Ruộng đất được chia để cày cấy không phải là tài sản thuộc sở hữu riêng của người được chia, vì vậy theo quy định tại Điều 372 BLHĐ thì "ruộng đất khẩu phần thì không được bán cho người
Trang 1
ộ luật Hồng Đức (BLHĐ) là bộ luật có giá
trị trong pháp luật phong kiến Việt Nam
Một trong những nội dung làm nên giá trị của
BLHĐ là bộ luật đ* có những quy định thừa
nhận và bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ mà
quan trọng nhất là quyền sở hữu của họ Đây là
quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì
"bản chất của các mối quan hệ về sở hữu tài sản
là cơ sở để hiểu những quyền lợi và nghĩa vụ
của từng cá nhân thành viên trong một gia đình
và địa vị tương ứng của họ trong đó "(1) Trong
chế độ phong kiến, ruộng đất là tư liệu sản xuất
chủ yếu, là tài sản chính của gia đình Vì vậy,
đối tượng chủ yếu của quyền sở hữu trong
BLHĐ là ruộng đất Quyền sở hữu tài sản của
người phụ nữ được thể hiện qua vị trí của họ ở
ba phương diện: Là người con trong gia đình, là
người vợ và là người mẹ
1 Quyền sở hữu của người phụ nữ với tư
cách là người con trong gia đình
Mặc dù chịu ảnh hưởng của triết lí Nho giáo
song BLHĐ đ* thừa nhận và bảo vệ quyền sở
hữu của người con gái một cách tương đối bình
đẳng so với người con trai Quyền về tài sản của
người con gái được thể hiện qua các nội dung cơ
bản sau:
- Quyền được nhận ruộng đất công của làng
x* Theo quy định của BLHĐ, người từ đủ 15
tuổi trở lên được coi là người trưởng thành,(2) có
quyền được cấp ruộng đất công của làng x*, có
quyền có tài sản riêng Điều 347 BLHĐ có quy
định: "Các quan lộ, huyện, x1 đ1 chia ruộng
rồi nếu có dân đinh đ1 lớn tuổi xin cấp ruộng
đất thì cho các quan lộ, huyện, x1 được tự liệu
định " Như vậy, quyền được nhận ruộng đất công làng x* để cày cấy không phân biệt đối với người con trai hay con gái Người con trai hay con gái đều được nhận phần ruộng đất như nhau theo quy định của Nhà nước Chế độ chia ruộng
đất công ở các làng x* gọi là chế độ quân điền Người dân cày cấy trên ruộng đất công phải nộp tô thuế cho Nhà nước theo quy định, tuy nhiên việc được nhận ruộng đất tạo điều kiện cho người dân có ruộng đất để cày cấy, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Ngoài phần thuế phải làm nghĩa vụ đối với Nhà nước, sản phẩm thu hoạch được thuộc về quyền sở hữu riêng của người lao động Ruộng đất được chia để cày cấy không phải là tài sản thuộc sở hữu riêng của người được chia, vì vậy theo quy định tại Điều
372 BLHĐ thì "ruộng đất khẩu phần thì không
được bán cho người khác hay chuyển riêng cho ai; trái luật thì phải khép vào tội chiếm bán ruộng đất công" Quy định này nhằm hạn chế và ngặn chặn khả năng tích luỹ ruộng đất Triều
đình nhà Lê đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng
đất đai và hiệu quả của việc sử dụng đó Đối với ruộng đất của mình mà không sử dụng thì bị trừng phạt khá nặng Điều 387 quy định: "Con trai từ 16 tuổi, con gái từ 20 tuổi trở lên, mà ruộng đất của mình để người trong họ hay người ngoài cày hay ở, đ1 quá niên hạn mới miễn cưỡng đòi lại, thì bị phạt 80 trượng và mất
B
* Giảng viên chính Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
ThS Nguyễn Phương Lan *
Trang 2Tạp chí luật học số tháng 3/2003 43
ruộng đất (niên hạn: người trong họ 30 năm,
người ngoài 20 năm) Nếu vì chiến tranh hay
đi phiêu bạt mới về, thì không theo luật này"
Quy định này cho thấy rõ người con gái cũng
có quyền sở hữu đối với ruộng đất như người
con trai
- Việc được nhận ruộng đất công làng x* là
điều kiện cơ bản để con cái có thể tách ra khỏi
cha mẹ, hình thành hộ gia đình độc lập Hơn
nữa, bên cạnh quyền được sử dụng ruộng đất
công để canh tác, pháp luật nhà Lê còn công
nhận quyền sở hữu tài sản riêng của con Đối
với những tài sản mà con làm ra do lao động,
làm thuê, buôn bán riêng hay được thừa kế
riêng từ người thân thì con có quyền sở hữu độc
lập Cha mẹ không có quyền gì đối với những
tài sản này Một đạo luật được ban hành dưới
thời Hồng Đức còn quy định rõ sự rừng phạt đối
với người chủ gia đình (ông hay cha) nếu người
đó hái ăn cây trái trong đất của con cháu mà
không được chúng cho phép.(3) Theo phong tục
Việt Nam, con cháu được phép tách ra ở riêng
khi cha mẹ còn sống Pháp luật triều Lê cũng
chấp nhận điều đó Theo quy định tại Điều 2
của BLHĐ thì việc con cháu tách ra khỏi ông
bà, cha mẹ không bị coi là phạm tội bất hiếu
Đây là sự sửa đổi pháp luật Trung Quốc cho phù
hợp với phong tục tập quán của Việt Nam Bởi
vì, theo pháp luật Trung Quốc, mọi tài sản trong
gia đình đều là tài sản chung của tất cả các
thành viên, mọi người trong gia đình đều có
quyền sở hữu và làm chủ tài sản như nhau Con
không có quyền sở hữu tài sản riêng Do đó, khi
ông bà, cha mẹ còn sống mà con cháu đòi chia
tách tài sản ra ở riêng là bất hiếu, không phải
đạo làm con và không được pháp luật cho phép
- Quyền thừa kế của người con gái được
thừa nhận và bảo vệ Theo quy định tại Điều
388 BLHĐ thì nếu cha mẹ mất cả, có ruộng đất,
chưa kịp để lại chúc thư thì anh chị em được tự
chia nhau, sau khi để lại 1/20 số ruộng đất làm
hương hoả, giao cho người con trưởng giữ Phần
của con vợ lẽ, nàng hầu thì ít hơn Như vậy, con trai và con gái của vợ cả đều được hưởng phần thừa kế như nhau, con trai và con gái của vợ lẽ cũng được thừa kế bằng nhau nhưng ít hơn con của vợ cả Sự thừa nhận quyền thừa kế của con gái như con trai là điểm tiến bộ của pháp luật nhà Lê Hơn thế nữa, nhà lập pháp triều Lê còn cho phép con gái cũng được thừa kế tài sản hương hoả Điều 391 BLHĐ quy định: "Người giữ hương hoả có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng, ruộng đất hương hoả thì cho lấy một phần hai mươi" Các Điều 395, 397 BLHĐ cũng quy định tương tự và cụ thể hơn về quyền thừa kế tài sản hương hoả của người con gái
Đây là quy định rất tiến bộ chỉ có riêng trong pháp luật nhà Lê Theo pháp luật Trung Quốc, con gái thường bị loại ra khỏi việc phân chia gia sản nên không thể là người thừa kế tài sản hương hoả, thờ cúng tổ tiên Vì vậy, tác giả Insun Yu đ* nhận xét: "Luật về thừa kế gia tài
và chế độ hương hoả ở bộ luật nhà Lê là đặc thù cho x1 hội Việt Nam".(4) Việc pháp luật nhà Lê quy định chia tài sản thừa kế như nhau giữa con trai và con gái và xác định người con trai trưởng của vợ cả là người thừa tự, thừa kế tài sản hương hoả là biện pháp nhằm ngặn chặn sự tranh chấp tài sản khi cha mẹ mất, bảo đảm việc tiếp tục thờ cúng tổ tiên và điều quan trọng nhất là bảo
đảm cho tài sản hương hoả không bị chuyển ra khỏi dòng họ Đó là mục đích quan trọng nhất
mà nhà làm luật muốn đạt được chứ không phải
là sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ Việc người con gái cũng có quyền thừa kế tài sản hương hoả sẽ dẫn tới khả năng là toàn bộ tài sản hương hoả có thể sẽ chuyển ra khỏi dòng họ nội khi người con gái đi lấy chồng Điều đó là không phù hợp với phong tục tập quán và không
được pháp luật chấp nhận Điều 400 BLHĐ quy
định rõ: "Ruộng đất hương hoả, dù con cháu nghèo khó, cũng không được đem bán làm trái luật, có người tố cáo phải ghép vào tội bất
Trang 3hiếu " Để tránh việc ruộng đất hương hoả có
thể chuyển ra khỏi gia đình họ nội và bảo vệ tài
sản hương hoả mà tổ tiên để lại với mục đích
duy trì việc cúng giỗ, pháp luật quy định mọi tài
sản mà các con được thừa kế từ cha mẹ hay ông
bà đều là tài sản riêng của con cái BLHĐ bảo
vệ quyền thừa kế tuyệt đối của con cái và trừng
phạt mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu
đó của các con Điều 377 BLHĐ quy định hình
phạt đối với người vợ đem bán tài sản thừa kế
của con từ người chồng mình đ* chết là 50 roi,
trả tiền lại cho người mua, trả ruộng cho con
Người chồng sau hoặc vợ sau mà đem bán tài
sản của con chồng trước hoặc vợ trước thì bị xử
nặng hơn như: Phạt 60 trượng, biếm hai tư Điều
379 BLHĐ cũng không cho phép người trưởng
họ bán điền sản của con cháu được thừa kế từ
cha mẹ chúng Nếu bán mà không có lí do chính
đáng thì phạt 60 trượng, biếm hai tư, và giao
dịch bị huỷ bỏ, không có hiệu lực
Tuy nhiên, nếu con chưa trưởng thành thì
cha mẹ có trách nhiệm quản lí tài sản của
con Trong trường hợp một bên vợ hoặc
chồng chết trước thì người còn sống sẽ quản
lí tài sản của con
Như vậy, trong quyền sở hữu của con cái
không hề có sự phân biệt giữa con trai và con
gái Con gái và con trai đều có quyền sở hữu tài
sản riêng, có quyền thừa kế tài sản như nhau với
kỉ phần bằng nhau và đều được pháp luật bảo vệ
quyền sở hữu đó như nhau
2 Quyền sở hữu của người vợ trong gia đình
Quy định tại các Điều 374, 375, 376 BLHĐ
cho thấy tài sản của vợ chồng bao gồm: Tài sản
riêng của người chồng do được thừa kế từ gia
đình mình (phu gia điền sản), tài sản riêng của
người vợ do được thừa kế từ gia đình mình (thê
gia điền sản) và tài sản do vợ chồng làm ra trong
thời gian hôn nhân (tần tảo điền sản)
a Quyền sở hữu đối với tài sản riêng
BLHĐ công nhận vợ chồng đều có quyền sở
hữu đối với tài sản riêng Tài sản riêng của vợ
chồng là những tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn, do được thừa kế từ gia đình của mỗi người Đối với những tài sản này, vợ, chồng đều có quyền sở hữu riêng rẽ, mặc dù những tài sản này được quản lí chung bởi vợ chồng và các lợi tức của nó là tài sản chung Những tài sản này chỉ tạm thời gộp vào để vợ chồng quản lí chung trong thời gian hôn nhân Người chồng không có quyền chiếm dụng tài sản mà vợ được thừa kế từ dòng họ nhà mình và ngược lại, người vợ cũng vậy Do đó, khi li hôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về sở hữu riêng của người đó và họ có quyền mang theo, trừ trường hợp li hôn do người vợ có lỗi như gian dâm (Điều 401) hoặc khi người vợ có hành
vi gây thương tích cho chồng (Điều 481 BLHĐ) thì điền sản của vợ phải để lại cho chồng Nếu một bên vợ hoặc chồng chết thì phần tài sản riêng của người chết sẽ được chia như sau:
- Nếu vợ chồng có con thì toàn bộ tài sản riêng của người vợ hoặc chồng đ* chết sẽ được chia đều cho các con nhưng tạm thời phần tài sản ấy vẫn do người chồng (hoặc vợ) còn sống quản lí (Điều 374 BLHĐ)
- Nếu vợ chồng không có con thì phần tài sản riêng của người chồng (hay vợ) đ* chết sẽ
được chia làm hai phần Một phần thuộc về cha
mẹ đẻ của người chết (hoặc về người tế tự) để lo cúng giỗ Một phần thuộc về người vợ (hay chồng) còn sống để bảo đảm nuôi dưỡng người
đó, người vợ (hay chồng) còn sống chỉ có quyền hưởng hoa lợi từ phần tài sản đó để sinh sống
mà không được biến thành của riêng Khi người
vợ hay người chồng này cũng chết đi thì phần tài sản đó lại được trả về cho gia đình cha mẹ đẻ của người chồng (hoặc vợ) đ* chết trước (Điều
375, 376 BLHĐ) Trong trường hợp vợ chồng có con, một người chết trước, sau đó con cũng chết thì cách giải quyết cũng tương tự Song nếu cha
mẹ vợ đều đ* chết thì người chồng được hưởng
Trang 4Tạp chí luật học số tháng 3/2003 45
2/3 tài sản riêng của người vợ đ* chết, còn 1/3
thuộc về người thừa tự trong họ để lo việc cúng
giỗ (Điều 376 BLHĐ) Như vậy, theo quy định
này thì người chồng chỉ được thừa kế tài sản
riêng của vợ khi vợ chết trước nếu hai người có
con chung
Việc thừa nhận người vợ có quyền sở hữu
đối với tài sản riêng là điểm tiến bộ của pháp
luật nhà Lê Điều đó đ* tạo cho người vợ có vị
thế ngang bằng nhất định với người chồng, cũng
có nghĩa là không thừa nhận người chồng có
quyền uy tuyệt đối đối với vợ Địa vị pháp lí đó
của người vợ trong pháp luật là sự phản ánh
khách quan địa vị của người vợ trong x* hội
b Quyền sở hữu đối với tài sản chung
Tài sản chung của vợ chồng (hay tần tảo
điền sản) là những tài sản mà vợ chồng làm ra
trong thời gian hôn nhân Các điều 374, 375
BLHĐ đều quy định về tài sản chung của vợ
chồng Qua các quy định này cho thấy tính chất
bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản
chung Trong trường hợp cần chia tài sản chung
thì tài sản mà vợ chồng làm ra đều được chia
đôi, mỗi người một nửa Phần tài sản của mỗi
bên vợ chồng được nhận làm của riêng, thuộc sở
hữu riêng của người ấy Phần tài sản này sẽ
được để lại cho các con khi người vợ hoặc
chồng chết Nếu vợ chồng không có con thì một
nửa số tài sản chung đó sẽ được chuyển cho gia
đình cha mẹ đẻ của người đó Việc chia đôi tài
sản chung chứng tỏ rằng sự đóng góp của người
vợ vào khối tài sản chung là ngang bằng với
người chồng Vị trí của người vợ trong hoạt
động kinh tế quyết định đến vị trí của họ trong
gia đình Vì là người có đóng góp vào kinh tế
gia đình nên người vợ cũng có quyền làm chủ
đối với tài sản gia đình Việc thừa nhận quyền
của người vợ đối với tài sản chung đ* thể hiện
sự bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa vợ và
chồng Đây là điểm tiến bộ và độc đáo của
pháp luật nhà Lê
Sự bình đẳng đó còn thể hiện ở quyền định
đoạt tài sản chung Pháp luật và phong tục đều
đòi hỏi phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng trong việc chuyển nhượng tài chung cho người khác Điều đó được chứng minh qua các bằng chứng là các văn tự bán tài sản có chữ kí của cả
vợ chồng hoặc các tờ mẫu văn tự về bán, cầm
cố, trao đổi các tài sản thực thụ và các điền nô ở thời nhà Lê bao giờ cũng đòi hỏi sự thoả thuận của cả hai vợ chồng.(5)
Ngoài một nửa tài sản được chia trong khối tài sản chung mà vợ chồng làm ra, người vợ còn
được hưởng hoa lợi từ 2/3 phần tài sản của chồng (tức là 2/3 của một nửa khối tài sản chung mà vợ chồng làm ra) để bảo đảm nuôi dưỡng đời mình sau khi người chồng chết Chỉ khi người vợ chết hay cải giá thì người vợ mới mất quyền hưởng hoa lợi, quyền sử dụng đối với phần tài sản của chồng (Điều 375 BLHĐ) Qua các quy định trên cho thấy có sự khác biệt duy nhất về quyền sở hữu tài sản giữa vợ và chồng Đó là trong khi người vợ mất hết quyền hưởng hoa lợi từ tài sản riêng của người chồng
đ* chết nếu cải giá lấy chồng khác thì người chồng dù lấy vợ khác vẫn không mất quyền hưởng hoa lợi từ tài sản riêng của vợ đ* chết Sở
dĩ có sự khác nhau đó có lẽ là do phong tục chi phối, vì ở Việt Nam, khi lấy chồng, người con gái thường về nhà chồng ở Nếu khi chồng chết, người vợ lại đi lấy chồng khác thì bị coi là ra khỏi nhà chồng, không còn là thành viên của gia
đình nhà chồng nữa nên không có quyền hưởng các quyền lợi đối với tài sản của chồng
Qua các quy định về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong BLHĐ có thể thấy nhà làm luật đ* hạn chế phần nào uy quyền của người chồng đối với vợ so với đạo lí Nho giáo Việc pháp luật cho phép chuyển trả lại gia đình cha
mẹ đẻ của người vợ phần tài sản riêng của người
đó trước khi kết hôn và một nửa tài sản chung
mà vợ chồng làm ra trong thời gian hôn nhân,
Trang 5nếu người vợ chết mà không có con càng khẳng
định tính chất độc lập trong quan hệ sở hữu giữa
vợ và chồng và càng hạn chế quyền uy của
chồng đối với vợ Như vậy có thể thấy, mặc dù
đạo đức Nho giáo đòi hỏi người vợ phải phục
tùng và phụ thuộc vào chồng song với sự độc lập
làm chủ tài sản, người vợ không nhất thiết phải
phụ thuộc vào chồng; nếu có thì chỉ vì lí do đạo
đức và phong tục chi phối mà không phải vì lí
do kinh tế Sự độc lập nhất định trong quyền sở
hữu tài sản của người vợ là điều kiện quan trọng
nhất để bảo đảm vị thế độc lập, bình đẳng của
