Trong tiến trình này, việc cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương là một mắt xích quan trọng, bởi lẽ, đây là những cơ quan trực tiếp tiếp xúc hàng ngày, hàng giờ với nh
Trang 1TS NguyÔn ThÞ Håi * iến pháp năm 1992 sửa đổi đã khẳng
định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp
quyền ở nước ta và xác định một nguyên tắc
mới trong tổ chức và hoạt động của Nhà
nước, đó là quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Để từng
bước đạt được mục tiêu và bảo đảm nguyên
tắc nói trên, việc cải cách tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước ta vẫn là một nhu
cầu cần thiết Trong tiến trình này, việc cải
cách tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương là một mắt xích quan trọng, bởi
lẽ, đây là những cơ quan trực tiếp tiếp xúc
hàng ngày, hàng giờ với nhân dân, trực tiếp
liên quan tới việc đáp ứng nhu cầu, nguyện
vọng và lợi ích của nhân dân song cũng có
thể trực tiếp xâm hại tới quyền, tự do và lợi
ích của nhân dân nếu như những cơ quan này
vi phạm pháp luật trong khi thực hiện chức
năng, thẩm quyền của mình Hiệu quả hoạt
động của các cơ quan này cao hay thấp sẽ
ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công hay thất
bại của công cuộc xây dựng nhà nước pháp
quyền ở nước ta Chính vì vậy, việc tổ chức
và hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ
ban nhân dân ở nước ta theo quy định của
Luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban
nhân dân năm 2003 sẽ được cải cách rõ rệt so
với trước Khác hoàn toàn với Luật tổ chức
và hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân năm 1994, Luật này không xác định chức năng, thẩm quyền của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân nói chung mà xác định chức năng, thẩm quyền của từng cấp trong từng lĩnh vực một cách rõ ràng, cụ thể theo hướng nhằm phân định giữa chúng Đây
là điểm đặc biệt mới của Luật năm 2003 và phù hợp với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta vì nó thể hiện sự phân công, phân cấp rõ ràng hơn trong hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương Thêm vào đó, theo Luật mới, tính chất tự quản, đại diện, và cả tính chất cơ quan quyền lực nhà nước của hội đồng nhân dân đều được nâng cao hơn nhiều so với trước Điều
đó được thể hiện ở những điểm sau:
Th ứ nhất, ngoài quyền quyết định những
chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt, không ngừng cải thiện đời sống cho nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước như trước đây, hội đồng nhân dân có thêm quyền quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, phê chuẩn quyết toán ngân
H
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2sách địa phương; quyết định các chủ trương,
biện pháp triển khai thực hiện ngân sách địa
phương; điều chỉnh dự toán ngân sách địa
phương trong trường hợp cần thiết; giám sát
việc thực hiện ngân sách đã được hội đồng
nhân dân quyết định; quyết định việc phân
cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp
ngân sách ở địa phương; quyết định thu phí,
lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân
và mức huy động vốn theo quy định của
pháp luật
Th ứ hai, trong lĩnh vực xây dựng chính
quyền địa phương, ngoài những nhiệm vụ
quyền hạn như trước đây, hội đồng nhân dân
còn có thêm quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối
với người giữ chức vụ do hội đồng nhân dân
bầu, hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền
quyết định tổng biên chế sự nghiệp ở địa
phương phù hợp với yêu cầu phát triển và
khả năng ngân sách của địa phương; thông
qua tổng biên chế hành chính của địa phương
trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết
định…
