Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hìnhthành, phát triển trí tuệ cho học sinh,và môn Tiếng việt chiếm một vị trí hết sức quantrọng, mà ở đây được nhắ
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
1 Cơ sở lí luận :
Hồ Chủ tịch – người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã nói:
“Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức”
Điều này chứng tỏ tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả bí mật trong vũ trụ bao la này
Muốn có tri thức thì phải học và học thật tốt Việc học phải trải qua muôn vàn gian khổ, quá trình thử thách, nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi, kể cả phải vượt qua thác ghềnh, chông gai mới có được
Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hìnhthành, phát triển trí tuệ cho học sinh,và môn Tiếng việt chiếm một vị trí hết sức quantrọng, mà ở đây được nhắc đến đó là phân môn chính tả ở lớp 3 vì nó cũng khôngkém phần quan trọng giúp cho con người chúng ta trong khi nói hay viết cũng nhưtrong đời sống sinh hoạt và lao động thường ngày của con người Nó còn là phươngtiện, là công cụ cần thiết để học các môn học khác Đồng thời nó góp phần to lớn vàoviệc phát triển tư duy cho học sinh, bồi dưỡng và phát triển các thao tác trí tuệ Mặtkhác, môn Tiếng việt còn góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy và việchình thành các phẩm chất của con người lao động mới
2 Cơ sở thực tiển :
Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh làmối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác.Trong các môn học ở tiểu học thì môn Tiếng việt là một trong những môn quan trọngnhất giúp học sinh nắm được kiến thức Tiếng việt cơ bản, có cơ sở học tốt các mônkhác, ngoài ra nó còn giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn trong khi giao tiếp
Trong thực tế, khi giảng dạy tôi đã phát hiện có những học sinh mắc sai lỗichính tả rất nhiều, có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả 60 chữ.Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết
Trang 2mắc quá nhiều lỗi chính tả Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em ởmôn Tiếng việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các emmất tự tin, trở nên rụt rè nhút nhát.
Do đó để đạt được mục tiêu chương trình đề ra, người giáo viên phải nắm chắcmục tiêu, nội dung để khai thác Điều quan trọng là giáo viên phải nghiên cứu đầu tưxây dựng phương pháp dạy và học, phân nhóm đối tượng học sinh nhằm giúp họcsinh tích cực hoạt động học tập Xuất phát từ vị trí tầm quan trọng của môn Tiếngviệt ở tiểu học, xuất phát từ thực trạng dạy và học trong chương trình Tiếng việt lớp
3, qua nghiên cứu khả năng ứng dụng cụ thể, thiết thực của vấn đề vì lí do đó tôi đã
cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân vì sao các em mắc lỗi đến như
vậy tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài “ Một số biện pháp để giúp học sinh lớp 3 giảm bớt lỗi chính tả” Với mong muốn nâng cao hiệu quả trong công tác giảng dạy,
đồng thời giúp các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn trong học tập cũng như trong giaotiếp
II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1.Mục đích :