vợ trước chồng - vị trí mà người vợ không thể có
được theo đạo lí Nho giáo Vì vậy có thể nói, so
với quan điểm Nho giáo thì trong BLHĐ địa vị
của người vợ đ* được cải thiện hơn hẳn
3 Quyền về tài sản của người mẹ
Người vợ có quyền quản lí tài sản chung,
cùng chồng làm chủ tài sản gia đình, chăm sóc
con cái Tài sản chung của vợ chồng thuộc
quyền sở hữu độc lập của vợ chồng Con cái chỉ
được hưởng tài sản của cha mẹ khi cả cha và mẹ
đều chết
Trong trường hợp người chồng chết trước,
người vợ sẽ thay chồng quản lí tài sản gia đình
Theo quy định tại các Điều 374, 375, 376
BLHĐ thì khi một bên vợ hoặc chồng chết
trước, chưa phát sinh việc chia tài sản thừa kế
ngay mà người vợ hoặc chồng còn sống sẽ quản
lí tài sản đó Người vợ cũng có quyền quản lí tài
sản như chồng Nếu con còn nhỏ, có tài sản
riêng nhưng chưa trưởng thành thì người mẹ sẽ
giữ trách nhiệm quản lí tài sản của con Việc
người mẹ và đứa con cùng kí vào một bản văn tự
bán ruộng đất có niên đại vào năm 1789 đ*
chứng tỏ rằng người mẹ quản lí tài sản của đứa
con chưa trưởng thành.(6) Tuy nhiên, người mẹ
không có quyền định đoạt tài sản của con
Nếu muốn bán tài sản riêng của con thì người
mẹ phải được sự đồng ý của con hoặc của họ
hàng, tuỳ theo mức độ chi tiêu thực tế (Điều
377 BLHĐ)
Khi con đ* lớn mà chồng chết, người mẹ có trách nhiệm thay chồng, giúp con trai điều khiển gia đình Địa vị của người vợ goá trong x* hội phong kiến được coi trọng, nếu người vợ thủ tiết thờ chồng, thay chồng điều khiển cơ nghiệp nhà chồng Vì vậy, mặc dù "tang chồng đ1 hết mà người vợ muốn thủ tiết, nếu ai không phải là ông
bà, cha mẹ mà ép gả cho người khác thì xử biếm
ba tư và bắt phải li dị, người đàn bà phải trả về nhà chồng cũ " (Điều 320 BLHĐ) Quy định
đó vừa có ý nghĩa khuyến khích người vợ goá thủ tiết thờ chồng đồng thời ngặn chặn những hành vi muốn ép gả người vợ goá tái giá để chiếm đoạt vị trí thay chồng điều khiển gia đình của họ Từ đó cho thấy người đàn bà goá cũng
có vị trí nhất định trong x* hội phong kiến thời
Lê nếu họ cư xử phù hợp với các chuẩn mực đạo
đức của đạo lí Nho giáo
Từ các quy định trên cho thấy, pháp luật triều Lê đ* có những bước tiến bộ vượt bậc so với thời đại lúc đó khi công nhận và bảo vệ quyền độc lập làm chủ tài sản của người phụ nữ
Đó là điều kiện cơ bản để xác định địa vị pháp lí của người phụ nữ với vị thế được cải thiện và bảo đảm hơn hẳn so với triết lí Nho giáo và qua
đó mà quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong gia
đình và x* hội phong kiến thời Lê được bảo đảm hơn Các quy định về quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ là một trong những nội dung tiến
bộ đ* tạo nên giá trị của BLHĐ mà nhà lập pháp vẫn cần tiếp nhận, kế thừa trong việc xây dựng pháp luật hiện nay./
(1).Xem: Insun Yu, “Luật và x1 hội Việt Nam thế kỉ XVII- XVIII”, Nxb KHXH - Hà Nội 1994, tr.160 (2).Xem các điều 313, 16, 285 BLHĐ
(3).Xem: Insun Yu, Sđd, tr 162
(4).Xem: Insun Yu, Sđd, tr 93
(5).Xem: Insun Yu, Sđd, tr 167
(6).Xem: Insun Yu, Sđd, tr 171