1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn phương pháp nghiên cứu văn hóa học tín ngưỡng thờ trời của người việt tây nam bộ

36 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 861 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNKHOA: VĂN HÓA HỌC   HỌC VIÊN: NGUYỄN VĂN CƯNG-VHHK13A TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VĂN HÓA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA: VĂN HÓA HỌC

 

HỌC VIÊN: NGUYỄN VĂN CƯNG-VHHK13A

TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VĂN HÓA HỌC

TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI

VIỆT TÂY NAM BỘ

TP HCM 06-2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA: VĂN HÓA HỌC



HỌC VIÊN: NGUYỄN VĂN CƯNG-VHHK13A

Đường link tham gia diễn đàn:

http://vanhoahoc.vn/diendan/viewtopic.php?f=57&t=5856

Nick: mrcungnguyen

TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI

VIỆT TÂY NAM BỘ

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TSKH TRẦN NGỌC THÊM

TP HCM 06-2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DANH MỤC HÌNH 4

DẪN NHẬP 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Lịch sử vấn đề 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 7

7 Bố cục luận văn 7

CHƯƠNG I 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Khái niệm về Trời và tín ngưỡng thờ Trời 8

1.1.1.Khái niệm tín ngưỡng 8

1.1.2.Khái niệm Trời 9

1.2 Trời trong văn hóa Thế Giới và Việt Nam 10

1.2.1.Tín ngưỡng thờ Trời trong văn hóa thế giới 10

1.2.2.Tín ngưỡng thờ Trời trong văn hóa Việt Nam 11

3

Trang 4

1.3 Tín ngưỡng thờ Trời Tây Nam Bộ trong Hệ Tọa Độ Văn Hóa 12

1.3.1.Không gian văn hóa 12

1.3.2.Chủ thể văn hóa 14

1.3.3.Thời gian văn hóa 19

Tiểu kết chương 1 20

CHƯƠNG II 21

TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ 21

2.1 Tín ngưỡng thờ Trời của người Việt Tây Nam Bộ nhìn từ văn hóa nhận thức 21 2.1.1 Trời trong truyền thuyết 21

2.1.2 Trời trong các tôn giáo 23

2.1.3 Trời trong tâm thức dân gian 24

2.2 Tín ngưỡng Trời của người Việt Tây Nam Bộ nhìn từ văn hóa ứng xử 25 2.2.1 Trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên 25

2.2.1.1 Tục sùng bái tự nhiên 25

2.2.1.2 Thích ứng với tự nhiên 26

2.2.2 Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa 27

2.2.2.1 Giao lưu văn hóa Việt-Hoa 27

2.2.2.2 Giao lưu văn hóa Việt-Chăm-Khmer 28

Tiểu kết chương 2 29

4

Trang 5

CHƯƠNG III 31

TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ VĂN HÓA TỔ CHỨC 31

3.1 Nghi thức thờ cúng Trời 31

3.2 Nghệ thuật kiến trúc 32

3.2.1 Cơ Sở Thờ Tự 32

3.2.2 Cách bày trí 33

Tiểu kết chương 3 34

KẾT LUẬN 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

DANH MỤC HÌNH Hình 1.3-1: Bản đồ hành chính Tây Nam Bộ (Đồng Bằng Sông Cửu Long) 12

Hình 1.3-2: Hệ Thống Sông Mê Kong 13

Hình 1.3-3: Phân bố gió mùa hàng năm 14

Hình 1.3-4: (1) Người Việt;(2) Người Hoa;(3) Người Khmer;(4) Người Chăm 18

Hình 0-1: Ngọc Hoàng Thượng Đế 22

Hình 0-2: Cửu Thiên Quyền Nữ 23

Hình 0-3: Thiên Nhãn trong Đạo Cao Đài 23

Hình 0-4: Thiên Quan Tứ Phước 27

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Tây Nam Bộ là vùng đất mới trong quá trình mở cõi về phương Nam của người Việt Khi mới đến định cư người Việt đã trãi qua không ít khó khăn để ứng phó với khí hậu, với địa hình, với nhiều loài thú dữ…nơi đây