Th ứ ba, chức năng giám sát của hội đồng
nhân dân được chú trọng, tăng cường hơn
nhiều so với trước thông qua việc Luật dành
cả chương III quy định cụ thể về hoạt động
giám sát của hội đồng nhân dân, thường trực
hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng
nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân trong
đó quy định cụ thể các hình thức hoạt động
giám sát của từng chủ thể này
Tuy nhiên, về vị trí và vai trò của hội
đồng nhân dân thì vẫn còn có vấn đề phải
bàn Trong Hiến pháp hiện hành và Luật tổ
chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân
năm 2003 đều xác định hội đồng nhân dân là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương;
đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Song thiết nghĩ, với vai trò và chức năng của hội đồng nhân dân như hiện nay thì không nên và không cần xác định nó là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương mà chỉ nên xác định nó là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương là đủ Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và bãi miễn, vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên nên có thể xác định hội đồng nhân dân cũng nằm trong hệ thống
cơ quan hành pháp hội đồng nhân dân không phải là cơ quan lập pháp, nó quyết định các vấn đề của địa phương trên cơ sở và trong khuôn khổ Hiến pháp, luật và các quy định của các cơ quan nhà nước cấp trên, vì thế, hoạt động quyết nghị của nó thực chất cũng
là hoạt động chấp hành luật, tổ chức thực hiện luật hội đồng nhân dân được cả Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ hướng dẫn, kiểm tra còn uỷ ban nhân dân đương nhiên là cơ quan hành pháp tại địa phương nên chỉ cần xác định nó là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương mà không cần xác định nó là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân Bởi vì, uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên chứ không chỉ nghị quyết của hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo của hệ thống dọc từ Chính phủ thông suốt đến các cấp chính quyền địa phương, chịu sự chỉ đạo của các bộ, ngành về các lĩnh vực công tác chuyên môn chứ không chỉ chịu sự chỉ đạo
Trang 3của hội đồng nhân dân
- Về tổ chức và hoạt động của hội đồng
nhân dân và uỷ ban nhân dân thì phương thức
hình thành của hội đồng nhân dân như hiện
tại là hoàn toàn hợp lí nhưng phương thức
hình thành của uỷ ban nhân dân, theo chúng
tôi vẫn còn phải bàn thêm Hiện tại, uỷ ban
nhân dân là do hội đồng nhân dân bầu ra và
hoạt động theo chế độ tập thể Chế độ này
bên cạnh mặt tích cực như phát huy trí tuệ tập
thể, hạn chế những mặt tiêu cực của cá nhân
người đứng đầu thì cũng đã bộc lộ nhiều
khuyết tật của nó, kìm hãm sự năng động,
nhanh nhạy, thông suốt vốn là những đặc
trưng chủ yếu của bộ máy hành chính nhà
nước Có ý kiến cho rằng: “Cơ chế này một
m ặt không phát huy được vai trò, trách
nhi ệm cá nhân người đứng đầu hành chính
và m ặt khác lại là chỗ che chắn cho tính vô
thi ếu sót, khuyết điểm cá nhân, lợi dụng danh
ngh ĩa tập thể uỷ ban để thực hiện ý đồ cá
nhân ng ười đứng đầu”.(1) Từ đó có thể dẫn
đến tình trạng “quyền lợi thì cá nhân hưởng
còn khuyết điểm thì tập thể gánh chịu” mà
không truy cứu được trách nhiệm cá nhân
Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi
ủng hộ ý kiến cho rằng chúng ta có thể tính
đến phương án đổi tên uỷ ban nhân dân thành
uỷ ban hành chính, hoạt động theo chế độ thủ
trưởng và chủ tịch uỷ ban hành chính là do
nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra Nếu
vậy thì có thể bảo đảm tính thực quyền, sự
độc lập, quyết đoán và tính năng động của
người này đồng thời có thể khẳng định được
tài năng và dễ xác định được trách nhiệm cá
nhân của người đứng đầu cơ quan hành pháp
