Kiểm tra sau thông quan là phương pháp quản lý hải quan hiện đại vừa đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của nhà nước trong lĩnh vực hải quan đồng thời tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các hoạ
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG
………
HOÀNG TRUNG DŨNG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG
………
HOÀNG TRUNG DŨNG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế của Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày
trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận án
Tôi xin cam đoan luận án được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc và kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước đã được tiếp thu một cách chân thực, cẩn trọng, có trích nguồn dẫn cụ thể trong luận án
Hà Nội, ngày 20 tháng 08 năm 2019
Tác giả luận án
Hoàng Trung Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Công Sách và TS Nguyễn Hồng Phong Các Thầy đã hướng dẫn, động viên giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và viết luận án này Những nhận xét và đánh giá của các Thầy, đặc biệt là những gợi ý về hướng giải quyết vấn đề trong suốt quá trình nghiên cứu, thực sự là những bài học vô cùng quý giá đối với tôi không chỉ trong quá trình thực hiện luận án mà cả trong hoạt động nghiên cứu chuyên môn sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo và các phòng ban của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công thương đã giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Viện Những lời góp ý chân thành, sự hỗ trợ và giúp đỡ của Quý Viện đã giúp tôi vượt qua những trở ngại trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng nghiệp ở Cục Kiểm tra sau Thông quan - Tổng cục Hải quan và các doanh nghiệp nhập khẩu đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến bổ ích cho nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện khảo sát và phỏng vấn chuyên sâu
Nghiên cứu sinh
Hoàng Trung Dũng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH, HỘP viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu luận án 2
3 Câu hỏi và Mục tiêu nghiên cứu đề tài luận án 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu đề tài luận án 13
7 Kết cấu của luận án 14
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 15
1.1 Kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế 15
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế 15 1.1.2 Khái niệm, mục tiêu, đặc điểm và phân loại hình thức kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế 15
1.1.3 Nội dung và quy trình kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu 23
1.1.4 Vai trò của kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế 24
1.2 Quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế 25
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế 25
1.2.2 Mục tiêu, nguyên tắc của quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế 27
1.2.3 Phương pháp quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế 29 1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập
Trang 6khẩu 31
1.2.5 Tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu 40
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu 43
1.3.1 Hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách hải quan 43
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội 44
1.3.3 Hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế về Hải quan 45
1.3.4 Nhận thức của các bên có liên quan đến hoạt động KTSTQ 46
1.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu và bài học cho Việt Nam 47
1.4.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu 47
1.4.2 Một số bài học rút ra cho Việt Nam 51
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 53
2.1 Khái quát thực trạng Kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam 53
2.1.1 Khái quát thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa 53
2.1.2 Các cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam liên quan đến kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam 57