Căn cứ từ thực tiễn của việc dạy và học môn Tiếng việt ở lớp 3 nói chung vàviệc học phân môn chính tả nói riêng thì để đảm bảo cho người nói và người nghe,người viết và người đọc hiểu rõ văn bản một cách thống nhất, người ta đã đưa ra hệthống qui tắc về cách viết cho các từ của một ngôn ngữ Như vậy chính tả là mộtphân môn có tính thực hành thông qua luyện tập thực hành để hình thành cho họcsinh năng lực và thói quen viết đúng chính tả Vì vậy vấn đề rèn luyện để nâng caochất lượng viết đúng chính tả là việc làm hết sức cần thiết đối với mỗi người giáoviên dạy lớp, của nhà trường và kể cả ngành giáo dục hiện nay Chính vì lẽ đó tôimuốn đưa ra một số biện pháp để giúp các em giảm bớt lỗi chính tả, nắm chắc đượccác qui tắc cơ bản một cách sâu sắc, giúp các em không còn nhầm lẫn giữa các từnày với từ khác khi nói và viết Từ đó các em yêu thích học môn chính tả hơn, đồngthời tạo cho các em có lòng say mê học tập và làm việc có kế hoạch một cách cụ thể,
có ý chí vượt khó vươn lên và tự tin trong học tập
Trang 32 Phương pháp giao tiếp :
Phương pháp này giúp học sinh khắc sâu những quy tắc chính tả một cách có
ý thức Muốn sử dụng phương pháp này cần có hệ thống câu hỏi phù hợp với từngđối tượng học sinh
3 Phương pháp phân tích ngôn ngữ :
Phương pháp này giúp học sinh so sánh những từ ngữ dễ lẫn lộn khi viết Để
sử dụng tốt phương pháp này, giáo viên phải chọn những từ ngữ dễ lẫn, tùy theo tửngđịa phương, tùy theo tình hình lớp Cách phân tích phải dễ hiểu, không sử dụng thuậtngữ khó hiểu đối với học sinh
4 Phương pháp luyện tập theo mẫu:
Phương pháp này sử dụng trong mọi tiết học chủ yếu là trong giờ chính tảnghe đọc Ở tiết chính tả nghe đọc, giáo viên lưu ý học sinh các tiếng dễ lẫn như :phụ âm, dấu thanh, vần Học sinh phải tái hiện mẫu thông qua hai thao tác : Thao táctiếp nhận mẫu bằng âm thanh và thao tác chuyển từ âm thanh qua mẫu chữ viết
5 Phương pháp quan sát :
Đây là phương pháp mà đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị một số đồ dùnghọc tập và một số câu hỏi nhằm giúp học sinh tiếp thu bài một cách hiệu quả
6 Phương pháp điều tra, thống kê kết quả :
Phương pháp này nhằm kiểm tra chất lượng học tập của học sinh qua từng giaiđoạn
Trang 4III GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
Do bản thân tôi mới nghiên cứu đề tài này nên tôi chỉ áp dụng cho học sinh đốivới lớp tôi chủ nhiệm
Tuy nhiên trong khi áp dụng không tránh những thiếu sót, kính mong các cấp quản
lí và các anh chị đồng nghiệp nhận xét và góp ý chân thành để bản thân hoàn thiệnhơn đề tài này
IV KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
Để đạt được mục tiêu của mình đề ra tôi không ngừng tìm tòi học hỏi ở bạn
bè đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu nguyên nhân, và tự đặt câu hỏi : “ Vì sao các em lại mắc sai nhiều lỗi đến như thế ?” Để từ đó có cơ sở đưa ra một số biện
Nhận thức của các em còn mang tính đại thể Các em nhận thức một vấn đề có
tổ chức, nhận thức thường gắn với hành động Các em thường hay hình dung vấn đềnào đó bằng trực quan, sinh động dễ gây ấn tượng.Vì vậy muốn truyền thụ kiến thứccho các em chúng ta nên áp dụng trực quan sinh động để gây sự chú ý thì các emnhanh chóng tiếp thu.Tuy nhiên chúng ta không nên quá lạm dụng đồ dùng trực quan
vì hình ảnh, màu sắc quá sinh động dễ dẫn đến các em chú ý sai lệch vấn đề, dẫn đếnphản tác dụng và làm cho các em quên nhiệm vụ chính của mình Hơn nữa sử dụng
đồ dùng trực quan quá nhiều sẽ làm giảm đi trí tưởng tượng của các em
Nên tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động vì khi tham gia hoạt động tíchcực các em có điểu kiện để tiếp thu bằng các tri giác như : tai- nghe, mắt-nhìn, miệng– nói, tay thao tác sẽ dẫn đến các em tiếp thu và khắc sâu hơn kiến thức đó hơn
Trang 5Mà người giáo viên đóng vai trò chủ đạo phải tạo cho học sinh ghi nhớ mộtcách chủ động tránh áp đặt mà cần phải có thủ thuật ghi nhớ, có thể chia ra làm nhiềuphần để học sinh dễ hình dung ra khi cần thiết.
