1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp giúp học sinh lớp 3 giảm bớt lỗi chính tả

22 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 179,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP THANH HOÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢM BỚT LỖI CHÍNH TẢ Người thực hiện: Đỗ Thị Liên Ch

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP THANH HOÁ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3

GIẢM BỚT LỖI CHÍNH TẢ

Người thực hiện: Đỗ Thị Liên

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường TH Điện Biên 2 Sáng kiến thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2021

Trang 2

5 1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

6 2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2

7 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2

8 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh

nghiệm

3

9 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

10 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 16

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Tiếng Việt là tài sản vô cùng quý báu củadân tộc ta” hay như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã từng viết: “ Tiếng Việt

là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ đã qua” Đúng thế, có biết bao nhiêuanh hùng đã phải ngã xuống vì độc lập tự do hay nói đúng hơn là vì tiếng nói, vìngôn ngữ dân tộc – tiếng Việt Hơn nữa, tiếng Việt của chúng ta rất giàu và đẹpđược thể hiện qua ngôn ngữ nói và viết Mỗi từ, ngữ đều giàu hình ảnh và cótính biểu tượng rất cao Nhiệm vụ của các thế hệ người Việt Nam là phải giữ gìn

và phát huy được sự trong sáng của tiếng Việt Muốn vậy phải nói, đọc, viếtđúng chuẩn tiếng Việt, gọi chung là đúng chính tả Đó cũng là một trong nhữngmục tiêu quan trọng, đầu tiên của giáo dục Tiểu học ở Việt Nam Bởi ngôn ngữkhông chỉ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn là công cụ tư duy củamột dân tộc nói chung và của các em học sinh trong nhà trường nói riêng Ngônngữ đồng thời còn là một trong những yếu tố cấu thành quan trọng nhất của mộtnền văn hóa dân tộc, góp phần làm nên và thể hiện ra bản sắc, giá trị của nềnvăn hóa ấy Chữ viết là một hệ thống ký hiệu bằng đồ hình có chức năng cố địnhhoá ngôn ngữ âm thanh, thay cho lời nói – chữ viết là phương tiện giao tiếp quantrọng trong cuộc sống của chúng ta nói chung và trong học tập nói riêng Vì vậy,yêu cầu đầu tiên của chữ viết là cần phải đúng chính tả

Chính tả được hiểu là hệ thống quy tắc về cách viết thống nhất cho các từcủa một ngôn ngữ Nói cách khác Chính tả là những chuẩn mực của một ngônngữ được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân Mục đích của nó là làm phươngtiện cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ, đảm bảo cho người viết và người đọcthống nhất những điều đã viết Do vậy, việc nghiên cứu phương pháp để dạy tốtphân môn Chính tả là một việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện naynhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt ởtrường tiểu học

Qua thực tế giảng dạy tôi thấy nhiều học sinh còn viết sai lỗi chính tả Khiviết sai chính tả, hiệu quả giao tiếp sẽ giảm và gây ra nhiều hệ lụy khó lường.Với riêng bộ môn Tiếng Việt, sai chính tả làm giảm đi nhiều hiệu quả thẩm mỹ,làm sai lệch thông tin cần truyền đạt, tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau với cùngmột văn bản, hạn chế mức độ cảm thụ của người đọc, thậm chí nội dung bịxuyên tạc do có những lỗi về chính tả v.v Vậy làm thế nào để nâng cao chấtlượng phân môn chính tả cho học sinh lớp mình giảng dạy? Là giáo viên đứnglớp tôi đã trăn trở rất nhiều Đó cũng chính là lí do khiến tôi chọn đề tài sáng

kiến kinh nghiệm trong năm học 2020 - 2021 là: “Một số giải pháp giúp học

sinh lớp 3 giảm bớt lỗi chính tả”.

Trang 4

- Đề xuất một số kinh nghiệm trong việc rèn kĩ năng viết đúng chính tảcho học sinh lớp ba để các bạn đồng nghiệp tham khảo và vận dụng trong quátrình dạy học nói chung và dạy học sinh lớp ba nói riêng.