2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam 63
2.2.1 Thực trạng mục tiêu, nguyên tắc của quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam 63
2.2.2 Thực trạng phương pháp quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam 66
2.2.3 Thực trạng nội dung quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam 66
2.3 Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với KTSTQ hàng hóa NK trong thời kỳ hội nhập quốc tế 91
2.3.1 Thực trạng về hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách hải quan 91
Trang 72.3.2 Thực trạng về yếu tố kinh tế - xã hội 93 2.3.3 Thực trạng về hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế về Hải quan 93 2.3.4 Thực trạng về nhận thức của các bên có liên quan đến hoạt động KTSTQ 94
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa 96
2.4.1 Các đánh giá cụ thể 96 2.4.2 Các đánh giá chung 100
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ 112 3.1 Bối cảnh và những thuận lợi, khó khăn trong hoàn thiện quản lý nhà nước
về kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời kỳ tới 112
3.1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam 112 3.1.2 Dự báo phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa và quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam thời kỳ tới năm 2025, tầm nhìn 2030 115 3.1.3 Những thuận lợi, khó khăn trong hoàn thiện quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời kỳ tới 117
3.2 Quan điểm và phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam 119
3.2.1 Các quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam 119 3.2.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam tới năm 2030 119
3.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam nay đến 2025 120
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện hoạch định kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu 120 3.3.2 Hoàn thiện bộ máy thực thi kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu 126 3.3.3 Giải pháp hoàn thiện tổ bộ máy kiểm tra sau thông quan hàng nhập khẩu 129
Trang 83.3.4 Các giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện kiểm tra sau thông quan hàng hóa
nhập khẩu 132
3.3.5 Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra, giám sát về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam 138
3.3.6 Tăng cường công tác phối hợp trong và ngoài ngành, đẩy mạnh hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế 139
3.3.7 Một số giải pháp khác 141
3.4 Một số kiến nghị 145
3.4.1 Kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ 145
3.4.2 Những kiến nghị với Bộ Tài chính 146
3.4.3 Những kiến nghị với doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa 148
KẾT LUẬN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 157
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á BCT Bộ Công thương
BTC Bộ Tài chính
CNTT Công nghệ thông tin
C/O Truy xuất nguồn gốc xuất xứ
CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương CSDL Cơ sở dữ liệu
CSHT Cơ sở hạ tầng
DN Doanh nghiệp
EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và
Liên minh Châu Âu HNQT Hội nhập quốc tế
HQ Hải quan
KTSTQ Kiểm tra sau thông quan
LATS Luận án tiến sĩ
WCO Tổ chức Hải quan quốc tế
WTO Tổ chức thương mại thế giới
XK Xuất khẩu
XNC Xuất nhập cảnh
XNK Xuất nhập khẩu
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH, HỘP
Sơ đồ 1.1: Mô hình hệ thống cơ sở dữ liệu của HQ Nhật Bản 48
Sơ đồ 2.1: Tổng trị giá xuất nhập khẩu của Việt Nam qua các mốc thời gian 54
Sơ đồ 2.2 Thứ hạng nhập khẩu của Việt Nam trong khu vực ASEAN 56
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức lực lượng KTSTQ đề xuất 131
Bảng 2.1 So sánh quốc tế và Việt Nam về tốc độ tăng trưởng kinh tế 56
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát một số nhận định của doanh nghiệp về thực trạng hoạch định, xây dựng chính sách KTSTQ 73
Bảng 2.3: Số liệu biên chế lực lượng KTSTQ giai đoạn 2008-2017 76
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát một số nhận định của cán bộ KTSTQ về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực KTSTQ 81