mà lại vẫn bảo đảm quyền lực của nhân dân
với cơ quan này Tất nhiên, nếu theo phương
án này thì cần phải có cơ chế có hiệu quả để bảo đảm sự kiểm tra, giám sát hoạt động của
uỷ ban hành chính, nhất là của chủ tịch uỷ ban nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán có thể xảy ra trong hoạt động của cơ quan này Ngoài ra, cần phải xác định cụ thể
cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau đồng thời phối hợp với nhau trong hoạt động giữa hội đồng nhân dân với uỷ ban hành chính và giữa các cấp chính quyền địa phương Các chức
vụ khác của uỷ ban do chủ tịch uỷ ban đề cử
để cơ quan nhà nước cấp trên phê chuẩn Các thành viên của uỷ ban hành chính không thể
là đại biểu của hội đồng nhân dân cùng cấp
và không được kiêm nhiệm chức vụ khác để vừa bảo đảm cho họ có thể chuyên tâm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, vừa bảo đảm sự độc lập cần có của mỗi cơ quan, nhờ
đó mà bảo đảm hiệu quả hoạt động cao cho từng cơ quan đó
Trong hoạt động của hội đồng nhân dân ở nước ta hiện nay cần khắc phục một số hạn chế nhất định Đó là, các nghị quyết của hội đồng nhân dân các cấp được xây dựng thường không phải bởi trí tuệ của chính các đại biểu mà chủ yếu là sự hợp thức hoá các quyết định của cấp uỷ và của uỷ ban nhân dân, bởi vì số kì họp của hội đồng nhân dân rất ít (mỗi năm thường có 2 kì), thời gian dành cho các kì họp ngắn (thường chỉ 2 - 3
ngày), trong khi đó việc “chuẩn bị nội dung
để thảo luận và quyết định tại kì họp còn
nh ững hạn chế, nhất là ở cấp huyện và cấp
xã Tài li ệu gửi đến đại biểu còn chậm, thời
l ượng báo cáo, thuyết trình còn quá nhiều so
v ới thời gian tiến hành kì họp, nhất là thời
Trang 4gian th ảo luận còn chưa nhiều”.(2) Thêm vào
đó, trình độ của các đại biểu còn nhiều hạn
chế nên khó có thể tham gia xây dựng được
những nghị quyết thực sự có chất lượng Về
hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân
trong thời gian qua thì: “Vai trò giám sát của
h ội đồng nhân dân chưa có kết quả cụ thể
Th ực tế khá phổ biến là hoạt động chất vấn
c ủa hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn
c ủa uỷ ban nhân dân chỉ mang tính chất gợi
m ở các vấn đề, chưa bảo đảm hiệu lực thực
s ự Người chất vấn thường chưa đủ các thông
tin c ần thiết, còn người trả lời thì chưa đủ
tho ả đáng và cụ thể Các cuộc thảo luận
trong các kì h ọp hội đồng nhân dân thường
gi ống như họp Mặt trận tổ quốc, tính quyền
l ực và pháp lí của nó còn rất bị hạn chế”.(3)
Khâu theo dõi, kiểm tra việc thực hiện những
“lời hứa” của những người bị chất vấn hầu
như bị “quên lãng”, bị bỏ qua Vì thế, trong
hoạt động giám sát, hội đồng nhân dân không
bao quát hết công việc quản lí điều hành của
uỷ ban nhân dân cũng như thực tế hoạt động
của toà án và viện kiểm sát nhân dân Đó
cũng là một trong những nguyên nhân làm
cho nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, tiêu
cực, tham nhũng, buôn lậu xảy ra ở địa
phương chưa được khắc phục Để khắc phục
tình trạng trên, Luật năm 2003 đã dành hẳn
một chương riêng để quy định về hoạt động
giám sát của hội đồng nhân dân, điều chưa
bao giờ có trong các đạo luật tổ chức hội
đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân trước đây
Chương này quy định cụ thể về hình thức,
trình tự, thủ tục giám sát của hội đồng nhân
dân, quyền xử lí các vấn đề trên cơ sở kết quả
của quá trình giám sát, nó cũng quy định về
những vấn đề tương tự đối với hoạt động
giám sát của thường trực hội đồng nhân dân
