1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hội nhập thuốc trong thời kỳ WTO

4 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 153,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đế đảm bảo được mục đích nói trên, bên cạnh việc phải từng bước tăng cường phát triển công nghiệp DƯỢc trong nước để p

Trang 1

Tạp chí NGHIÊN c ứ u D ư ợ c VÀ THÔNG TIN THUÓC S ố 2 năm 2010

QUẢN LÝ NHẬP KHẨU THUỐC TRONG T H Ò I KỲ HỘI NHẬP WTO

N guyễn Thanh B ình*, Chu Quốc Thịnh**, N guyễn N hật H ả i***

* Trường Đại học DƯỢc Hà Nội

**Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế

* * * Công ty DƯỢC phẩm Trung ương 1

Summary

Pharm aceutical im port control p olicies o f Vietnam are im plem ented through tw o system s o f

management m easures, which are ta riff m easures and non-tariff m easures In which, the ta riff

m easures re fe r to the ta x policies And the non-tariff m easures re fer to the policy interventions that

a ffect drug tra d ers; re strict the quantity o f im port (such as im port bans, im port licensing

requirem ents); ta riff equivalent m easures (such a s C IF control m easures), technical barriers (such a s

product standards recom m ended by Pharm acopoeias, label regulations, ru les o f origin, storage

conditions m eet the standard o f G S P ); tem porary trade m easures (such a s parallel im ports); and

adm inistrative m easures (such a s custom s entry procedures) However, m ost o f pharm aceutical im port

control m easures are the pre-surveillance m easures Therefore, in order to b etter manage the im port

o f drugs, enhancing the post-surveillance m easures is needed.

ĐẶT VẤN ĐÊ

Trong những năm gần đây, ngành công

nghiệp DƯỢc Việt Nam đã có những nỗ lực rất

lớn góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu

cầu điều trị ngày càng cao của nhân dân Tính

đến 31 tháng 12 năm 2008, ngành công nghiệp

DƯỢc trong nước đã sản xuất đạt 715,435 triệu

USD đáp ứng 50,18% nhu cầu thuốc sử dụng, và

như vậy vẫn còn xấp xỉ 50% nhu cầu thuốc điều

trị chúng ta phải nhập khẩu Thuốc sản xuất

trong nước chủ yếu là những thuốc generic với

các dạng bào chế quy ước, chúng ta đang cố

gắng hướng tới sản xuất những nhóm thuốc

chuyên khoa (thuốc tim mạch, tiểu đường, thần

kinh, nội tiết ) với các dạng bào chế hiện đại

(thuốc tác dụng kéo dài, thuốc giải phóng nhanh,

thuốc tiêm đông khô .) [13]

Năm 2008 chúng ta đã nhập khẩu 923,288

triệu USD tiền thuốc, tăng 13,8% so với năm

2007, trong đó 163,536 triệu USD là nguyên phụ

liệu và 759,752 triệu USD là thành phẩm Trong

khi ngành công nghiệp Dược trong nước chưa

đáp ứng được phần lớn nhu cầu điều trị của

người dân, thì việc nhập khẩu thuốc là rất cần

thiết Tuy nhiên, thuốc nhập khẩu cần đảm bảo

các mục đích: bổ sung các mặt hàng trong nước

chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng

chưa đáp ứng đủ nhu cầu điều trị (nhập khẩu bổ

sung); và thay thế những mặt hàng sản xuất trong nước không có lợi bằng nhập khẩu (nhập khẩu thay thế)

Trong bối cảnh nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đế đảm bảo được mục đích nói trên, bên cạnh việc phải từng bước tăng cường phát triển công nghiệp DƯỢc trong nước để phát huy nội lực, cơ quan quản lý nhà nước về dược cũng cần phải tăng cường các biện pháp quản lý để vừa có thể nhập khẩu được các loại thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị thực sự mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được, vừa phải cân đối một cách hợp lý việc bảo hộ thị trường nội địa, đồng thời vẫn phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại theo quy định của WTO, đặc biệt là nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia

CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẬP KHẨU THUỐC

Thuốc là một hàng hóa đặc biệt và kinh doanh có điều kiện, quản lý nhập khẩu thuốc có đặc thù và chặt chẽ hơn so với việc quản lý các mặt hàng nhập khẩu khác Chính sách quản lý nhập khẩu thuốc được triển khai thực hiện thông qua hệ thống các biện pháp quản lý nhập khẩu thuốc Hệ thống này được chia thành hai nhóm:

(1) Biện pháp thuế quan và (2) biện pháp phi thuế quan [14]

42

Trang 2

Tạp chí NGHIÊN c ử u D ư ợ c VÀ THÔNG TIN THUỐC Sô '2 năm 2010

1 Biện pháp thuê' quan (tariff meas­

ures)

Đê’ quản lý nhập khẩu thuốc bằng hàng rào

thuế quan, Bộ Y tế đã ban hành danh mục mã

hàng hóa - HS (Harmonization System) - về các

thuốc nhập khẩu vào Việt Nam hội nhập khu vực

ASEAN [11] Trên cơ sở mã HS này, Bộ Tài chính

tiến hành áp mã thuế cho từng mã mặt hàng

bằng việc ban hành biểu thuế xuất khẩu, biểu

thuế nhập khẩu ưu đãi trên cơ sở lộ trình cẳt

giảm theo cam kết với WTO

Biện pháp quản lý nhập khẩu bằng hàng rào

thuế quan trong lĩnh vực dược phẩm được WTO

cho phép sử dụng để bảo hộ thị trường trong

nước và định hướng hoạt động, tạo môi trường

thuận lợi, điều tiết hoạt động nhập khẩu nhưng

phải cam kết với mức thuế trần nhất định và có

lịch trình cắt giảm, trên nguyên tắc Tối huệ quốc

(có sự Ưu đãi chung đối với tất cả các nước

thành viên)

Đối với nguyên phụ liệu làm thuốc, do ngành

công nghiệp DƯỢc Việt Nam phải nhập khẩu gần

90% nguyên liệu để sản xuất thuốc, nên thuế

suất của hầu hết các nguyên liệu sản xuất thuốc

bằng 0% Tuy nhiên, đối với một số nguyên liệu

doanh nghiệp dược trong nước đã sản xuất được

như: rutin, amoxicilin, ampicilin và các muối/ dẫn

xuất của các chất này Việt Nam vẫn tiếp tục áp

mức thuế suất 3% hoặc 8% [2]

Đối với thuốc thành phẩm, để bảo hộ sản

xuất trong nước và điều tiết hoạt động nhập

khẩu, những mặt hàng công nghiệp dược trong

nước đã sản xuất được, Việt Nam áp thuế suất

nhập khẩu ưu đãi 8%, 5% hoặc 3% (ví dụ các

thuốc vitamin B l, B6, B12, A, c ; các thuốc

đông y; kháng sinh và chống nhiễm khuẩn thông

thường ) Đối với những thuốc thành phẩm mà

ngành công nghiệp dược trong nước chưa đáp

ứng được nhu cầu như thuốc ung thư, thuốc

điều trị AIDS, thuốc tim mạch, hoặc các thuốc có

dạng bào chế hiện đại: hấp thu qua da, tiêm

truyền chúng ta áp mức thuế suất 0%

2 Biện pháp phi thuế quan (non - tariff

measures)

2.1 Biện pháp Hên quan đến thương

nhân kinh doanh thuốc

Bao gồm biện pháp tác động đến quyền kinh

doanh thương mại và các điều kiện được phép

hoạt động của doanh nghiệp tham gia hoạt động

nhập khẩu thuốc, cụ thể như sau:

(i) Tác động đến quyền kinh doanh thương mại: khi gia nhập WTO, Việt Nam không cam kết

"mở cửa" thị trường phân phối dược phẩm, các thương nhân nước ngoài chi có quyền xuất nhập khẩu thuốc, không được phép tham gia thị trường bán buôn, bán lẻ thuốc mà phải bán các mặt hàng thuốc cho các thương nhân Việt Nam

có chức năng phân phối thuốc [1]

(ii) Tác động đến doanh nghiệp nước ngoài: doanh nghiệp nước ngoài muốn cung cấp thuốc vào Việt Nam phải được Cục quản lý dược cấp giấy phép hoạt động về thuốc và nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam Để được cấp phép nay, các thương nhân nươc ngoài phải đáp ứng các tiêu chí sau:

- Nếu là doanh nghiệp sản xuất thì cơ sở sản xuất phải đạt tiêu chuẩn GMP, nếu là doanh nghiệp phân phối thì phải có giấy phép buôn bán, xuất nhập khẩu, bảo quản thuốc do cơ quan quản lý có thẩm quyền của nước sở tại cấp;

- Có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh thuốc, nguyên liệu làm thuốc;

- Có khả năng tài chính: doanh số tối thiểu trong năm gần nhất về kinh doanh thuốc, nguyên liệu làm thuốc đối với doanh nghiệp chỉ

có chức năng buôn bán thành phẩm tân dược phải đạt tối thiểu 15 triệu USD/năm; đối với do­ anh nghiệp có chức năng sản xuất thành phẩm tân dược là 5 triệu USD/năm; đối với doanh nghiệp có chức năng sản xuất, buôn bán thànn phẩm thuốc có nguồn gốc thảo dược, nguyên liệu thuốc, dược liệu, tá dược, bao bì trực tiếp với thuốc là 3 triệu USD/năm [6],

(iii) Tác động đến doanh nghiệp nhập khẩu:

để được nhập khẩu thuốc trực tiếp, các doanh nghiệp phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc và phải có kho thuốc đạt tiêu chuẩn về Thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP)

do Bộ Y tế cấp [15]

2.2 Biện pháp hạn chê sô'lượng

Đây là biện pháp nhằm tác động trực tiếp đến

số lượng hoặc giá trị nhập khấu thuốc được nhập

từ một quốc gia nào đó Biện pháp này gồm một

số giải pháp sau:

(i) Cấm nhập khẩu: theo Thông tư số 06/2006/TT-BYT ngày 16 tháng 5 năm 2006 của

Bộ Y tế về hướng dẫn việc xuất, nhập khẩu thuốc

và mỹ phẩm, Bộ Y tế đã ban hành Danh mục

43

Trang 3

Tạp chí NGHIÊN cứu Dược VÀ THỐNG TIN THUỐC Sô '2 năm 2010

nguyên liệu và thuốc thành phẩm cấm nhập

khẩu gồm 32 hoạt chất, chủ yếu là các hoạt chất

gây nghiện, hướng tâm thần (amphetamin,

metamphetamin, levamphetamin cyclobarbital )

hoặc những hoạt chất đã được chứng minh là có

tác dụng có hại nghiêm trọng (astemizol, cerivas-

tatin )

(ii) Giấy phép nhập khẩu: đây là biện pháp

quản lý nhập khấu nhằm hạn chế về mặt số

lượng nhập khấu Quyết định số 151/2007/QĐ-

TTg ngày 12 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng

chính phủ về việc nhập khẩu thuốc chưa có số

đăng ký tại Việt Nam đã quy định về số lượng

thuốc được phép nhập khẩu vừa đủ đáp ứng nhu

cầu cấp bách cho phòng, chống dịch bệnh, khắc

phục hậu quả thiên tai, thảm họa; theo nhu cầu

điều trị đặc biệt của bệnh viện (thuốc hiếm,

thuốc chuyên khoa, đặc trị, thuốc có dạng bào

chế đặc biệt trong nước chưa sản xuất được); để

phục vụ cho các chương trình mục tiêu y tế quốc

gia, viện trợ, viện trợ nhân đạo; thử lâm sàng,

làm mẫu đăng ký, tham gia trưng bày triển lãm,

hội chợ; và phục vụ công tác nghiên cứu, kiểm

nghiệm Ngoài ra, giấy phép nhập khẩu được áp

dụng để kiểm soát các thuốc thành phẩm có

chứa thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần

và tiền chất dùng làm thuốc [3], [5], [7], [8], vẳc

xin và một số sinh phẩm y tế đã được Bộ Y tế

cấp số đăng ký [10]

2.3 Các biện pháp tương đương th u ế

quan

Các doanh nghiệp khi nhập khấu thuốc phải

tiến hành công khai minh bạch giá nhập khẩu

thực tế (giá CIF) và phải giải trình các khoản

mục chi phí từ giá nhập khẩu đến giá bán buôn

với Cục quản lý dược để xem xét tính hợp lý

trước khi công bố trên website của Cục quản lý

dược Ngoài ra, liên Bộ Y tẽ - Tài chính cũng yêu

cầu các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động về

thuốc và nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam phải

cung cấp giá nhập khẩu tại một số thuộc phạm vi

tham khảo giá và giá nhập khẩu thực tế vào Việt

Nam không được cao hơn giá nhập khẩu trung

bình cộng tại các nước này [12]

2.4, Biện pháp hàng rào k ỹ thuật

Việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật phải

tuân thủ nguyên tắc tối huệ quốc và theo hiệp

định về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại

(TBT- Technical Barrier to Trade) Biện pháp

hàng rào kỹ thuật bao gồm các biện pháp sau:

(i) Các quy định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm: Thuốc nhập khẩu phải đạt tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng thuốc và các phương pháp kiểm nghiệm thuốc được quy định tại Dược điển Việt Nam Nếu thuốc nhập khẩu có tiêu chuẩn cơ sở do cơ sở sản xuất thuốc xây dựng

và công bố thì tiêu chuẩn cơ sở không được thấp hơn tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng thuốc hoặc phải đạt tiêu chuẩn Dược điển của các quốc gia phát triển như: Dược điển Anh (BP), Dược điển Mỹ (USP), Dược điển Châu Âu (EP), Dược điển Quốc tế (IP) Ngoài ra, để giám sát chất lượng thuốc, hệ thống kiếm nghiệm thuốc từ trung ương đến địa phương định kỳ tiến hành lấy mẫu có trọng tâm, trọng điếm tập trung vào những sản phẩm dễ bị vi phạm chất lượng để kiểm nghiệm chất lượng của các sản phẩm thuốc lưu hành trên thị trường

(ii) Các yêu cầu về quy chế nhãn: thuốc nhập khẩu phải đáp ứng theo yêu cầu của quy chế nhãn hiện hành của Việt Nam Tên thuốc nhập khẩu phải có giấy chứng nhận sở hữu nhãn hiệu hàng hóa do Cục sở hữu trí tuệ hoặc cơ quan sở hữu Quốc tế cấp và tuân theo Hiệp định thương mại về sở hữu trí tuệ (TRIPS) [4]

(ili) Các cơ sở sản xuất thuốc nước ngoài khi tiến hành làm thủ tục đăng ký thuốc phải cung cấp Giấy chứng nhận lưu hành sản phẩm tại nước sở tại (CPP- Certificate of Pharmaceutical Product) hoặc Giấy chứng nhận bán tự do (FSC - Free Sale Certificate) kèm theo Giấy chứng nhận nhà máy đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn GMP - WHO, các cơ sở nhập khẩu thuốc phải có kho bảo quản thuốc đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn GSP Đối với thuốc mới lần đầu tiên lưu hành tại thị trường Việt Nam, trước khi được cấp số đăng ký lưu hành phải tiến hành thử lâm sàng trên người Việt Nam theo điều kiện, hồ sơ, trình tự và các giai đoạn thử thuốc trên lâm sàng do Bộ Y tế qui định [15],

2.5 Biện pháp thương m ại tạm thời

Trong trường hợp giá một số mặt hàng độc quyền tăng giá đột biến hoặc có giá bất hợp lý, Cục quản lý dược sẽ yêu cầu và cho phép một số doanh nghiệp trong nước được phép nhập khẩu song song các mặt hàng này tại các thị trường khác thay thế với giá thấp hơn [9]

2.6 Các biện pháp quản lý hành chính (thủ tục Hải quan)

Khi nhập khẩu thuốc vào thị trường Việt Nam,

Trang 4

Tạp chí NGHIÊN c ứ u D ư ợ c VÀ THÔNG TIN THUỐC Sô' 2 năm 2010

hầu hết các thuốc thành phẩm sau khi được cấp

Giấy phép nhập khấu hoặc số đăng ký sẽ tiến

hành làm thủ tục thông quan tại Hải quan cửa

khẩu Khi tiến hành làm tờ khai hàng hóa tại Hải

quan cửa khẩu, Cơ quan Hải quan kiếm tra tư

cách pháp nhân của đơn vị nhập khẩu cũng như

kiểm tra các chứng từ hợp pháp khác như Phiếu

kiếm nghiệm gốc (COA - Certificate of Analysis),

Giấy chứng nhập xuất xứ (CO - Certificate of

Origin), Quyết định được cấp số đăng ký hoặc

Giấy phép nhập khẩu hoặc Giấy chứng nhận lưu

hành sản phẩm (Market Authority) và HỢp đồng

kinh tế

KẾT LUẬN

Nhìn chung, hệ thống các biện pháp quản lý

nhập khẩu thuốc của Việt Nam là khá hoàn

chỉnh, phù hợp với các cam kết và những nguyên

tắc ứng xử của WTO Tuy nhiên, hầu hết các

biện pháp này mang tính chất tiền kiểm, để quản

lý tốt hơn các thuốc nhập khẩu lưu hành tại thị

trường Việt Nam, cần phối hợp với các cơ quan

ban ngành như hệ thống kiểm nghiệm, hệ thống

thanh tra dược, cơ quan y tế địa phương, cơ

quan quản lý thị trường tăng cường các biện

pháp hậu kiểm nhằm đảm bảo các thuốc nhập

khẩu có chất lượng tốt, số lượng phù hợp, phục

vụ thiết thực công tác phòng và điều trị cho

người dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Công Thướng (2009), Cam kẽt về dịch vụ

khi gia nhập WTO Bình luận của người trong

cuộc, NXB Thống kê, tr 21 - 25, tr 57.

2 Bộ Tài chính (2007), Quyết định số

106/2007/QĐ - BTC ngày 20/12/2007 của Bộ

Tài chính về việc ban hành biểu thuẽ xuất

khẩu, biểu thuế nhập khấu ưu đãi, Hà Nội.

3 Bộ Y tê (1999), Quyết định số 2033/1999/QĐ

- BYT ngày 9/7/1999 về việc ban hành Qui

chẽ quản lý thuốc gây nghiện, danh mục thuốc

gây nghiện và danh mục thuốc gây nghiện

dạng phối hỢp, Hà Nội.

4 Bộ Y tế (2001), Quyết định 3121/2001/QĐ-

BYT ngày 18/7/2001 về việc ban hành qui chế

đăng ký thuốc, Hà Nội.

5 Bộ Y tế (2001), Quyết định số 3047/2001/QĐ

- BYT ngày 12/7/2001 về việc ban hành Qui

chế quản lý thuốc hướng tâm thần, danh mục

thuốc hướng tám thần, tiền chất dùng làm

thuốc và danh mục thuốc hướng tâm thần,

tiền chất làm thuốc dạng phối hợp, Hà Nội.

6 Bộ Y tê' (2001), Thông tư số 17/2001/BYT -

TT ngày 1/8/2001 về việc hướng dẫn doanh nghiệp nước ngoài đăng ký hoạt động về thuốc và nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam,

Hà Nội.

7 Bộ Y tê' (2002), Quyết định số 1442/2002/QĐ

- BYT ngày 25/4/2002 về việc sửa đổi, bố sung một số điều của Qui chẽ quản lý thuốc gây nghiện ban hành kèm theo Quyết định số 2033/1999/QĐ - BYT ngày 9/7/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội.

8 Bộ Y tê' (2002), Quyết định số 1443/2002/QĐ

- BYT ngày 25/4/2002 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Qui chế quản lý thuốc hướng tâm thần ban hành kèm theo Quyết định số 3047/2001/QĐ - BYT ngày 12/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội.

9 Bộ Y tế (2004), Quyết định 1906/2004/QĐ - BYT ngày 28/5/2004 qui định về việc nhập khẩu song song thuốc phòng, chữa bệnh cho người, Hà Nội.

10 Bộ Y tế (2004), Quyết định 3947/2004/QĐ - BYT ngày 8/11/2004 về việc qui chẽ đăng ký vẳcxin, sinh phẩm y tẽ, Hà Nội.

11 Bộ Y tê' (2007), Quyết định số 41/2007/QĐ - BYT ngày 20/11/2007 về việc ban hành danh mục thuốc dùng cho người và mỹ phẩm nhập khẩu vào Việt Nam đã được xác định mã hàng hóa theo danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu,

Hà Nội.

12 Bộ Y tế - Bộ Tài chính - Bộ công Thương

(2007), Thông tư liên tịch số 11/2007/TTLT - BYT - BTC - BCY hướng dẫn quản lý nhà nước

về giá thuốc dùng cho người, Hà Nội.

13 Bộ Y tế (2008), Phát triển công nghiệp dược Việt Nam và các vấn đề quân bình cung cầu đế bình ồn thị trường dược phẩm, Hà Nội.

14 Nguyễn Hữu Khải, Vũ Thị Hiền, Đào Ngọc

Tiến (2008), Quản lý hoạt động nhập khẩu, cơ chẽ chính sách và biện pháp, NXB Thống kê,

tr 17-50.

15 Quốc hội (2005), Luật dược năm 2005, Hà Nội.

45

Ngày đăng: 17/12/2015, 07:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w