Tác phẩm văn hóaVăn hóa giải trí chỉ định toàn thể những sản phẩm mang tính biểu tượng do một xãhội sản xuất và để phân biệt chúng với các sản phẩm khác của xã hội, thông thườngngười ta
Trang 1Mục lục
I.Văn hóa học là môn học liên ngành
II Nhu cầu và nhu cầu văn hóa III Biểu tượng
IV Văn hóa dân gian
V Lễ - Tết - Hội
VI Giá thú VII Tang VIII Trò chơi và đời sống
IX Thời kiểu
X
Trường văn hóa
XI Văn hóa và phát triển văn hóa
TÓM TẮT
I Văn hóa học là môn học liên ngành
Khi nghiên cứu các biểu thị của văn hóa, cần phải kết hợp nhiều môn học khác nhau:dân tộc chí, dân tộc học, nhân học, xã hội học, sử học, khảo cổ học, ngôn ngữ học… mà
Trang 2trước hết và chủ yếu là các môn: dân tộc chí, dân tộc học, nhân học và xã hội học; ngoài
ra là các môn phụ trợ khác
II Nhu cầu và nhu cầu văn hóa
1 Khái niệm về nhu cầu
Nhu là cần thiết, cầu là đòi hỏi, mong muốn Sự đòi hỏi, mong muốn ấy xuất hiện do
động vật cảm giác thấy cơ thể nó thiếu một cái gì đó cần thiết để duy trì sự sinh tồn, vàcảm giác ấy thôi thúc động vật đến những hành vi nào đấy để có thể thỏa mãn sự thiếuthốn đang diễn ra, như cảm giác đói thôi thúc động vật đi tìm thức ăn và ăn,
2 Sự phồn sinh của nhu cầu
Các tác nhân của sự phồn sinh
Nhu cầu biến đổi, phát triển thường xuyên
Hai tác nhân chính của sự phồn sinh nhu cầu là:
1 Các nhu cầu đã được thỏa mãn đẻ ra các nhu cầu mới.
2 Sự tăng dân số đẻ ra nhu cầu mới.
Sự phồn sinh của nhu cầu được tóm tắt bằng một sơ đồ hình sau:
Nhu cầu (vật phẩm ý niệm) – sản xuất – vật phẩm thực tại
Vật phẩm thực tại – tiêu thụ - vật phẩm ý niệm (tu chỉnh)
Vật phẩm ý niệm – sản xuất - vật phẩm thực tại
Nhu cầu tuyệt đối và nhu cầu tương đối
Nhu cầu tuyệt đối là những nhu cầu mà bất kỳ một thành viên nào của một xã hội nàocũng phải được thỏa mãn ở một khuôn khổ mực độ tối thiểu
Nhu cầu tương đối là các nhu cầu mà sự thỏa mãn chúng đem lại cho người ta sự thỏamãn niềm ước ao ấp ủ, là một mặt và mặt khác, về phương diện tâm lý học xã hội, đemlại cho người ta niềm kiêu hãnh rằng mình cao hơn đồng loại Như ăn những vật ngon lạ,mặc những đồ sang trọng, quý hiếm, ở những ngôi nhà vừa tiện nghi vừa lộng lẫy, rực rỡ,
…
3 Các loại nhu cầu xã hội căn bản
Nhu cầu xã hội căn bản chia làm 6 loại:
Trang 31 Nhu cầu tái sản sinh loài (cũng gọi là lưu truyền huyết thống) Hình thức biểu thị
chính là tình yêu nam nữ và sự hôn nhân Các nhu cầu phụ là đính hôn, thành hôn, ly hôn,quan hệ vợ/chồng, quan hệ họ/hàng, nội/ngoại…
2 Nhu cầu kinh tế, gồm những đòi hỏi về sự đảm bảo cung cấp những vật phẩm và
dịch vụ cần thiết cho đời sống vật chất Nhu cầu chính là sự làm việc và sự hưởng thụ;nằm trong đó là vô số nhu cầu phụ như sự lao động, sự đãi ngộ, trao đổi sản phẩm, sựtiêu thụ sản phẩm, sự cư trú, sự đảm bảo sức khỏe (y tế), sự đi lại…
3 Nhu cầu chính trị là những đòi hỏi được đảm bảo về sự thống nhất hành động
chung trong toàn xã hội, về an ninh, trật tự và phồn vinh công cộng Đó là nhu cầu chính.Các nhu cầu phụ có khá nhiều: quyền sở hữu các loại tài sản, các quyền công dân khác về
an toàn xã hội, về hoạt động xã hội…
4 Nhu cầu giáo dục, hoặc gọi là nhu cầu xã hội hóa, chính yếu là được trang thiết bị
có hệ thống về trí tuệ, về kỹ thuật (nghề nghiệp) Các nhu cầu phụ là sự học tại cáctrường phổ thông, cao đẳng, đại học, chuyên nghiệp, sự kiểm tra, sự thi cử, sự chứngnhận học vị…
5 Nhu cầu niềm tin (tín nhiệm) là nhu cầu thuộc tâm linh, xác lập tính cứu cánh
chính thống của đời sống xã hội và cá nhân để cá nhân tự điều khiển hành vi phù hợp lợiích chung của tập thể và của toàn xã hội đồng thời thấy đời sống của mình là có ý nghĩa:
sự thỏa mãn nhu cầu tâm linh Ở các xã hội nông nghiệp, nhu cầu chính yếu là niềm tinvào tín ngưỡng cận tôn giáo, tôn giáo, các học thuyết triết học Ở các xã hội công nghiệpthì chủ yếu là niềm tin vào lý tưởng xã hội của mỗi nhóm Các nhu cầu phụ là sự nhậpnội vào cá nhân các hệ thống lý thuyết về tôn giáo, hoặc về học thuyết, về lý tưởng, các
