa vụ của mình, phải chấp hành nghiêm chỉnh.Cụ thể trong trường hợp này là quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa thủ trưởng với nhân viên
Ví dụ: quan hệ giữa giám đốc với thư kí của một tổng công ty, quan hệ giữa đồng chí chủ tịch tỉnh với giám đốc sở kế hoạch và đầu tư của tỉnh đó
- Hoặc một bên có quyền yêu cầu, kiến nghị còn bên kia có quyền xem xét, giải quyết và có thể đáp ứng hay bác bỏ yêu cầu kiến nghị đó
Ví dụ: Công dân có quyền yêu cầu( cùng các giấy tờ hợp lệ nhất định) công an quận, huyện giải quyết cho di chuyển hộ khẩu.Công an quận huyện xem xét có thể chấp nhận yêu cầu( nếu hồ sơ của công dân đó là hợp lệ) hoặc không chấp nhận( nếu hồ sơ của công dân đó không đầy đủ không hợp lệ).Hoặc như là việc công dân nam và nữ đủ tuổi kết hôn theo luật hôn nhân gia đình đến cơ quan có thẩm quyền ở xã của một trong hai bên xin đăng kí
Trang 7kết hôn, khi đó họ phải nộp đày đủ những giấy tờ nhất định mới có thể kết hôn, nếu như cơ quan chức năng của xã họ đăng kí thấy những giấy tờ đó hoàn toàn hợp pháp thì tiến hành đăng kí kết hôn cho hai công dân đó, nếu như có điều sai trái thì có quyền bác yêu cầu của hai bên công dân đó
- Hoặc cả hai bên đều có quyền hạn nhất định nhưng bên này quyết định điều gì phải được bên kia cho phép hay phê chuẩn hoặc cùng phối hợp quyết định.Điều này cho thấy sự ngang bằng nhau về địa vị pháp lí cũng như thẩm quyền của hai bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính, không có bên nào cao hơn bên nào về thẩm quyền, quyền hạn
Ví dụ: Quan hệ giữa Bộ giáp dục và đào tạo và cá bộ ngành khác về việc quyết định hình thức, quy mô đào tạo phải được Bộ giáo dục và đào tạo cho phép hay phê chuẩn.Hay như là quan hệ giữa tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An về việc tỉnh Hà Tĩnh phân mốc địa chỉnh giữa hai tỉnh, việc làm này phải được
cả tỉnh Nghệ An xem xét cùng phải hợp thực hiện
2 Biểu hiện thứ hai của sự không bình đẳng thể hiện ở chỗ một bên có thể
áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm buộc đối tượng quản lí phải thự hiện mệnh lệnh của mình.Các trường hợp này được pháo luật quy định cụ thể về nội dung và giới hạn.
Sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lí hành chính nhà nước luôn thể hiện rõ nét, xuất phát từ quy định pháp luật, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên tham gia các quan hệ đó
Sự bất bình đẳng giữa các bên là các cơ quan trong bộ máy nhà nước bắt nguồn từ quan hệ giữa các cấp trên và cấp dưới trong tổ chức của bộ máy nhà nước.Sự không bình đẳng giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các
tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, các tổ chức và cá nhân khác không bắt nguồn
từ quan hệ tổ chức mà từ quan hệ “quyền lực - phục tùng”.Trong các cơ quan đó, cơ quan hành chính nhà nước nhân danh nhà nước thể hiện chức năng chấp hành – điều hành trong lĩnh vực được phân công phụ trách.Do
Trang 8vậy, các đối tượng kể trên phải phục tùng ý chí của Nhà nước mà đại diện là
cơ quan hành chính nhà nước.Ví dụ: khi các cá nhân hộ gia đình vi phạm hành lang an toàn giao thông, cụ thể như vi phạm lấn chiếm hành lang vỉa hè
sẽ buộc phải tháo dỡ, nếu không tự tháo dỡ hay có tình chống đối sẽ bị cưỡng chế.Hay ví dụ như hộ gia đình cố tình xây dựng trái phép vi phạm luật đất đai thì sẽ buộc phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất vi phạm đó.Khi cán bộ công chức vi phạm nghĩa vụ công chức tại các điều 6,
7, và điều 8 của pháp lệnh công chức, cán bộ năm 2003 sẽ bị xử lí kỉ luật theo nghị định Chính phủ số 35/2005/NĐCP ngày 17/3/2005 về việc xử lí kỉ luật cán bộ công chức.Cũng theo như quy định tại điều 12 chương 2 nghị định chính phủ ngày 16/12/2008 về xử lí vi phạm hành chính thì cơ quan quản lí hành chính có quyền tịch thu tang vật phương tiện được sử dụng để
vi phạm theo điều 17 của pháp lệnh
3 Sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lí hành chính
nhà nước còn thể hiện trong tính đơn phương và bắt buộc của các quyết định hành chính.
