Ủy ban giáo dục của UNESCO đã đề ra bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỷ XXI là: Học để biết Learning to know, học để làm Learning to do, học để cùng chung sống Learning to live togethe
Trang 1CộNG HOà Xã HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trờng Tiểu học Phú Đông -Ba Vì -Hà Nội
Trình đồ chuyên môn: Đại học S phạm
Hệ đào tào: Từ xa
Bộ môn giảng dạy: Giáo viên Tiểu học
Nhiệm vụ đợc giao: Chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5A-Khối trởng khối 5- Chi
ủy viên chi bộ 8
Khen thởng (cao nhất): Giáo viên giỏi Huyện
Đề tài đạt giải A cấp Huyện- Giáo viên đạt giải nhất thi viết chữ đẹp cấp
Trang 2Ngày nay trên thế giới, mục đích của giáo dục thường được nêu lên trong
4 câu “ Học để biết, học để làm, học để hợp tác, học để sống ( làm người)” Thờigian qua, cấp tiểu học Việt Nam đã thực hiện những thay đổi trong toàn bộ quátrình dạy học Mục đính giáo dục tiểu học đã được hoàn thiện theo hướng hoànthiện toàn diện hơn nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nước và hộinhập vào sự tiến bộ chung của khu vực và thế giới Toán học với tư cách là mộtmôn độc lập, nó cùng với các môn học khác góp phần đào tạo con người pháttriển toàn diện Môn toán ở Tiểu học góp phần rất quan trọng trong việc rènphương pháp giải quyết vấn đề, nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suynghĩ độc lập, sáng tạo, góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết vàquan trọng của người lao động trong thời đại mới
Điều 35 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chỉ rõ
“Giáo dục – Đào tạo là quốc sách hàng đầu” Giáo dục là nền tảng của sự phát
triển khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hộihiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thầntrách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau Giáo dục Việt Namđang tập trung đổi mới hướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại ngang tầmvới các nước trong khu vực và trên thế giới Ủy ban giáo dục của UNESCO đã
đề ra bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỷ XXI là: Học để biết (Learning to
know), học để làm (Learning to do), học để cùng chung sống (Learning to live together), học để tự khẳng định mình (Learning to be), Trong chương trình Tiểu
học môn Toán là môn học chiếm nhiều thời gian và cung cấp lượng kiến thứcrộng, đòi hỏi chính xác cao, vì vậy học sinh phải tích cực, chủ động tiếp thu kiếnthức Việc dạy học Toán theo chương trình sách giáo khoa và giải các bài toánnâng cao đối với học sinh là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc rèn luyện tư duy,làm quen với cách phân tích, tổng hợp Tạo điều kiện cho học sinh hoạt độnghọc tập một cách chủ động, linh hoạt, sáng tạo Từ đó học sinh mới có thể tựmình tìm tòi, phát hiện tri thức mới, có hứng thú, tự tin trong học tập
Trong toàn quá trình học của mỗi học sinh ở phổ thông , thì bậc học đầutiên, bậc tiểu học là bậc học quan trọng nhất mang tính toàn diện thể hiện qua 9môn học, là cơ sở, nền tảng cho việc hình thành nhân cách của học sinh, trên cơ
sở cung cấp những tri thức ban đầu về tự nhiên và xã hội, phát triển các nănglực, trang bị các phương pháp, kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạtđộng thưc tiễn, bồi dưỡng và phát triển tình cảm, thói quen, đức tính tốt đẹp củacon người Cùng với các môn học khác như: Tiếng Việt, Đạo đức, TNXH,
Trang 3Môn toán cũng có một vị trí rất quan trọng cho việc hình thành nhân cách chohọc sinh, vì môn toán là một môn học mang tính khoa học, nghiên cứu một sốmặt của thế giới hiện thực và cũng qua môn toán mỗi học sinh tiểu học đượctrang bị một hệ thống kiến thức cơ bản về nhận thức, điều đó rất cần thiết chođời sống sinh hoạt và lao động Bên cạnh đó học sinh tiểu học qua việc học toán
sẽ phát huy tốt trí tưởng tượng, các kĩ năng kĩ xảo về tính toán, có tính chính xáccao và qua môn toán giúp các em cảm thụ tốt kiến thức của các môn học khác.Cũng qua môn toán, trong suốt cấp học các em cũng tích luỹ được những kinhnghiệm để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh, áp dụng một cách thành thạochính xác kiến thức đã được trang bị vào trong thực tiễn cuộc sống, cũng như sựsáng tạo trong hoạt động học tập của các cấp học sau Trong quá trình tự học, tôi
đã nắm bắt, cập nhật những kiến thức khoa học mới mẻ rất nhiều bổ ích, thiếtthực cho việc giảng dạy Nhìn lại quá trình dạy học, tôi nhận thấy vấn đề dạy vàhọc toán ứng dụng sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán còn nhiều nan giải Học sinhkhi làm bài thường mắc sai lầm, đôi khi còn không làm được, không biết giảiquyết vấn đề ra sao? Do không nắm được cái bản chất, cái đặc điểm chung,không biết phân biệt các dạng bài và dùng thủ thuật tương ứng với các dạng đó.Cho nên việc tìm hiểu những ứng dụng phương pháp sử dụng sơ đồ đoạn thẳngvào giải toán là điều cần thiết và nên làm Qua đó giúp người giáo viên điềuchỉnh phương pháp dạy và có biện pháp giúp học sinh giải quyết khó khănvướng mắc trong khi giải toán, hạn chế mức thấp nhất những sai sót có thể cónơi học sinh Đồng thời giúp cho học sinh có phương pháp học, nắm vững vàvận dụng sơ đồ đoạn thẳng với từng loại toán, làm cho các em nắm được trithức một cách nhẹ nhàng và đạt hiệu quả cao Đó cũng là nguyên nhân thúc đẩytôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: "Sử dụng phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳngtrong dạy học giải toán nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh lớp5”, với tham vọng rất thiết thực là tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môncủa mình Bên cạnh đó, tôi cũng muốn đóng góp một cái gì đó vào việc dạy họcmôn toán ở tiểu học Góp phần nhỏ công sức của mình giúp các em làm được tất
cả các bài toán giải có sử dụng sơ đồ đoạn thẳng và các dạng toán khác có liênquan một cách dễ dàng
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Tìm hiểu nội dung các bước giải và phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳnggiải một số bài toán lớp 5
Trang 4- Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực trạng giải toán bằng phương phápdùng sơ đồ đoạn thẳng ở trường tiểu học Từ đó đề xuất một số ý kiến nhằmphát huy tính tích cực của học sinh lớp 5 – Trường tiểu học Phú Đông
III NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này nhằm giải quyết vấn đề sau
1 Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, tài liệu tham khảo để nắm được nội dung chương trình, mức độ yêu cầu chương trình và những vấn đề liên quan khác.
2 Nghiên cứu thực nghiệm phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng trong dạy học toán nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh lớp
5 – Trường tiểu học Phú Đông.
3 Đề xuất một số biện pháp sử dụng sơ đồ đoạn thẳng trong dạy học toán nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5.
4 Dạy thử nghiệm theo các biện pháp đề xuất.
IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Các kiến thức về sơ đồ đoạn thẳng
- Sử dụng phương pháp dùng đồ đoạn thẳng nhằm phát huy tính tích cựcnhận thức của học sinh lớp 5 Trường tiểu học Phú Đông
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Phương pháp điều tra.
Phương pháp này nhằm mục đích tìm hiểu các phương pháp dạy học, kĩthuật dạy học của giáo viên để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Tiến hành dạy thực nghiệm 2 bài:
Bài 1: Thời gian
Bài 2: Luyện tập chung
- Đồng thời tiến hành kiểm tra
3 Phương pháp đàm thoại:
Trang 5- Trò chuyện với giáo viên và học sinh về phương pháp dùng sơ đồ đoạnthẳng trong dạy học giải toán.
4 Phương pháp quan sát:
- Tôi dự giờ và quan sát từng tiết học xem tính tích cực nhận thức của họcsinh lớp 5 trong môn toán với từng thể loại
5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm:
- Tôi đã xem sổ điểm và các bài kiểm tra của học sinh để bổ xung nhằmlàm chính xác thêm nguồn tư liệu thu được từ thực nghiệm của các em nhằmphản ánh phần nào tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5
6 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
- Tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu những vấn đề nghiên cứu
và thực nghiệm cần phải tiến hành
- Phương pháp này nhằm giải quyết nhiệm vụ số một của đề tài Đó là tìmhiểu nội dung các bước giải và ứng dụng của phương pháp dùng sơ đồ đoạnthẳng giải một số bài toán lớp 5 Là cơ sở để tìm hiểu thực trạng của học sinhtiểu học
7 Phương pháp thống kê toán học.
- Tôi sử dụng phương pháp này nhằm để sử lí kết quả điều tra và thựcnghiệm
- Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng
- Phương pháp rút về đơn vị
- Phương pháp thử chọn
- Phương pháp thế
VII KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
Kế hoạch thực hiện đề tài này được thể hiện trong quá trình một năm học:2010-2011 tại khối lớp 5(chủ yếu lớp 5A) trường Tiểu học Phú Đông
PHẦN THỨ HAI
Nội dung và kết quả nghiên
cứu
Trang 6I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận
Chúng ta đã bước vào thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thế kỷ của nền kinh tếtri thức, phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu đổi mới của thời đại lànhiệm vụ cấp bách của mọi Quốc gia Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã
xác định: "Giáo dục là một bộ phận quan trọng của kinh tế xã hội, có vị trí hàng
đầu trong chiến lược con người, phục vụ chiến lược kinh tế xã hội và quốc phòng"
Điều này chứng tỏ Giáo dục và Đào tạo có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng
trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước Đó là: ‘‘Đào tạo ra hững
con người lao động trí tuệ cao, có ý chí vững bền, có khả năng đáp ứng và đón đầu những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân Tiểu học là bậc học nền móng Cácmôn học ở tiểu học nói chung và môn Toán nói riêng góp phần không nhỏ vàoviệc hình thành và phát triển của những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhâncách con người Việt Nam Những kiến thức, kỹ năng môn toán có rất nhiều ứngdụng trong cuộc sống, nó làm cơ sở cho việc học tập các môn học khác và họctiếp ở các lớp trên Môn toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về sốlượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực; nhờ đó mà học sinh cóphương pháp nhận thức một số mặt của thế giới và biết cách hoạt động có hiệuquả trong đời sống
Môn Toán có tiềm năng giáo dục to lớn, nó góp phần quan trọng trongviệc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giảiquyết vấn đề Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập linhhoạt, sáng tạo; nó góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quantrọng của con người như lao động cần cù, cẩn thận, có ý thức vượt khó khăn,làm việc có kế hoạch, có nền nếp và có tác phong khoa học
Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là một vấn đề mà đảng và nhà nước ta rất
quan tâm; Cố Tổng bí thư Trường Chinh đã nhấn mạnh trong bài phát biểu "Vấn
đề phát triển năng khiếu của học sinh rất quan trọng Học sinh phải có kiến
Trang 7thức phổ thụng toàn diện, nhưng đối với cỏc em cú năng khiếu cần cú kế hoạch hướng dẫn thờm".
Xuất phỏt từ mục tiờu của Đảng là "Phỏt hiện tài năng bồi dưỡng nhõn tài
cho đất nước" chỳng ta cần phải chăm súc thế hệ trẻ ngay từ lỳc ấu thơ đến lỳc
trưởng thành Vỡ vậy việc phỏt triển và bồi dưỡng ngay từ bậc tiểu học là cụngviệc hết sức quan trọng đồi hỏi người giỏo viờn phải khụng ngừng cải tiến về nộidung, đổi mới về phương phỏp để khuyến khớch học sinh say mờ học tập, nghiờncứu tỡm tũi chiếm lĩnh tri thức mới
Trong mỗi hoạt động nhận thức của học sinh tiểu học đi từ t duy cụ thể
đến t duy trừu tợng nên khi học tập toán có lời văn ,các thao tác t duy phân tíchtổng hợp và so sánh cùng với trí tởng tợng không gian diễn ra đan xen với nhau
và gắn liền với liên hệ thực tế đời sống Ta khó phân biệt riêng rẽ những thao tác
t duy ở các thời điểm cụ thể của quá trình nhận thức
Tuy nhiên với một nội dung hoạt động cụ thể của quá trình nhận thức có thểmột thao tác t duy hay trí tởng tợng không gian nổi lên tính chất chủ đạo hoặc
Để phát huy tính học toán tích cực cho học sinh cần:
Qua thực tế tham gia dạy lớp 5A và bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 củatrường tụi thấy được thực trạng việc dạy học và giải toỏn của giỏo viờn và họcsinh cũn nhiều vấn đề phải quan tõm Đú là: Nội dung dạy bồi dưỡng học sinhchưa đảm bảo logic, giỏo viờn khi nghiờn cứu tài liệu tham khảo thấy bài nào
Trang 8hay thỡ chọn để dạy cho học sinh chứ chưa phõn được dạng, loại trong mỗi mạchkiến thức Về phương phỏp dạy giải cỏc bài toỏn chưa hợp lớ, cú những phươngphỏp giải chưa phự hợp với đặc điểm tõm lý và khả năng tiếp thu của học sinh.Học sinh chưa cú một phương phỏp tư duy logic để giải quyết cỏc dạng bài tậpnhất là cỏc bài tập về dóy số Chớnh vỡ vậy, chất lượng dạy bồi dưỡng học sinhchưa cao.
Hơn nữa trong sách giáo khoa Toán 5 chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản vềtoán nh cung cấp công thức tính và các bài tập ở dạng đơn giản Chẳng hạn cáckhái niệm, công thức.Học sinh chỉ cần thay số là làm tính áp dụng theo côngthức là xong Song có nhiều bài toán, đặc biệt những bài toán có lời văn có nộidung hình học lại đòi hỏi yêu cầu cao hơn và nội dung đợc áp dụng và gắn vớithực tiễn đời sống ,nhất là với đời sống nông thôn nh học sinh của chúng ta Bởivậy học sinh rất khó khăn trong việc Thực hành giải toán ở lớp 5 , các em đợcthực hành thực hiện về giải toán và kĩ năng làm tính các số tự nhiên, phân số, sốthập phân đã học vừa đợc hệ thống, củng cố các kiến thức, kĩ năng về các số vàphép tính đã học ngày càng sâu ,rộng hơn, đến lớp 5 có thể đạt tới đỉnh cao của
sự phát triển đó Khả năng ứng dụng thực tế gần gũi với đời sống mà các lớp1,2,3,4 cha thể giải đợc Quá trình giải toán ở lớp 5 không những chỉ giúp các
em ôn luyện, nắm vững và có hệ thống hơn những kiến thức cơ bản, trọng tâmcủa môn toán ở Tiểu học mà còn chuẩn bị cho học tập tiếp ở trung học cơ sở.NếuToán 4 là sự khởi đầu thì Toán 5 là sự phát triển tiếp theo và ở mức cao hơn, hoànthiện hơn của giai đoạn dạy học các nội dung cơ bản nhng ở mức sâu hơn, hơntrừu tợng hơn, tờng minh hơn so với giai đoạn các lớp 1,2,3 Do đó cơ hội hìnhthành và phát triển các năng lực t duy, trí tởng tợng không gian, khả năng diễn
đạt (bằng ngôn ngữ nói và viết ở dạng khái quát và trừu tợng) cho học sinh sẽnhiều hơn, phong phú hơn và vững chắc hơn so với các lớp trớc Nó không chỉhoàn thành mục tiêu giải toán lớp 5 mà còn toàn cấp tiểu học lại còn là nền tảngvững chắc để tiếp thu và học toán ở các lớp trên
Nhng thực tế trong nhà trờng phần khá đông các em giải toán cha thành thạo
mà còn sai nhiều cũng có những em còn sợ giải toán
Bởi vậy ngời giáo viên khi giảng dạy luôn nghiên cứu, tìm tòi đa ra nhữngbiện pháp tích cực khích lệ học sinh yêu thích ,tìm tòi, say mê học tập, gần gũivới các em và gắn liền việc học tập với đời sống thực tiễn của các em sau này,
đồng thời là nền tảng giúp các em học tốt môn toán ở các lớp trên sau này
Với bài toán giải bằng sơ đồ đoạn thẳng phần nhiều rơi vào toán có lời văn nênkhi giảng dạy tôi thờng thực hiện theo các bớc sau:
Trang 9+Đọc và tìm hiểu kĩ đề bài.
+Phân tích và tóm tắt đề bài
+Tìm hiểu phân tích đề để kiểm tra có thể đa vào dạng toán cơ bản nào để có thể
áp dụng công thức hay qui tắc giải toán Kiểm tra xem có thể giải theo nhữngcách nào
+Thử nghiệm, loại bỏ trờng hợp sai, khẳng định trờng hợp đúng, tìm những ờng hợp có thể xảy ra
tr-+Chọn ra phơng pháp giải toán và trình bày thích hợp, thuận tiện nhất
+Kiểm tra kết quả và thử lại
Nắm đợc các bớc trên, học sinh sẽ tìm đợc cách học, luyện giải toán ở lớp 5được dễ dàng đặc biệt với giải bài toỏn bằng phương phỏp sơ đồ đoạn thẳng
II_ Thực trạng khi cha thực hiện đề tài
1, Điều tra chung.
Khối lớp 5 : 2 lớp
Tổng số học sinh là: 59 em
Độ tuổi: 100 % cỏc em đi học đỳng tuổi
Dõn tộc kinh: 59 em Trong đú cú: học sinh nam :30 học sinh nữ :29Học lực: G: 8 em K: 12 em TB 11 em Y: 28 em
Phần lớn gia đỡnh cỏc em cư trỳ tại xó Phỳ Đụng – huyện Ba Vỡ- thànhphố Hà Nội là xó nghốo của huyện nờn bố mẹ thường đi làm ăn xa cỏc em ở vớiụng bà hoặc anh chị em tự chăm súc nhau
Nhiều năm tôi chủ nhiệm và giảng dạy học sinh lớp 5 Với lớp 5 một lớp màhọc sinh phải tiếp thu lợng kiến thức lớn, mang tính tổng hợp của chơng trìnhTiểu học Nhất là toán có lời văn, các em vừa đợc tiếp xúc với kiến thức mớimang tính trừu tợng, vừa phải thực hành kiến thức cũ thật linh hoạt và sáng tạo Các em đợc học thêm nhiều kiến thức mới: Giải toán về tỉ số phần trăm; giảitoán chuyển động đều; giải toán có nội dung hình học thêm một số hình mới vàtính thể tích, diện tích xung quanh, toàn phần khối hộp, chuyển động đều Biếtgiải bài toán với nhiều phép tính mang tính tổng hợp, để tìm đúng kết quả bàitoán các em phải thông qua cách tính rất nhiều phép tính phức tạp, phải vận dụng
kĩ năng phân tích, tổng hợp Chính vì vậy khi giải toán các em gặp những bàitoán phức tạp với nhiều phép tính trung gian hay bài toán gắn với thực tiễn đờisống, các bài toán có thể giải bằng nhiều cách, các em lúng túng thậm chí còn sợkhông biết định hớng tìm cách giải theo dạng toán nào mặc dù các em thuộc quitắc và công thức tính
Trang 10Khi cha thực hiện đề tài tôi và bạn bè đồng nghiệp thờng hớng dẫn học sinh
đọc và bám sát đề rồi thực hiện phép tính giải bài toán phụ thuộc theo sách giáokhoa, áp đặt học sinh tiếp thu kiến thức thụ động không chủ động và sáng tạo,tích cực tiếp thu kiến thức, cha sáng tạo vận dụng linh hoạt công thức và các ph-
ơng pháp giải vào làm tính và giải toán, khiến giờ học toán trở nên căng thẳng,trầm, hiệu quả cha cao, học sinh nắm bài cha sâu, nên học sinh càng gặp khókhăn và nản khi học giải toán.Có nhiều em không hiểu rõ thấy khó và sợ vậndụng giải toán theo cảm tính không biết suy luận, bắt đầu từ đâu, có thể giải theocách nào nên kết quả còn rất hạn chế
Đối với lớp 5A tôi chủ nhiệm và giảng dạy, nhiều em cha biết tìm hiểu vàphân tích đề bài và lựa chọn đa về các dạng toán cơ bản đã học, nên giải toáncảm tính kết quả sai nhiều Còn một số em còn nhầm lẫn qui tắc giải giữa cácdạng toán cơ bản Với những bài toán phức tạp phải qua nhiều bớc trung gian,học sinh cha định hớng đúng các phép tính trung gian để tìm đến kết quả cuốicùng
Chẳng hạn khi khảo sát học sinh với các bài toán sau:
Bài 1:
Một mảnh vờn hình chữ nhật có chu vi là 96 m.Chiều rộng bằng chiều dài Hỏi diện tích mảnh vờn đó là bao nhiêu a ? Bao nhiêu ha?
Bài 2 :
Bạn hà mua hai tá bút chì hết 30 000 đồng Hỏi bạn Mai muốn mua 8 cái bút chì
nh thế thì phải trả ngời bán hàng bao nhiêu tiền?
Thực ra hai bài toán này không khó :
Bài 1:Học sinh chỉ cần tính nửa chu vi và vận dụng giải bài toán tìm hai số biếttổng và tỉ số của hai số đó, rồi vận dụng công thức tính sau đó đổi ra a và ha Bài 2: Chỉ ra hai tá = 24 bút chì, sau đó có thể dùng cách "rút về đơn vị"hoặccách "tìm tỉ số" để giải (ở bài này nên dùng cách "tìm tỉ số")
Trên thực tế chỉ có một vài em làm đúng, thời gian hợp lí còn lại các em suynghĩ rất lâu mà còn làm sai nhiều Chẳng hạn các em không tìm nửa chu vi đãtính chiều dài và chiều rộng ngay, khi tính xong đổi ra a và ha sai, hay một số emgiải theo phơng pháp chia tỉ lệ lại thiếu bớc vẽ sơ đồ tìm ngay tổng số phầnkhiến bài toán không có tính lô gíc và thiếu chặt chẽ không biết từ đâu mà cótổng số phần Còn ở bài 2 các em lấy số tiền chia cho 2 hay có em chia cho 20
mà cha biết đổi 2 tá bằng 24 cái bút chì để đa bài toán về giải theo phơng phápdùng tỉ số.Bên cạnh đó câu trả lời còn cha ngắn gọn và khoa học, thiếu danh số,trình bày cha đẹp, khoa học
5 3
Trang 11Kết quả khảo sát tại lớp 5A khi cha thực hiện đề tài với đề trên với 29 họcsinh nh sau:
Qua kết quả cho thấy điểm khỏ giỏi rất thấp mà điểm yếu tỉ lệ quỏ cao
III ĐÁNH GIÁ TèNH HèNH VÀ TèM HIỂU NGUYấN NHÂN:
Qua thực tế tỡm hiểu thực trạng dạy và học giải toỏn bằng sơ đồ đoạnthẳng ở tiểu học tụi thấy:
1 Những ưu điểm và thuận lợi:
Trong nhà trường tiểu học đó được trang bị tài liệu thiết bị đồ dựng dạyhọc tương đối đầy đủ, tạo điều kiện dạy và học đạt kết quả cao
Giỏo viờn được cung cấp đầy đủ tài liệu, đồ dựng dạy học như: sỏch giỏokhoa, sỏch hướng dẫn, cỏc tài liệu khỏc Đú là cỏc yếu tố quan trọng giỳp ngườigiỏo viờn thực hiện được nhiệm vụ của quỏ trỡnh dạy học đồng thời nú là hànhtrang cần thiết cho mỗi giỏo viờn đứng lớp
Học sinh cú đủ tài liệu như: Sỏch giỏo khoa, vở bài tập và đồ dựng họctập
Giỏo viờn đó sắp xếp dành nhiều thời gian cho học sinh được làm việc vớisỏch giỏo khoa, vở bài tập
Trong giờ học, khi truyền đạt nội dung của bài mới giỏo viờn nờn kết hợpnhiều phương phỏp dạy học như: Giảng giải, trực quan, vấn đỏp luyện tập thựchành, Để dẫn dắt học sinh tới kiến thức cần đạt
Trang 12không tường minh, giáo viên không hướng dẫn cho học sinh tìm mà bảo thẳngcách làm cho đỡ mất thời gian.
2.1 Nguyên nhân dẫn đến dạy như trên:
Do một số giáo viên chưa nghiên cứu kĩ bài dạy, việc soạn bài chỉ là hìnhthức sao chép Khi dạy giáo viên thiếu sự năng động, sáng tạo, còn lệ thuộc vàtài liệu có sẵn, kiến thức truyền thụ chưa trọng tâm, học sinh không có hứng thúhọc tập
Mỗi giáo viên chưa thấy hết tầm quan trọng của mỗi phương pháp giảitoán, chưa thấy hết được các mặt mạnh, mặt hạn chế của từng phương pháp để
từ đó khai thác mặt mạnh một cách phù hợp với tính đặc thù và yêu cầu của mỗiphương pháp toán học Việc lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học cònchưa linh hoạt còn áp đặt máy móc
Khi dạy học sinh bằng phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng giáo viên cònmắc một số sai lầm:
- Giáo viên chưa chú trọng rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ đoạn thẳng cho họcsinh Có giáo viên còn chưa cẩn thận trong việc vẽ sơ đồ tóm tắt, biểu diễn cácphần trong một sơ đồ không bằng nhau khiến học sinh có nhận thức lệch lạc,dẫn đến không hiểu được bản chất, cách giải bài toán
- Giáo viên chỉ yêu cầu học sinh tới mức giải từng bài toán cụ thể, chưa liên hệ bài toán đang giải với bài toán đã giải, chưa phát triển đề toán tương tựvới các bài toán đó qua việc học sinh tự đặt đề toán tương tự và giải theo đề toánmới
- Khi dạy giáo viên ít chú ý cung cấp ngôn ngữ toán học cho học sinh dẫnđến các em thường gặp khó khăn khi xác định dữ liệu của bài toán Đặc biệt các
em không tự mình đặt được đề toán tương tự phù hợp với thực tế cuộc sống
- Giáo viên sử dụng tài liệu ( sách giáo khoa ) một cách máy móc, ápđặt.Chẳng hạn khi dạy bài mới, giáo viên không chép đề toán ra bảng phụ màcòn cho học sinh mở sách giáo khoa ra đọc đề, như vậy học sinh lười suy nghĩ,nhìn vào lời giải có sẵn trong sách giáo khoa
2.2 Những sai sót hay mắc phải của học sinh:
Khi giải toán học sinh còn thụ động, giải bài toán còn máy móc theo yêucầu của giáo viên Học sinh chỉ hoạt động giải các bài toán cụ thể chứ khôngbiết cách liên hệ so sánh với các bài toán khác Vì vậy học sinh gặp khó khăntrong việc nhận cái chung trong các bài toán có nội dung bề ngoài khác nhaunhưng cùng thuộc một loại toán
Trang 13Khi vẽ sơ đồ biểu diễn một đề toán, học sinh chưa biết cách biểu diễn chotrực quan, dễ hiểu.
Do khả năng phân tích đề kém nên học sinh lúng túng khi gặp bài toán có
dữ kiện ở dạng gián tiếp
Sau khi giải một bài toán xong học sinh không có thói quen kiểm tra lạikết quả của bài toán
IV ỨNG DỤNG CỦA PHƯƠNG PHÁP DÙNG SƠ ĐỒ ĐOẠN THẲNG TRONG DẠY HỌC.
1 Ứng dụng của phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán về cấu tạo số tự nhiên:
Ví dụ: Khi viết thêm chữ số 8 vào bên trái một số tự nhiên có hai chữ số
? Bài toán cho biết gì?
( Khi viết thêm chữ số 8 vào bê trái một số tự nhiên có hai chữ số thì số
đó tăng gấp 26 lần.)
? Bài toán yêu cầu gì?
( Tìm số tự nhiên đã cho )
? Muốn tìm số tự nhiên đã cho ta làm như thế nào?
( Xác lập mối liên hệ giữa số tự nhiên đã cho và số mới sau khi viết thêm
số 8 vào bên trái)
? Ta có thể biểu diễn mối liên hệ đó bằng sơ đồ được không? Vẽ sơ đồtóm tắt bài toán trên
Tóm tắt:
Số tự nhiên đã cho: 800
Số mới:
26 phần
? Bài toán thuộc dạng toán nào?
( Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó )
Bài giải:
Số cần tìm là:
Trang 147 5 7
7 5
800 : ( 26 – 1 ) = 32
Đáp số: 32
2 Ứng dụng của phương pháp dùng sơ đồ đoạng thẳng để giải các bài toán về chuyển động đều:
Ví dụ: Một người dự định đi xe đạp từ nhà với vận tốc14 km/giờ, để lên
tới huyện lúc 10 giờ Do ngược gió nên mỗi giờ chỉ đi được 10 km/ giờ và tớihuyện lúc 10 giờ 36 phút tính quãng đường từ nhà lên huyện
Phân tích:
? Bài toán cho biết gì?
( Một người dự định đi xe đạp từ nhà với vận tốc14 km/giờ, để lên tớihuyện lúc 10 giờ Do ngược gió nên mỗi giờ chỉ đi được 10 km/ giờ và tới huyệnlúc 10 giờ 36 phú t)
? Bài toán yêu cầu gì?
( Tính quãng đường từ nhà lên huyện )
Muốn tính được quãng đường từ nhà lên huyện ta cần biết những gì?( Theo công thức: S = v x t
Quãng đường = vận tốc x thời gian
Ta cần biết vận tốc và thời gian đi từ nhà lên huyện)
? Trong hai đại luợng cần biết đó, đại lượng nào đã cho và đại lượng nàophải tìm?
( Vận tốc từ nhà lên huyện đã biết, ta cần phải tìm thời gian đi từ nhà lênhuyện)
? Với vận tốc dự đinh và vận tốc thực đi thời điểm tới huyện theo dự định
và thời điểm tới huyện thực đi đã biết ta có thể tìm thời gian người đo đi từ nhàlên huyện như thế nào?
( Vận dụng tính chất “ Trên cùng một quãng đường đi thì vận tốc và thờigian là hai đại lượng tỉ lệ nghịch với nhau, ta tìm được tỉ số giữa thời gian dựđịnh đi và thời gian thực đi Biết tỉ số, biết hiệu ta tìm được hai khoảng thời gianchưa biết đó)
Trang 15Vì vận tốc và thời gian là hai đại lượng tỉ lệ nghịch trên cùng một quãngđường đi là:
Hiệu số giữa thời gian dự định đi với thời gian thực đi là:
10 giờ 36 phút – 10 giờ = 36 phút
Ta có sơ đồ:
Thời gian dự định đi : 36 phút
Thời gian thực đi:
Ví dụ: Chu vi của một mảnh vườn hình chữ nhật là 140 m Biết chiều dài
gấp bốn lần chiều rộng Hãy ttính diện tích của mảnh vườn đó?
Phân tích:
? Bài toán yêu cầu tìm gì?
( Diện tích của mảnh vườn chữ nhật )
? Bài toán cho ta biết gì?
( Chu vi của mảnh vườn đó bằng 140 m và chiều dài gấp bốn lần chiềurộng )
? Để tìm được diện tích của mảnh vườn đó ta cần phải biết gì?
( Theo công thức S = a x b thì
Diện tích hình chữ nhật = chiều dài x chiều rộng
Ta phải tính chiều dài, chiều rộng của mảnh vườn đó )
? Chiều dài, chiều rộng của mảnh vườn đó có mối liên hệ như thế nào?( Chu vi bằng 140 m chiều dài gáp bốn lần chiều rộng)
? Ta có thể tìm được chiều dài và chiều rộng của mảnh vườn đó dựa vàomối liên hệ trên không? Tìm bằng cách nào?
36phút
Trang 16( Tìm được bằng cách tìm nửa chu vi của hình chữ nhật Sau đó lấy nửachi vi chia cho 5 ta được chiều rộng, lấy chiều rộng nhân với 4 ta được chiềudài).
? Để tìm chiều rộng và chiều dài của mảnh vườn ta có thể quy về dạngtoán nào
( Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số)
Bài giải:
Nửa chu vi của mảnh vườn là:
140 : 2 = 70( m)Theo bài ra ta có sơ đồ:
14 x 4 = 56 (m)Hoặc 70 – 14 = 56 ( m)Diện tích của mảnh vườn là:
14 x 56 = 644( m2 )Đáp số: 644 m2
4 Ứng dụng của phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán về tìm 2, 3 số khi biết tổng và tỉ số của chúng.
Ví dụ: Ba đơn vị vận tải được giao vận chuyển 420 tấn hàng trong đo số
hàng của đội thứ ba bằng số hàng của đội thứ hai và bằng số hàng của đội thứnhất Hỏi mỗi đội được giao vận chuyển tấn hàng?
Số hàng của đội thứ nhất:
Số hàng của đội thứ hai: 420 tấn
Số hàng của đội thứ ba:
? m
? m
Trang 175 Ứng dụng của phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán về tìm 2, 3 số khi biết hiệu và tỉ số của chúng.
Ví dụ: Các khối Ba, Bốn và Năm của một trường tiểu học tham gia tết
trồng cây Số cây của khối Ba trồng được bằng 113 số cây của khối Năm, bằng
Số cây của khối Ba:
Số cây của khối Bốn:
Số cây khối Ba trồng được là:
Trang 18120 + 90 = 210 ( cây)
Ta có sơ đồ :
Số cây của khối Ba:
Số cây của khối Năm:
6 Ứng dụng của phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán có văn điển hình, trên tập phân số
Ví dụ:
Hai đội vận tải được giao vận chuyển một số hàng Biết 25 số hàng của độiMột bằng 47 số hàng của đội Hai và hơn đội Hai là 60 tấn Tính số hàng mỗi độivận chuyển?
Phân tích:
Bài toán này yêu cầu ta tìm số hàng của đội Một và đội Hai vận chuyển
mà đội Hai vận chuyển kém đội Một 60 tấn hàng và số hàng của đọi Một bằngssố hàng của đội Hai
Đội Một : Đội Hai = 47 : 25 = 107
Từ đây ta có thể giải bài toán theo cách tìm hai số khi biết hiệu và tỉ sốcủa hai số đó
Trang 19Ví dụ: Tổng số tuổi của hai chị em năm nay bằng 25 tuổi Biết tuổi em
bằng tuổi chị Tính tuổi của mỗi người?
Phân tích:
? Bài toán cho biết gì?
( Tổng số tuổi của hai chị em bằng 25 tuổi, tuổi của em bằng tuổi của chị) Bài toán yêu cầu gì?
( Tính tuổi của mỗi người )
? Bài toán trên thuộc dạng toán gì?
( Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó )
25 – 10 = 15 ( tuổi )
Đáp số: Em: 10 tuổi Chị: 15 tuổi
8 Ứng dụng của phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán vui và toán cổ.
Ví dụ: Một đàn cò bay đến đạu ở vườn cây, nếu mỗi con cò đạu ở một
cây thì ba con cò không có cây để đậu, nếu mỗi cây có ba con cò thì ba cây sẽ
25 tuổi
? tuổi
? tuổi
Trang 20không có con nào đậu Hỏi có mấy cây, mấy con cò?
Giải sử số cò bằng số cây Nghĩa là số cò sẽ có “ ít đi” 3 con
Khi cò đậu một cây thì số cây không có cò đậu là:
Ví dụ: Khi cộng một số tự nhiên với một số thập phân có một chữ số ở
phần thập phân Do sơ xuất một học sinh đã bỏ quên dấu phẩy của số thập phân
6 cây
4 cây
Trang 21và đặt phép cộng như hai số tự nhiên nên kết quả tăng thêm 310,5 đơn vị Tím
số thập phân đó?
Phân tích:
Bài toán này yêu cầu ta tìm số thập phân có một chữ số ở phần thập phân
mà khi cộng do sơ xuất học sinh đã bỏ quên dấu phẩy Do bỏ dấu phẩy ở số thậpphân có một chữ số ở phần thập phân đó tăng lên 10 lần Số tự nhiên( hay sốhạng thứ nhất trong phép cộng) vẫn được giữ nguyên nên kết quả phép tính tăngthêm 310,5 đơn vị là do số thập phân tăng thêm 10 lần
Ta có sơ đồ tóm tắt bài toán như sau:
Phép tính đúng:
310,5Phép tính sai:
Nhìn vào sơ đồ ta thấy 310,5 tương ướng với 9 phần bằng nhau và mộtphần chính là số thập phân phải tìm
VI KẾT QUẢ- THỰC NGHIỆM:
Để tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng nhằmphất huy tính tích cực của học sinh lớp 5 Trường tiểu học Phú Đông
Tôi phối hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó phương pháp điều tra
và thực nghiệm là hai phương pháp chính Vì vậy tôi tiến hành dạy hai tiết toán:
Trang 22I/ MỤC TIÊU:
Giúp học sinh:
- Giải bài toán tìm hai số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của hai số đó
- Rèn kĩ năng giải toán và trình bày bài giải cho học sinh
-Giúp học sinh tự giác học và yêu thích môn học
* Trọng tâm: Học sinh biết thực hiện đúng các bước giải tìm hai số biết tổng hiệu và tỉ số của hai số đó
II/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
- GV: Bài toán viết sẵn vào bảng phụ , thước kẻ có vạch cm
- HS: : Ôn bài, vở bài tập thước có vạch cm
III/ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
A Ổn định tổ chức : 1p
B/Bài cũ:5p
- Goi 2 học sinh chữa bài 2,3 sgk
- Nhận xét cho điểm
C Dạy học bài mới: 30p
1 Giới thiệu bài:
2 Hướng dẫn học sinh ôn tập:
a, Bài toán tìm hai số khi biết tổng
và tỉ số của hai số.
- G treo bảng phụ và yêu cầu học
đọc:
? Bài toán thuộc dạng toán gì?
- Yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ và giải
? Hãy nêu các bước giải của bài
toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số
Trang 23của hai số?
- Nhận xét ý kiến của học sinh
b, Bài toán tìm hai số khi biết
hiệu và tỉ số của hai số đó.
- Yêu cầu học sinh đọc bài toán 2
? Bài toán thuộc dạng toán gì?
- Yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ và giải
bài toán
- Yêu cầu học sinh nhận xét bài
giải của bạn trên bảng
- Hãy nêu các bược giải bài toán
tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai
số đó?
? Cách giải bài toán “tìm hai số khi
biết tổng và tỉ số của hai số” có gì
khác với giải bài toán “tìm hai số khi
biết hiệu và tỉ số của hai số”?
3 Luyện tập.
- G yêu cầu học sinh tự làm
- Nhận xét bài của học sinh
một phần ta nhân tiếp với 5
- Vẽ sơ đồ minh hoạ
- Vẽ sơ đồ minh hoạ
- Tìm hiệu số phần bằng nhau
- Tìm giá trị một phần
- Tìm các số( số bé, số lớn)
- Khác nhau tìm tổng và hiệu sốphần
Trang 24- Gọi học sinh đọc đề toán.
? Bài toán thuộc dạng toán gì? Vì
- Bài toán thuộc dạng toán tìm hai
số khi biết hiệu và tỉ số của hai số, vìcho biết hiệu và tỉ số
- Học sinh lên bảng làm bài
Ta có sơ đồ:
Loại 1:
Loại 2:
Bài giải:
Theo sơ đồ, hiêu số phând bằng nhau là: 3 – 1 = 2 (phần )
Số lít nước mắm loại hai là: 12 : 2 =6 ( l )
Số nước mắm loại một là: 6 + 12 = 18 ( l )
Đáp số: 18l và 6l
- Chữa bài trên bảng
- Gọi học sinh đọc đề bài:
? Bài toán cho em biết những gì?
? Bài toán yêu cầu ta tính những
- Tìm chiêu dài và chiêu rộng
- 2 lần chiều dài và chiều rộng
Trang 2560 : 12 x 5 = 25 (m)Chiều dài cảu mảnh vườn là:
60 – 25 = 35 ( m)Diện tích của mảnh vườn là:
25 x25 = 875 ( m2)Diện tích lối đi là:
875 : 25 = 35 (m2)Đáp số: Chiều dài: 35 m, chiều rộng: 25 m Lối đi: 35 m2
- Gọi học sinh chữa bài trên bảng
nhân xét
3 Củng cố dặn dò:
- Tóm nội dung: Cách giải bài toán
tìm hai số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ
- Có biểu tượng về khái niệm vận tốc, đơn vị vận tốc
- Biết tính vận tốc của một chuyển động đều
- Rèn kĩ năng giải toán và trình bày bài giải cho học sinh
-Giúp học sinh tự giác học và yêu thích môn học
* Trọng tâm: Biết tính vận tốc của một chuyển động đều
II ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
? m
60m
Trang 26-Gv : 2 băng giấy viết sẵn đề Bài toán 1, Bài toán 2, SGK thước kẻ có vạch
cm
- HS: : Ôn bài, vở bài tập thước có vạch cm
III CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU.
1 Kiểm tra bài cũ
- GV mời 2 HS lên bảng làm các bài
tập hướng dẫn luyện tập thêm cảu tiết
học trước
- GV chữa bài, nhận xét và cho điểm
HS
2 Dạy - học bài mới.
2.1 Giới thiệu bài.
- GV: Trong tiết học toán này chúng
ta cùng tìm hiểu về một đại lượng mới
đó là vận tốc
2.2 Giới thiệu khái niệm vận tốc.
- GV nêu bài toán: Một ô tô mỗi giờ
đi được 50 km, một xe máy mỗi giờ đi
được 40 km cùng đi quãng đường từ A
và đi đến B Nêu hai xe khởi hành cùng
một lúc tại A thì xe nào sẽ đi đến B
trước?
- GV yêu cầu HS thảo luận theo cặp
để tìm câu trả lời
- GV nhận xét câu trả lời của HS
Kết luận: Thông thường ô tô đi nhanh
hơn xe máy ( vì trong cùng một giờ ô
tô đi được quãng đường dài hơn xe
máy)
a) Bài toán 1
- GV dán băng giấy có viết đề bài
toán 1, yêu cầu HS đọc
- Hỏi: Để tính số ki - lô - mét trung
bình mỗi giờ ô tô đi được ta làm như
thế nào?
- GV vẽ lại sơ đồ bài toán và giảng
cho HS: Trong cả 4 giờ ô tô đi được
170 km, vậy trung bình số ki-lô-mét đi
được trong 1 giờ chính là một phằnt
của quãng đường 170 km nên thực hiện
- 2 HS lên bảng làm bài HS cả lớptheo dõi để nhận xét
- Nghe và xác định nhiệm vụ củatiết học
- HS nghe và nhắc lại bài toán
- HS thảo luận, sau đó một vài HSnêu ý kiến trước lớp
- 1 HS đọc thành tiếng cho cả lớpcùng nghe
- HS: Ta thực hiện phép tính 170 : 4
? km
170 km
Trang 27170 : 4
- GV yêu cầu HS trình bày lời giải bài
toán
- GV hỏi: Vậy trung bình mỗi giờ ô tô
đi được bao nhiêu km?
- GV giảng: Mỗi giờ ô tô đi được
42,5 km Ta nói vận tốc trung bình hay
nói vắn tắt vận tốc của ô tô là bốn mươi
hai phẩy năm ki-lô-mét
- GV ghi bảng:
Vận tốc của ô tô là:
170 : 4 = 42,5 ( km/giờ )
- Đơn vị của vận tốc ô tô trong bài
toán này là km/giờ
+ Trong bài toán trên, để tìm vận tốc
của ô tô chúng ta đã làm như thế nào?
+ Gọi quãng đưỡng là S, thời gian là
t, vận tốc là V, em hãy dựa vào cách
tính vận tốc trong bài toán trên để lập
chúng ta phải làm như thế nào?
- GV yêu cầu HS trình bày bài toán
+ Là quãng đường ô tô đi được
+ Là thời gian ô tô đi hết 170 km.+ Là vận tốc của ô tô
+ Chúng ta đã lấy quãng đường ô tô
đi được ( 170 km ) chia cho thời gian
ô tô đi hết quãng đường đó ( 4 giờ )+ HS trao đổi theo cặp, sau đó nêutrước lớp:
V = S : t
- 1 HS đọc thành tiếng cho cả lớpcùng nghe
- 1 HS đứng tại chỗ tóm tắt
S = 60 m
t = 10 giây
V = ?
- Chúng ta lấy quãng đường ( 60
m ) chia cho thời gian ( 10 giây )
- 1 HS lên bảng trình bày bài, HS cảlớp làm bài vào vở bài tập
Bài giải
Trang 28- Hỏi: Đơn vị đo vận tốc của người đó
là gì?
- Em hiểu vận tốc chạy của người đó
là 6 m/giây như thế nào?
- GV yêu cầu HS tóm tắt đề bài toán
- Hỏi: Để tính vận tốc của người đi xe
máy đó ta làm như thế nào?
- GV yêu cầu: Các em hãy tính vận
tốc của người đi xe máy đó theo đơn vị
km/giờ
- GV mời HS nhận xét bài làm của
bạn trên bảng
- GV nhận xét, cho điểm HS
- GV nhắc HS: Trong bài toán trên
quãng đường đi tính theo đơn vị
ki-lô-mét, thời gian đi hết quãng đường tính
theo giờ nên thông thường ta tính vận
tốc theo đơn vị km/giờ
Bài 2
- GV mời HS đọc đề bài toán
- GV yêu cầu HS tóm tắt bài toán và
tự giải
- GV mời HS nhận xét bài toán của
bạn trên bảng
- GV hỏi: Em hãy giải thích cách tính
vận tốc bay theo đơn vị km/giờ.
Vận tốc của người đó là:
60 : 10 = 6 ( m/giây)
Đáp số: 6 m/giây
- Đơn vị đo vận tốc chạy của người
đó trong bài toán là m/giây
- Nghĩa là cứ mỗi giây người đóchạy được quãng đường là 6 m
- 2 HS nêu trước lớp, cả lớp theodõi và nhận xét
- 1 HS đọc đề toán trước lớp
- 1 HS tóm tắt trước lớp
- Để tính vận tốc của người đi xemáy đó ta lấy quãng đường đi được( 105 km) chia cho thời gian ( 3 giờ )
- 1 HS lên bảng trình bày bài toán,
HS cả lớp làm bài vào vở bài tập
- 1 HS đọc thành tiếng HS cả lớpđọc thầm
- 1 HS lên bảng làm bài, HS cả lớplàm bài vào vở bài tập
- Vì quãng đường bay được tínhtheo ki-lô-mét, thời gian bay hếtquãng đường đó tính theo đơn giờ
Trang 29Bài 3
- GV mời HS đọc đề bài toán
- GV hướng dẫn phân tích đề toán:
+ Người đó chậy được bao nhiêu
mét?
+ Thời gian để chạy hết 400 m là bao
nhiêu lâu?
+ Bài toán yêu cầu em làm gì?
+ Để tính được vận tốc theo đơn vị
mét/giây thì quãng đường và thời gian
cần đo ở đơn vị nào?
- GV: Vậy hãy đổi thời gian chạy ta
giây rồi tính vận tốc chạy của người
đó
- GV nhận xét và chữa bài của HS
3 Củng cố - Dặn dò
- Hỏi: Muốn tính vận tốc của một
chuyển động ta là như thế nào?
- Hãy nêu cách viết đơn vị của một
- HS trả lời câu hỏi:
+ Người đó chạy được 400
+ Thời gian để chạy hết 400 m là 1phút 20 giây
+ Tính vận tốc chạy của người đótheo đơn vị m/giây
+ Quãng đường tính bằng đơn vịmét, thời gian tính bằng đơn vị giây
- 1 HS lên bảng làm bài, HS cả lớplàm bài vào vở bài tập
- Đơn vị của một vận tốc bằng tênđơn vị của quãng đường trên tên đơn
vị của thời gian
- Nghe và chuẩn bị bài sau
Sau đó tôi yêu cầu lớp là bài kiểm tra gồm 3 bài toán Trong quá trìnhthực nghiệm tôi coi thi một cách nghiêm túc xem các em có tự là bài đượckhông, tôi thấy nếu kết quả kiểm tra được chia thành 3 loại: Giỏi, Khá, Trungbình thì tôi thu được kết quả như sau:
Trang 309 31,1 10 34,45 10 34,45 0 0Bên cạnh đó còn một số bài chưa biết trình bày bài toán Dẫu sao đâycũng là kết quả đáng mừng Bởi tôi đã nhận thấy bài làm của học sinh có tiến bộtrông thấy về cách thể hiện trình bày và nhất là khả năng phân tích đề toán vàkiểm tra kết quả bài làm Đặc biệt số em có điểm yếu không còn, số điểm giỏi,khá tăng cao.
V ĐỀ XUẤT CÁ NHÂN VỀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÙNG SƠ
ĐỒ ĐOẠN THẲNG TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN.
Để nâng cao chất lượng dạy và học giải toán bằng phương pháp dùng sơ
đồ đoạn thẳng ở trường tiểu học tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp nhằmphát huy tính tích cực nhận thức của học sinh lớp 5 nói chung và lớp 5 trườngtiểu học Phú Đông nói riêng
1 Những đề xuất liên quan đến phương pháp dạy học.
Mỗi đồng chí giáo viên cần thấy được tầm quan trọng của việc lựa chọncác phương pháp giải toán trong dạy học toán nói chung và giải toán ở tiểu họcnói riêng
Cần có thời gian thích đáng cho việc nghiên cứu nội dung, mục đích yêucầu của từng bài dạy trước khi soạn bài
Nhà trường và các cấp lãnh đạo Phòng giáo dục cần thường xuyên tổ chứccác chuyên đề hội thảo, hội giảng về các phương pháp dạy học toán, các ứngdụng của từng phương pháp trong dạy học toán ở tiểu học
Khi dạy mỗi dạng toán giáo viên nên kết hợp các phương pháp dạy họctruyền thống và các phương phap dạy học hiện tại, xây dựng đầy đủ quy trìnhcác bước giải cho một dạng toán cụ thể Hướng dẫn cho học sinh tự nhận đượcdạng toán từ đó tìm được cách giải phù hợp
Mỗi hoạt động trên lớp giáo viên cần chú ý thiết kế bài dạy cho phù hợpvới từng đối tượng học sinh tránh tình trạng chỉ học sinh khá giỏi được hoạtđộng, học sinh yếu kém chưa kịp hiểu đề bài thế nào, chưa biết cô giáo phân tích
đề ra sao đã phải làm bài tập, do đó có nhiều học sinh giải bài sai
Những đề xuất góp phần giúp giáo viên và học sinh khắc phục khó khăn
và sai sót thường mắc trong quá trình giải toán bằng phương pháp dùng sơ đồđoạn thẳng
Để đạt được mục tiêu “ Học sinh là trung tâm của hoạt động học” giáo
viên cần kết hợp một cách hợp lí giữa phương pháp dạy học hiện đại, mạnh dạn