hệ thống luân lý xác định điều hay, dở, phải, trái trong các khuôn mẫu ứng xử
6 Nhu cầu giải trí – tái sáng tạo là nhu cầu nghỉ ngơi về thể chất và tinh thần bằng
chuyển trạng thái hoạt động: từ các hoạt động sinh tồn sinh vật sang các hoạt động thẩm
mỹ Nhu cầu chính yếu là tái nhận thức hiện thực theo phương thức thẩm mỹ Các nhucầu phụ là sự sản xuất và tiêu thụ tác phẩm biểu tượng tính, sự phát triển các năng lựccảm thụ thẩm mỹ, chế độ thời gian rỗi, các thiết chế rỗi và các phương tiện giải trí
4 Nhu cầu giải trí
Khái niệm văn hóa
Từ “Văn hóa” có thể được hiểu theo nhiều phương diện và bình diện khác nhau, bởibản thân nó ôm mang một ngoại diện rộng lớn mênh mông là sự sáng tạo của con người
từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất trên mọi lĩnh vực sinh tồn
Trang 4Tác phẩm văn hóa
Văn hóa giải trí chỉ định toàn thể những sản phẩm mang tính biểu tượng do một xãhội sản xuất và để phân biệt chúng với các sản phẩm khác của xã hội, thông thườngngười ta gọi chúng là tác phẩm văn hóa
Tác phẩm văn hóa là gì? Những gì đặc định chúng?
Trước hết về hình thức, khi áp dụng cách phân loại theo dấu hiệu học, thì đó là những
sản phẩm do một xã hội sản xuất bằng một trong các phương tiện sau đây:
1 Dấu hiệu nói (ngôn ngữ nói): diễn ngữ, ngạn ngữ, chuyện truyền miệng nóichung;
2 Dấu hiệu viết (ngôn ngữ văn tự): văn chương, thơ ca;
3 Dấu hiệu đồ thị: hội họa, tạo hình, múa;
4 Dấu hiệu âm thanh: ca, nhạc;
5 Dấu hiệu hình ảnh: ảnh, điện ảnh;
6 Dấu hiệu lai pha: nghệ thuật sân khấu, tạp kỹ, trò chơi, ứng xử, văn vật, cảnh vật,công viên…
Thứ hai, các sản phẩm kinh tế thì cứ liên tiếp đợt này đợt khác ra đời, mỗi đợt rồi sẽ
hết đi hẳn trong đời sống, nhưng tác phẩm văn hóa lại là những sản phẩm được bảo tồn
và được truyền bá một cách thường trực và lâu dài Các biện pháp bảo tồn và truyền bá
ấy là hàng loạt những thiết chế: thư viện, nhà bảo tàng, nhà hát, nhà chiếu bóng, xưởngphim, viện phim, nhà xuất bản, cửa hàng ấn phẩm, nhà văn hóa, công viên văn hóa, đàitruyền thanh, đài truyền hình…
Thứ ba, là những đặc điểm trong sản xuất và tiêu thụ Về sản xuất cũng như tiêu thụ,
tác phẩm văn hóa được thực hiện trong thời gian dành riêng cho các hoạt động tinh thần:khi sản xuất hay tiêu thụ chúng, con người không bị phụ thuộc vào hoạt động bức thiết làsản xuất sản phẩm vật chất cho sự thỏa mãn nhu cầu sinh tồn sơ đẳng Thì giờ ấy là thìgiờ rỗi, tức là những khoảng thì giờ trong đó các thành viên hoặc một bộ phận của một xãhội có thể không trực tiếp hoạt động sản xuất vật chất, mà chuyển sang những hoạt độngkhác, gián tiếp, trong đó có sự sản xuất và tiêu thụ tác phẩm văn hóa
III Biểu tượng
Biểu tượng bao gồm mọi dạng thức hình ảnh, tĩnh cũng như động (tĩnh: dáng vẻ mộtngôi chùa, một pho tượng, một bức tranh…; động: một điệu múa, một cảnh kịch, mộtđám rước, một chuỗi hành động trong điện ảnh…) tác dụng đến cơ chế chức năng chủ
Trang 5yếu là của tai và của mắt, gây trong tâm hồn người những rung động khoái trá về chúng,tất nhiên với các mức độ và khía cạnh khác nhau Biểu tượng bao gồm từ các hình tượngtrong tác phẩm văn nghệ đến các biểu tượng, biểu trưng, biểu hiện, đến các khuôn mẫuứng xử trong đời sống nghi thức hằng ngày hoặc trong các dịp phân kỳ tiết tấu đời sống
xã hội (các Lễ - Tết - Hội là một thứ biểu tượng)
Tính biểu tượng của tác phẩm văn hóa
Đặc thù chính yếu của tác phẩm văn hóa là tính biểu tượng
Biểu tượng là gì? Theo nghĩa từ “biểu” là bày ra bên ngoài, “tượng” là hình ảnh, vậybiểu tượng là cái hình ảnh được phô bày ra khiến người ta cảm được, nhận được một ýnghĩa trừu suất