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp về hệ thống CNNT và phần mềm hỗ trợ 83
hoạt động KTSTQ 83
Bảng 2.6: Ý kiến của cán bộ QLNN về thực trạng trang thiết bị 87
Bảng 2.7: Tình hình phân luồng tờ khai hải quan giai đoạn 2007 – 2017 88
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát một số nhận định của doanh nghiệp về thực trạng kiểm tra, giám sát và đánh giá KTSTQ hàng nhập khẩu 89
Bảng 2.9: Kết quả khảo sát một số nhận định của cán bộ KTSTQ về thực trạng kiểm tra, giám sát và đánh giá KTSTQ hàng nhập khẩu 90
Hộp 2.1: Ý kiến đánh giá về thực trạng hoạch định của nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu hiện nay của Việt Nam 70
Hộp 2.2: Ý kiến đánh giá về thực trạng chính sách thực thi của Tổng cục Hải quan về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu hiện nay của Việt Nam: 72
Hộp 2.3: Ý kiến đánh giá về thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy KTSTQ của Việt Nam 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc quản lý kinh
doanh hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa đóng một vai trò rất quan trọng, đặc biệt là ngay từ khâu đầu tiên khi hàng hóa làm thủ tục thông quan Thực hiện Luật Hải quan năm 2014 với nhiều sự điều chỉnh nhằm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hải quan theo kịp các nước phát triển trên thế giới, Hải quan Việt Nam đã từng bước hiện đại trên nhiều mặt Trong đó, một trong những công tác QLNN về hải quan được đặc biệt chú trọng là công tác
“hậu kiểm” hay nói cách khác là công tác KTSTQ KTSTQ là phương pháp quản lý hải quan hiện đại vừa đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của nhà nước đồng thời tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các hoạt động thương mại quốc tế
KTSTQ là một biện pháp nghiệp vụ hải quan chỉ mới được áp dụng vào Việt Nam trong khoảng thời gian hơn 14 năm Đây là một trong các phương pháp quản
lý hải quan hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng cao mà nếu vẫn áp dụng phương pháp quản lý truyền thống thì sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng và chất lượng của công việc của ngành Hải quan Kiểm tra sau thông quan là phương pháp quản lý hải quan hiện đại vừa đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của nhà nước trong lĩnh vực hải quan đồng thời tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các hoạt động thương mại quốc tế; là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng
từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa
Hiệu quả của quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua không chỉ góp phần phát triển hoạt động nhập khẩu hàng hóa mà còn giúp thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam có năng lực cạnh tranh và bình đẳng hơn Tuy nhiên, thực tế những năm qua khối lượng và chất lượng hàng hóa nhập khẩu không ngừng tăng lên, các quy định và tiêu chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu ngày càng chặt chẽ hơn vì vậy quá trình quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng nhập khẩu Việt Nam đã gặp phải nhiều trở ngại và bất cập Những năm gần đây công tác kiểm tra sau thông quan của hải quan Việt Nam chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn quản lý nhà nước về hải quan Kỹ năng, nghiệp vụ của công chức hải quan Việt Nam khi thực hiện kiểm tra sau thông quan còn hạn chế Điều này là một thách thức lớn đối với hải quan Việt Nam khi quyền quản trị nội bộ của doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp đã được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, các doanh nghiệp đều có hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ; Những công cụ truyền thống