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu về giải pháp rèn kĩ năng nói, viết đúng chính tả cho học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra (Dự giờ, đối chiếu .)

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm khoa học giáo dục

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:

Phân môn Chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học vì giai đoạntiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả chohọc sinh Chính tả có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững các quy tắc chính tả,hình thành năng lực và thói quen viết đúng, nhanh và đẹp Chính tả được bố tríthành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêng trong khi bậc trung học cơ sởkhông có

Phân môn Chính tả ở chương trình tiểu học có hai kiểu bài là chính tảđoạn bài và chính tả âm vần Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viếtđúng chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả Thời gian dành cho bàitập chính tả âm vần dù là rất ngắn so với chính tả đoạn bài song việc rèn kĩ năngqua bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh Qua các bài tập chính tả âm,vần các em được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữ ghi tiếng có

âm, vần, thanh dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn học

Tính chất nổi bật của phân môn chính tả là thực hành bởi vì chỉ có thểhình thành các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập

Căn cứ vào mục tiêu dạy môn Tiếng Việt nói chung và nhiệm vụ chủ yếunói riêng của phân môn Chính tả lớp Ba Ngoài kĩ năng rèn học sinh đọc thôngchúng ta còn rèn cho học sinh viết thạo, viết đúng chính tả, rèn cho học sinh một

số phẩm chất như tính cẩn thận, tính thẩm mĩ Ngoài việc nắm vững vị trí, nhiệm

vụ, tính chất, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy phù hợp, giáo viêncòn phải nắm vững các nguyên tắc dạy chính tả Tiếng Việt

Dạy chính tả là một quá trình rèn luyện lâu dài, không chỉ ở giờ Chính tả

mà có thể rèn luyện phân tích từ ở phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làmvăn Ví dụ một học sinh làm một bài văn rất hay nhưng mắc nhiều lỗi chính tảthì bài văn đó không đạt điểm cao Ví dụ cụ thể hơn nữa là học sinh dự thi viếtchữ đẹp cấp thành phố dù chữ có đẹp bao nhiêu nhưng mắc một vài lỗi chính tảthì cũng không đem lại kết quả Nếu một em viết sai nhiều lỗi chính tả (từ 5 lỗitrở lên) thì không thể học tốt các môn học khác

Mặc dù những quy tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữpháp chung Nhưng việc viết đúng chính tả trong học sinh tiểu học nói chung vàhọc sinh lớp ba nói riêng còn nhiều khó khăn, tồn tại mà mỗi giáo viên và họcsinh cần phải nổ lực để khắc phục tồn tại trên

Trang 5

Với mong muốn hạn chế đến mức tối đa việc học sinh viết sai chính tả vàhọc tốt các môn học khác ở lớp, bản thân tôi cố gắng sử dụng nhiều biện pháp,nhiều hình thức để giảng dạy nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển và hoànthiện kĩ năng viết đúng Tiếng Việt chuẩn mực theo hướng “giữ gìn sự trong sángcủa Tiếng Việt” Trong đó, nhà trường là môi trường quan trọng đóng vai trò chủđạo trong việc thực hiện chuẩn hóa ngôn ngữ và chữ viết Rèn kĩ năng viết đúngchính tả cho học sinh là một công việc mang tính lâu dài và liên tục, rèn cho các

em ý thức, thói quen và hoàn thiện kĩ năng viết đúng chính tả nhằm nâng caochất lượng môn Tiếng Việt Việc học sinh luyện kĩ năng viết đúng chính tảkhông chỉ để học tốt môn Chính tả mà còn dùng nó để phục vụ cho các môn họckhác Dạy Chính tả là rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết thành thạo chữ TiếngViệt theo các chuẩn chính tả và làm bài tập Qua đó rèn các kĩ năng sử dụngngôn ngữ, cung cấp cho học sinh vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhaucủa đời sống

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

- Chương trình phân môn Chính tả Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 có nộidung phong phú, hấp dẫn; mỗi bài văn, đoạn văn, bài thơ viết chính tả đều cótính giáo dục cao