Biểu tượng được thấy ở mọi lĩnh vực tư duy: toán, lý, hóa, văn chương nghệ thuật Một cách dễ hiểu hơn, người ta nói biểu tượng là cái làm cho cái không tri giác đượctrở thành tri giác được Tri giác được là cả một thế giới vật chất tự nhiên và xã hội ngườisản sinh Những cái không tri giác được là thuộc thế giới tâm linh, trí tuệ, tâm hồn, nhưcác giá trị trừu tượng, các đức hạnh, các thói xấu, các thực thể vô hình (như cộng đồng,quyền lực, niềm tin, các quy luật…)
Có thể kể các biểu hiện của biểu tượng: biểu tượng, biểu trưng, biểu hiện, phù hiện,huy hiệu, nhãn hiệu…
Nhu cầu giải trí
Nhu cầu giải trí được xác định là nhu cầu sản xuất và tiêu thụ tác phẩm văn hóa, khikhông có sự sản xuất ra vật phẩm thì sẽ không có sự tiêu thụ để thỏa mãn nhu cầu, dù sựsản xuất chỉ do một phân số nào đó của xã hội thực hiện, trong khi ấy sự tiêu thụ thì lạixuất hiện là cái phổ thông, cái chung Như vậy, nhu cầu giải trí cũng được gọi là nhu cầuvăn hóa hoặc nữa là nhu cầu thẩm mỹ
IV Văn hóa dân gian
1 Khái niệm về văn hóa dân gian
“Dân” là những người trong một cộng đồng xã hội, “gian” là khoảng, khu vực Vănhóa dân gian” là những tác phẩm văn hóa do bình dân sáng tạo Phần lớn các nước trên
Trang 6thế giới ngày nay dùng từ “folklore” (gốc tiếng Anh, folk, nhân dân, lore, tri thức) để chỉhiện tượng mà tiếng Việt gọi là văn hóa dân gian.
2 Nguồn gốc hình thành của văn hóa dân gian
Ở đa số các xứ la-tin, Âu châu và Mỹ châu, từ folklore, trong ngôn ngữ dân gian,được dùng để chỉ những cuộc biểu diễn, những buổi liên hoan ca nhạc và nhảy múa, vàtrong ngôn ngữ bác học, chỉ sự nghiên cứu văn hóa của nông dân
Ở Hoa Kỳ, từ ấy thường gợi đến những ca sĩ tóc dài hoặc những người chất phát thời
xa xưa kể những câu chuyện phần lớn là nhân vật bịa đặt, như gã vô công rồi nghề, anhchàng thóc mách, vv…
Ở Việt Nam, sự phân biệt thành dâm thư, dâm nhạc (tức văn hóa dân gian) hẳn chỉbắt đầu từ thời Lê Thái Tông trở đi, tức là thời kỳ nho học toàn thắng, trở thành hệ tưtưởng chính thống của quốc gia, nhất là nho sĩ đã trở thành một tầng lớp đông đảo gắnliền với đẳng cấp phong kiến và họ đã là một lực lượng sản xuất những tác phẩm văn hóavới nội dung và hình thức phân biệt với văn hóa dân gian mà từ đó trở về trước vốn làvăn hóa chung của cả cộng đồng xã hội
Từ những năm đầu thế kỷ XX, việc khảo cứu văn hóa dân gian đã được tiến hành,song đó mới chỉ là những công việc riêng tư của các cá nhân học giả người Việt Namhoặc người Pháp, chưa có tính cách quốc gia
Dường như sẽ là hợp lý hơn khi hòa hợp cả hai quan niệm trên đây bằng một tiếntrình sáng tạo như sau:
- Một người có năng lực sáng tác phác thành tác phẩm (làn điệu ca nhạc, điệu múa,
vở kịch, vở kịch cho sân khấu,…vv…), và ở Việt Nam, người ta thường đặc biệt chú ýđến những tiểu tri thức ở nông thôn; tất nhiên vẫn có những người không biết chữ Hán(không phải tiểu tri thức) vẫn là tác giả của những bài vè, ca dao hoặc truyện cười;
- Phác thảo đầu tiên ấy, nhất là kịch bản sân khấu, bài hát, điệu múa, được đưa ratrước những người có năng lực và liên can (họ sẽ phải trình diễn trước công chúng),những người này bổ sung, sửa sang;
- Cuối cùng, tác phẩm được thành hình hoàn chỉnh, và đi vào đời sống xã hội; lại đếnlượt đích mỗi địa phương công chúng sửa đổi cho phù hợp với đặc điểm chi tiết của vùngmình
3 Các hình loại văn hóa dân gian
Trang 7Văn hóa dân gian chỉ là một giai đoạn của sự phát triển của văn hóa của một cộngđồng xã hội
Phần lớn các nhà folklore đã đồng ý chia thành một số loại lớn truyền thống như sau:văn chương truyền miệng, văn hóa vật chất, văn hóa ứng xử, những thành phần lai pha
3.1.Văn chương truyền miệng
Các chủng văn chương truyền miệng bao gồm sự diễn đạt nói và hát Có thể chiachúng thành ba nhóm chính:
a Chuyện dân gian (récits populaires);
b Diễn từ dân gian (discours populaires);
c Khúc hát dân gian (chansons populaires);
a Chuyện dân gian: truyền miệng bằng văn xuôi Chia làm các thể loại :
- Huyền thoại: là chuyện kể về những nhân vật sáng thế nhưng không phải là thánh