và các ban của hội đồng nhân dân Bằng những quy định mới này, chúng ta hi vọng trong thời gian tới, hiệu quả của hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân sẽ được nâng cao thêm một bước đáng kể Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, để nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân nói chung, thiết nghĩ, còn cần phải nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất và tinh thần trách nhiệm của đại biểu hội đồng nhân dân đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thêm phương tiện làm việc cho các đại biểu mà trước hết là phải có trụ sở làm việc riêng và văn phòng giúp việc cho hội đồng nhân dân như Quy chế của hội đồng nhân dân các cấp đã quy định, nhờ đó có thể tránh được tình trạng:
“H ầu hết các tỉnh hội đồng nhân dân có trụ
s ở chung với uỷ uỷ ban nhân dân, chỉ có vài
t ỉnh có trụ sở riêng nhưng đó lại là trụ sở cũ
c ủa uỷ uỷ ban nhân dân để lại”.(4) Ngoài ra, cần phải tổ chức hệ thống thông tin thường xuyên, bao quát các công việc, hoạt động của
uỷ ban nhân dân và của các ngành khác ở địa phương cho đại biểu hội đồng nhân dân đồng thời tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức pháp luật, kiến thức quản lí nhà nước cho đại biểu hội đồng nhân dân, trước hết là tập trung bồi dưỡng cho đội ngũ ở các ban hội đồng nhân dân
Trong hoạt động của cơ quan hành chính thì cần phải khắc phục một số hạn chế đang tồn tại Đó là, việc thực hiện chức năng hành chính của uỷ ban nhân dân các cấp hiện còn
bị “cắt khúc”, chưa thành một hệ thống thông suốt, theo một thứ bậc chặt chẽ Hiệu lực quản lí, điều hành của uỷ ban nhân dân còn nhiều hạn chế, thiếu sót, các biểu hiện quan
Trang 5liêu, cửa quyền, vi phạm quyền dân chủ còn
nhiều Để khắc phục được những thiếu sót
trên thì việc tìm ra mô hình tổ chức hợp lí
cho chính quyền địa phương cũng là biện
pháp hữu hiệu
- Về mô hình tổ chức chính quyền địa
phương, mặc dù Luật tổ chức hội đồng nhân
dân và uỷ ban nhân dân vẫn quy định ở tất cả
các cấp đều có đầy đủ cả hội đồng nhân dân
và uỷ ban nhân dân song tôi đồng tình với
quan điểm của một số tác giả cho rằng không
cần phải có đủ cả hội đồng nhân dân và uỷ
ban nhân dân ở tất cả các cấp chính quyền địa
phương như hiện nay Bởi lẽ: “Nhiều công
trình nghiên c ứu, điều tra, khảo sát và các
k ết luận của nhiều hội nghị tổng kết, đều
th ống nhất thừa nhận rằng: hoạt động của
h ội đồng nhân dân nhiều cấp, nhiều nơi kém
hi ệu lực, mang nặng tính hình thức, có
tr ường hợp chỉ làm nhiệm vụ hợp thức hoá
nhân dân chu ẩn bị trước Bên cạnh đó chất
l ượng đại biểu hội đồng nhân dân chưa đáp
ứng yêu cầu, chưa được trang bị kiến thức,
kiêm nhi ệm nhiều công tác khác, chưa làm
đúng và làm tốt vai trò đại biểu, không đủ
điều kiện và phương tiện (thời gian, cơ sở vật
ch ất, thông tin) để thực hiện nhiệm vụ”.(5)
Ngoài ra, một thực trạng đang diễn ra ở đất
nước ta hiện nay là trên địa bàn một tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, mỗi cử tri
có tới ba người đại diện ở ba cấp Nếu tính cụ
thể, tại mỗi đơn vị bầu cử mỗi cấp hội đồng
nhân dân, lá phiếu của cử tri không phải chỉ
bầu cho một đại biểu mà thường phải bầu cho
hai đến ba đại biểu nên tổng cộng mỗi cử tri
có đến gần chục người đại diện Song trong
thực tế có không ít trường hợp khi có việc gì
không tự giải quyết được với chính quyền thì người dân lại tìm đến báo chí, gửi đơn khiếu nại khắp nơi, kể cả vượt cấp Sở dĩ có tình trạng đó là vì mối quan hệ hàng ngày giữa
đại diện với cử tri “vừa rất hình thức, vừa không rõ ràng và vì v ậy thiếu tính thiết
th ực”,(6) thêm vào đó, “do còn thiếu sự phân định rõ ràng về khuôn khổ, phạm vi trách nhi ệm cũng như về phương thức đại diện nên
b ản thân người đại diện cũng không nắm được
nguy ện vọng của dân để thực hiện tốt hơn”,(7)
cho nên hoạt động của các cơ quan đại diện kém hiệu quả Vì thế, hội đồng nhân dân chỉ nên có ở những cấp nhất định mà thôi