- Học sinh có đầy đủ vở chính tả và vở bài tập Tiếng Việt (ghi đầy đủ nộidung bài tập chính tả)

- Giáo viên có kế hoạch rèn học sinh viết đúng chính tả ngay từ tuần đầunăm học (thống kê phân loại học sinh học yếu chính tả để theo dõi thường xuyênvào những giờ chính tả)

- Về phía học sinh, đa số các em chăm ngoan, có ý thức, tự tin trong họctập và đã biết viết chính tả từ năm học lớp 1 và lớp 2 có tinh thần đoàn kết giúp

đỡ lẫn nhau trong học tập

- Trong giảng dạy, giáo viên vận dụng đổi mới phương pháp dạy học, có

sử dụng đồ dùng học tập trong giảng dạy, bài soạn phù hợp với đối tượng họcsinh trong lớp, luôn cố gắng tìm tòi nghiên cứu biện pháp tốt để giúp học sinhviết đúng chính tả

- Có môi trường cho các em học tập tốt, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ

* Khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi thì vẫn còn những khó khăn như sau:

- Vốn từ của học sinh lớp ba còn hạn chế Các em chỉ hiểu nghĩa của các

từ ngữ ở mức độ đơn giản trong khi từ ngữ Tiếng Việt vô cùng phong phú

Trang 6

- Học sinh trong lớp không chỉ tập trung ở thành phố Thanh Hóa mà còn

có học sinh quê ở miền Nam, Thái Bình, Bá Thước mới chuyển về phát âm ảnhhưởng của tiếng địa phương; có em bị ngọng bẩm sinh

- Trong lớp còn một vài học sinh đọc chậm và viết chậm; một số em chưa

ý thức được tầm quan trọng của môn Chính tả nên các em chưa có sự chuẩn bị

và phương pháp học tốt; có em tư duy còn hạn chế, chưa nắm bắt được nội dungbài chính tả nên dẫn đến việc viết sai; nhiều em chưa biết sắp xếp thời gian tựbồi dưỡng và học tập tại nhà dẫn đến việc học của các em còn hạn chế

Đó là những khó khăn và thuận lợi để tôi áp dụng sáng kiến của mình

+ Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Qua thực tế giảng dạy và tìm hiểu học sinh tôi thấy:

- Học sinh lớp ba viết chính tả nhìn chung đảm bảo tốc độ viết chữ theo quiđịnh

- Có nhiều học sinh viết bài sạch sẽ, trình bày đẹp

Song bên cạnh đó, giáo viên và học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong giờhọc chính tả Cụ thể:

- Có học sinh còn nói ngọng: l - n, ch - tr, s - x… nên khi viết chính tả hay mắc lỗi

- Một số học sinh chưa nắm chắc qui tắc chính tả: ng-ngh, g-gh, c-k, nh-ngnên khi gặp bài chính tả nghe - viết, học sinh dễ viết sai

Qua khảo sát thống kê tôi thấy hầu hết các loại lỗi chính tả các em đều mắc sốlỗi mà các em mắc nhiều nhất là lỗi viết hoa, lỗi phụ âm đầu và lỗi âm chính Sovới yêu cầu về kĩ năng viết chính tả (không quá 5 lỗi trong một bài) và chấtlượng của một trong những trường top đầu của thành phố Thanh Hóa thì trình độ

kĩ năng viết chính tả của một số học sinh chưa cao Vì vậy, để nâng cao chấtlượng chính tả của học sinh, tôi cố gắng nghiên cứu và tìm ra biện pháp giúp đỡcác em khắc phục lỗi chính tả

+ Kết quả của thực trạng:

Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu “Một số biện pháp giúp

học sinh lớp 3 giảm bớt lỗi chính tả”, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế

việc viết chính tả của học sinh ngay từ đầu năm học Cụ thể khảo sát chất lượngmôn Tiếng Việt đầu năm trong đó có bài viết chính tả tôi thống kê số lỗi chính tảnhư sau:

Khảo sát Tổng số Không sai 1-2 lỗi 3-4 lỗi 5-6 lỗi Trên 6 lỗi

Điều đó cho thấy kĩ năng viết của nhiều em còn hạn chế, làm ảnh hưởng tớikết quả học tập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác Trước vấn đềtrên, tôi đã tìm hiểu, suy nghĩ kết hợp với sự tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp,cuối cùng tôi xin đưa ra ý kiến của mình để nâng cao chất lượng học sinh lớp baviết đúng chính tả

Trang 7

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

2.3.1 Giải pháp 1: Luyện phát âm

Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát

âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau Trước hết, giáo viên phải phát âm chuẩn và dạy học sinh phát âm chuẩn.Như chúng ta đã, biết cách phát âm địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến việcviết chính tả của các em, cách phát âm của các vùng miền đều có những chỗchưa chuẩn xác, còn sai lệch Từ đó giáo viên tập trung vào các lỗi phát âm saicủa học sinh để nhắc nhở các em lưu ý đọc cho đúng Trong phần luyện phát âmgiáo viên yêu cầu học sinh tăng cường luyện đọc, luyện đọc bất kì một đoạn văn,bài văn nào có trong chương trình hoặc không có trong chương trình, kết hợpvới tìm hiểu nghĩa của từ có trong đoạn văn Song song với luyện đọc giáo viêncũng cần dành một chút thời gian để hướng dẫn các em nghe đọc, nghe nói đểcác em dần dần có được kĩ năng phân biệt cách phát âm Trong các tiết học giáoviên phải chú ý nhiều hơn việc luyện phát âm cho học sinh bằng cách đọc nhấngiọng hoặc kết hợp khẩu hình miệng Để phân biệt các thanh (thanh ngã đọc

nhấn giọng và dài hơi hơn thanh hỏi), âm đầu (âm tr cần đưa lưỡi lên vòm miệng, âm s đọc cong lưỡi, phát hơi, âm r đọc cong lưỡi, lấy hơi, âm gi đọc xì

hơi ra…), âm chính, âm cuối…Ngoài ra tôi còn chọn một số học sinh có giọngphát âm tương đối chuẩn để đọc mẫu trước lớp và hỗ trợ tôi trong việc rèn phát

âm cho các bạn trong lớp

Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà còn phảithực hiện thường xuyên, liên tục và lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả,Luyện từ và câu, Tập làm văn,…Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm(nói ngọng, nói lắp,…) thì giáo viên lưu ý nhiều hơn cho các em chú ý nghe côphát âm để viết cho đúng Vì vậy giáo viên phải phát âm rõ ràng, tốc độ đọc vừaphải để học sinh viết đúng chính tả

2.3.2 Giải pháp 2: Phân tích, so sánh

Kĩ năng phân tích, so sánh có vai trò rất quan trọng, nó quyết định họcsinh có viết đúng chính tả hay không Để có được kĩ năng này các em phải hiểunghĩa của từ Từ đó các em mới phân biệt được các từ mang nghĩa khác nhau Với những từ ngữ khó, dễ nhầm lẫn tôi hướng dẫn phân tích cấu tạo tiếng,

so sánh các tiếng đó với nhau để tìm ra những điểm khác nhau

* Ví dụ: Phân biệt “dành” và “giành”

- dành: âm d - vần anh - thanh huyền Nghĩa là khi ta muốn giữ lại cái(điều) gì đó ( như: dành dụm, để dành,…)

- giành: âm gi - vần anh - thanh huyền Nghĩa là nói đến sự nỗ lực, cốgắng để đạt được điều gì đó ( như: giành giải thưởng, giành giật,…)

Bên cạnh đó, tôi còn sử dụng đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, vật thật,…nhằm để phát huy tính tích cực, kích thích sự tò mò, tư duy tìm hiểu của họcsinh Ví dụ:

* Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh (TV3 -Tập 1, tr.4).

Cho học sinh nhìn bảng viết đoạn 3: từ “Hôm sau …đến xẻ thịt chim”

Trang 8

Trước khi viết bài, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu nghĩa một số tiếng

dễ lẫn lộn như:

+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại).