Việc học sinh ghi nhớ tốt là điều kiện cần thiết nhất để các em nhanh chóngnắm được một số qui tắc, thủ thuật và các mẹo vặt khi viết chính tả một cách khoahọc chứ không phải máy móc
Chúng ta không nên áp đặt học sinh tiếp thu kiến thức sâu hơn mà chỉ cần các
em tiếp thu được những nội dung cơ bản trong từng bài học, nội dung đó phù hợp vớikhả năng của từng em
* Tóm lại : Từ những đặc điểm trên của học sinh tiểu học về quá trình nhận thức,
khi dạy học tiểu học nói chung và dạy học môn tiếng việt nói riêng chúng ta nên: Quan tâm đến việc sử dụng đồ dùng học tập của các em Nên áp dụng đồ dùngtrực quan để hình thành kiến thức cho học sinh
Nên chú ý đến từng đối tượng học sinh mà có biện pháp dạy học phù hợp,tránh áp đặt mà phải để cho các em làm quen từ từ với kiến thức đó
Nên chia học sinh theo từng đối tượng để truyền thụ
Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả học tập thực hành khi viết chính tảnhằm giúp các em nhận ra những lỗi phổ biến thường gặp để từ đó các em có hướngkhắc phục để dần dần đạt kết quả tốt hơn
Tập cho học sinh có thói quen không thoả mãn với bài làm của mình và tự tìm
ra cách khắc phục với năng lực học tập của mình
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Đặc điểm, tình hình chung của lớp:
1/ Thuận lợi:
- Đa số các em đã được nắm được một số qui tắc viết chính tả ở lớp Hai
- Sĩ số lớp vừa, không quá đông thuận lợi cho việc theo dõi quá trình rèn luyệncủa các em
Trang 6- Nhà trường quan tâm sâu sẳc trong việc chỉ đạo cũng như tạo điều kiện vềchuyên môn, cũng như cơ sở vật chất.
- Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ giáo viên trong quá trình nghiêncứu
- Phụ huynh quan tâm nhiều đến việc học tập và rèn luyện của học sinh
2/ Khó khăn:
- Đa số các em chưa có ý thức tự giác về việc học Việc học tập của các em cầnphải có người nhắc nhở
- Một số em chưa nắm được một số qui tắc khi viết chính tả
- Một số phụ huynh còn coi nhẹ việc học tập của con em
- Thời gian học tập của các em còn hạn chế Mặc khác, một bộ phận không nhỏ họcsinh còn ham chơi lười học, không chịu suy nghĩ, tư duy trong việc nói và viết mộtcách chuẩn mực tiếng Việt ( vì có bài mẫu, sách mẫu, học thêm , …)
- Đầu năm học, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3/1 Sau khi khảo sát chấtlượng, để nắm bắt tình hình học tập của các em, tôi đã lập bảng thống kê về mônchính tả như sau:
KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐẦU NĂM
Thời gian
Khảo sát
III THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN:
1 Kết quả thống kê lỗi:
Qua kết quả thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc phải các loạilỗi sau:
Trang 7a Về thanh điệu:
Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì học sinh không phân biệt 2 thanh hỏi, ngã Tuy chỉ có 2 thanh nhưng số lượng tiếng mang 2
thanh này không ít và rất phổ biến - kể cả những người có trình độ văn hoá cao
Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành…
+ v/d/gi: Giao động, giải lụa , giòng giống , dui dẻ…
- Trong các lỗi này, lỗi về ch/tr, s/x, v/d/gi là phổ biến hơn cả
c Về âm chính:
- Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ ai/ay/ây: Bàn tai, đi cầy, dậy học…
+ ao/au/âu: Hôm sao, mầu đỏ…
+ iu/êu/iêu: chìu chuộng, cây niu…
+ oi/ôi/ơi: nôi gương, xoi nếp…
+ ăm/âm: con tầm, sưu tằm, bụi bậm…
+ im/iêm/êm/em: tim thuốc, lúa chim, cái kềm…
+ ăp/âp: gập gỡ, trùng lấp…
+ ip/iêp/êp/ep: số kíp, liên típ, thệp cưới…
Trang 8+ ui/uôi: chín mùi, đầu đui, tủi tác…
+ um/uôm: nhụm áo, ao chum…
+ ưi /ươi: trái bửi…
+ ưu/ ươu: ốc bưu, con khứu
d Về âm cuối:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ an/ang: cây bàn, bàng bạc…
+ at/ac: lang bạc, lừa gạc, rẻ mạc…
+ ăn/ăng: lẳn lặn, căn tin…
+ ăt/ăc: giặc giũ, co thắc, mặt quần áo…
+ ân/âng: hụt hẫn, nhà tần…
+ ât/âc: nổi bậc, nhất lên…
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+êt/êch: trắng bệt…
+ iêt/iêc: mải miếc, tiêu diệc…
+ ut/uc: chim cúc, bão lục…
+ uôn/uông: khuôn nhạc, buồn tắm…
+ uôt/uôc: rét buốc, chải chuốc…
+ ươn/ương: lươn bổng, sung sướn
2 Nguyên nhân mắc lỗi:
a Về thanh điệu:
Theo các nhà ngữ âm học, người Việt từ Nghệ An trở vào không phân biệt
được 2 thanh hỏi, ngã Hay nói đúng hơn trong phương ngữ Trung và Nam không có thanh ngã Mặt khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn Do đó lỗi về dấu câu
rất phổ biến
Trang 9b Về âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr, s/x d/gi Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn v/d, r/g Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: âm “ cờ” ghi bằng c,k,qu…) ,
âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưngđối với học sinh tiểu học (nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn do không nhớ cácqui định
c Về âm chính:
Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi /ie, ươ, uô/ lại được ghi bằng các dạng iê,yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (bia - khuya, biên - tuyến, lửa - lương, mua - muôn); âm đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con chữ u và o (ví dụ: huệ, hoa).
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộđối với các âm chính trong hầu hết các vần trên
d Về âm cuối:
Đối với người miền Nam có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt
các vần có âm cuối n/ng/nh và t/c/ch Mà số từ mang các vần này không nhỏ Mặt khác hai bán âm cuối /i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao), ư/ươi ( trong : tư/tươi), do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với
học sinh khu vực phía Nam nói chung và tại địa phương xã Mỹ Xương nói riêng
IV CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy chính tả, tôinhận thấy rằng nếu chỉ dùng sách giáo khoa, thì chưa đáp ứng đầy đủ với các yêu cầudạy cho học sinh học yếu chính tả ở tiểu học Vì vậy, để khắc phục lỗi chính tả màhọc sinh mắc phải, tôi đã nghiên cứu và vận dụng một vài biện pháp để giúp các emnắm được các quy tắc chính tả, các mẹo luật chính tả phù hợp với trình độ tiếp thu
Trang 10của các em, hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả, bỏ thói quen phát âm sai dẫn đếnviệc viết sai
Sau đây là một vài biện pháp mà tôi đã áp dụng trong những năm trực tiếpgiảng dạy như sau:
Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo
viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- Muống = M + uông + thanh sắc
- Muốn = M + uôn + thanh sắc.
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng
“muốn” có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không
viết sai
3 Giải nghĩa từ:
Trang 11- Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ.Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tậplàm văn… nhưng nó cũng là viêc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà họcsinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinhđọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm
từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranhảnh,…
Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên
+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng
dùi, âm thanh vang dội)
+ Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo
dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa)
- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể đểgiải nghĩa từ
4 Ghi nhớ mẹo luật chính tả:
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàngloạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu.Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu
k,gh,ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e,ê,iê, ie Ngoài ra, giáo viên có thể cung
cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…
Trang 12+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…
+ Để phân biệt dấu thanh hỏi/ngã: Các từ gộp âm chỉ mang thanh hỏi không
+ Luật bổng - trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu
tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng) Để nhớ được
2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ:
Em Huyền mang nặng, ngã đau
Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).
Ví dụ:Bổng
• Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ…
• Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ…
• Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ…