4/.Su cần thiết của Iiâns cao hiêu quả sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiêv nước ta hiên nay Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tậphợp các phương t
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sau hơn 10 năm đổi mới, các doanh nghiệp Nhà nước đạt được sự tăng trưởngkinh tế một cách hết sức khó khăn Thực tế cho thấy muốn có một kết quả kinh tếtăng trưởng cao, một mặt các doanh nghiệp phải huy động các nguồn lực mới,mặtkhác phải sử dụng chúng hết sức tiết kiệm, theo một quy hoạch cơ cấu mang tính dàihạn, tổng thể và có chiến lược Công việc kinh doanh ngày nay không chỉ giới hạntrong nước, mà ngày càng có quan hệ mật thiết với khu vực và quốc tế Do vậy, câuhỏi đặt ra đối với các doanh nghiệp Nhà nước là làm thế nào để nâng cao sức cạnhtranh của mình cả trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế
Với trình độ còn thấp, tiềm lực của các doanh nghiệp còn yếu hầu như trên tất
cả các mặt thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đã trở thành mối quan tâmhàng đầu của tất cả các doanh nghiệp Làm thế nào để có đủ vốn, để sử dụng vốn vàcác nguồn lực khác có hiệu quả giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng trưởng,thoát khỏi nguy cơ phá sản và chiến thắng trên thị trường cạnh tranh gay gắt nhưhiện nay.Đây đang là một bài toán khó đối với tất cả các doanh nghiệp
Công ty xây dựng số 1 Hà Nội cũng không nằm ngoài quy luật đó Từ khi thànhlập (năm 1972), Công ty đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, hiệu quả sản xuấtkinh doanh của Công ty đã ngày càng được nâng cao Nhưng để duy trì và phát triểntrong điều kiện hiện nay, Công ty cần phải cải tiến và nâng cao hơn nữa các mặt hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình
Vì vậy, qua thời gian thực tập tại Công ty xây dựng số 1 Hà Nội được sự hướngdẫn nhiệt tình của thầy giáo Trần Việt Lâm và các cô chú trong Công ty tôi đã hoàn
Chương III : Một sô giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh tại công ty xây dựng số 1 Hà Nội
Qua luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Trần ViệtLâm và các thầy cô giáo trong khoa đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệpnày
Trang 2CHƯƠNG I HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH NHÂN Tố QUYÊT
ĐỊNH Sự TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIEN CỦA DOANH NGHIỆP
I/.Hiệu quả sản xuất kinh doanh và vai trò của việc nâng cao hiệu
quả sản xuất kỉnh doanh
l/.Kháỉ niêm về hiêu quả sản xuất kinh doanh.
Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh song
có thể khẳng định trong cơ chế kinh tế thị trường mọi doanh nghiệp kinh doanh(doanh nghiệp Nhà nước, công ty TNHH, công ty cổ phần ) đều có mục tiêu baotrùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này trước hết doanhnghiệp phải xác định chiến lược kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển phù hợpvới những thay đổi của môi trường kinh doanh; phải phân bổ và quản trị có hiệu quảcác nguồn lực và luôn kiểm tra xem phương án kinh doanh đang tiến hành là có hiệuquả hay không ? Muốn kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh nóichung cũng như từng lĩnh vực từng bộ phận công tác nói riêng,doanh nghiệp khôngthể không chú ý đến việc tính toán hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinhdoanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tốđầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất Nó không chỉ làthước đo trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh mà còn là vấn đề sống còncủa doanh nghiệp
Hiện nay mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinhdoanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh song lại khó tìm thấy sựthống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh
Trang 3nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả
và trên lý thuyết thì đây là mức hiệu quả cao nhất mà một nền kinh tế có thể đạtđược Quan điểm này chỉ phản ánh sự phân bổ và quản trị có hiệu quả các nguồn lựcchứ chưa phản ánh hết mức độ hiệu quả giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra vàtính hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh
Quan điểm thứ hai cho rằng :"Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phầntăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí."[Xem 2,trang 253]
Quan niệm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả kinh doanh của phần "tăng thêm”chứ không phải toàn bộ phần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nócũng đã biểu hiện được quan hệ so sánh tương đối giữa giữa kết quả đạt được và chiphí tiêu hao Nếu xét theo quan điểm của triết học Mác-Lênin thì mọi sự vật hiệntượng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồntại một cách riêng lẻ, hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu
tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với yếu tố sẵn có,trực tiếp hoặc gián tiếp tácđộng làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi Như vậy theo quan điểm này tínhhiệu quả kinh doanh chỉ được xem xét tới phần kết quả bổ xung hoặc cho chi phí bổxung
Quan điểm thứ ba của Manữed Kuhn cho rằng:" Tính hiệu quả được xác địnhbằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh” [Xem1,trang 408] tức là hiệu quả kinh doanh được xác địng bởi tỷ số giữa kết quả đạtđược và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Quan điểm này đã gắn được kết quả vớitoàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào Tuynhiên quan niệm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả
và chi phí, chưa phản ánh mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này
Trang 4tế phát sinh với chi phí đặt ra trước đó( chi phí kế hoạch ) Để đạt được hiệu quả chiphí kinh doanh thì phải phân bổ nguồn lực và quản trị có hiệu quả để giảm thiểu chiphí Do vậy quan điểm này chưa xét tới toàn bộ quá trình hiệu quả sản xuất kinhdoanh.
