Mà một trong các nguồn quan trọng và chủ yếu nhất để hình thành vốn của doanh nghiệp chính là vốn góp của các thành viên khi thành lập doanh nghiệp, vì vậy việc tìm hiểu các quy định của
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU……… 2
I Khái quát chung về công ty và vấn đề góp vốn vào công ty….2 1. Khái quát chung về công ty……… 2
2. Vấn đề góp vốn của công ty……… 3
II Phân tích nội dung pháp luật hiện hành về hình thức vốn góp, định giá vốn góp và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty……4
1. Hình thức góp vốn……….4
2. Định giá tài sản góp vốn vào công ty……….7
3. Chuyền quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty……… 10
III Một số hạn chế và những ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả các quy định về hình thức vốn góp, định giá và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vồn vào công ty……….….14
1. Hạn chế……… …….14
2. Những ý kiến, kiến nghị nhằm nầng cao hiệu quả……… 14
KẾT LUẬN ………15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………16
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là yếu tố cực kì quan trọng không thể thiếu khi thành lập bất kì loại hình doanh nghiệp nào Nó không những quyết định sự sống còn của doanh nghiệp mà còn thể hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lí của doanh nghiệp, quyết định quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu, chủ đầu tư của doanh nghiệp Mà một trong các nguồn quan trọng và chủ yếu nhất để hình thành vốn của doanh nghiệp chính là vốn góp của các thành viên khi thành lập doanh nghiệp, vì vậy việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về các hình thức vốn góp, vấn đề định giá vốn góp và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công
ty (doanh nghiệp) là cần thiết
I Khái quát chung về công ty và vấn đề góp vốn vào công ty:
1 Khái quát chung về công ty
1.1.Khái niệm công ty
Điều 2 Luật Công ty năm 1990 của Việt Nam tuy không đưa ra một khái niệm chung về công ty nhưng qua định nghĩa về công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn thì : "Công ty …là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp
và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty".
1.2.Phân loại công ty
Căn cứ vào tính chất liên kết,chế độ chịu trách nhiệm của thành viên công ty và ý chí của nhà lập pháp, dưới góc độ pháp lý người ta chia công ty thành hai loại cơ bản là:
Công ty đối nhân
Công ty đối nhân là những công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về nhân thân của các thành viên tham gia, sự hùn vốn là yếu tố thứ yếu Công ty đối nhân có đặc điểm quan trọng là không có sự tách bạch về tài sản cá nhân các thành viên và tài sản của công ty
Công ty đối nhân thường tồn tại dưới hai dạng cơ bản:
- Công ty hợp danh;
Trang 3- Công ty hợp vốn đơn giản.
Công ty đối vốn
Khác với công ty đối nhân, công ty đối vốn không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp Đặc điểm quan trọng của công ty đối vốn là có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của cá nhân
Các công ty đối vốn thông thường chia làm hai loại:
- Công ty cổ phần;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
2.Vấn đề góp vốn vào công ty
2.1 Khái niệm góp vốn
Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp có quy định: "Góp vốn là việc đưa
tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty." Góp vốn là cách thức chủ yếu để xác lập tư cách thành viên công ty Nhà đầu tư sẽ có tư cách thành viên khi họ góp vốn vào công ty Khi đó, họ có quyền sở hữu một phần công ty, được hưởng lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp và chịu trách nhiệm trước các khoản nợ của công ty trong phạm
vi phần vốn góp của mình
2.2 Đối tượng có quyền góp vốn
Tại khoản 3 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005 có quy định:
" Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này."
Theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005 và Pháp lệnh cán bộ công chức quy định thì tổ chức, cá nhân được quyền góp vốn vào công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, trừ những trường hợp sau đây:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản của Nhà nước và Công quỹ góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
Trang 4- Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
* Công chức chỉ bị hạn chế việc góp vốn kinh doanh vào những ngành nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước, hạn chế này không
áp dụng đối với các ngành nghề khác
Cán bộ, công chức không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005 Do đó, công chức không thể góp vốn vào công ty TNHH vì người góp vốn thì đương nhiên là thành viên Hội đồng thành viên và được coi là người quản lý công ty; công chức chỉ được góp vốn vào công ty cổ phần với tư cách là cổ đông mà không được tham gia Hội đồng quản trị, được góp vốn vào công ty hợp danh với tư cách là thành viên góp vốn
II Phân tích nội dung pháp luật hiện hành về hình thức vốn góp, định giá vốn góp và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty
1.Hình thức vốn góp:
Cũng tại Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp có quy định: "Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty."
1.1 Tài sản góp vốn là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng
Việc góp vốn dưới hình thức là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng là những hình thức đơn giản Đây là những tài sản mà khi góp vốn sẽ không phải định giá tài sản, cũng không cần phải thực hiện việc chuyển quyền
sở hữu cho công ty Chính vì thế nên việc góp vốn bằng những tài sản này sẽ được thực hiện một cách dễ dàng
1.2 Tài sản góp vốn là giá trị quyền sử dụng đất
Luật đất đai 1993 ra đời đã quy định năm quyền cơ bản của người sử dụng đất Từ đó, quyền sử dụng đất được coi như một thứ tài sản, có thể dùng
để góp vốn làm ăn kinh doanh Luật đất đai 2003 đã mở rộng đối tượng được góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tạo ra sự thuận lợi trong việc đầu tư, sản xuất,
Trang 5kinh doanh Như vậy, quyền sử dụng đất cũng được coi là một tài sản và đây là một quyền tài sản mà người có quyền sử dụng trong một số trường hợp do pháp luật quy định cũng có quyền góp vốn để sản xuất kinh doanh thông qua hợp đồng
Theo quy định tại điều 727 Chương XXXII Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, người sử dụng đất góp phần vốn của mình bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai
1.3.Tài sản góp vốn là giá trị quyền sở hữu trí tuệ
Xuất phát từ vai trò ngày càng quan trọng của giá trị quyền sở hữu trí tuệ, chúng đã được công nhận là một loại tài sản có thể góp vào doanh nghiệp
từ Luật công ty 1990 Điều này được khẳng định tại khoản 4 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 Quy định đó chứng tỏ chất xám của con người đã được đưa vào vốn đầu tư của doanh nghiệp, nắm giữ loại tài sản này là một trong những yếu
tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 102/2010 ngày 1/10/2010 quy định chi tiết luật doanh nghiệp, thay thế cho Nghị định 139/2007 ngày 25/09/2007 Một trong những nội dung nhận được sự quan tâm của nhiều người là quy định
góp vốn bằng "quyền sở hữu trí tuệ".
Điều 5, Nghị định 102 quy định quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật Chỉ cá nhân, tổ chức sở hữu các quyền này mới có quyền sử dụng để góp vốn
- Quyền tác giả
Quyền tác giả là quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do
mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Điều 750 BLDS 2005 quy định: "Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo".
Trang 6- Quyền sở hữu công nghiệp:
Tại Điều 780 BLDS 2005 có quy định: "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định".
Giá trị quyền sở hữu công nghiệp là một loại tài sản mà tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có quyền góp vốn vào công ty
Liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ quy định góp vốn bằng "thương
hiệu" cũng được nhiều người quan tâm trong thời gian vừa qua Pháp luật hiện
nay không có khái niệm chung về thương hiệu Bộ Tài chính sẽ có hướng dẫn
cụ thể việc định giá góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung Riêng về khái niệm góp vốn bằng "thương hiệu" do từ trước đến nay không có quy định
cụ thể nên việc góp vốn có thể được hiểu thông qua các quy định liên quan Ví dụ: góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa
1.4.Tài sản góp vốn là giá trị quyền sở hữu công nghệ, bí quyết kỹ thuật
Khoản 3 Điều 3 Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 có giải thích
rằng: "Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm".
Quyền sở hữu công nghệ bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ
1.5 Các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty
Đó có thể là tài sản hữu hình hay vô hình Tuy nhiên, không phải bất cứ tài sản nào cũng có thể được dùng để góp vốn vào công ty mà tài sản góp vốn
đó phải hợp pháp Nếu tài sản khác này không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ
tự do chuyển đổi, vàng thì phải được định giá Trong thực tế hoạt động đầu tư, tài sản góp vốn rất phong phú, có thể là những giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu hoặc là máy móc, động cơ, nhà cửa, vật kiến trúc, phương tiện giao thông
2 Định giá tài sản góp vốn vào công ty
Trang 7Quy định tại Điều 23 Luật doanh nghiệp 1999 đã khắc phục hạn chế tại Điều 9 Luật công ty 1990 Điều 9 Luật công ty 1990 chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề định giá tài sản góp vốn mà chưa nêu ra được nguyên tắc, cách thức định giá cũng như trách nhiệm của các chủ thể xung quanh việc định giá tài sản góp vốn Điều 30 Luật doanh nghiệp 2005 tiếp tục quy định về vấn đề định giá tài sản góp vốn vào công ty
Các nhà làm luật Việt Nam đã ý thức rõ ràng về sự khác nhau trong việc góp vốn để thành lập công ty với góp vốn vào một công ty đang hoạt động bằng việc chỉ ra sự khác biệt của thẩm quyền định giá
Việc định giá tài sản hoàn toàn do các bên tự thỏa thuận với nhau, không
có sự can thiệp, tham gia của người đại diện từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
2.1 Đối tượng tài sản góp vốn vào công ty phải được định giá
Như trên đã phân tích, tài sản góp vốn vào công ty có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền
sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên góp để tại thành vốn của công ty (Khoản 4 Điều 4 Luật
doanh nghiệp 2005) Theo Điều 30 Luật Doanh nghiệp 2005 có quy định: " Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được…định giá." Như vậy, đối tượng tài sản góp vốn vào công ty phải được
định giá là:
- Giá trị quyền sử dụng đất
- Giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật
- Tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty
Trên cơ sở đó, vốn điều lệ của công ty mới xác định rõ ràng, quyền lợi của các bên được đảm bảo tối đa
2.2 Nguyên tắc định giá
Trang 8Tài sản góp vốn vào công ty thuộc những đối tượng vừa trình bày ở trên
sẽ phải được người có thẩm quyền tiến hành định giá theo những nguyên tắc nhất định
Luật công ty 1990 chưa nêu ra được nguyên tắc định giá Luật doanh nghiệp 1999 đã khắc phục hạn chế đó bằng việc chỉ ra một nguyên tắc định giá khá chặt chẽ Kế thừa quy định của Luật doanh nghiệp 1999, tại khoản 2 Điều
30 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: "Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí."
Trong thực tế hoạt động định giá tài sản góp vốn, để tìm được sự nhất trí cho việc xác định giá trị tài sản không hề đơn giản Để có thể định giá một cách chính xác và đạt được sự nhất trí của các thành viên, cổ đông sáng lập thì người
có thẩm quyền định giá phải có đủ trình độ để xác định trị giá tài sản Tuy nhiên, pháp luật không thể đòi hỏi người có thẩm quyền định giá phải có đủ trình độ, nghiệp vụ để có thể xác định trị giá của loại tài sản góp vốn là bao nhiêu tiền Việt Nam Do đó việc định giá tài sản cần có sự hợp tác cao giữa những người có thẩm quyền định giá để đi đến một mức giá cụ thể, phản ánh xác thực về hiện trạng tài sản mà nhà đầu tư thấy rõ là hợp lý, đảm bảo không gây ra tranh chấp
Nguyên tắc đinh giá tài sản góp vốn suy cho cùng là trên cơ sở bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư, cho công ty tiếp nhận vốn và cả bên thứ ba
Luật đât đai 2003 đã xác định các nguyên tắc khi định giá đất, nên khi công ty tiếp nhận vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất sẽ căn cứ vào cơ sở pháp
lý này để phục vụ cho công tác định giá
Chỉ khi dựa trên những căn cứ pháp luật, thì giá trị tài sản góp vốn mới được xác định chính xác, nguyên tắc định giá tài sản mà Luật doanh nghiệp đưa
ra mới có tính khả thi
Luật doanh nghiệp đưa ra được nguyên tắc định giá tài sản góp vốn là một tiến bộ lớn so với Luật công ty
2.3 Thẩm quyền định giá
Trang 9Luật công ty quy định quyền định giá tài sản góp vốn thuộc về đại hội đồng thành lập công ty Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì quyền định giá tài sản góp vốn thuộc về các thành viên, cổ đông sáng lập, trong trường hợp các thành viên, cổ đông sáng lập không tự định giá thì có thể thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Tại Điều 30 Luật doanh nghiệp 2005 đã quy định rõ ràng quyền định giá tài sản góp vốn vào những thời điểm khác nhau Đó là góp vốn khi thành lập doanh nghiệp và góp vốn trong quá trình hoạt động
- Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp:
Do các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá
- Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động:
Do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá
Thường trong những trường hợp tài sản góp vốn đơn giản thì các thành viên, cổ đông sáng lập sẽ tự định giá theo nguyên tắc nhất trí Nếu thành viên,
cổ đông sáng lập không trực tiếp tiến hành thì có thể thuê những tổ chức định giá chuyên nghiệp có chức năng định giá tài sản
2.4 Trách nhiệm của người định giá
Luật doanh nghiệp đặt ra vấn đề trách nhiệm, nhằm mục đích để người
có quyền định giá phải ý thức cao về quyền hạn và nghĩa vụ của mình
Luật quy định việc định giá tài sản góp vốn hoàn toàn do các bên tiến hành và tự chịu trách nhiệm
Đối với trường hợp thành viên, cổ đông sáng lập tự tiến hành định giá tài sản góp vốn, tất cả thành viên, cổ đông sáng lập cùng chịu trách nhiệm về giá trị tài sản Trong trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá Quy định này buộc người định giá phải có trách nhiệm cao, trung thực và hiểu biết Song trên thực tế, không phải lúc nào người
Trang 10có quyền định giá tài sản cũng có đủ trình độ để xác định chính xác về giá trị của tài sản góp vốn Pháp luật cũng không thể đòi hỏi họ phải có đủ trình độ, khả năng định giá tốt về tài sản Từ hiện trạng đó, công ty có thể thuê các tổ chức định giá chuyên nghiệp để định giá
Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp nhận Trong trường hợp này, nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá
Quyền lợi của nhà đầu tư gắn liền với giá trị phần vốn góp, do đó định giá tài sản chính xác, sát với giá trị thực tế sẽ bảo vệ tối đa quyền lợi của nhà đầu tư, tạo tâm lý an tâm khi đầu tư kinh doanh
Nếu như có những quy định cụ thể hơn về cơ chế bảo vệ quyền lợi của người có tài sản bị định giá sai, trách nhiệm cụ thể của người có thẩm quyền định giá thì hiệu lực của Luật doanh nghiệp còn có thể phát huy cao hơn nữa
3 Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty
Công ty là một thực thể pháp lý độc lập với nhà đầu tư; có tài sản riêng, tách bạch với tài sản của cá nhân nhà đầu tư (ngoại trừ công ty hợp danh) Để đảm bảo sự tách bạch này, thì tài sản góp vốn của nhà đầu tư phải được chuyển quyền sở hữu cho Công ty
Luật công ty 1990 đã đề cập đến vấn đề này song chỉ mới dừng lại ở thời
hạn góp vốn khi quy định "phần vốn góp phải được nộp đủ ngay khi công ty chính thức thành lập" (điều 9 Luật công ty) mà chưa cụ thể hóa thời điểm
chuyển dịch quyền sở hữu tài sản từ thành viên góp vốn sang công ty, chưa quy định rõ phương thức góp vốn cũng như chưa nêu rõ được bản chất pháp lý của quan hệ này