thần Huyền thoại là những chuyện kể về nguồn gốc, cái gốc gác sâu xa, từ vật tự nhiên làtrời đất, sông núi, loài người, cây cỏ, động vật, sự sống, sự chết,Ví dụ : Lạc Long Quân
và Âu Cơ trong huyền thoại của dân tộc Việt Nam đẻ trăm trứng nở trăm con (loài chim
và loài cá đều đẻ trứng) hoặc ông Thu Tha bà Thu Thiên trong “Đẻ đất nước” của tộcMường Huyền thoại của các dân tộc, người ta còn thấy huyền thoại phát hiện nhữngphạm trù xã hội đối lập như tình thân/sự thù địch, tình riêng/nghĩa chung (Mỵ Châu –Trọng Thủy)…
- Chuyện thần tiên hay thần tích: là những chuyện về các vị thần; ấy là những hư cấu
dân gian với những đoạn dài pháp luật, cũng có thể nhân vật thần tiên là người thật song
được linh diệu hóa và trở thành thần tiên Như Việt điện u linh, Nam hải dị nhân thuộc
thể loại này Chuyện thần tiên thường dễ bị lẫn lộn với huyền thoại với pháp thuật, linhbiệt giữa tính kỳ diệu của huyền thoại với pháp thuật, linh dị của chuyện thần tiên : SơnTinh (thần Tản Viên, Chử Đồng Tử - Tiên Dung…)
- Truyền thuyết hoặc truyền kỳ: là những chuyện được người ta cho là có thật, song
hoàn toàn là bịa đặt có nhiều yếu tố hoang đường và chứa đựng những ám chỉ Cácchuyện như Từ Thức, Tấm Cám, Mỵ Nương, Trương Chi,… thuộc thể loại này Trongmột bộ phận truyền thuyết, nhân vật là thực, nhưng được tô đậm theo cách biến hình hayphóng đại bằng những yếu tố hoang đường, như các chuyện An Dương Vương được nỏthần, Bà triệu vú dài ba thước, Lê Lợi được kiếm…, về sau này các chuyện như Nàng Ba
Đề Thám đứng trên ngựa phi bắn súng trường
Trang 8- Chuyện ngụ ngôn: văn xuôi hay văn vần nhằm minh họa một lời răn dạy; nhân vật
có thể là người, cũng có thể là súc vật
- Chuyện dài: văn vần miêu tả đầy phiêu lưu mạo hiểm với tính chất hiện thực nhằm
đề cao hay phê bình một giá trị đạo đức nào đó (Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân CúcHoa, Hoàng Trừu )
- Chuyện cười: là những hư cấu ngắn, khôi hài, thường thô tục và được kết thúc bằng
một nét cay độc, chế giễu, công kích những thói hư tật xấu trong đời sống xã hội
- Chuyện vặt: văn vần hay văn xuôi một thể chuyện mà tình tiết rất ngắn gọn, với đề
tài là một sự lố bịch, đáng cười nhằm thẳng vào một số nhân vật thường là có quyền thếvới những khuyết tật ảnh hưởng xấu đến dân chúng
b Diễn từ dân gian: văn vần gồm các nhóm sau
- Ngạn ngữ hoặc tục ngữ: là những tóm tắt các trí thức trong đời sống tự nhiên và xã
hội thành những từ ngữ cô đọng, dễ truyền lan từ miệng này sang miệng nọ; nhóm nàygồm: ngạn ngữ, tục ngữ, cách ngôn, châm ngôn, ca dao, phong dao, đồng dao
- Câu đố: những miêu tả rất vắn gọn đặc điểm hình thái hay tính chất một sự vật bằng
cách ẩn dụ hay hoán dụ khiến người trả lời phải vận dụng trí tưởng tượng, hồi tưởng vàliên tưởng khi trả lời;
- Diễn ngữ: những lời diễn đạt thay cho cách nói thông thường quá thật thà đến lỗ
mãng, vào những dịp chúc tụng vui vẻ hay những dịp chia buồn (như lời mời ăn uống
“sơi chén rượu nhạt” “dùng lưng cơm dưa muối”)
c Ca khúc dân gian: thường liên kết chặt chẽ lời ca với giai điệu.
- Chuyện hát: thể chuyện dài hay vừa, bằng văn vần, cũng có chỗ xen kẽ vài câu văn
xuôi ngắn gọn, thường là một thành phần của lễ thức ở đình, đền, vào dịp hội ở các giađình vào dịp lễ trọng như tang, cưới, khao Đó là những câu chuyện về sự tích các thầnthánh (lễ thức ở gia đình), hoặc nữa là những chuyện lịch sử xã hội từ xa xưa đến hiệnkim (như các phường xẩm thường hát ở bến đò, cổng chợ)
- Ca khúc trữ tình: diễn tả một cảm xúc thành giai điệu âm nhạc, và các ca khúc này,
ta thường gọi là làn điệu, có đời sống tự lập để quần chúng đặt lời phù hợp với chúng mà
sử dụng tùy theo trạng thái cảm xúc của mình (như kể sa mạc lúc thư nhàn) và cũng làmlàn điệu cho các chuyện hát Các làn điệu dân ca được xếp vào thể loại này (quan họ, ví,dặm, xli…vv…)
Trang 9- Bài hát trẻ em: một thể loại truyền miệng với hai yếu tố chính là lời hát và điệu hát.