+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra còn sẻ là chim sẻ, san sẻ.

+ Bài tập: Điền vào chỗ trống vần an hay ang?

đ `… hoàng đ `… ông s …loáng

Học sinh tiến hành làm bài tập, sau đó giáo viên sửa bài và cho học sinh phântích từ:

- đàng hoàng ≠ đàn (tiếng đàn)

- đàn ông ≠ đàng (đường)

- sáng loáng ≠ sán (sán: giun, lãi) nghĩa khác là tiến đến gần

* Dạy bài: Nghe – viết: Ông ngoại (TV3 - Tập 1, tr.34) – Chép đoạn 3

Trong đoạn viết có câu: “Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè, …trongđời đi học của tôi sau này”

Khi viết tiếng “lặng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “lặn”, giáo viên yêu cầu họcsinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

- Lặng = L + ăng + thanh nặng

- Lặn = L + ăn + thanh nặng

So sánh để thấy sự khác nhau, tiếng “lặng” có âm cuối là “ng” còn tiếng “lặn”

có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ cách phát âm và cách viết sẽ không viết sai

2.3.3 Giải pháp 3: Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của từ

Do phương ngữ của từng vùng miền khác nhau, cách phát âm đôi khi chưathống nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng Vídụ:

* Dạy Chính tả (Tập chép): Chị em - (TV3 tập1, tr.27)

Học sinh viết: Để chị trải chiếu, buông màn cho em

Học sinh đọc “buôn màn” nhưng viết “buông màn”, do đó học sinh cần hiểu

“buông” có nghĩa là thả màn xuống, còn “buôn” là buôn bán vì vậy phải viết là

“buông màn”

* Dạy Chính tả (Nghe – viết): Người mẹ (TV3 tập 1, tr.30)

Nội dung viết: Nhờ Thần Đêm Tối chỉ đường, bà vượt qua bao nhiêu khókhăn, hi sinh cả đôi mắt của mình để giành lại đứa con đã mất

Học sinh đọc “dành” nhưng viết “giành” Giáo viên giúp học sinh hiểu

nghĩa: giành là tranh giành, giành phần hơn về mình còn dành là để dành (dành

dụm, dỗ dành)

* Dạy Chính tả bài Nhà rông ở Tây Nguyên (TV3 tập 1, tr 127) có bài: Phân

biệt từ chiêng và chiên.

Giáo viên cho học sinh quan sát tranh cái chiêng và hình ảnh hoạt độngchiên/ rán món ăn Từ đó học sinh phân biệt:

- Chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang dội.

- Chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ đun trực

tiếp trên bếp lửa

Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể đểgiải nghĩa từ

Trang 9

Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ vàcâu,Tập làm văn, nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả khi

mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạotiếng Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh Giáo viên chú giải từ mới ởphân môn Tập đọc kết hợp đặt câu Nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đãhiểu nghĩa từ; tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vậtthật, mô hình, tranh ảnh,… Với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đótrong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ

2.3.4 Giải pháp 4: Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả

Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính qui luật chi phối hàngloạt từ Khi giáo viên hướng dẫn kĩ phần này cho học sinh nắm vững sẽ giúp họcsinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1, lớp 2 các em

đã được học với luật chính tả đơn giản như các âm đầu : k, gh, ngh chỉ kết hợpvới âm i, e, ê và âm g chỉ kết hợp với : a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư Đây cũng là điềukiện tốt để học sinh tiếp tục học ở lớp 3 Để đạt được hiệu quả cao trong việc rènviết đúng chính tả cho học sinh lớp 3 thì giáo viên phải tiếp tục củng cố vàtruyền đạt thêm cho học sinh những mẹo, luật chính tả sau:

* Quy tắc ghi phụ âm đầu:

- Qui tắc viết: k/c/q

Được ghi bằng ba hình thức khác nhau, nhưng phổ biến nhất là bằng chữcái c

+ C viết trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, uô, ưa

Ví dụ: cái ca, căn dặn, cái cân, nằm co, cô giáo, cơ quan, ông cụ, cử tạ, cuộcđua, cái cưa…