Các cơ quan hành chính nhà nước và các chủ thể quản lí hành chính nhà nước khác, dựa vào thẩm quyền của mình, trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình có quyền đưa ra những mệnh lệnh hoặc đề ra các biện pháp quản lí thích hợp đối với từng đối tượng cụ thể.Những quyết định ấy có tính chất đơn phương vì chúng thể hiện ý chí của chủ thể quản lí hành chính nhà nước trên cơ sở quyền lực đã được pháp luật cho phép.Ví dụ: Bộ trưởng Bộ công
an có quyền quyết định áp dụng các biện pháp trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam( điều 15 và khoản 8 điều 31 pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002)
Ví dụ: ngoài ra còn thể hiện trong trường hợp khi công dân vi phạm luật
an toàn giao thông cụ thể là không đội mũ bảo hiểm thì cảnh sát giao thông
có toàn quyền đơn phương lập biên bản xử lí ngay tại chỗ, có thể phạt tiền
và tước giấy phép lại xe.Hay khi hai bên kí giao kết hợp đồng kinh tế mà cơ
Trang 9quan nhà nước phát hiện không có sự tự nguyện thì cơ quan có thẩm quyền quyết định không công chứng cho bản hợp đồng đó và có thể hủy bản hợp đồng đó
Trong thực tiễn quản lí hành chính nhà nước có trường hợp cơ quan hành chính nhà nước ra quyết định do yêu cầu của cơ quan cấp dưới, đơn vị cơ sở hay của cá nhân.Cũng có nhiều trường hợp trước khi ra quyết định các chủ thể quản lí hành chính nhà nước tổ chức trao đổi, thảo luận về quyết định với
sự tham gia của đại diện các cơ quan cấp dưới, đơn vị cơ sở hoặc những người có liên quan.Ngay cả trong trường hợp này quyết định của cơ quan có thẩm quyền vẫn có tính chất đơn phương bởi vì yêu cầu của cá nhan hay cấp dưới hoặc ý kiến đóng góp trong các buổi thảo luận không có tính chất quyết định mà chỉ là những ý kiến để chủ thể quản lí hành chính nhà nước xem xét, tham khảo trước khi đưa ra quyết định
Những quyết định hành chính đơn phương đều mang tính chất bắt buộc đối với các đối tượng quản lí.Tính chất bắt buộc thi hành cua các quyết định hành chính được đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước.Tuy nhiên, các quyết định hành chính đơn phương không phải bao giờ cũng được thực hiện trên
cơ sở cưỡng chế mà được thực hiện chủ yếu thông qua phương pháp thuyết phục.Ví dụ: “Theo điều 10 mục A chương II về thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính để thi hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì khi cá nhân vi phạm quản lí hành chính thì cá nhân bị áp dụng một
số biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập.”
phương.Phương pháp này được xây dựng trên nguyên tắc:
- Xác nhận sự không bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ quản lí hành chính nhà nước: một bên nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các quyết định hành chính, còn bên kia phải phục tùng những quyết định ấy
Trang 10- Bên nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước có quyền đơn phương
ra quyết định trong phạm vi thẩm quyền của mình vì lọi ích của nhà nước, của xã hội
- Quyết định đơn phương của bên có quyền sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên hữu quan và được đảm bảo thi hành bằng cưỡng chế nhà nước