5

Trang 6

rất thích hợp cho việc trồng lúa và cây ăn trái, lối sống thích hòa hợp vớithiên nhiên, từ đó hình thành những tín ngưỡng và sùng bái tự nhiên nhưthờ thần: mây, mưa, sấm, chớp, trời, đất… Chính vì vậy chúng tôi quyếtđịnh chọn đề tài nghiên cứu tín ngưỡng thờ Trời của người việt Tây Nam

Bộ, để tìm hiểu sâu hơn những tập tục của tín ngưỡng này

2 Mục đích nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ Trời là một bộ phận không thể tách rời trong nghiêncứu tín ngưỡng văn hóa dân gian của người Việt Tây Nam Bộ Thông quaviệc nghiên cứu chúng tôi muốn tìm hiểu phong tục, cách thức tín ngưỡngTrời của người dân nơi đây, đồng thời tìm sự khác biệt giữa thờ cúng Trờicủa người Việt ở Tây Nam Bộ với các vùng khác trong nước cũng như cácquốc gia trong khu vực

3 Lịch sử vấn đề

Hiện nay có rất nhiều công trình đã nghiên cứu về tín ngưỡng cũng

như tập tục của vùng đất Tây Nam Bộ này như : Sơn Nam 1970: Lịch sử khẩn hoang vùng đất Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long- Nét sinh hoạt xưa- Văn minh miệt vườn, Huỳnh Lứa 1987: Lịch sử khai phá vùng đất Nam

Bộ, Lương Ninh 2005: Vương Quốc Phù Nam: lịch sử và văn hóa, Nguyễn Mạnh Cương 2008: Tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân vùng Đồng Bằng

Sông Cửu Long, Huỳnh Quốc Thắng 2003: Lễ hội dân gian của người Việt

ở Nam Bộ, Trần Ngọc Thêm(chủ biên) 2013: Văn Hóa Người Việt vùng Tây Nam Bộ Đây là công trình có sự đầu tư công phu và làm tư liệu tham khảo

quý báo cho ai muốn nghiên cứu về Tây Nam Bộ, Phan Thị Yến Tuyết

1999:Tín ngưỡng cúng việc lề, một tâm thức về cội nguồn của cư dân Việt khẩn hoang tại Nam Bộ…

6

Trang 7

Tín ngưỡng thờ Trời thuộc tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, đề tài này có

nhiều học giả tiếp cận: một số bài viết của mục sư Nguyễn Văn Huệ:Trời trong tín ngưỡng Việt Nam, Phan An 2012: Người việt Nam Bộ [Bàn thờ

thiên của người Việt ở Tây Nam Bộ:tr134]…Tuy nhiên mới chỉ là nhữngchuyên đề trên tạp chí chưa được nghiên cứu một cách hệ thống theo gócnhìn văn hóa học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu là những thần tích, nghi thức thờ cúng,những hoạt động tín ngưỡng thờ Trời của người Việt Tây Nam Bộ

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về mặt khoa học, đề tài nghiên cứu, hệ thống, phân tích tư liệu, giải

mã tín ngưỡng thờ Trời trong văn hóa tâm linh, tín ngưỡng sùng bái tựnhiên của người Việt Tây Nam Bộ

Về thực tiễn đề tài đề xuất hướng giữ gìn phát huy các giá trị tinh thầntốt đẹp của người Việt Tây Nam Bộ qua việc tín ngưỡng thờ Trời

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Trong đề tài này chúng tôi sẽ kết hợp bằng nhiều phương pháp nghiêncứu cụ thể:

Trang 8

7 Bố cục luận văn

Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở Lý Luận và Thực Tiễn

Chương 2: Tín ngưỡng thờ Trời ở Tây Nam Bộ nhìn từ văn hóa Nhận Thức và văn hóa ứng Xử

Chương 3: Tín ngưỡng thờ Trời ở Tây Nam Bộ nhìn từ Văn Hóa

Tổ Chức

8

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHƯƠNG I.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Khái niệm về Trời và tín ngưỡng thờ Trời