Như trên đã nói, điểm mới và cũng là điểm thể hiện sự hoàn thiện hơn của Luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân năm 2003 so với trước là Luật đã quy định tương đối cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân trong những lĩnh vực nhất định đồng thời thẩm quyền của từng cấp cũng có những điểm khác nhau nhất định giữa thành thị và nông thôn Song về tổ chức thì lại không có
sự khác nhau giữa cấp huyện và cấp tỉnh và cũng không có sự khác nhau giữa thành thị
và nông thôn Có lẽ đây cũng là điểm còn tiếp tục phải xem xét thêm vì thành thị và nông thôn là những địa bàn có tính chất, phạm vi hoạt động và đối tượng quản lí rất khác nhau Đô thị là nơi mật độ dân số tập trung cao, làm nhiều ngành nghề khác nhau,
ít có quan hệ mật thiết lâu đời trong cộng đồng dân cư bởi lẽ dân cư có nguồn gốc từ nhiều vùng đất nước Trình độ dân trí cao, lượng thông tin nhiều, phạm vi lãnh thổ hẹp,
Trang 6việc phân vạch địa giới giữa các phường,
quận không rõ ràng, hoàn toàn mang tính
chất quy ước và chỉ là tương đối Giao thông
thuận lợi, giữa người dân với cấp chính quyền
cao nhất của địa phương (thành phố, thị xã)
khá gần gũi Hệ thống cơ sở hạ tầng (điện,
nước, đường xá…), các công trình phúc lợi
(bệnh viện, trường học, nhà văn hoá ) đều
do thành phố hay thị xã thống nhất quản lí,
thống nhất đầu tư, thống nhất duy tu hay
nâng cấp Vấn đề trị an xã hội cũng phải chỉ
huy, điều hành, giải quyết ở cấp thành phố,
thị xã Quận và phường không đủ sức đầu tư
và cũng không thể đầu tư, giải quyết theo lối
“cắt khúc”, quận này, phường này khác với
quận kia, phường kia mà phải giải quyết
đồng bộ, đồng loạt thống nhất trong phạm vi
toàn thành phố hay toàn thị xã, do hội đồng
nhân dân thành phố hay thị xã bàn bạc ra
quyết nghị giải quyết, “các nghị quyết của
h ội đồng nhân dân quận hay phường đều
không có kh ả năng thực thi mà đều phải
chuy ển lên cấp thành phố hoặc thị xã xem
qu ận, phường trở lên hình thức, hội họp tốn
nét đặc thù địa phương hay lãnh thổ”.(8) Vì
vậy, theo chúng tôi, ở cấp thành phố, thị xã
thì chính quyền cần có đủ cả hai cơ quan hội
đồng nhân dân và uỷ ban hành chính Còn ở
quận và phường chỉ nên có uỷ ban hành
chính mà không cần có hội đồng nhân dân để
giảm bớt sự tốn kém của việc họp hành, bầu
bán mà vẫn có thể nâng cao hiệu quả hoạt
động của chính quyền địa phương
Vùng nông thôn thường có địa giới lãnh
thổ rộng lớn, được phân chia thành các lãnh
thổ riêng biệt, có ranh giới rõ rệt như các làng, xã, thôn, ấp, bản hoặc theo các vùng miền khác nhau Các cộng đồng dân cư được hình thành từ lâu theo các quan hệ chặt chẽ
về huyết thống, dòng tộc hoặc tôn giáo… có những sự tương đồng đặc sắc về tập quán, phong tục, truyền thống, lễ nghi, có đình làng, thành hoàng làng riêng Trình độ dân trí
ở nông thôn thấp hơn ở thành thị nhiều nên dân cư thành thị có ý thức sống theo pháp luật cao hơn, còn dân cư nông thôn lại nặng
về sống theo đạo đức, tập quán Các công trình phúc lợi ở nông thôn ít hơn và kém hiện đại hơn ở thành thị Cơ sở hạ tầng ở nông thôn nghèo nàn hơn và được xây dựng chủ yếu theo từng địa bàn xã, thôn, làng, bản Còn ở đô thị dù lớn hay nhỏ đều được xây dựng theo quy hoạch chung của toàn đô thị
mà không thể theo ranh giới riêng của từng phường, quận Các hoạt động kinh tế - xã hội
ở nông thôn chủ yếu được khép kín trong các
xã, thôn, làng, bản Với những đặc trưng trên nên chính quyền ở cấp tỉnh và cấp xã thì cần
có đủ cả hai cơ quan hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính với cách thức hình thành và hoạt động như đã nêu Sở dĩ như vậy là vì tỉnh có vị trí đặc biệt, được xác định là cấp chiến lược, nơi tiếp nhận đầu tiên sự phân cấp của trung ương và có khả năng cả về cán
bộ, tài chính để thực hiện chức năng tự quản của chính quyền địa phương Còn xã là điểm cuối cùng của hệ thống cơ quan nhà nước, nơi nhân dân trực tiếp thực hiện quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực Xã là nơi hàng ngày chính quyền gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân, giải quyết, đảm bảo các quyền lợi của nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân Thêm vào đó,
Trang 7“xã là một cộng đồng dân cư đã hình thành từ
lâu đời, mỗi xã có đặc thù riêng Xã tuy
không gian nhỏ hơn huyện nhưng lại có
nhiều hình nhiều vẻ hơn huyện (tính đa dạng
và đặc thù) Xét về mặt lịch sử, mỗi xã được
hình thành khác nhau, trải qua hàng ngàn
năm, qua bao chế độ và nhiều xã vẫn tồn tại
“lệ làng” do “hương ước” của từng làng ấn
định Tính “tự trị”, “tự quản” của làng xã đã
bám rễ rất sâu và tồn tại rất lâu dài Cấp xã là
tế bào, là cấp sát dân nhất, 80% dân số đất
nước sống ở xã, mọi chủ trương, đường lối
chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do
xã triển khai thi hành Vì thế, thực hiện tốt
chính sách của Nhà nước, dân chủ ở xã được
bảo đảm thì mục tiêu dân chủ hoá xã hội sẽ
được thực hiện tốt Do đó, cấp chính quyền
xã phải được kiện toàn về mặt tổ chức,
phương cách điều hành và con người có năng
lực, phẩm chất.(9)
Riêng đối với cấp huyện thì thời gian qua
đã xảy ra tình trạng “…hội đồng nhân dân
huy ện hiện nay họp không có nội dung để
bàn b ạc, các nghị quyết của hội đồng nhân
dân ch ỉ mang tính hình thức, không có khả
n ăng và điều kiện khả thi”.(10) Tuy nhiên, với
quy định theo hướng phân cấp tương đối rõ
ràng như trong Luật mới, chúng ta hi vọng
hoạt động của hội đồng nhân dân huyện sẽ
được cải thiện theo hướng tốt hơn Song,
thiết nghĩ, nếu tổ chức uỷ ban theo hướng uỷ
ban hành chính như đã nêu thì ở huyện có thể
giảm bớt hội đồng nhân dân, chỉ còn lại uỷ
ban hành chính để thực hiện sự quản lí hành
chính nhà nước trên địa bàn huyện với tính
cách là cánh tay nối dài của tỉnh hay là một
cấp thừa hành mệnh lệnh của tỉnh và nối liền
với chính quyền xã, được phân công, phân
cấp, uỷ quyền giải quyết một số công việc nhất định
Ngoài ra, mô hình tổ chức bộ máy của cơ quan hành pháp địa phương cũng không nên máy móc theo một khuôn mẫu thống nhất mà nên có một cơ chế “mềm” trong đó có một số
bộ phận là bắt buộc cho tất cả các địa phương
(ví dụ, bộ phận quản lí ngân sách, quản lí y
tế, văn hoá, giáo dục…), còn một số bộ phận
là không bắt buộc và cần có hay không là tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu của từng địa
phương (ví dụ, bộ phận quản lí việc tu bổ và
bảo vệ rừng hoặc một loại khoáng sản nào đó…)
Cuối cùng, theo chúng tôi, cần phải chú trọng tới một biện pháp vừa bảo đảm tính thực quyền của quyền lực nhân dân, vừa bảo đảm thực hiện được trong thực tế trách nhiệm pháp
lí của đại biểu trước nhân dân Đó là phải tìm ra
cơ chế để cử tri thực hiện được trong thực tế quyền bãi miễn các đại biểu hội đồng nhân dân
và những người đứng đầu cơ quan hành pháp khi họ không còn xứng đáng./
(1), (3).Xem: TS Lê Minh Thông (chủ biên) - “Một số
v ấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà n ước CHXHCN Việt Nam”, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội 2001, tr 467, 469
(2).Xem: Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, PTS Nguyễn
Hữu Đức (đồng chủ biên) - “Cải cách hành chính địa
ph ương lí luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 1998, tr 129
(4).Xem: “Nghiên cứu lập pháp”, số 8/2001, tr 50
(5), (8), (9), (10).Xem: “Chuyên đề về chính quyền địa
ph ương”, Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu Khoa học pháp lí,
tr 15, 16, 17, 19, 20 - 21
(6), (7).Xem: “Chuyên đề về sửa đổi bổ sung một
s ố điều Hiến pháp 1992”, Bộ tư pháp H 2001,
tr 111, 116