Quan điểm thứ năm của nhà kinh tế học người Anh Adamsmit cho rằng:“Hiệuquả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hànghoá"[Xem 2,trang 253] Nhà kinh tế học người Pháp Ogiephri cũng quan niệm nhưvậy Ớ đây hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh Rõ ràng quan điểm này khó giải thích khi kết quả sản xuất kinh doanh
có thể tăng do tăng chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất Nếu cùng mộtkết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng ta có cùng hiệuquả
Quan điểm thứ sáu cho rằng :"Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêucầu của quy luật kinh tế co bản của CNXH, cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách làchỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp"[Xem 2,trang254].Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất XHCN là khôngngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Song khó khăn ở đây làphương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó Đời sống nhân dân nói chung
và mức sống nói riêng rất đa dạng và phong phú nhiều hình, nhiều vẻ, phản ánhtrong các chỉ tiêu mức độ thoả mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao dời sống là điềukiện khó khăn
Quan điểm thứ bảy cho rằng :“Hiệu quả kinh tế của một quá trình sản xuấtkinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực(nhân,tài,vật,lực,tiền vốn)để đạt được mục tiêu xác định"[Xem 4,trang9] .Quan điểmnày đã đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện
“động”của hoạt động sản xuất kinh doanh Với quan niệm này hoàn toàn có thể tính
Trang 5(1)
Ei = -c
Trong đó : Eịà hiệu quả kinh doanh
K là kết quả đầu ra
c là yếu tố đầu vào
Công thức (1) phản ánh mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo bao nhiêu đơn vịđầu ra và được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn lực hay chiphí thường xuyên đến kết quả kinh tế
Người ta cũng có thể đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh theo công thức:
Trang 6bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp và được đo bằng các đơn vị hiện vật hoặcđơn vị giá trị.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được phản ánh thông qua kết quả và chi phí Chiphí là tất cả nhũng gì mà doanh nghiệp hoặc bộ phận bỏ ra để đạt được, thực hiệnđược các kết quả đề ra trong thời kỳ tính toán Chi phí ở đây bao gồm chi phí tạo ranguồn lực, chi phí sử dụng nguồn lực và chi phí cơ hội
Mỗi một doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mìnhcần phải hoạch định chiến lược kinh doanh để đạt kết quả tối đa và chi phí tối thiểu,khi đó sẽ đạt được cả kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh
3/.Đăc điểm của vham trù hiêu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là khái niệm phức tạp và khó đánh giá chính xác
Sở dĩ như vậy là vì hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bởi mối tương quangiữa hai đại lượng kết quả và chi phí mà hai đại lượng này đều khó xác định chínhxác
Về kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, rất ít khi gặp doanh nghiệp xácđịnh chính xác kết quả ở bất kỳ một thời điểm nào, do quá trình tạo ra kết quảthường có sản phẩm dở dang, bán thành phẩm.Trong nền kinh tế thị trường, doanhnghiệp không chỉ tạo ra kết quả (sản phẩm,dịch vụ) mà còn phải bán được kết quả đóvào quá trình bán hàng và quá trình tạo ra kết quả đó luôn luôn không trùng nhau
Do vậy nếu doanh nghiệp sản xuất được nhiều sản phẩm song lại tiêu thụ được rất ít,như thế chưa thể nói doanh nghiệp đã đạt kết quả Nếu xét trên giác độ giá trị, kếtquả sản xuất kinh doanh còn chịu ảnh hưởng của thước đo giá trị - đồng tiền vớinhững thay đổi của nó trên thị trường
Trang 7mọi mặt hàng đúng bằng lợi ích biên của nó đối với người tiêu dùng,xã hội đạt được
sự phân bổ nguồn lực sản xuất tối ưu
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo quyết định của người sản xuấthướng theo chi phí biên (MC) bằng giá cả thị trường:P=MC=lợi ích biên của ngườitiêu dùng.Trong thực tế khi ra các quyết định sản xuất kinh doanh của mình, cácdoanh nghiệp thường hướng vào mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận (chỉ chú ý tới hiệu quảsản xuất kinh doanh trước mắt) nên dẫn đến chi phí biên cá nhân (MPC) thấp hơn chíphí biên xã hội (MSC).Điều này dẫn đến sự tách biệt giữa kết quả và hiệu quả cá biệt
xã hội
Nhiều doanh nghiệp cố tình giảm thiểu chi phí cho việc sử lý chất thải, gây ônhiễm môi trường,ảnh hưởng đến cả một khu vực rộng lớn, cuối cùng sẽ dẫn đếnđóng cửa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng các biện pháp pháp luật Nhưvậy kết quả và hiệu quả đạt được trước mắt của doanh nghiệp đã dẫn đến không cóhiệu quả và thậm chí phi hiệu quả kinh doanh nếu xét trong thời gian dài
4/.Su cần thiết của Iiâns cao hiêu quả sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiêv nước ta hiên nay
Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tậphợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp lao độngvới các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp.Mục tiêubao trùm, lâu dài của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận,tối đa hoá lợi nhuận trên
cơ sở nguồn lực sẵn có.Để đạt được mục tiêu này quản trị doanh nghiệp phải dùngnhiều biện pháp khác nhau.Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để các nhàquản trị thực hiện các chức năng quản trị của mình.Việc xem xét và tính toán hiệuquả kinh doanh không nhũng chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còncho phép các nhà quản trị phân tích,tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thíchhợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao
Trang 8cầu của con người lại là một phạm trù vô hạn Nhu cầu không có giới hạn - càngnhiều, càng phong phú, càng có chất lượng cao càng tốt Do vậy của cải đã khanhiếm lại càng khan hiếm hơn theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó.Khan hiếmđòi hỏi và buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế tối ưu Nhưng khanhiếm mới chỉ là điều kiện cần để buộc con người phải lựa chọn kinh tế
Điều kiện đủ cho sự lựa chọn kinh tế là cùng với sự phát triến của kỹ thuật sảnxuất thì càng ngày càng có nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm Kỹthuật sản xuất phát triển cho phép với cùng nhũng nguồn lực đầu vào nhất định,người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Điều này cho phép cácdoanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế,lựa chọn sản xuất kinh doanh sảnphẩm(cơ cấu sản phẩm) tối ưu Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệphiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất
Như vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tức là nâng cao khả năng sửdụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu.Trong điềukiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh làđiều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào
Trong cơ chế thị trường ,việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản dựa trên quan
hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác Các doanh nghiệp phải tự raquyết định kinh doanh của mình, tự hạch toán lỗ,lãi,lãi nhiều hưởng nhiều, lãi íthưởng ít, không có lãi sẽ đi đến phá sản.Lúc này, mục tiêu lợi nhuận là mục tiêuquan trọng nhất, mang tính chất sống còn của sản xuất kinh doanh
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải cạnh tranh vớinhau để tồn tại và phát triển Môi trường cạnh tranh khá gay gắt do đó có doanhnghiệp trụ vững và phát triển sản xuất nhưng cũng có không ít doanh nghiệp bị thua
Trang 9học của tổ chức phát triểnKTQD VN-PTS Phan Thanh Phố).Trong những năm quatrên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 10% doanh nghiệp đầu tư với số vốntrên 10 tỷ đồng/doanh nghiệp,còn 90% số doanh nghiệp còn lại có mức đầu tư thấphơn Phần lớn các doanh nghiệp mới chỉ hoạt động 50%-60% công suất hiện có.
“Trong năm 1999 có 587 doanh nghiệp còn lỗ với số tiền lỗ lên đến 385 tỷ đồng,bình quan mỗi doanh nghiệp lỗ là 655,8 triệu đồng Nếu tính cả 480 doanh nghiệptrong năm hoà vốn thì số doanh nghiệp lỗ và không có lãi lên đến 1067 doanhnghiệp chiếm 17% tổng doang nghiệp Nhà nước”(KTXHVN-Thực trạng xu thế vàgiải pháp-PTS Lê mạnh Hùng) Hiệu qủa kinh doanh của các doanh nghiệp còn thấp,
do các doanh nghiệp thường có quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh kém, thiếu vốn,khó khăn về thị trường tiêu thụ, nên mức lãi chưa cao Như vậy nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là mục tiêu cơ bản, quan trọng, đồng thời
nó còn phản ánh sự sống còn của mỗi doanh nghiệp vì nó là điều kiện kinh tế cầnthiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
II/.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ SẢN XUÂT
KINH DOANH
Phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù rộng,vì vậy có rất nhiềunhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh và có rất nhiều cách để phânloại nhân tố đó Thông thường người ta chia các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sảnxuất kinh doanh làm hai nhóm Nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bênngoài
A/.NHÓM NHÂN Tố BÊN TRONG DOANH NGHIỆP
l/.Lưc lương lao đông
Khoa học kỹ thuật công nghệ ngày nay đã trở thành lực lượng lao động trựctiếp Mỗi một doanh nghiệp áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện tiên quyết để tăng
Trang 10không hết công suất, gây thiệt hại lớn cho hoạt động sản suất , kết cục là hiệu quảkinh doanh rất thấp.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,lực luợng lao động củadoanh nghiệp tác động trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh theo các hướng:
-Nếu trình độ lao động là tương ứng thì sẽ góp phần vận hành có hiệu quả cácyếu tố vật chất trong quá trình kinh doanh
-Nếu cơ cấu lao động phù hợp sẽ góp phần sử dụng có hiệu quả bản thân yếu tốlao động trong sản xuất kinh doanh đồng thời góp phần tạo lập và điều chỉnh mốiquan hệ tỷ lệ hợp lý giữa các yếu tố trong quá trình kinh doanh
-Ý thức , tinh thần trách nhiệm, kỷ luật lao động là các yếu tố cơ bản, quantrọng để phát huy nguồn lực lao động trong quá trình kinh doanh Do đó để đạt đượchiệu quả sản xuất kinh doanh thì mỗi doanh nghiệp cần phải tạo cho mình một độingũ lao động có kỷ luật, có kỹ thụât và chấp hành các quy định trong quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngày nay, sự phát triển khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nềnkinh tế tri thức, đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực lượng rất tinh nhuệ, có trình độ
kỹ thuật cao Điều này khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lực lượng laođộng đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2/.Trình đô vhát triển cơ sở vát chất kỹ thuât và ứỉig duns tiến bô kỹ thuât vào sản xuất
Trang 11triển kinh tế Do vậy các doanh nghiệp phải tìm giải pháp đầu tư đúng đắn,chuyểngiao công nghệ phù hợp với trình độ công nghệ tiên tiến của thế giới,bồi dưỡng vàđào tạo lực lượng lao động làm chủ được công nghệ kỹ thuật hiện đại để làm cơ sởcho việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
3/.Hê thông trao đổi và xử lý thông tin
Trong thời đại bùng nổ về khoa học công nghệ thông tin như hiện nay, thông tin
và hệ thống xử lý thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các nhà kinh doanhtrong nền kinh tế thị tường.Thông tin được coi là hàng hoá,là đối tượng lao động củacác nhà kinh doanh Mỗi một doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh để đạt được thành công thì cần rất nhiều thông tin chính xác về thị tường, vềcông nghệ kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh,về giá cả đồng thờidoanh nghiệp cũng cần phải biết về sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệptrong và ngoài nước, về sự thay đổi chính sách của Nhà nước và của nước ngoài để
có các chiến lược kinhdoanh trong tương lai
Những thông tin kịp thời ,chính xác sẽ giúp doanh nghiệp xác định phươnghướng kinh doanh và hoạch định các chương trình sản xuất kinh doanh trong ngắnhạn đồng thời xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn từ đó doanh nghiệp xác địnhphương án sản xuất tối ưu nhằm đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn
4/.Nhân tô quản tri
Trong kinh doanh nhân tố quản trị có vai trò vô cùng quan trọng: Quản trịdoanh nghiệp có vai trò xác định cho doanh nghiệp có một hướng đi đúng trong hoạtđộng kinh doanh,xác định chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Chấtlượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sựthành công, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hay thấp, đối với một doanh nghiệptrong nền kinh tế thị trường
Trang 12Mặc dù hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp chịu tác động từrất nhiều nhân tố nhưng nhân tố quản trị doanh nghiệp là một trong những nhân tố
có tác động mạnh mẽ nhất Do đó mỗi doanh nghiệp cần phải chú ý phát triển nhân
tố quản trị nhằm đạt hiệu qủa sản xuất kinh doanh cao hơn
5Ị.Nhân tô tính toán kinh tê
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bởi tương quan giữa hai đại lượngkết quả thu được và chi phí bỏ ra.Cả hai đại lượng đều phức tạp và khó đánh giáchính xác Cùng với sự phát triển của khoa học quản trị kinh doanh càng ngày người
ta càng tìm ra phương pháp đánh giá đảm bảo dần dần tiếp cận với tính “thật” củahai đại lượng này.Trong hai đại lượng đó nếu xét trên phương diện giá trị và coi lợinhuận là kết quả thu được, chi phí là cái bỏ ra thì cả kết quả và chi phí đều có quan