Đặc điểm căn bản của lời hát và điệu hát là tính phi lý (tính vô nghĩa) và điệu hát đơngiản, thiên về tiết tấu cũng đơn giản và tự do dường như nó chỉ cốt giúp cho đứa trẻ từtuổi thứ ba trở lên phát triển chức năng của cơ chế, và sau này khi đứa trẻ lớn hơn, cácbài hát lại là một thành phần của một trò chơi nào
3.2 Văn hóa vật chất
Trong khi các thể loại truyền miệng chỉ tồn tại trong trí nhớ người, thì ở một đầu cựckhác, văn hóa vật chất tồn tại ở những sản phẩm hữu thể và hữu hình, bao gồm: Kiếntrúc, các nghệ thuật tạo hình, mỹ nghệ
a Kiến trúc: là sự xây dựng nơi cư trú của nhân dân và các công trình công cộng.
Làng là đơn vị cư trú sơ bản (ở miền núi là bản, buôn) Làng được cấu thành trên mộtkhu vực gọi là thổ cư (đất ở) nằm trong phạm vi đền thổ chung của cả làng Làng thườngkhông có hình dạng kỷ hà nhất định, nó phát triển theo sự phát triển tự nhiên của dân số.Xung quanh làng có hàng rào cây xanh (tùy nơi là dừa, tre…), bao bọc bảo vệ sự sinh tồntrên nhiều phương diện: an toàn xã hội, an toàn sinh học và thẩm mỹ
Các công trình kiến trúc trong làng có thể chia hạng như sau: Chùa, Đình, Văn chỉhoặc văn miếu (thờ Khổng Tử và 72 Tiên Hiền); Đền; Cây hương; Quán (điếm canh nước
lũ hoặc canh đồng điền, đồng thời là nơi nghỉ dừng chân đi đường hay dừng tay làmđồng); Quán chợ; Nhà ở của tư nhân
b Hội họa và tạo hình
Gồm nhiều dạng, chia thành ba nhóm:
- Nhóm trang trí thường trực trong và ngoài nhà (cả tư nhân và công cộng), tranh vẽ,
tượng trạm trổ trên tường và các bộ phận gỗ mái nhà, chữ viết (câu đối, hoành phi khắcvào tường, gỗ và giấy…);
- Nhóm trang trí theo dịp: đồ mã chiếm vị trí ưu thắng (đèn lồng, đèn xếp, hoa
giấy…) và đồ thêu may (cờ, quạt, tàn tán, lọng, áo quần, giày mũ nghi thức…);
- Nhóm đồ chơi trẻ em: gồm nhiều chủng được kết hợp từ sự lai pha nhiều môn nghệ
thuật: đồ mã vừa khắc trạm trổ vừa đắp nặn như ông phỗng, tiến sĩ giấy, mặt nạ, tượngđất nung, đầu lân, đầu rồng, đèn giấy nhiều hình kiểu khác nhau, con giống màu bộtgạo…vv…
c Mỹ nghệ
Trang 10Là các nghề làm tại nhà, thường là nghề phụ bên cạnh nghề chính là nông nghiệp theocác kiểu mẫu truyền thống và các phương pháp cổ truyền Một số lớn đồ dùng bằng mây,tre, lá, gỗ, đá, sành, gốm, đồng, vải, kính…,
3.3 Văn hóa ứng xử
Bao gồm ba thành phần khuôn mẫu ứng xử:
a Những khuôn mẫu thông thường, tức những hành vi được định thức hóa trong sựứng xử giữa các vai trò xã hội trong đời sống hằng ngày
b Những khuôn mẫu đặc biệt, tức những nghi thức đặc biệt đối với các đối tượngđặc biệt, ấy là các Lễ - Tết – Hội
c Một khu vực thường tránh được nói đến là những khuôn mẫu ứng xử trong tìnhdục, song dù muốn hay không chúng vẫn bộc lộ một trình độ nhất định văn hóa, và do đó
mà có tác động hiển nhiên đến sự phát triển xã hội (như sự gia tăng không kiểm soátđược về dân số, nạn hữu sinh vô dưỡng)
3.4 Những thành phần lai pha
Là các loại hình đứng ở giữa văn chương truyền miệng và văn hóa vật chất Chúngchứa đựng một hành động, một sự dàn dựng và những phụ tùng diễn tả Có thể chiachúng làm bốn: Nhóm nghệ thuật dân gian, nhóm các trò chơi, nhóm các cảnh diễn,nhóm kỹ thuật nấu nướng
a Nhóm nghệ thuật dân gian: bao gồm nghệ thuật hát múa, nghệ thuật sân khấu và
tạp kỹ
- Nghệ thuật hát múa: có hai thể loại: thể loại biểu diễn và thể loại sinh hoạt.