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng

Cho đến nay có rất nhiều khái niệm và định nghĩa tín ngưỡng khácnhau, một số người đồng nhất khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo với nhau

Trong từ điển tiếng Việt tín ngưỡng được định nghĩa như là lòng tin và

sự tôn thờ một tôn giáo [Nguyễn Như Ý(chủ biên)2004:1646]

Theo GS.VS.TSKH.Trần Ngọc Thêm trong cuốn: Tìm về bản sắc văn

hóa Việt Nam thì tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá

nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng Tổ chức đời sống cá nhân bao gồm những vấn đề thuộc tầm vi

mô, liên quan đến cuộc sống của mỗi cá nhân trong cộng đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục) Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu óc phân tích nên các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển biến hoàn toàn được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế - đó là Ông Bà, đạo Mẫu Phải đợi khi

Trang 10

các tôn giáo thế giới như Phật giáo, Đạo giáo, Kitô giáo… du nhập vào và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện” [Trần Ngọc Thêm 2004: 233].

Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào thực thể, lực lượng siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà

ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ”[Ngô Đức Thịnh 2012:9].

Theo chúng tôi “Tín ngưỡng là niềm tin sự tôn sùng vào một hiện tượng tự nhiên vào một đấng thần linh nào đó nhằm tìm sự bình yên, sự hạnh phúc trong tâm hồn của mỗi người”.

1.1.2 Khái niệm Trời

Sùng bái tín ngưỡng tự nhiên từ xưa cho đến nay ở quốc gia nào cũng

có, vì bởi lẽ con người vốn thuộc về tự nhiên Với niềm tin sự hiện diện củaTrời và Đất, con người tin ông Trời là đấng cao cả, vĩ đại, không có một vị

thần nào sánh được với Ngài Từ điển: vi.wiktionary.org “Trời” nghĩa là khoảng không gian nhìn thấy như hình vòm úp trên mặt đất Trong Hán-Việt

Trời là Thiên Chữ Thiên theo cách giải thích của linh mục Wieger1 gồm

hai phần : nét nhất là một, nét đại là lớn, ngụ ý chỉ Thiên là một đấng vĩ đại, không bất cứ ai được ví như ngài vượt trên tất cả mọi loài Chữ Thiên theo

1 Leon Wieger(1856-1933) là một nhà Hán học người đã dành phần lớn cuộc đời trưởng thành của mình ở Trung Quốc, nơi ông qua đời Ông là tác giả của nhiều công trình biên soạn và phần mở rộng của Trung Quốc, đầu tiên để nâng cao kiến thức về truyền giáo tại Trung Quốc vào các nước nhiệm vụ của họ: Lịch sử của niềm tin tôn giáo và ý kiến triết học Trung Quốc, Trung Quốc thông qua lứa tuổi, và là cha đẻ của hệ thống Học, văn bản lịch sử, văn bản triết học, ký tự Trung Quốc, Văn hóa dân gian Trung Quốc hiện đại …

10

Trang 11

nguyên tự, nét(-) chỉ không trung bao la và hình chữ chỉ hình người giang hai tay, hai chân: hội ý thiên là một vị duy nhất, ở trên hết mọi người, vị thiên ở trên cai quản mọi người ở dưới

[http://www.chungnhanduckito.net/tacgia/lamky/tamgiao/chuongbay]

1.2 Trời trong văn hóa Thế Giới và Việt Nam

1.2.1 Tín ngưỡng thờ Trời trong văn hóa thế giới

Ở Đông Nam Á

Do nằm ở khu vực nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, cư dân Đông NamÁ có lối sống hài hòa với tự nhiên dẫn đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên :

“khu vực Đông Nam Á tục thờ Mặt Trời là một tín ngưỡng đặc biệt phổ biến

ở vùng nông nghiệp lúa nước Không trống đồng, thạp đồng nào là không khắc hình mặt trời ở tâm; ở phương nam, toàn dân thờ Trời (nhiều vùng nhà nào cũng có bàn thờ thiên, hay “Bà Thiên”, ở góc sân) [Trần Ngọc Thêm

2004: 243]

Trong văn hóa Trung Hoa

Người Trung Hoa cổ xưa quan niệm Trời là thủy tổ Quan niệm này có

thể tìm thấy trong Kinh Thi qua câu: “Thiên sinh chưng dân…” Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê cho rằng chữ "dân" ấy tức là chữ "nhân". 2 Như vậy, Thiên sinh chưng dân tức là Trời sinh ra con người

Theo Đổng Trọng Thư người Trung Hoa là một nhà Nho lấy Nho giaTiên Tần làm cơ sở các học phái khác, đặc biệt là quan điểm âm dươngngũ hành gia, làm thành một hệ thống đặc trưng thần học duy tâm chủnghĩa trời người hợp nhất Ông xem trời như vị chủ tể tối cao chi phối tự

2 Đại Cương Triết Học Trung Quốc Quyển Hạ Sài Gòn, Nxb Cảo Thơm, 1966, tr 23

11

Trang 12

nhiên và xã hội, là đại quân của bách thần, là ông tổ của mọi vật [Đàm Gia Kiện(chủ biên) 1993: Lịch sử văn hóa Trung Quốc: 460 tr].

1.2.2 Tín ngưỡng thờ Trời trong văn hóa Việt Nam

Trong đời sống thường ngày của người Việt từ Trời được sử dụng rấtthông dụng Người Việt gọi Trời bằng Ông Trời để thể hiện sự tôn kính mộtĐấng Thần Linh Mặc dù Trời là vị thần không nhìn thấy, không biết nhưngvẫn hiện hữu cùng người Việt qua ngôn ngữ phổ thông của người bình dân

từ đời này sang đời khác, trong ca dao tục ngữ: “ Trời nắng tốt dưa,Trời mưa tốt lúa” hay “Trời sinh Trời dưỡng, Trời sinh voi, Trời sinh cỏ”3

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hai dân tộc Tày-Nùng ở phiá

Bắc Việt Nam, “ thế giới vô hình được phân thành 3 tầng tương ứng với 3 Mường: Mường Trời, Mường Đất và Mường Nước, tương ứng với mỗi tầng lại có dạng thần linh ma quỷ riêng Mường Trời là nơi ngự trị của các thần linh tối cao quyết định sự sinh tồn và số phận của mọi người Đồng thời, Mường Trời cũng là nơi trú ngụ của con người sau khi chết, đối lập với Mường Đất nơi hiện hữu của thể xác con người Quan niệm có một thế giới Mường Trời là quan niệm từ xa xưa liên quan đến tục thờ Trời của người Tày- Nùng” [Nguyễn Thị Yên 2009: 52].

1.3 Tín ngưỡng thờ Trời Tây Nam Bộ trong Hệ Tọa Độ Văn Hóa 1.3.1 Không gian văn hóa

Tây Nam Bộ còn gọi là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long hoặc theocách gọi của người dân miền Nam Việt Nam ngắn gọn là Miền Tây, có 12tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre,Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên

3 http://e-cadao.com/tieuluan/tinnguong/daotroiquacadaovatucngu.htm

12

Trang 13

Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố trung ương Cần Thơ Tổng diệntích 40.548,2 km², dân số khoảng 17.330.900 người (2011) Có vị trí nằmliền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam làvịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông

Hình 1.3-1: Bản đồ hành chính Tây Nam Bộ (Đồng Bằng Sông Cửu Long)

[ nguồn: http://www.mekongdelta.com.vn/mekongdelta/news.asp]

Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vậtrừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là những cây

đước (Rhizophora sp.) và mắm (Avicennia sp.) Những thực vật chịu mặn

này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xóimòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ(Morisawa M., 1985), và rồi những đầm lầy biển được hình thành4

4 Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Đồng_bằng_sông_Cửu_long

13

Trang 14

Sông Cửu Long, hay Cửu Long Giang (chữ Hán: 九龍江), là tên gọichung cho các phân lưu của sông Mê Kông

chảy trên lãnh thổ của Việt Nam Sông Mê

Kông là một trong những con sông lớn nhất

trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy

qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và

Việt Nam( xem Hình1.3- 2)

Sông Mekong ở Việt Nam chia thành 2

nhánh: sông Tiền và sông Hậu cả hai đều

chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng

lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220–

250 km mỗi sông và sau đó đỗ ra Biển Đông

Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là

sông Lớn, Sông Cửu Long

Ngoài hệ thống sông Mê Kông còn có

một số hệ thống sông khác: Sông Vàm Cỏ ( Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây),Sông Mỹ Tranh, Sông Ông Đốc, Sông Gành Hào… hay hệ thống kênh đào:Kinh Vĩnh Tế, Kinh Bảo Định… và gần 10.000 kênh rạch tự nhiên hoặcnhân tạo khác dùng để tháu chua rửa phèn cho khu vực này

Tây Nam Bộ có khí hậu nhiệt đới gió mùa với tính chất cận xích đạothể hiện khá rõ rệt Nhiệt độ trung bình năm từ 24-27 0c, có 2 mùa chính:mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tập trung từ tháng 5 đến tháng 11,lượng mưa chiếm khoảng 99% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài

từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình năm lớn nhất ởkhu vực Tây Nam Cà Mau là 2000mm, nhưng cá biệt ở Gò Công lại chỉ có1300mm [Lê Thông(chủ biên) 2007: 493]

14

Hình 1.3-2: Hệ Thống Sông Mê ảnh: http://baoquangngai.com.vn

Trang 15

Kong-Hình 1.3-3: Phân bố gió mùa hàng năm

Chính những yếu tố điều kiện tự nhiên như vậy sẽ tác động mạnh mẽđến việc hình thành tính cách văn hóa của người Việt Tây Nam Bộ

1.3.2 Chủ thể văn hóa

Tây Nam Bộ là nơi có nhiều dân tộc sinh sống Kinh(Việt), Hoa, Khmer,Chăm và một số ít dân tộc thiểu số khác

Lưu dân Việt đến Tây Nam Bộ, khoảng đầu và giữa thế kỷ XVI đến

khẩn hoang vùng đất Nam Bộ và mở rộng dần từ miền Đông sang miền TâyNam Bộ Đa phần họ là những nông dân, thợ thủ công, binh lính bị lưu đày,hay những tù nhân vượt ngục và một số ít giang hồ bị truy nã… vì hoàncảnh, vì nghèo đói buộc họ phải rời bỏ quê hương đi tìm đất mưu sinh, TâyNam Bộ là vùng đất còn hoang sơ chưa có nhiều người đến định cư, đó làđiều kiện lý tưởng đầu tiên hướng họ đến lựa chọn vùng đất này làm kếsinh nhai Theo Tổng Cục Thống Kê năm 2011 dân số Việt Nam đạt 88,78triệu người Riêng người Việt ở Tây Nam Bộ có 17.330.900 triệu người6

Tiếp theo người Việt là người Hoa, vào nửa sau thế kỷ XVII và những

thế kỷ tiếp theo, một luồng di cư khá đông đảo của người Trung Hoa ởduyên hải phía Nam Trung Quốc tìm đến định cư ở miền Nam Việt Nam,

5.Nguồn:http://www.vawr.org.vn/index.aspx?

aac=CLICK&aid=ARTICLE_DETAIL&ari=1562&lang=1&menu=khoa-hoc-cong- den-kien-giang -nguyen-nhan-va-cac-giai-phap-bao-ve.

nghe&mid=995&parentmid=0&pid=1&title=xoi-lo-boi-tu-bo-bien-nam-bo-tu-thanh-pho-ho-chi-minh-6 Nguồn:http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=387&idmid=3&ItemID=12875

15

Trang 16

được chúa Nguyễn cho phép đến định cư và sinh sống ở Nam Bộ(ĐôngNam Bộ và Tây Nam Bộ) Trong các tài liệu thư tịch, thường nhắc đến cuộcđịnh cư của nhóm người Hoa do Mạc Cửu thống lĩnh đến khai khẩn vùng