hệ biện chứng với nhau và chúng đựơc biểu diến như sau:
Sự khó xác định trước hết ở quan niệm về hai yếu tố này và cần chú ý rằng cái gì
là lợi nhuận thì sẽ không phải là chi phí và ngược lại, cái gì được quan niệm là chiphí sẽ không phải là lợi nhuận Có rất nhiều dẫn chứng để chứng tỏ sự không thốngnhất trong quan niệm này,ví dụ trước đây chúng ta quan niệm thuế nằm trong phạmtrù lợi nhuận và là một phần của lợi nhuận.Do vậy ảnh hưởng của tính toán kinh tếđến hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là nằm ở sự phức tạp trong quan niệm về haiyếu tố này
Trang 13tức là doanh nghiệp không những chỉ chú ý đến kết quả và hiệu quả riêng mà cònphải chú ý đến lợi ích của các thành viên khác trong xã hội.
2Ị.MÔÌ trường kinh tế: là các nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp như các chính sách đầu tư,chính sách cơcấu, lạm phát,biến động tiền tệ,hoạt động của đối thủ cạnh tranh,là các nhân tố tácđộng trực tiếp tới các quyết định cung cầu của từng doanh nghiệp và từ đó tác độngmạnh mẽ đến kết quả và hiệu quả của hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp
3/.Các yếu tô thuôc cơ sở ha tầng: như hệ thống đường giao thông ,hệ thống
thông tin liên lạc ,điện,nước,cũng như sự phát triển của giáo dục và đào tạo(trình độdân trí), đều là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp.Một doanh nghiệp Nếu có những điều kiện thuận lợi như nằmngay trên trục đường giao thông chính,gần nguồn nguyên vật liệu,gần khu dân cưđông đúc,thì sẽ giảm được các chi phí,tăng khả năng tiêu thụ,từ đó đạt hiệu quả kinhdoanh của mình
Trình độ dân trí cũng tác động rất lớn đến chất lượng của lực lượng lao động xãhội do đó tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực của doanh nghiệp Chất lượng củađội ngũ lao động lại là nhân tố bên trong ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
III/ XÂY DỤNG NGÀNH SẢN XUÂT VẬT CHAT ĐẶC THÙ
TRONG NỂN KINH TÊ QUỐC DÂN
1 Ị.Tình hình vhát triển và vai trò của ngành xây dưng trong quá trình công nghiên hoáMiên đai hoá đất nước
1.1 /.Tình hình phát triển
Trong những năm qua, cùng với quá trình dổi mới ngành xây dựng đã có những
Trang 14chiến lược :“Khẩn trương tạo nền tảng kinh tế kỹ thuật cho sự phát triển của nhữngnăm đầu thế kỷ 21 và xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc cho công cuộc xây dựng vàbảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”
1.2/ Vai trò của ngành xây dựng trong quá trình CNH-HĐH đất nước
Xây dựng là một trong những ngành sản xuất vật chất lớn nhất(ngành cấp I)củanền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của quá trình sáng tạonên cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định cho mọi lĩnh vực hoạt động của đấtnước.Có thể nói không một ngành sản xuất nào,không một hoạt động văn hoá nào làkhông sử dụng sản phẩm của ngành xây dựng
-Các công trình xây dựng luôn có tính chất kinh tế,kỹ thuật,văn hoá,nghệ thuật
và xã hội tổng hợp.Một công trình mới được xây dựng thường được kết tinh của cácthành quả khoa học, kỹ thuật của ngành.Vì vậy các công trình xây dựng có tác dụngquan trọng đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế,đẩy mạnh việc phát triển khoa học kỹthuật ,góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,góp phần pháttriển văn hoá và nghệ thuật kiến trúc,có tác động quan trọng đến môi trường sinhthái
-Hoạt động xây dựng cơ bản được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau(như thiếtkế,thi công)ứng với các giai đoạn này là các bộ phận,các đơn vị.Các bộ phận,đơn vị
đó cũng được xem là các dơn vị snả xuất trực tiếp như các doanh nghiệp khác và nócũng tạo ra sự tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức như nộpthuế cho nhân sách nhà nước
Trang 152Ị.Đăc điểm kinh tế-kỹ thuât của ngành xây dưng
2.1 /.Đặc điểm của ngành xây dựng
Hoạt động xây dựng cơ bản (XDCB)là những hoạt động nhằm tạo ra những tàisản cố định(đó chính là những công trình sử dụng lâu dài trong toàn bộ nền kinh tếquốc dân)thông qua các hình thức như: Xây dựng mới,cải tạo mở rộng,sửa chữa lớn,khôi phục nó là một trong những lĩnh vực sản xuất vật chất lớn nhất của nền kinh tếquốc dân Nhiệm vụ của ngành xây dựng là trực tiếp thực hiện và hoàn thiện khâucuối cùng của quá trình hình thành tài sản cố định(thể hiện ở những công trình nhàxưởng bao gồm cả thiếp bị, công nghệ được lắp đặt kèm theo) cho toàn bộ các lĩnhvực sản xuất của nền kinh tế quốc dân và các lĩnh vực phi sản xuất khác.Tuy nhiênnhiệm vụ chủ yếu của ngành xây dựng là kiến tạo các kết cấu công trình để làm vậtbao che,nâng đỡ,lắp đặt các máy móc cần thiết vào công trình để đưa chúng vào sửdụng
Theo thống kê cho thấy chi phí công tác xây lắp thể hiện phần tham gia củangành công nghiệp xây dựng trong việc sáng tạo ra tài sản cố định chiếm từ 40%-60% (cho công trình sản xuất) và 75% -90% (cho công trình phi sản xuất) Phần giátrị thiếp bị máy móc lắp đặt vào công trình thể hiện phần tham gia của ngành chế tạomáy ở đây chiếm 30%-52% ( cho công trình sản xuất) 0%-15% (cho công trình phisản xuất) Giá trị tài sản cố định sản xuất của ngành công nghiệp xây dựng kể cả cácngành liên quan đến việc phục vụ cho ngành xây dựng cơ bản như vật liệu xây dựng,chế tạo máy chiếm khoảng 20% tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân Còn theo
số liệu của nước ngoài, thì phần sản phẩm của ngành xây dựng chiếm khoảng 11%tổng sản phẩm xã hội, lực lượng lao động chiếm 14% lực lượng lao động của khuvực sản xuất vật chất
2.21 Các đặc điểm của sản phẩm xây dựng
Sản phẩm trực tiếp của ngành công nghiệp xây dựng chỉ bao gồm các công việckiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che và nâng đỡ, các công việc lắpđặt thiết bị máy móc cần thiết vào công trình xây dựng để đưa chúng vào hoạt động
Trang 16Nếu có : Q0 = a0b0c0 và Qị = a,b|C|
Q = Q| - Qo = 4i + Ab + Ac
Aa= a 1 b0c0 — a0b0c0
Q = abc
AQa = (a, - an)b(,c0
-Sản phẩm của ngành xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phươngmang nhiều tính cá biệt cao về công dụng,về cách cấu tạo và phương pháp chế tạo
-Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn,chi phí lớn ,thời gian xây dựng, sửdụng lâu dàivà khó sửa chữa
-Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật,kinh tế,văn hoá,nghệthuật và quốc phòng
2.3/.Những đặc điểm của sản xuất trong xây dựng
-Tinh hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu ổn định,luôn biến độngtheo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng của công trình.Cụ thể trong xây dựngcon người và công cụ luôn phải di chuyển từ công trình này sang công trình khác cònsản phẩm xây dựng thì lại đứng yên.Các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổchức sản xuất cũng phải luôn luôn thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xâydựng Điều này gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất ,khó cải thiện điều kiện làmviệc cho người lao động,làm phát sịnh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượngsản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất
-Chu kỳ sản xuất thường dài,dẫn tơí vốn đầu tư bị ứ đọng tại công trình,đồngthời làm tăng các khoản phụ phí thi công khác như chi phí bảo vệ, chi phí hànhchính
-Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường hợp cụ thể,
3/.Phương pháp sử dung trong quá trình phân tích
Do đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành xây dựng để xác định xu hướng vàmức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, bài viết sử dụng phươngpháp loại trừ để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó bằng cách loại trừảnh hưởng của các nhân tố khác Phương pháp loại trừ được sử dụng để phân tíchdưới hai dạng :
-Thay thế liên hoàn: đây là phương pháp xác định ảnh hưởng của nhân tố bằngcách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích đểxác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau đó so sánh trị số của chỉ tiêuvừa tính được với trị số của chỉ tiêu chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định sẽtính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó
Trang 17- Phương pháp số chênh lệch: thực chất của phương pháp này là hình thức biếntướng của phương pháp thay thế liên hoàn Nó khác ở chỗ khi xác định ảnh hưởngcủa nhân tố ,người ta xác định thông qua chênh lệch trị số của chính bản thânnhân tố đó.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH Ở CÔNG TY XÂY DỤNG số 1 HÀ NỘI
I/ Giói thiệu chung về Công ty
1! Lich sử hình thành và phát triển của Công ty xây dưns sô 1 Hà nôi
Công ty Xây dựng nhà ở số 1 Hà nội (HANOI CONSTRUCTION COMPANYN° 1) là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở xây dựng Hà nội được thành lập theoquyết định số 626/QĐ - UB ngày 25 tháng 1 năm 1972 của Uỷ ban hành chính thànhphố Hà nội và được thành lập lại theo quyết định số 129/Q-ƯB ngày 10 tháng 2 năm
1993 của ƯBND thành phố Hà nội
Từ năm 1972 đến năm 1976 Công ty thực hiện nhiệm vụ của thành phố Hà nội:Đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho CBCNV và nhân dân lao động ,Công ty đã tiến hànhxây dựng các khu nhà lắp ghép hai tầng ở khu ngoại ô Hà nội như: khu nhà ở tập thểYên Lãng ,Trương Định Lúc mới hình thành do chưa được đầu tư ,năng lực chưa đủmạnh ( chỉ dựa trên cơ sở sẵn có của hai Công ty lắp ghép 1 và lắp ghép 2 sát nhậplại) nên sản lượng của Công ty chỉ đạt được từ 10.000 m2 - 13.000 m2 nhà ở lắp ghép
2 tầng hàng năm
Từ năm 1977 đến năm 1990 ,Công ty đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trongthi công và quản lý và đã xây dựng nhiều loại hình nhà ở mới bằng phương pháp lắpghép Loại nhà lắp ghép 4 tầng như khu vực Khương Thượng -Trung Tự -Đống Đa.Loại nhà lắp ghép 5 tầng như Bách Khoa -Thành Công -Giảng Võ - Nghĩa Đô, sảnlượng hàng năm của Công ty từ 25000 m2 - 28000 m2 nhà ở lắp ghép cao tầng Cábiệt có năm đạt cao nhất là 32000 m2 nhà ở được bàn giao Đạt được sản lượng nhưvậy là do năng lực của Công ty đã được đầu tư ngày càng lớn,chủ yếu thi công bằng
cơ giới Lực lượng lao động của Công ty lên tới 3.000 người, bao gồm các công nhân
kỹ thuật như: lái cẩu, lái xe; các loại công nhân kỹ thuật khác có trình độ và tay nghềvững vàng, được tổ chức hợp lý nên đã thi công hoàn chỉnh các căn hộ có chất lượng
Trang 18khó khăn xuất hiện Từ chỗ Nhà nước đảm bảo việc làm cho cán bộ công nhân viên,đảm bảo điều kiện làm việc cho công nhân , chăm lo đời sống cho các cán bộ côngnhân viên đến chỗ Công ty phải tự lo liệu lấy việc làm ,tự hạch toán kinh doanh,lời
ăn, lỗ chịu.Kế hoạch Nhà nước giao cho Công ty không đáng kể ,vấn đề đặt ra choCông ty là làm sao tìm được việc làm cho công nhân để công nhân có việc làm phùhợp với khả năng của mình vừa có thu nhập và đảm bảo đời sống Lãnh đạo củaCông ty đã mạnh dạn mở ra một hướng mới là nhận các công trình ngoài việc xâydựng nhà theo phương pháp lắp ghép.Công ty chuyển sang hướng mới là xây dựngnhà khung ,xây tay thay cho nhà lắp ghép.Một loạt vấn đề đặt ra: Công nhân xâydựng chủ yếu quen phương pháp lắp ghép nay chuyển sang xây tay còn nhiều bỡngỡ, tay nghề thấp Công trình nhận ngoài không những phải đảm bảo yêu cầu về kỹthuật mà còn phải đảm bảo về mặt mỹ thuật cho nên một số đơn vị không có việclàm vì số lượng công nhân lành nghề là rất ít ,công nhân phổ thông thì thừa nhiềuhoặc một số thợ trái tay nghề nên không bố trí được công việc phù hợp Trong tìnhhình đó Công ty tiến hành sắp xếp lại bộ máy sản xuất từ Công ty đến các đơn vị saocho gọn nhẹ nhưng có hiệu quả trong sản xuất như : giải tán hoặc sát nhập một sốđơn vị đồng thời cũng thành lập một số đội mới cho phù họp với điều kiện môitrường kinh doanh của Công ty
Mặt khác ,trong những năm gần đây số công trình thuộc vốn ngân sách đượcgiao ngày càng ít nên công ty đã khai thác mọi tiềm năng sẵn có về đất đai, thiết bịlao động, mạnh dạn vay vốn ngân hàng để xây dựng nhà ở để bán, đồng thời tăngcường liên doanh liên kết với các Công ty bạn và với nước ngoài, mở rộng đa dạnghoá các sản phẩm xây dựng ,làm các công trình kỹ thuật hạ tầng,xây dựng các hệthống cấp nước ,thoát nước có sản lượng lớn và tính chất kỹ thuật tương đối phứctạp nên đã đảm bảo được đời sống của cán bộ công nhân viên và các nghĩa vụ vớiNhà nước
Một số công trình tiêu biểu trong các năm qua là :Tmng tâm giao dịch thuỷ sảnSeapodex, các biệt thự làng Vạn Phúc ,làng Việt Nhật ,chợ Đồng Xuân, Viện Triếthọc
Trang 19Qua 28 năm xây dựng và trưởng thành ,Công ty xây dụng nhà ở số 1 Hà nội đãđạt được những thành tựu to lớn góp phần tạo lên cơ sở vật chất kỹ thuật của nềnkinh tế nước ta Quá trình lớn mạnh của Công ty gắn liền với sự phát triển xây dựngtại Việt Nam nói chung và Sở xây dựng nói riêng.
số 1 Hà nội trực thuộc Sở xây dựng Hà nội do đó chịu sự quản lý của Sở xây dựng
Hà nội và có các chức năng chủ yếu được giao sau:
b Nhiệm vụ:
Trang 20-Làm các dịch vụ về xây dựng từ A đến z dịch vụ mua bán nhà trong thành phố,
kinh doanh làm nhà bán và cho thuê
-Liên doanh liên kết với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nuớc,có tư cáchpháp nhân để nhận thầu các công trình xây dựng ,thực hiện các dự án đầu tư với mọithành phần kinh tế theo quy hoạch được duyệt trong khuôn khổ luật pháp quy định
-Xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng ,công trình giao thông đường bộ ,côngtrình thuỷ lợi vừa và nhỏ
-Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng gồmicác loại bê tông,gạch khôngnung và đã ốp lát,các kết cấu gỗ ,thép ,khung nhôm phục vụ xây dựng