Biểu diễn ở đây được hiểu là biểu diễn để trước hết phục vụ cái linh thiêng (vả chăngđây cũng là đặc điểm của hầu hết các hình loại văn hóa dân gian: một thành phần của lễthức) Như múa hát đưa linh, múa hát xoan đúm ả đào (hát bỏ bộ), múa hát đồng bóng,múa hát trừ tà trục quỷ (trong đám tang, chữa bệnh…), múa lân, múa tứ linh, múa rồng…Một khi đã có múa biểu diễn thì phải có múa sinh hoạt, vì múa lễ thức là hình thứcđiển hình của múa sinh hoạt, nhưng đến nay không bảo lưu gì được ở tộc Việt Nhảy múasinh hoạt (khiêu vũ) chỉ còn thấy lẻ tẻ rải rác ở một số tộc như H’mông (múa khèn), Thái(múa xòe, sạp)
- Nghệ thuật sân khấu gồm:
Trang 11+ Chèo: một thể loại nghệ thuật sân khấu (chủ yếu của đồng bằng Bắc bộ), lấy ngôn
ngữ cách điệu, hát và múa làm phương tiện biểu hiện Đề tài là những câu chuyện đạo lýrút tỉa từ đời sống của bình dân; nội dung thiên về trữ tình êm dịu với phong cách nghệthuật mang tính mô phỏng hiện thực
+ Tuồng: cũng như chèo, tuồng là một thể loại nghệ thuật sân khấu lấy ngôn ngữ
cách điệu, hát và múa làm phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nhưng nếu như đặc thù vềtính chất nội dung của chèo là trữ tình êm dịu thì của tuồng lại là bi tráng, phong cáchdiễn tả là biểu hiện chủ nghĩa (dùng hóa trang, phục trang, điệu bộ và gia điệu đặc cáchhóa theo lối biểu tượng pha trộn với mô phỏng để diễn trạng thái nội tâm) Đề tài khi lấy
từ lịch sử (Trung Quốc hay Việt Nam) thì gọi là “tuồng pho”, nếu đề tài lấy từ đời sốnghằng ngày thì gọi là “tuồng đồ”
+ Cải lương: một thể loại nghệ thuật sân khấu của Nam bộ, lấy hát làm phương tiện
biểu hiện chính yếu, trừ hát ra, cải lương sử dụng ngữ điệu, động tác gần gặn với kịchnói, chỉ cách điệu đôi chút Cải lương thích hợp với đề tài tâm lý xã hội, thiên về trữ tìnhbuồn (đã từng có ý kiến cho là bi lụy)
+ Múa rối: một thể loại nghệ thuật dùng quân rối kể lại câu chuyện Người ta thường
chia nghệ thuật múa rối thành hai chủng: múa rối nước, tức là dùng mặt nước làm sânkhấu, và múa rối cạn dựng sân khấu trên mặt đất Múa rối thích hợp với các đề tài ngộnghĩnh, vui nhộn, mang tính ngụ ngôn hay ẩn dụ
b Nhóm các trò chơi: trò chơi của người lớn và trẻ em, trong đó chia ra:
- Trò chơi thể lực (rèn luyện sức khỏe)
- Trò chơi khéo léo (rèn luyện chức năng cơ chế)
- Trò chơi trí tuệ (rèn luyện phương pháp)
- Trò chơi tính cách (rèn luyện thái độ ứng xử)
c Nhóm cảnh diễn: Hỗn hợp trong nó nhiều chủng loại khác nhau của văn hóa để
tạo thành cảnh diễn (Spectacle là yếu tố cấu thành các lễ - tết – hội) Hội làng, lễ cưới, lễtang, lễ kỳ đảo, giỗ gia tiên, tết nguyên đán…, tất thảy đều được tiến hành theo mộtxênario truyền thống, nghĩa là theo một kịch bản qui định một chuỗi những cảnh diễn liêntiếp
d Nhóm kỹ thuật nấu nướng: kỹ thuật nấu nướng là sự đổi khác phương thức chế
biến cùng một nguyên liệu để tạo nên sự ăn uống ngon và lành (hợp vệ sinh), thích hợpvới khẩu vị từng trường hợp Ở đây, chia thành ba dạng chính: thức ăn, thức uống và thứchút
Trang 12* Thức ăn được chia làm hai dạng nhỏ:
- Thức ăn chính: gồm các thức ăn để no, dùng trong các bữa chính, như cơm, các
món xào, nấu, luộc,rán…
- Thức ăn phụ: gồm các món ăn tráng miệng, tức ngay sau bữa ăn chính và ăn
“chơi”, tức “ăn tiêu khiển”, hoặc “ăn quà” với các món thích hợp từng buổi trong ngày,gồm bánh ngọt, chè ngọt, hoa quả, cây củ…
* Thức uống cũng được hình thành ba dạng nhỏ:
- Thức khai vị: rượu cất bằng ngũ cốc hay hoa quả;
- Thức giải khát: nước ngọt chủ yếu được chế biến từ hoa quả và cây củ;
- Thức uống tiêu khiển: như trà, cà phê, cũng có khi là rượu phổ thông.
* Thức hút, ba thứ thuốc lâu đời ở Việt Nam là thuốc lào, thuốc lá, và thuốc phiện.