+ K viết trước nguyên âm i, e, ê, iê, ia

Ví dụ: kỉ niệm, thước kẻ, truyện kể, kiên cố, ngoài kia…

+ Q viết trước âm đệm u được ghi bằng q

Ví dụ: quả cam, cơ quan, quên làm, yêu quý…

- Qui tắc viết g, gh:

+ G viết trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư

Ví dụ: con gà, cố gắng, xa gần, gõ cửa, gốc cây, gờ, gụ, củ gừng…

+ Gh viết trước các nguyên âm i, e, ê

Ví dụ: ghi nhớ, ghé vào, cái ghế…

- Qui tắc viết ng, ngh :

+ Ng viết trước nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, ưa, ưu

Ví dụ: té ngã, ngăn tủ, ngân hàng, rau ngò, bỡ ngỡ, đi ngủ, cá ngừ, conngựa, ngưu…

+ Ngh viết trước nguyên âm: e, ê, i, iê, eo

Ví dụ: lắng nghe, củ nghệ, nghỉ hè, nghiêng nghiêng, nhà nghèo…

* Mẹo nhóm nghĩa ch/ tr:

- Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết là ch

Ví dụ: cha, chú, chị, cháu, chồng,…

- Những từ chỉ đồ vật trong gia đình và tên con vật đều bắt đầu bằng ch

Ví dụ: chai, chum, chén, chổi, chảo, chiếu, chuông, chiêng,… chuột, chồn,chó, chuồn chuồn, châu chấu, chích chòe, chèo bẻo, chìa vôi,…

Trang 10

- Những từ chỉ vị trí viết là tr.

Ví dụ: trên, trong, trước,…

Ví dụ: Bài tập: Chọn tr hay ch điền vào chỗ trống:

Mặt tròn, mặt lại đỏ gay

Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao

Suốt ngày lơ lửng trên cao Đêm về đi ngủ, chui vào trong mây.

* Mẹo nhóm viết s/ x:

- Tên thức ăn và đồ dùng nấu ăn viết là x

Ví dụ: xôi, xúc xích, xì dầu, xoong,…

- Các động từ, tính từ thường viết là x

Ví dụ: xem, xách, xẻ, xay, xào, xoa, xúc, xanh,…

- Hầu hết các danh từ còn lại đều viết là s

Chỉ người: sứ giả, đại sứ, sư sải, giáo sư, gia sư,…

Chỉ cây cối: sen, sung, sấu, sắn, sim, si,…

Chỉ đồ vật: sọt, sợi dây, sợi vải,…

Chỉ sự vật, hiện tượng: sao, sương, sông, suối, sấm sét,…

Có một số trường hợp ngoại lệ là danh từ nhưng lại viết là x: xe, xuồng, túixách, xẻng, xã, trạm xá,…

* Mẹo nhóm viết d/r/gi:

Trong trường hợp này ta cần nhớ nghĩa và cách viết tương ứng, muốn xácđịnh cách viết đúng phải dựa vào sự đối lập về nghĩa:

- Gia (nghĩa là tăng thêm): gia hạn, gia tăng, tham gia, gia vị,…

- Gia ( nghĩa là nhà): gia đình, gia trưởng, gia tài, gia sư,…

- Da (lớp vỏ bên ngoài): da thịt, da mặt, da dẻ,…

- Ra (sự di chuyển): ra vào, ra sân, ra chơi, ra ngoài,…

* Mẹo nhóm viết l/n:

Phân biệt nghĩa theo chữ ghi âm đầu l/n

Ví dụ: không lên / không nên, cái lá / cái ná, con la / quả na,…

* Quy tắc viết chính tả âm cuối n/ng:

Ví dụ: con trăn / ánh trăng, cái bàn / cây bàng, tan lễ / tang lễ,…

* Quy tắc viết âm đệm u, o:

- U viết sau chữ q:

Ví dụ: quang đãng, hành quân,…

- U đứng trước các nguyên âm â, ê, y, yê, ya:

Ví dụ: huân chương, luân chuyển, hoa huệ, trí tuệ, huy chương, lũy tre, luyệntập, câu chuyện, trời khuya, …

- O đứng trước các nguyên âm a, ă, e:

Ví dụ: cái loa, bông hoa, khỏe khoắn, tóc xoăn, sức khỏe, xòe tay,…

* Quy tắc viết một số nguyên âm là âm chính:

- Nguyên âm a khi đứng trước y và u

Ví dụ: hát hay, bàn tay, hoa cau, bà cháu,

* Quy tắc viết nguyên âm đôi: iê, uô, ua, ưa, ươ, ia

- Viết iê liền sau âm đầu trước âm cuối

Ví dụ: chiến công, tiên tiến, tiếng hát, xanh biếc, viết bài, …

Trang 11

- Viết uô khi có âm cuối.

Ví dụ: cái cuốc, tuốt lúa, quả chuối, luôn luôn, rau muống, nhuộm vải,…

- Viết ua khi không có âm cuối

Ví dụ: con cua, của cải, mua bán,…

- Viết ưa khi không có âm cuối

Ví dụ: trời mưa, quả dưa,…

- Viết ươ khi có âm cuối

Ví dụ: yêu nước, lướt thướt, vườn hoa, tình thương, con bướm, tưới cây, quảbưởi, cướp cờ,…

- Viết ia khi không có âm cuối

Ví dụ: cây mía, chia tay,…

- Nguyên âm đôi có âm cuối đi kèm

Ví dụ: dưới, triều, nước, tướng, chiến, phương,

- Nguyên âm đôi không có âm cuối đi kèm

Ví dụ: nửa, của,…

- Nguyên âm đôi đi sau âm đệm

Ví dụ: thuyền, quyền,…

+ Mẹo tương ứng thanh điệu trong từ láy: (Luật bổng-trầm)

- Đối với học sinh thường viết sai thanh hỏi, thanh ngã tôi thường hướng dẫn các

em phân biệt cách phát âm hai dấu thanh này (thanh ngã đọc nhấn giọng và dàihơi hơn thanh hỏi) Ngoài ra tôi còn cho học sinh học thuộc luật chính tả vớithanh hỏi, thanh ngã là: ngang - sắc - hỏi (có nghĩa là tiếng không có dấu thanhhoặc có thanh sắc thì thường đi với tiếng có thanh hỏi) huyền - ngã - nặng (cónghĩa là tiếng có thanh huyền hoặc thanh nặng thường đi chung với tiếng cóthanh ngã) Nhưng luật trên chỉ mang tính tương đối, chứ không phải tuyệt đối Trong các từ láy đôi, các dấu thanh bao giờ cũng cùng một nhóm (trầm)huyền - ngã - nặng hoặc (bổng) sắc - hỏi - không dấu Để học sinh nhớ được 2nhóm này giáo viên có thể cho các em học thuộc câu thơ sau:

Chị Huyền mang nặng ngã đau

Hỏi không sắc thuốc lấy đâu mà lành.

* Bổng:

Ví dụ: Ngang + hỏi: nho nhỏ, vẩn vơ, mải mê, tuổi thơ,…

Sắc + hỏi: mải miết, chải chuốt, trút bỏ,…

Hỏi + hỏi: đủng đỉnh, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ,…

* Trầm:

Ví dụ: Huyền + ngã: sững sờ, thẫn thờ, lững lờ, …

Nặng + ngã: nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…

Ngã + ngã: rỗi rãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo,…

Ví dụ: Bài Chính tả Chiếc áo len (Sách Tiếng Việt 3 - Tập 1 - Trang 22)

Bài tập 2/b: Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ? Giải câu đố.

Vừa dài mà lại vừa vuông

Giúp nhau kẻ chỉ, vạch đường thẳng băng.

(là cái thước kẻ)Tên nghe nặng trịch

Lòng dạ thẳng băng

Ngày đăng: 19/05/2021, 11:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w