Trang 12mà hải quan thường sử dụng để kiểm soát sự di chuyển của luồng hàng như đăng ký/thông báo định mức sử dụng nguyên liệu, vật tư, thanh khoản hợp đồng không còn mấy phù hợp Kiểm tra sau thông quan là nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan; nhằm phát hiện các gian lận thương mại Trong khi đó thách thức lớn nhất đối với mô hình hải quan hiện đại là phải đảm bảo chặt chẽ vai trò quản lý nhà nước đồng thời với tạo thuận lợi cho thương mại Thời gian qua, với nhiều lý do và nguyên nhân khác nhau, việc kiểm tra sau thông quan với hàng hóa nhập khẩu (NK) vẫn chưa hoàn thiện về cơ sở khoa học
Ngoài ra, kiểm tra sau thông quan hàng nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua vẫn chưa thực sự đảm bảo tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan Các doanh nghiệp nhập khẩu vẫn chưa thực sự tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan và thực tế hoạt gian lận thương mại vẫn diễn ra Do đó Nghiên
cứu sinh đã chọn đề tài luận án “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế của Việt Nam” là có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu luận án
2.1 Tổng quan các nghiên cứu công bố ở trong nước có liên quan đến luận án
2.1.1 Các nghiên cứu tổng thể về vai trò và hoạt động kiểm tra sau thông quan
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành (2005) “Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam” do Cục KTSTQ thuộc Tổng cục Hải quan thực hiện Đề tài đã cung cấp những vấn đề lý luận về kiểm tra sau thông quan như: khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc kiểm tra sau thông quan,
Đề tài cũng phân tích mô hình kiểm tra sau thông quan đang được áp dụng ở Việt Nam và đề xuất mô hình mới về kiểm tra sau thông quan cũng như các giải pháp hoàn thiện và tổ chức thực hiện mô hình kiểm tra sau thông quan[9]
- Luận án Tiến sỹ của Đoàn Hồng Lê (2008), “Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đề cập tới
tình hình XNK giai đoạn trước năm 2008 giúp cập nhật các giải pháp mới, đặc biệt trong bối cảnh ngành Hải quan đang ứng dụng phương pháp quản lý Hải quan hiện đại Tuy nhiên, việc đề cập tới những biện pháp quản lý Nhà nước về lĩnh vực kiểm tra sau thông với hàng hóa XNK nhưng vẫn chưa được nghiên cứu sâu, mới chỉ
Trang 13dừng lại ở việc nghiên cứu các công cụ quản lý nhà nước đang được áp dụng trong ngành Hải quan nói chung[35]
- Tiếp cận vấn đề dưới một góc nhìn khác, Luận án tiến sỹ của tác giả
Nguyễn Thị Kim Oanh (2011), “Kiểm tra sau thông quan ở Việt Nam trong bối cảnh tự do hóa thương mại” đã tập trung nhận diện các tác động của tự do hóa
thương mại đối với hoạt động KTSTQ, đánh giá về thực trạng hệ thống KTSTQ ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống KTSTQ ở Việt Nam trong bối cảnh tự do hóa thương mại Tác giả đã công phu nghiên cứu những thay đổi về kiểm tra sau thông quan của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống hóa một cách rõ ràng những vấn đề cơ bản về kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam, nghiên cứu sâu về các khu vực mậu dịch tự do và là tài liệu tham khảo quan trọng khi đề ra các giải pháp hoàn thiện kiểm tra sau thông quan trong bối cảnh hội nhập[44]
- Với một cách tiếp cận theo hướng khác là nghiên cứu hoàn thiện cách phân loại áp mã hàng hóa, là cơ sở để cho việc thực hiện tính thuế, Luận án Tiến sỹ của
Ngô Minh Hải (2012), đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp để phân loại, áp mã chính xác và thống nhất hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam”
Công trình nghiên cứu này có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực phân loại áp mã hàng hóa XNK Một phần những gian lận trong lĩnh vực thuế hải quan xuất phát từ khâu phân loại và áp mã hàng hóa không chính xác Một số doanh nghiệp thường có xu hướng lợi dụng những sơ hở trong các chính sách thuế để tiến hành các gian lận về thuế Luận án đã đề cập nhiều cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân loại áp mã hàng hóa nên các giải pháp đưa ra
là tài liệu tham khảo quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiểm tra sau thông quan tại Hải quan Việt Nam[21]
- Tiến sỹ Nguyễn Công Bình trong đề tài cấp Bộ (2013): “Xây dựng phương pháp tính toán và dự báo số thu ngân sách với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam” đã có cách tiếp cận mới về số thu của ngành Hải quan Trên cơ sở áp
dụng các phương pháp như: mô hình kinh tế lượng vĩ mô, phương pháp mô hình
I-O, phương pháp mô phỏng vi mô, phương pháp chuỗi thời gian, phương pháp chuyên gia, phương pháp cây quyết định, phương pháp dự báo tổng hợp, phương pháp ma trận tác động qua lại,…tác giả đã tính toán số thu tiềm năng của ngành Hải quan, so sánh với số thu thực tế hàng năm kết hợp với phương pháp chuyên gia để đánh giá, dự báo số thu cho ngành Hải quan Đây là kết quả đáng quan tâm của đề tài vì từ kết quả nghiên cứu này có thế định lượng một mức tương đối tỷ lệ thất thu thuế của ngành Hải quan Việc áp dụng các phương pháp dự báo của Hải quan các
Trang 14nước trong việc xây dựng số thu hàng năm, là một bước tiến trong quá trình xây dựng công cụ tính toán khoa học cho ngành Hải quan trong việc định lượng hóa tình trạng thất thu thuế XNK Đề tài là tài liệu quan trọng để tác giả nghiên cứu định lượng một cách tương đối các kết quả kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam để đề ra các giải pháp phù hợp[4]
2.1.2 Các nghiên cứu áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại trong kiểm tra sau thông quan
- Trần Vũ Minh nghiên cứu luận án (2006), “Mô hình KTSTQ của một số nước trên thế giới và khả năng áp dụng cho Việt Nam” tập trung phân tích mô hình
KTSTQ của 05 quốc gia và liên kết kinh tế (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, ASEAN) với đặc thù của từng mô hình, từ đó rút ra kinh nghiệm và khả năng
áp dụng và đề xuất mô hình KTSTQ cho Việt Nam Đề tài này đề cập đến lĩnh vực sau thông quan nói chung, nghiên cứu và phân tích chi tiết các mô hình kiểm tra sau thông quan của thế giới, so sánh với điều kiện Việt Nam và đề xuất các giải pháp có tính dài hạn cho việc hoàn thiện công tác KTSTQ ở Việt Nam Tuy nhiên, do nghiên cứu đã lâu nên các thông tin trong đề tài không còn phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay của Việt Nam Do vậy, NCS tiếp tục kế thừa những kết quả đạt được và lấy thông tin để
phát triển nghiên cứu bổ sung trong đề tài của mình[40]
- Với góc nhìn về cải cách thủ tục hải quan, LATS của Nguyễn Ngọc Túc
(2007), “Tiếp tục cải cách, hiện đại hoá Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” đã đề cập đến những yêu cầu cấp bách của việc phải cải cách
thủ tục hải quan trong tình hình mới Việc chuyển đổi từ phương thức quản lý thủ công truyền thống sang phương pháp mới là một yêu cầu cấp thiết Luận án đã đặt một nền móng cơ bản cho những vấn đề lý luận về cải cách hiện đại hóa Hải quan Luận án đã đi sâu nghiên cứu đổi mới những vấn đề còn tồn tại của ngành Hải quan, yêu cầu cấp thiết của việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm Công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo rất quan trọng trong việc nghiên cứu tiến trình hiện đại hóa việc quản lý sau thông quan của Hải quan Việt Nam[54]
- Với góc nhìn về áp dụng các phương pháp quản lý hải quan hiện đại, LATS
của Nguyễn Công Bình (2008), “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại nhằm tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế của Việt Nam” Luận án
đã đi sâu vào nghiên cứu các phương pháp quản lý hải quan hiện đại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế theo các khuyến cáo của WCO và Hải quan các nước tiên tiến trên thế giới Tuy luận án không đề cập sâu đến các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra sau thông quan cho Hải quan Việt Nam, nhưng là cơ sở để tác giả tham khảo đề ra các giải pháp ứng dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại Đặc biệt
Trang 15trong bối cảnh ngành Hải quan đang triển khai thành công các ứng dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại như Quản lý rủi ro, thông quan điện tử, cơ chế một cửa ASEAN,… Luận án đã đề cập một cách sâu rộng và tương đối toàn diện về các phương pháp quản lý theo chuẩn mực hải quan hiện đại Do điều kiện Việt Nam vẫn
là nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nên những phương pháp quản
lý hải quan hiện đại đã được nghiên cứu và trình bày trong luận án nếu được áp dụng đầy đủ sẽ là điều kiện rất tốt cho công tác kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam[3]
- Với góc nhìn về các giải pháp hoàn thiện, đổi mới hoạt động hải quan, luận
án tiến sĩ của tác giả Phạm Đức Hạnh (2008), “Đổi mới hoạt động hải quan Việt Nam góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế” đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề còn
tồn tại của hải quan, trong đó có lĩnh vực kiểm tra sau thông quan để đề ra các giải pháp hoàn thiện Tuy nhiên, do hoạt động hải quan luôn thay đổi, các tiến trình hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng và do phạm vi nghiên cứu rộng nên luận án chưa đi sâu nghiên cứu những bất cập trong lĩnh vực KTSTQ trong tình hình mới Luận án mới chỉ dừng ở mức độ khái quát vấn đề quản lý tại thời điểm trước năm 2008 nên không còn phù hợp với tình hình hiện tại Tuy nhiên, với phương pháp lý luận và cách tiếp cận vấn đề khoa học, luận án đã là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc xây dựng các luận cứ khoa học của nghiên cứu sinh[23]
2.1.3 Các nghiên cứu về nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan
KTSTQ được nghiên cứu, triển khai chủ yếu theo các chuyên đề kế hoạch hàng năm của Tổng cục Hải quan Thông qua nhiều đề tài, đề án cấp Ngành, những
lý thuyết chung nhất về kiểm tra sau thông quan được làm rõ tại nhiều góc nhìn khác nhau Mục đích của các đề tài trên chủ yếu đi sâu nghiên cứu bản chất để làm nổi bật vai trò của kiểm tra sau thông quan, thực trạng, giải pháp cơ bản hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan trong từng giai đoạn kinh tế của Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu cấp Học viện Tài chính (2005): “Sử dụng hiệu quả các công cụ kế toán, kiểm toán trong hoạt động KTSTQ ở Việt Nam hiện nay” do
Hoàng Trần Hậu làm chủ nhiệm Nội dung của đề tài đã nghiên cứu một số kỹ thuật kiểm tra cụ thể trong nghiệp vụ KTSTQ như kiểm tra chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính của doanh nghiệp[24]
- Dưới góc nhìn về hoàn thiện mô hình, đề tài khoa học cấp Ngành (2006),
“Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam” của tác giả Nguyễn Viết Hồng đã tập trung nghiên cứu mô hình KTSTQ của HQ Việt Nam và
đề xuất các giải pháp về mô hình KTSTQ Việt Nam từ TCHQ đến các Cục HQ tỉnh, thành phố, sơ hở trong các chính sách KTSTQ của cơ quan Nhà nước Đề tài chỉ ra
Trang 16một số mặt hạn chế trong những chính sách KTSTQ của Việt Nam mà nhiều vấn đề
đã được giải quyết khi Luật quản lý thuế, luật Hải quan 2014 đã được Quốc hội Việt Nam thông qua Đề tài là một gợi mở cho tác giả, hữu ích cho luận án nghiên cứu trong việc kế thừa và hoàn thiện các giải pháp nâng cao công tác KTSTQ tại Hải quan Việt Nam[34]
- Đề tài cấp Bộ (2007): “Xây dựng chuẩn mực kiểm tra sau thông quan” do
Vụ chính sách thuế và Tổng cục Hải quan thực hiện Đề tài trình bày các quy định của WCO liên quan đến kiểm tra sau thông quan và chuẩn mực kiểm tra sau thông quan; các quy định của hải quan ASEAN về chuẩn mực kiểm tra sau thông quan
Đề tài đưa ra các nguyên tắc xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm tra sau thông quan, những nội dung cơ bản của hệ thống chuẩn mực kiểm tra sau thông quan Trong đó, đề tài đã trình bày nhóm chuẩn mực chung; nhóm chuẩn mực về xây dựng và sử dụng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu; nhóm chuẩn mực về thực hành nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan; nhóm chuẩn mực đánh giá rủi ro về ý thức tuân thủ pháp luật; nhóm chuẩn mực đánh giá mực độ tuân thủ pháp luật trong
kê khai hải quan ra một số chuẩn mực kiểm tra sau thông quan; nhóm chuẩn mực
về báo cáo và kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị của kiểm tra sau thông quan[61]
- Đề tài cấp Bộ: “Kiểm tra hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu – Thực trạng và giải pháp” (2008) do Thị Thương Huyền và Nguyễn Việt Cường
làm chủ nhiệm Đề tài đã tập trung lý giải sự cần thiết khách quan của việc kiểm tra hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu, đồng thời phân tích luận giải các nghiệp vụ được sử dụng trong quá trình kiểm tra hồ sơ hải quan và thực trạng kiểm tra hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu của Hải quan Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu[30]
- Công trình nghiên cứu (2012), “Nghiên cứu phương pháp kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu trong thông quan điện tử” của tác giả
Văn Bá Tín phân tích các phương pháp thực hiện KTSTQ đối với các chứng từ HQ điện tử, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả KTSTQ trong môi trường HQ điện tử Quy mô và phạm vi đề tài đề cập khá rộng và liên quan nhiều lĩnh vực, giúp đưa ra các giải pháp cụ thể để có tính ứng dụng cao trong công tác KTSTQ đối với hàng hóa XNK trong thông quan điện tử[53]
- Sách chuyên khảo “Kiểm tra sau thông quan và một số quy định cần có tính chuẩn mực” (năm 2013) của Đoàn Ngọc Xuân đã tổng quan những vấn đề lý luận
về kiểm tra sau thông quan; trình bày cơ sở dữ liệu sử dụng trong nghiệp vụ kiểm
Trang 17tra sau thông quan cũng như một số nghiệp vụ chủ yếu trong kiểm tra sau thông quan; đưa ra hệ thống chuẩn mực kiểm tra sau thông quan, các điều kiện ban hành
và thực hiện hệ thống chuẩn mực kiểm tra sau thông quan[50]
- Luận án Tiến sĩ kinh tế “Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan ở Việt Nam” (năm 2014) tác giả Phạm Thị Bích Ngọc đã luận giải việc kiểm tra sau thông
quan về trị giá hải quan về cả lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, trong đó luận án phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như tồn tại, hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan; luận án đưa ra các giải pháp mang tính chất nghiệp vụ cho kiểm tra sau thông quan
về trị giá hải quan[43]
Ngoài ra còn có các đề tài khác như: “Nâng cao hiệu quả kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa XNK theo loại hình gia công” Mã số 02-N2006 của Nguyễn Văn Bình - Cục KTSTQ ; “Nghiên cứu xây dựng chế độ ưu tiên đặc biệt trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp” Mã số 04-N2011 của Lê Thu - Cục KTSTQ; “Nâng cao hiệu quả nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động thanh toán quốc tế qua ngân hàng” Mã số 01-N2006 của Hoàng Việt Cường - Cục KTSTQ; “Kiểm tra sau thông quan đối với hàng gia công, sản xuất xuất khẩu theo quy định của Luật Hải quan 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành” Mã số 09-N2016 của Nguyễn Phúc Thọ - Cục Hải quan Đồng Nai; “Nâng cao năng lực kiểm tra sau thông quan về xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu Cục Kiểm tra sau thông quan” Mã số 10-N2016 của Nguyễn Thị Khánh Huyền[71]
Các công trình nghiên cứu khoa học này cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra sau thông quan và đưa ra một số giải pháp tăng cường cũng như hoàn thiện công tác kiểm tra sau thông quan tại các Cục Hải quan địa phương
2.2 Tổng quan các nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án
- World Customs Organization, Guidelines for Post Clearance Audit, (Hướng
dẫn về kiểm tra sau thông quan của WCO) Tài liệu hướng dẫn này phản ánh một
cách tiếp cận mới về KTSTQ trên cơ sở đánh giá toàn diện và cập nhật hướng dẫn trước đó được phát triển vào năm 2006[83] Nó nhấn mạnh ngày càng tăng nhu cầu thành viên để tạo điều kiện cho thương mại hợp pháp KTSTQ được đề cập trong một bối cảnh thương mại rộng lớn hơn, các thành viên được hướng tới cách tiếp cận về KTSTQ được phát triển từ kinh nghiệm các thành viên khác và phù hợp với các kỹ thuật hải quan hiện đại Hướng dẫn này được trình bày trong 2 phần Phần 1 tập trung
ở cấp độ quản lý nhằm hỗ trợ xây dựng và quản lý chương trình KTSTQ (dành cho mọi đối tượng quan tâm) Phần 2 tập trung vào khía cạnh thực thi KTSTQ với hướng
Trang 18dẫn thực tế cho cán bộ kiểm tra (chỉ dành cho các cơ quan hải quan) Thông tin thêm
về các chủ đề kỹ thuật liên quan đến kiểm tra hải quan (ví dụ: trị giá hải quan, phân