-Được mở cửa hàng làm đại lý và kinh doanh vật liệu xây dựng như sắt,thép ,ximăng,gạch xây dựng các loại ,đồ trang trí nội thất
-Lập ,quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản để phát triển các đô thị, khu phốmới và các công trình đô thị khác
-Được liên doanh ,liên kết với các tổ chức ,các nhân trong và ngoài nước để pháttriển sản xuất và thực hiện các đề án đầu tư cuả Công ty
II/ Những đặc điểm kinh tê - kỹ thuật
l/Đãc điểm vê côns nghê và máy móc thiết bi của Côtiỉỉ ty
Trang 21Qua bảng trên ta thấy Công ty đang quản lý lực lượng máy móc thiết bị lớn ,ảnhhưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh và chất lượng sản phẩm
Do tính chất đặc thù của nghành xây dựng ,đòi hỏi phải có một hệ thống máymóc thiết bị đồ sộ cả về số lượng và chủng loại Do đó Công ty xây dựng số 1 Hà nộicũng như các doanh nghiệp xây dựng Nhà nước khác không đủ khả năng trang bịcho mình những máy móc thiết bị hiện đại đáp ứng các công trình đòi hỏi kỹ thuậtcao do một số loại máy móc có chi phí quá lớn mà mức độ sử dụng chúng trong sảnxuất lại không liên tục.Điều này cản trở trực tiếp đến chiến lược đa dạng hoá sảnphẩm có năng suất, chất lượng cao, từ đó ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả sản xuấtkinh doanh của Công ty
Theo số liệu thống kê sơ bộ ,hàng năm vốn đầu tư phục vụ đổi mới công nghệ,thiết bị của dôanh nghiệp là khá lớn: Năm 1997 là 459 tỷ đồng; năm 1998 là 1279
tỷ đồng; năm 1999 là 817 tỷ đồng Khoảng 60% thiết bị thi công là loại tốt, được đầu
tư trang bị từ sau năm 1995,trong đó có nhiều thiết bị thi công hiện đại của các nướcphương Tây Nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng,thi công xây lắp đãmạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ như :Tổng công ty xây dựng Sông Hồng ,Tổngcông ty xây dựng Hà nội , Công ty xây dựng số 7 đối với Công ty xây dựng số 1 Hànội chiến lược trong những năm tới sẽ đổi mới một số thiết bị phục vụ cho quá trìnhsản xuất thi công công trình như:Máy phun vữa, máy nghiến đá,máy luồn cáp đểđáp ứng được nhu cầu thị trường gay gắt như hiện nay
2!Đăc điểm lao đông của Công ty
Trong bất cứ một nghành nghề nào thì yếu tố lao động cũng là một trong nhữngyếu tố có vai trò quan trọng bậc nhất Lao động là nguồn gốc sáng tạo ra sản phẩm,
là nhân tố quyết định nhất của lực lượng sản xuất kinh doanh Nhờ có lao động vàthông qua các phương tiện sản xuất mà các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu có thểkết hợp với nhau tạo ra thực thể sản phẩm Như vậy việc nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh chịu ảnh hưởng rất lớn vào yếu tố lao động
Biểu 3: Chất lượng công nhân kỹ thuật
Trang 23Qua bảng trên ta thấy số lượng cán bộ lãnh đạo ,quản lý,làm công tác khoa
học-kỹ thuật là 180 người, trong đó có 106 người có trình độ đại học chiếm 58,89%, 3người có trình độ cao đẳng chiếm 1,67% và 71 gnười có trình độ trung cấp chiếm39,44% Đây là một tỷ lệ cao ,thể hiện số cán bộ quản lý có trình độ cao trong công
ty là rất lớn Điều này tạo điều kiện tốt cho công ty trong việc điều hành hoạt độngsản xuất kinh doanh ,đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công ty thực hiện chiến
Tuy nhiên ta thấy :
Tổng số lao động gián tiếp 180
Tỷ lệ lao động gián tiếp = - = - X 100= 14,62%
Tổng số cán bộ công 1231
nhân viên trong kỳ
(Giáo trình kinh tế và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp-trang 130)
Tỷ lệ lao động gián tiếp = 14,62%>10% điều này thể hiện bộ máy quản lý của công
ty còn chua đuợc tinh giảm tối uu ,bộ máy quản lý của Công ty vẫn còn trồng chéo,nhiều phòng ban làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Theo biểu 3 số lượng công nhân kỹ thuật thì thợ bậc cao từ bậc 5 đến bậc 7 là
138 người chiếm 22,18% tổng số công nhân của Công ty Thợ bậc 4 trở xuống là 272người chiếm 43,73% Lao động phổ thông như :Bảo vệ,tiếp liệu là 119 người chiếm19,13% Đối với khối dịch vụ thì tổng số công nhân là 93 người chiếm 14,95%.Đây
là một tỷ lệ khá cao, góp phần rất quan trọng vào việc tăng năng suất lao động vàhiệu quả kinh doanh của Công ty
Trang 24m
BìnhTổng
sôđến
Tổng sô
NữHợp
Lương và
BHXH
-Làng du lịch Việt Nhật- Thuỵ Khuê( trị giá 2,5 tỷ)
-Trung tâm giao dịch quốc tế Bộ thuỷ sản Seapodex(trị giá 4,1 tỷ)
Công trình hạ tầng :
-Hệ thống cấp thoát nước quận Ba Đình (trị giá 4,1 tỷ)
-Kè,hạ tầng kỹ thuật xung quanh Hồ Tây(trị giá 10 tỷ)
-Kè,hạ tầng kỹ thuật xung quanh hồ Đống Đa(sản lượng 4 tỷ)
4/Đăc điểm chế đô tiền lương:
Trong sản xuất,tiền lương là một yếu tố chi phí ,là một bộ phận của kế hoạch laođộng nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động Đối với người laođộng, tiền lương để cải thiện đời sống, khuyến lhích nâng cao tay nghề chuyên môn.Tiền lương mang ý nghĩa đòn bẩy ,thúc đẩy kích thích sản xuất phát triển
Hiện nay Công ty đang áp dụng chế độ tiền lương theo nghị định 28 CP ngày28/3/1997 của Chính Phủ và các thông tư hướng dẫn số Ĩ3,14,15/LĐTBXH-TT của
-Hình thức trả lương theo sản phẩm:Đươc trả căn cứ vào đơn giá tiền lương, số
lượng sản phẩm hoàn thành Với hình thức này sẽ kích thích mạnh mẽ người lao độnglàm việc bởi tiền lương của người lao động nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả hoànthành công việc,do vậy mỗi người trong công ty đều cố gắng hoàn thành vượt mức
Trang 25Qua biểu 4 ta thấy mức thu nhập bình quân 1 người /tháng đã dần tăng lên theoqua các năm.Năm 1997 thu nhập bình quân là 512 nghìn đồng/người/tháng thángnăm 1998 đã tăng lên 541 nghìn đồng/người/tháng đạt 105,6% so với năm 1997.Sang năm 1999 thu nhập bình quân của toàn Công ty tăng lên 11,8% so với năm
1998 đạt 605nghìn đồng /người/thángmặc dù năm 1999 tổng doanh thu của Công tygiảm.Đến năm 2000 tổng doanh thu của công ty tăng mạnh do đó tổng quỹ lươngtăng dẫn đến thu nhập bình quân của Công ty tăng lên 720 nghìn đồng/người/thángđạt 119% so với năm 1999
5/Đăc điếm nguyên vât liêu:
Nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành sản phẩm đồng thời nó quyết định đến chấtlượng sản phẩm.Trong xây dựng nguyên vật liệu có tính chất quyết định đối với chấtlượng của công trình Hay nói cách khác chất lượng của công trình được quyết địnhbởi chất lượng nguyên vật liệu
Công ty xây dựng số 1 với đặc thù về sản phẩm là đơn chiếc do vậy mà nguyênvật liệu của Công ty chủ yếu là những nguyên vật liệu phục vụ cho ngành xây dựngnhư : xi măng ,sắt,thép, đá ,sỏi, cát Mặc dù Công ty luôn đặt chất lượng công trìnhlên hàng đầu nhưng không có nghĩa là phải sử dụng nguyên vật liệu đắt tiền để thicông mà còn phải xét đến yêu cầu ,tính chất công trình như thế nào để từ đó sử dụngnguyên vật liệu nào cho phù hợp vừa đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật chất lượng vàchi phí sản phẩm thấp làm tăng hiệu quả kinh tế Do trên thị trường vật liệu xâydựng hiện nay rất phong phú và đa dạng về chủng loại vì thế đối với mỗi một côngtrình Công ty phải lựa chọn sử dụng các loại nguyên vật liệu với các thông số, chỉtiêu kỹ thuật ,số lượng khác nhau Để có được các loại nguyên vật liệu đảm bảo chấtlượng Công ty luôn có mối quan hệ tốt với các nhà cung ứng như: Nhà máy xi măngBỉm Sơn,công ty TNHH Hưng Thịnh Bên cạnh đó Công ty cũng thực hiện công tácquản lý ,giám sát nguyên vật liệu từ khâu chuẩn bị cho đến thi công công trình nhằmtránh hao hụt do mất hay giảm chất lượng nguyên vật liệu để hạn chế tối đa nhữngnguyên vật liệu kém chất lượng đưa vào quá trình sản xuất làm cho sản phẩm củaCông ty chất lượng thấp dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp ảnh hưởng đến hiệu quả
Trang 26Theo tạp chí xây dựng số 5 /1999 ,có trên 3400 doanh nghiệp xây lắp thuộc mọilĩnh vực xây dựng hoạt động trong phạm vi toàn quốc.Trong đó có trên 1100 doanhnghiệp Nhà nước và 2300 doanh nghiệp quốc doanh.Qua khảo sát cho thấy lực lượngxây dựng chủ yếu tập trung ở một số bộ có chuyên nghành xây dựng như Bộ xâydựng, Bộ giao thông vận tải, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ quốcphòng, Bộ công nghiệp.Các bộ này quản lý trên 460 doanh nghiệp với 26 tổng công
ty chiếm tỷ lệ 50% tổng số doanh nghiêp Nhà nước trong toàn quốc Ngoài ra các
bộ, ngành,đoàn thể khác cũng đều có lực lượng xây dựng nhung với quy mô nhỏ.Sốlượng doanh nghiệp thuộc các bộ,nghành trung ương khá lớn nhung phần đông đềutập trung đăng ký ở khu vực Hà nội(40%)và thành phố Hồ Chí Minh(19%)(9)
Công ty xây dụng số 1 Hà Nội ra đời với mục đích và yêu cầu của Đảng và Nhànước là xây dụng nhà ỏ lắp ghép cho cán bộ và nhân dân lao động thành phố Hà nội.Cùng với cơ chế tập trung bao cấp trong một thời gian dài,trong quá trình thành lập
và phát triển Công ty -Công ty không phải quan tâm đến vấn đề thị trường của mìn'hnhung kể từ khi nhu cầu về xây dụng nhà lắp ghép của nhân dân lao động khôngcòn nữa bên cạnh đó là sự chuyển đổi cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thịtrường.Chính vì lẽ đó mà đòi hỏi và đặt ra yêu cầu rất lớn cho Công ty làm sao đứngvững và phát triển trên thị trường trong bối cảnh có sự cạnh tranh với nhau quyết liệtnhằm chiếm lĩnh thị trường cho mình
Với bề dày kinh nghiệm và uy tín trong nghành xây dựng của thủ đô đã nhiềunăm.Công ty xây dựng số 1 Hà nội đã nắm bắt được lợi thế này để tạo dựng cũngnhư nâng cao tầm hoạt động trên thị trường sẵn có này của Công ty trong quá trìnhhiện đại hóa thủ đô và xu hướng đô thị hoá ngày một tăng nhanh
Trang 27III/.PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THựC TRẠNG HIỆU QUẲ SẲN XUÂT
KINH DOANH CỦA CÔNG TY XÂY DỤNG số 1 HÀ NỘI
1/Tình hình sản xuất kinh doanh của C Ờ I I Ỉ Ỉ t y trong nhũn 2 năm qua
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là thước đo để đánh giá đúng năng lựctrình độ của một doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng động ,nhạy bén và hoạtđộng có hiệu quả hay không được thể hiện qua những chỉ tiêu về hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp đó
Để đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh trước tiên ta đánh giá các chỉtiêu sau:
1.1/.Chỉ tiêu doanh thu
Doanh thu là số tiền thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).Doanh thu của doanh nghiệpxây dựng bao gồm:
-Doanh thu từ hoạt động xây lắp:Là toàn bộ số tiền thu được từ bên chủ đầu tưgiao cho bên nhận thầu khi bàn giao công trình
-Doanh thu từ hoạt động tài chính:Là toàn bộ số tiền thu được từ hoạt động thuộclĩnh vực tài chính sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ ,nó bao gồm:Thu nhập từ hoạt
Biểu 5 :Bảng doanh thu của công ty xây dựng số 1 Hà nội
Qua bảng số liệu trên ta thấy:từ năm 1997 đến năm 2000 tổng doanh thu biếnđộng qua từng năm Năm 1997 tổng doanh thu của Công ty là : 23.633 triệu đồng.Năm 1998 tổng doanh thu tăng 4.024 triệu đồng hay tăng 17,02% sở dĩ có sự tăngnày là do năm 1998 số lượng công trình trúng thầu của Công ty tăng,Sở xây dựng Hànội đã quan tâm nhiều hơn đến hoạt động của Công ty và CBCNV đã làm việc năngđộng, nhiệt tình hơn Năm 1999 do bị ảnh hưởng một phần nhỏ của cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ Châu Á,đồng thời cũng do ảnh hưởng của bão, lũ lụt ở miềnTrung do đó đầu tư giảm nên doanh thu đã giảm 419 triệu đồng hay giảm 3,03%.Đến năm 2000 Công ty đã thực hiện giải thể,sát nhập một số đơn vị làm ăn không
có hiệu quả đồng thời thành lập thêm một số đơn vị để phù hợp với tình hình pháttriển của Công ty.Đặc biệt Công ty đã lập và triển khai 2 dự án đầu tư chiều sâu, muasắm thiết bị:cốt pha,giàn giáo thi công và trang thiết bị hệ thống máy vi tính, nângcao trình độ sử dụng máy, thiết bị để phục vụ công tác tính toán, quản lý sản xuấtkinh doanh do đó đã làm tổng doanh thu tăng lên đáng kể, cụ thể tăng 3.313 triệuđồng tương ứng tăng 12,16% so với năm 1999
Từ bảng trên ta thấy doanh thu xây lắp ngày càng tăng từ năm 1997 đến năm
2000 và doanh thu từ khối dịch vụ khác bị giảm vào năm 1998,1999 tuy nhiên đếnnăm 2000 Công ty đã khôi phụ lại được mức tăng và sẽ còn tăng vào các năm tới
1.21 Chỉ tiêu lợi nhuận và nộp ngân sách
1.2.1/.Chỉ tiêu lợi nhuận
Để phân tích và đánh giá chỉ tiêu này ta sử dụng bảng sau:
Biểu 7:Sự tăng ,giảm các nhân tô ảnh hưởng đến lợi nhuận
Qua bảng số liệu trên ta thấy : doanh thu thuần năm 1998 tăng 17,4% hay 3.876triệu đồng so với năm 1997 thể hiện kết quả của Công ty đạt được trong năm, tuynhiên giá vốn hàng bán tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần(24,4%) làm lợi tức gộp giảm 17,1%, đây là xu hướng không tốt ảnh hưởng đến lợinhuận Ngược với giá vốn hàng bán chi phí quản lý doanh nghiệp lại giảm 1.262triệu đồng hay giảm 39.8% so với năm 1997 nên lợi nhuận sau thuế của Công ty năm
1997 chỉ đạt 396 triệu đồng.Nguyên nhân là do :
-Những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, đầu tư nướcngoài vào Việt Nam giảm
-Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước bị cắt giảm
-Bộ máy tổ chức quản lý hoạt động kém hiệu quả
-Một số tai nạn khá nghiêm trọng trong sản xuất kinh doanh mà Công ty phảikhắc phục giải quyết
Sau năm 1997 với những khó khăn, thách thức trên.Công ty đã tiến hành thayđổi, cải tổ cơ cấu bộ máy tổ chức Cụ thể là thay đổi giám đốc Công ty và thay đổi kế
-Năm 1999 là năm áp dụng luật thuế giá trị gia tăng(10%) và thuế thu nhậpdoanh nghiệp(32%)
-Đối với ngành xây dựng có sự thay đổi về chính sách quản lý đầu tu xây dựng
cơ bản(NĐ52CP,NĐ88/CP) về quy chế đấu thầu,đơn giá xây dựng số 24/1999, địnhmức xây dựng ) đã gây chút bỡ ngỡ ban đầu trong công tác dầu tu xây dựng
-Vốn đầu tư XDCB bị giảm mạnh
Sang năm 2000 do doanh thu thuần tăng 3610 triệu đồng hay tăng 14,3% và giávốn hàng bán tăng 2.837 triệu đồng tương ứng tăng 12,8% đã làm cho lợi tức gộp làcao nhất trong 4 năm tăng 14,3% so với năm 1999 Tuy nhiên các khoản chi phícũng tăng nhưng tăng với tốc độ chậm do đó đã làm lợi nhuận sau thuế của Công tytăng mạnh, tăng 4.140 triệu đồng hay tăng 50,6% so với năm 1999 Nguyên nhânchính là do:
Trang 28Năm Tổng chi phí( đồng)
Các doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực xây dựng hiện nay thường nộp ngânsách thông qua thuế doanh thu với tỷ lệ 6% doanh thu và 2,5% phần lợi tức còn lạisau khi đã trừ đi chi phí,thuế doanh thu và các thuế khác do đó khi doanh thu tăng,lợi nhuận tăng thì nộp ngân sách sẽ tăng
Mức nộp ngân sách của Công ty biến động qua từng năm Năm 1997 do doanhthu chỉ đạt 23.633 triệu đồng nên mức nộp ngân sách Nhà nước của Công ty chỉ đạt2.177 triệu đồng Năm 1998 tổng doanh thu tăng ,lợi nhuận sau thuế tăng đã làmcho thuế doanh thu tăng 20,99% và làm tổng nộp ngân sách tăng 6,28%.Sang năm
1999 tổng doanh thu giảm nên thuế doanh thu giảm nhưng do năm 1999 Công ty ápdụng thuế VAT 10% thay cho thuế doanh thu 6% nên Công ty phải đóng thuế với tỷ
lệ lớn hơn các năm trước mặc dù giảm70.595.623 đồng những vẫn phải nộp 2.240triệu đồng.Tuy nhiên đến năm 2000 thì tổng doanh thu tăng 12,16% so với năm
1999 đã làm thuế doanh thu tăng 25% do đó tổng thuế nộp ngân sách tăng28,5%.Như vậy trong những năm qua Công ty đã hoàn thành tốt nghĩa vụ đối vớiNhà nước về nộp thuế góp phần cùng thủ đô thực hiện quá trình CNH-HĐH đấtnước
1.3/Nguồn vốn kinh doanhBiểu 9 : Nguồn vốn hoạt động của Công ty xây dựng số 1 Hà nội
Biêu 11 :Cơ cấu nguồn vốn của Công ty
Như vậy vốn cố định năm 1997 là 14.143 triệu(chiếm 57,4% vốn kinh doanh) đãtăng 352 triệu đồng lên thành 14.525 triệu đồng (chiếm 62,94% vốn kinh doanh) vàonăm 1998 và năm 1999 thì vốn lưu động bị giảm 409 triệu đồng hay giảm2,3%(chiếm 58,8% vốn kinh doanh) so với năm 1998,nhưng đến năm 2000 thì vốnkưu động tăng 337 triệu đồng hay tăng 2,39% so với năm 1999 và chiếm 58,58%vốn kinh doanh
Tỷ lệ vốn lưu động /tổng vốn từ năm 1998 đến năm 2000 đã ngày càng giảm vàvốn cố định ngày càng tăng, điều đó là do : Tỷ lệ vốn lưu động ngày càng giảm docác khoản phải thu năm 1999 đã giảm mạnh so với năm 1998 tức là số vốn của công
ty đã bị chiếm dụng ít hơn nhưng năm 2000 các khoản phải thu đã tăng lên chứng tỏtrong năm 2000 số vốn của công ty đã bị chiếm dụng nhiều hơn.Tuy nhiên do đặcđiểm ngành nghề kinh doanh của công ty thì việc bị chiếm dụng vốn là không tránhkhỏi
chuyên dụng phục vụ cho khách sạn Phưcmg Nam do đó vốn cố định tăng.Do có thiết
bị máy móc mới Công ty đã đáp ứng được thị trường về chất lượng và tiến độ thicông công trình do đó cả doanh thu xây lắp và doanh thu từ khối dịch vụ khác đềutăng dẫn đến tổng doanh thu năm 2000 tăng 3.313 triệu đồng hay tăng 12,1%
cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á đã làm cho đầu tư trong nước bị giảm đồng thời
bộ máy quản trị cồng kềnh, kém hiệu quả làm cho các công trình trúng thầu củaCông ty ít dẫn đến vốn sản xuất kinh doanh nhiều nhưng sử dụng vốn không có hiệuquả Năm 1998 tổng chi phí tăng mạnh tăng trên 3.347 triệu đồng đạtll4,4% so vớinăm 1997 và tổng doanh thu tăng 4.024 triệu đồng hay tăng 17,02% Như vậy năm
1998 tỷ lệ tăng doanh thu lớn hon tỷ lệ tăng chi phí thể hiện sản xuất kinh doanh củacông ty năm 1998 có hiệu quả hơn năm 1997 Đến năm 1999 mặc dù tổng chi phígiảm 165 triệu đồng hay giảm 0,7% nhưng tổng doanh thu cũng giảm 1,5% so vớinăm 1998 ,mức giảm của doanh thu lớn hơn mức giảm của chi phí do đó hiệu quả
Biểu đồ doanh thu và chi phí
Biểu đồ doanh thu và chi phí
2/ Các chỉ tiêu đinh lương đánh giá hiêu quả sản xuất kinh doanh
2.1.1/.Phân tích các chỉ tiêu doanh lợi
2.1.1.1/.Doanh lợi của doanh thu
Chí tiêu doanh lợi của doanh thu phản ánh một đồng doanh thu sẽ đem lại baonhiêu đồng lợi nhuận
n
DTO(%) =
-Để nghiên cứu vấn đề này ta có bảng sau:
Biểu 13 : Phân tích doanh lợi của doanh thu
-So sánh năm 1997 với năm 1998: So với năm 1997 thì doanh lợi của doanhthu tăng một lượng là: 0,04109 - 0,0178 = 0,0232(%) Điều này là do ảnh hưởng củacác nhân tố:
Trang 29+ Do doanh thu thuần sau thuế thay đổi :
Trang 30giá vốn hàng bán năm 1998 tăng nhanh hơn tốc độ tăng cuả doanh thu thuần Đây làkết quả của Công ty trong việc thực hiện giải pháp cắt giảm chi phí trực tiếp,đặc biệt
là chi phí về lao động, tình trạng công trình thua lỗ ít hơn so với năm 1997
Sang năm 1999 tổng doanh thu giảm,các khoản giảm trừ tăng do đó doanh thuthuần giảm,mặc dù giá vốn hàng bán giảm đi 873.998.965 đồng nhưng doanh lợi củadoanh thu năm 1999 vẫn bị giảm 0,008(%) trong đó ảnh hưởng của lợi nhuận sauthuế giảm làm doanh lợi của doanh thu giảm 0,01004(%) và ảnh hưởng của doanhthu thuần giảm cũng không đủ bù đắp chỉ làm doanh lợi của doanh thu tăng mộtlượng là 0,0012(%)
Đến năm 2000 thì doanh lợi của doanh thu tăng lên một lượng là 0,0102(%) sovới năm 1999.Nguyên nhân là do doanh thu tăng 14,25% làm doanh lợi của doanhthu giảm 0,004(%) và do giá vốn hàng bán giảm so với năm 1999 dẫn đến lợi nhuậntăng làm cho doanh lợi của doanh thu tăng 0,014(%) đủ bù đắp cho mức giảm do ảnh
-So sánh năm 1997 và năm 1998:
So với năm 1997 doanh lợi của tổng vốn kinh doanh năm 1998 tăng một lượng
0,04648 - 0,01606 = 0,03042(%) Điều này là do ảnh hưởng của các nhân tố sau:+ Do vòng quay của tổng vốn kinh doanh thay đổi:
Trang 31là do ảnh hưởng của các nhân tố sau:
-t-Do số vòng quay của tổng vốn kinh doanh thay đổi :
28.936.852.572 1.281.799.826 25.325.895.044 1.281.799.826 - X - - -X -
24.670.896.557 28.936.852.572 24.004.798.562 28.936.852.572
= 0,0076(%)
+ Do lợi nhuận sau thuế cộng lãi vay trên doanh thu thay đổi :
25.325.895.44 1.281.799.826 25.325.895.044 863.534 309
trong đó số vòng quay của tổng vốn kinh doanh tăng làm cho doanh lợi tăng
2.1.1.3/ Hệ sô doanh lợi của vốn tụ có
Chí tiêu này phản ánh một đồng vốn tự có tạo ra đuợc bao nhiêu đồng lợi nhuận
nR * 100 Trong đó: DVTC là doanh lợi của vốn tự có
DVTC - - VTC: Tổng vốn tự có
Đơn vị : Đồng
-So sánh năm 1997 và năm 1998
So với năm 1997 doanh lợi cốn ỵ có năm 1998 tăng một lượng là:
0,1,47 - 0,0405 = 0,0642(%) .Điếu này là do ảnh hưởng của các nhân tố sau:+Do số vòng quay của vốn tự có thay đổi :
26.102.221.715 1.072.703.204 22.225.774.440 ĩ 072.703.204
9.774.608.361+Do hệ số doanh lợi của doanh thu thay đổi:
26.102.221.715 9.774.608.361
26.102.221.715
396.376.56022.225.774.440
Trang 32-So sánh năm 1999 và năm 1998 ta thấy doanh lợi vốn tự có năm 1999 giảm mộtlượng là : 0,0756 - 0,1047 = - 0,0291(%) so với năm 1998.Điều này là do ảnhhưởng của các nhân tố sau:
+Do số vòng quay của vốn tự có thay đổi :