Hà Tiên và các địa phương kế cận Một nhóm người Hoa khác do sựhướng dẫn của Dương Ngạn Địch đến định cư ở vùng đất Mỹ Tho, CầnThơ ngày nay Những di dân Trung Hoa đến Tây Nam Bộ phần lớn là nôngdân, thợ thủ công, một số đáng kể là các binh lính và quan lại cùng giađình Họ rời bỏ đất nước Trung Hoa vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là donghèo đói, loạn lạc, dịch bệnh đi tìm đất mưu sinh Một số các quan lại và

và binh lính Trung Hoa phải lưu vong vì họ không chịu thần phục nhà Thanhvừa thay thế nhà Minh thống trị Trung Hoa Những người này hy vọng vùngđất Nam Bộ là nơi họ nương náu chờ ngày ''phản Thanh phục Minh”

Hoạt động kinh tế của người Hoa tập trung chủ yếu trên lĩnh vực sảnxuất tiểu thủ công, thương nghiệp và thương mại dịch vụ Ở nhiều vùngthuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, người Hoa còn sản xuất nông nghiệp,trồng lúa và các loại hoa màu đặc sản.7 Theo kết quả toàn bộ Tổng điều traDân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 ở Việt Nam có hơn 823.071 ngườiHoa đang sinh sống, trong đó Tây Nam Bộ có khoảng 177.178 người,chiếm 21,5% tổng số người Hoa ở việt nam và 1,03 % tổng dân số ở TâyNam Bộ.8

Người Khmer được xem là những lưu dân sớm nhất đến vùng đất

này, họ là những hậu duệ của người Chân Lạp, định cư trước người Việtvài 3 thế kỷ Ban đầu, nước Chân Lạp là một thuộc quốc của Phù Nam, saudần lớn mạnh, không những cởi bỏ được ách thống trị và còn bắt Phù Namthần phục lại mình Sự kiện này xảy ra vào khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm

7 hoa-dan-toc-da-dang.

.Nguồn:http://vhttdlkv3.gov.vn/Ve-dep-phuong-Nam/Dong-bang-song-Cuu-Long-Vung-dat-van-8 Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009:134-146

16

Trang 17

627) Từ đấy trở đi, có thể nói Phù Nam đã bị diệt vong và đất nước của họ

bị sát nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp(tiếng Khmer: ចចចចច, Chân Lạp làphiên âm Hán-Việt của từ tiếng Trung: 真臘) có lẽ là nhà nước đầu tiên củangười Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trênphần phía nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một sốtỉnh phía Nam của Việt Nam hiện đại

Chân Lạp được chia làm hai vùng Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp.Thủy Chân Lạp nay là vùng đất Tây Nam Bộ(Việt Nam) còn Lục Chân Lạpnay là lãnh thổ của Campuchia Vào khoảng thế kỷ 14 văn minh Ăngko của

đế quốc Khmer đi vào suy vong và sụp đỗ, và nhiều người Khmer đã rời bỏLục Chân Lạp tìm đến vùng Thủy Chân Lạp cư trú để trốn tránh sự đàn ápcủa quân Xiêm Như vậy người Khmer là những cư dân đầu tiên của vùngđất Tây Nam Bộ

Người Khmer ở Việt Nam hiện nay có dân số khoảng 1.260.640 người,

có mặt ở tất cả 63 tỉnh, thành phố Tập trung nhiều nhất ở Tây Nam Bộ với1.183.476 người, chiếm 93,8% tổng số người khmer ở việt nam.9

Người Chăm, còn gọi là người Chàm, người Chiêm, người Chiêm

Thành, người Hời , hiện cư ngụ chủ yếu tại Campuchia, Việt Nam,Malaysia, Thái Lan và Hoa Kỳ Dân số tại Việt Nam theo điều tra dân số

1999 là 132.873 người; theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủ ViệtNam năm 2008 là khoảng hơn 145.000 người, xếp thứ 14 về số lượngtrong cộng đồng các dân tộc Việt Nam10 Theo Tổng điều tra dân số và nhà

ở 2009 là 161.729 người Trong đó Tây Nam Bộ có 15.823 người chiếm9,8% tổng số Chăm ở Việt Nam11