Thuốc lào là phổ thông ở miền Bắc; thuốc lá ở miền Trung, Nam; thuốc phiện ở các vùngcao Bắc Bộ
Một thứ khó xếp loại là “trầu” với truyền thuyết nổi tiếng là sự tích Trầu Cau Trầu
đã có vai trò lớn khi giao tiếp xã hội
Nếu phân loại theo chức năng (dinh dưỡng, kích thích) thì các thứ thuốc hút và trầuthuộc loại kích thích, nhưng là kích thích sự say sưa ngây ngất, không phải kích thích sựtiêu hóa
4 Các chức năng của văn hóa dân gian
Chức năng tìm nguồn gốc
Trong hầu hết các huyền thoại, người ta đều bắt gặp những giải thích về nguồn gốc Huyền thoại bao giờ cũng nói cái gì đó sinh ra như thế nào, và đó cũng là tình hìnhphổ thông của huyền thoại ở mọi nơi trên trái đất Trong khi thực hiện chức năng tìmnguồn gốc, huyền thoại đồng thời phát hiện những phạm trù xã hội cũng tự nhiên Bằngnhững biểu tượng về nguồn gốc, huyền thoại đem đến cho con người của mọi thời kỳ lịch
sử những cảm thức về quá khứ, cũng như ý thức về tính đồng nhất, tính thống nhất xãhội
Chức năng tưởng tượng
Trang 13Tưởng tượng là sự suy tưởng, mà điểm tựa là hiện thực của đời sống đang diễn ra,nhằm vượt thoát khỏi tình trạng hiện thời, vượt khỏi những quy định tự nhiên và xã hộiđang hạn chế sự thỏa mãn các nhu cầu sống
Chức năng định giá trị
Giá trị ở đây được hiểu là các mục tiêu trong đời sống của một cộng đồng xã hội.Văn hóa dân gian nói đến hàng ngàn vạn những nhân vật có công tích lớn hay nhỏ đốivới cộng đồng dân tộc bằng mọi phương tiện của nó; văn chương, nghệ thuật, đài tượng,miếu mạo, lễ hội,…, ấy là những nhân vật xa lạ với thế giới mê tín, họ góp công tích vào
sự tồn tại của cộng đồng trên các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
Họ trở thành những biểu tượng của dân tộc hoặc của một vùng Họ tồn tại lâu dài bởi họ
là hiện thân của các giá trị, mà các giá trị này thì được văn hóa dân gian chuyên chở vàođời sống xã hội bằng mọi hình thức nó có; đền, lăng, lễ hội…vv…
Chức năng sư phạm
Là sự hướng dẫn, khuyên bảo cụ thể những điều thích đáng, nên làm trong đời sống
tự nhiên và xã hội Một bộ phận lớn của văn hóa dân gian (cách ngôn, châm ngôn, tụcngữ, ngụ ngôn) được dành vào việc phổ biến những tri thức hành động Chúng trở thànhmột bộ phận cấu thành tri thức của nhân dân, đến mức bất kỳ ai, dù có học vấn của nhàtrường, cũng đều được trang bị từ hàng chục đến hàng trăm tri thức về mọi ứng xử trongđời sống xã hội, ăn uống trang phục…
Chức năng kiểm tra xã hội
Với chức năng sư phạm, văn hóa dân gian đề xuất những qui tắc hành động thích hợpthì với chức năng kiểm tra xã hội, nó nhấn mạnh sự cần thiết phải ứng xử xã hội thíchhợp, nó ngăn ngừa những xu hướng lệch chiều xã hội bằng cách: bộc lộ sự khinh bỉ, tứcgiận và chê cười những gì xa rời các chuẩn mực đã được nhân dân thừa nhận Cách này
đã sản sinh những câu chuyện vặt Chuyện cười, chuyện dài chế giễu những kẻ cẩu thả,lười biếng, biển lận, khoe khoang, nịnh hót, tàn ác, tham lam…vv…
Bên cạnh văn chương truyền miệng, là những sản phẩm văn hóa hữu thể như tranh,tượng, nghệ thuật sân khấu Khi bài xích như vậy, văn hóa dân gian ngầm ca ngợi nhữngứng xử phù hợp với chuẩn mực được số đông thừa nhận và phù hợp với tiến bộ xã hội
V Lễ - Tết - Hội
Trang 141 Khái niệm
Ba từ lễ, tết, hội đều gốc Hán, dùng để chỉ một loại hình nghi thức, cũng là một loại
hình phong tục
Lễ: là hành vi cúng tế thần tổ tông, cầu phúc, lễ dần dà được mở rộng nghĩa đến lề lối
phân chia sự đóng góp và sự hưởng thụ vật cúng tế
Văn hóa dân gian đã để lại đến hôm nay khá nhiều cuộc lễ thuộc nhiều kiểu loại:
- Lễ thành hoàng: cuộc bày tỏ kính ý cầu mong phúc lành và dự phòng bất trắccho cộng đồng làng
- Lễ gia tiên: là các ngày giỗ, bày tỏ kính ý tưởng nhớ người quá cố trong giađình hay gia tộc nói chung
- Lễ chuyển đoạn: (vào làng, khao vọng) cuộc bày tỏ kính ý vui mừng đối với sựchuyển đoạn tuổi, cũng là chuyển vai trò xã hội của cá nhân
- Lễ cưới: cuộc bày tỏ kính ý vui mừng đối với sự kiện hôn phối của đôi trai gáiđến tuổi trưởng thành
- Lễ tang: cuộc bày tỏ kính ý buồn bã đối với sự qua đời của một cá nhân thànhviên nhóm
- Lễ hạ dòng: cuộc bày tỏ kính ý dự phòng bất trắc đối với việc vào mùa sảnxuất, đồng thời kích thích ý chí người sản xuất
- Lễ kỳ an: cuộc bày tỏ kính ý cầu an khang và khu trừ sự xấu (ma quỷ) khi bướcvào mùa dịch bệnh (mùa hè)
- …vv…
Tết: Tết hẳn là biến thức của âm “Tiết” Tiết gốc Hán nghĩa là một đoạn thời gian
được chia ra theo sự vận động chu kỳ của khí trời đất trong một năm
- Tết nguyên đán: hết một vòng bốn mùa, ngày đầu tiên của vòng mới, tức là nămmới
- Tết thanh minh: chuyển sang tiết trời trong sáng
- Tết 5 tháng 5: chuyển sang chính dương (mặt trời chiếu thẳng) nên còn gọi là đoandương hay đoan ngọ
Trang 15Các tết Trung nguyên, Trung thu cũng gắn liền với tiết hậu Cả những biểu thị đượcnông dân xưa gọi là tết như hạ đồng, thượng đồng, thường tân (cơm mới) cũng quan hệchặt chẽ với tiết hậu.
Vậy tết là một sự cử hành một nghi thức để đánh dấu, loan báo sự đến của một kỷthời gian với cả khí tượng của nó
Hội: Hội nói đây là cuộc hội làng, như hội Dóng, hội Láng, hội Dâu,… Khi ngôn ngữ
hàng ngày nói “đông như hội” là cũng quy chiếu vào cuộc hội, mà chủ yếu là hội làngcủa xã hội nông nghiệp
Hội là “đám vui đông người” (Việt Nam tự điển – KTTĐ, 1931) định nghĩa này quá
sơ sài, nhưng nêu được hai đặc điểm hình thái của hội: (1) – Đông người tập trung tại mộtđịa điểm; (2) – Vui chơi
Quan sát các hội, trước hết người ta thấy:
- “Cuộc vui đông người” chỉ được gọi là hội khi nó được tổ chức nhân dịp kỷ niệmmột sự kiện quan thiết đến một cộng đồng xã hội, nhỏ nhất cũng là làng Như kỷ niệmthành hoàng làng mới có hội làng;
- Cũng do sự kiện ấy quan thiết đến một cộng đồng xã hội nên hội được tổ chứcnhằm lợi ích tinh thần của mọi thành viên cộng đồng, tức là nó mang tính công cộng cả
về tư cách tổ chức cũng như mục đích Tính công cộng còn khiến hội không ngăn cấmhay cự tuyệt công chúng từ các cộng đồng khác tới dự; hội mở cửa đón khách thậpphương
- Hội bao giờ cũng có nhiều trò vui, nên gọi là “bách hí” Tính vô số đến như hỗnđộn, đầy tràn trò vui, đích là một đặc điểm căn bản của hội Người ta nói “vui xem hát,nhạt xem bơi, tả tơi xem hội” là xuất phát từ tính vô số trò vui của hội
Tóm lại:
- Cuộc lễ là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội hay tự nhiên, hư tưởng hay
có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hành theo nghi điển rộng lớn và theo phương thứcthẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của côngchúng hành lễ
- Tết là một hành lễ vừa tượng trưng vừa thực tại đối với thời tiết là chủ yếu, trong
một thời gian định sẵn theo chu kỳ tự nhiên, để cầu thịnh vượng, an khang và kích thích ýchí của người sản xuất trước mỗi thời tiết chính của việc sản xuất nông nghiệp
Trang 16- Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa
điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm diễn đạt
sự phấn khích, hoan hỷ của công chúng dự lễ
2 Chức năng của lễ - tết – hội
Lễ hội nhằm biểu hiện giá trị của nhân vật được cử lễ, mà nhân vật ấy, thật hay hưcấu, thì lại gắn bó với nhóm hay cộng đồng từ trong quá khứ và trong nhiều trường hợpliên hệ ấy tồn tại như bất chấp thời gian: ấy là trường hợp các nhân vật có công tích vềphương diện chính trị, kinh tế, văn hóa hay xã hội đối với cả một cộng đồng (ở nước ta:vua Hùng, ông Dóng, hai Bà Trưng…) Do vậy, khi lễ hội biểu hiện giá trị của nhân vậtđược cử lễ, thì đấy cũng đích là giá trị của cả cộng đồng
Có thể nói: trong xã hội nông nghiệp, mỗi lễ - tết – hội là một dịp để người ta vươnlên tạo nên một đời sống không tự nhiên, một đời sống do con người làm nên, một đờisống có văn hóa cao Như thế lễ - tết – hội là hình ảnh văn hóa kết tinh của dân cư nôngnghiệp; hay nói lễ - tết – hội có thể được xem như động lực của văn hóa nông nghiệp
3 Kế thừa lễ - tết – hội:
1) Kịch bản lý thuyết lễ - hội làng
2) Một số công việc trong kế thừa
Phụ lục: Những yếu tố văn hóa “lạc hậu” trong lễ - tết - hội cổ truyền
1 Sự thờ phượng
Sự thờ phượng với tư cách là một hình thái ý thức (cái tôi ý thức được thần linh, tức
là sự ý thức một nguồn gốc,một bản thể) chắc chắn phải được quy chiếu vào các thời kỳmuộn mặn của lịch sử, không vào các thời kỳ nguyên thủy Người nguyên thủy, với công
cụ lao động thô sơ, năng suất lao động thường là rất thấp kém, nên bị bận tâm vào hiệuquả ngay trước mắt để có thể tồn tại Đối với người nguyên thủy, các biện pháp ma thuật(như trừ tà trục quỷ, kiêng kỵ xem điềm, đoán mộng, v.v…) chỉ vừa vặn là những biệnpháp kỹ thuật nhằm thu được hiệu quả nhiều hơn trong lao động
2 Sự ăn uống linh đình trong các lễ - tết - hội