9 Nguồn: ://vi.wikipedia.org/wiki/Người_Khmer_(Việt_Nam)

10 Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Người_Chăm

11 Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009:134-146

17

Trang 18

Người Chăm vốn sinh sống ở Duyên Hải miền Trung Việt Nam từ rấtlâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâusắc của văn hoá Ấn Ðộ Chăm là nhóm dân cư gốc Nam Đảo (malayo-polynésien) sinh sống trên những vùng đất thấp dọc duyên hải, Chămpa làtoàn thể các nhóm dân cư thuộc vương quốc Chiêm Thành cũ gồm cảngười Chăm đồng bằng lẫn người Thượng (gốc Nam Đảo hoặc MônKhmer), sinh sống rải rác trên các vùng rừng núi phía Tây dãy Trường Sơn,hay Tây Nguyên Người Chăm Tây Nam Bộ tập trung chủ yếu ở An Giang

do biến cố lịch sử thế kỷ thứ 14 – 16 họ di dân qua Cam Pu Chia Sau đóxuôi theo dòng Mê Kông vào Tây Nam Bộ ở vào khoảng thế kỉ 18 Bộ phận

cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Ðồng Nai vàthành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.12

12 Nguồn: http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=489

18

Ngày đăng: 17/01/2016, 09:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại Cương Triết Học Trung Quốc. Quyển Hạ. Sài Gòn, Nxb Cảo Thơm, 1966, tr. 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Cương Triết Học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Cảo Thơm
3. Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc 2013: Đặc Khảo Về Tín Ngưỡng Thờ Gia Thần,NXB Văn Hóa Văn Nghệ 161-162tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc 2013
Nhà XB: NXB Văn Hóa Văn Nghệ 161-162tr
4. Lê Thông(chủ biên) 2007:Việt Nam Đất Nước Con Người-Nxb Giáo Dục, 493tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Đất Nước Con Người
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
6. Nguyễn Hiến Lê 2002: Bảy ngày trong Đồng tháp mười-Nxb Văn Hóa Thông Tin, 154tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảy ngày trong Đồng tháp mười
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông Tin
7. Nguyễn Như Ý(chủ biên)2004: Đại từ điển tiếng Việt. - HN: Nxb Văn Hóa Thông Tin,1646tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông Tin
8. Nguyễn Thị Yên 2009: Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng-Nxb KHXH,52tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng
Nhà XB: Nxb KHXH
9. Phan An 2012: Người Việt Nam Bộ-Nxb Từ Điển Bách Khoa,134tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt Nam Bộ
Nhà XB: Nxb Từ Điển Bách Khoa
12. Trần Ngọc Thêm 2004:Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam-Nxb Tổng Hợp,Tp HCM,58tr,59tr, 233tr,241tr,243tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tổng Hợp
13. Trần Ngọc Thêm 2013: Những Vấn Đề Văn Hóa Học Lý Luận Và ứng Dụng-Nxb Văn Hóa-Văn Nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Vấn Đề Văn Hóa Học Lý Luận Và ứng Dụng
Nhà XB: Nxb Văn Hóa-Văn Nghệ
14. Trần Ngọc Thêm(chủ biên) 2013: Văn Hóa Người Việt Vùng Tây Nam Bộ-Nxb Văn Hóa-Văn Nghệ, 93-94tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Hóa Người Việt Vùng Tây Nam Bộ
Nhà XB: Nxb Văn Hóa-Văn Nghệ
15. Vũ Ngọc Khánh 2000: Đền Miếu Việt Nam-Nxb Thanh Niên, 574tr.II. TÀI LIỆU INTERNET 1. http://vi.wiktionary.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Miếu Việt Nam-
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
2. Đàm Gia Kiện 1993: Lịch Sử Văn Hóa Trung Quốc-Nxb KHXH,460tr Khác
5. Ngô Đức Thịnh 2012: Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam- Nxb Trẻ,10tr Khác
10. Sơn nam 2004:Đồng Bằng Sông Cửu Long-Nét sinh hoạt xưa và Văn Minh Miệt Vườn-Nxb Trẻ, 326tr Khác
11. Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009:134-146 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w