loại và xuất xứ) có trong tài liệu hướng dẫn khác do WCO xây dựng
- WCO, “Columbus Programme- Chương trình Columbus”, đây là cẩm nang
phản ánh một số vấn đề Hải quan Việt Nam cần phải xem xét theo chuẩn mực chung của WCO; trong đó có các khuyến cáo về lĩnh vực kiểm tra sau thông quan với hàng hóa XNK của Hải quan Tuy nhiên tài liệu mới chỉ dừng lại ở những khuyến cáo chung cho các nước thành viên WCO mà chưa tính đến đặc thù những nước đang phát triển như Việt Nam[72]
- Nobuyuki Shokai, The Blueprint of ASEAN customs post clearance audit (Kế hoạch chi tiết kiểm tra sau thông quan của Hải quan ASEAN) [81] Kế hoạch
này được xây dựng trên chương trình hành động của một số quốc gia như Indonesia, Malaysia, Singapor, Brunei Darussalam…Mỗi chương trình hành động riêng của các quốc gia được coi là phần không tách rời của kế hoạch PCA của Hải quan ASEAN để đạt được kế hoạch chiến lược ASEAN về phát triển hải quan và kiểm toán hải quan Các chương trình của mỗi quốc gia cơ bản đều gồm 2 phần: 1, Hiện trạng: Những phân tích về tình hình thực hiện của PCA, dựa trên việc xem xét sâu sắc cơ chế hải quan và các yếu tố đầu vào có sẵn 2, Hành động và mục tiêu, biện pháp để đạt được các yêu cầu theo quy định Qua việc phân tích hệ thống hiện trạng KTSTQ của Indonesia (triển khai từ năm 1996), Malaysia (2000), Singapo (1998)
và Brunei Dasussalam (2003), tác giả đưa ra những biện pháp, mục tiêu theo lộ trình xác định cụ thể về thời gian để các nước tăng cường khuôn khổ pháp luật hiện hành, các vấn đề về cơ cấu tổ chức và hoạt động của PCA, tiêu chuẩn đạo đức, cơ chế thực hiện, giám sát và đánh giá trong quá trình thực hiện PCA Những nội dung này có giá trị tham khảo rất lớn trong quá trình nghiên cứu PCA theo chuẩn mực quốc tế cũng như kinh nghiệm của các nước trong xây dựng và triển khai pháp luật về KTSTQ
- Luc De Wulf - osé B Sokol (2006), “Customs Modernization Handbook -
Sổ tay hiện đại hóa Hải quan” do Ngân hàng thế giới biên soạn năm 2006 cho các
nước thành viên để hướng dẫn cho các tổ chức và cá nhân tham gia chuẩn bị và thực thi các dự án hiện đại hoá hải quan, trong đó có kiểm tra sau thông quan Tài liệu được sử dụng để tham khảo đề ra các giải pháp kiểm tra sau thông quan của luận án theo các chuẩn mực của WCO[38][80]
- Nobuyuki Shokai, ASEAN Post Clearance Audit Manual (Hướng dẫn về kiểm tra sau thông quan của ASEAN) [81] Bản hướng dẫn này được kết cấu thành
nhiều phần Phần I về thực hiện chương trình KTSTQ nêu các quá trình cụ thể để
Trang 19thực hiện cuộc kiểm toán hải quan Trong đó, đề cập đến khía cạnh pháp lý của KTSTQ với các nội dung như yêu cầu pháp lý, giải thích các khái niệm, nêu các quy định tham chiếu với pháp luật của một số nước thành viên như Indonesia, Philippin Theo tác giả, để thực hiện PCA một cách hiệu quả phù hợp, các yêu cầu pháp lý cần được quy định trong luật đó là: Hệ thống tổ chức; nghĩa vụ của cán bộ PCA; Phạm vi của PCA; nghĩa vụ của người/công ty được kiểm toán, các trường hợp hình sự, quyền kháng cáo… Với các quy định khá chi tiết về cán nội dung này, hướng dẫn này thể hiện yêu cầu chung về KTSTQ (kiểm toán hải quan) đối với các nước thành viên ASEAN, trở thành một nền tảng tất yếu về cơ sở pháp lý theo chuẩn mực quốc tế để hoàn thiện pháp luật về KTSTQ tại Việt Nam
- Thay đổi Hải quan: thách thức và chiến lược cải cách hải quan, 2003
Washington D.C: IMF theo tài liệu của Japan Customs, trong đó ghi nhận những khuyến cáo và các thành quả đạt được khi áp dụng kiểm tra sau thông quan với hàng hóa XNK cho các nước thành viên Tài liệu tham khảo sử dụng để phục vụ cho việc đề ra các giải pháp nghiên cứu biện pháp kiểm tra sau thông quan của hải quan Việt Nam[77]
2.3 Khoảng trống và những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu giải quyết
Từ tổng quan nghiên cứu trên cho thấy còn một số khoảng trống chưa được
nghiên cứu một cách thấu đáo và trực diện sau:
Một là, các công trình trong và ngoài nước đã tìm hiểu khá toàn diện về
nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước và hoạt động kiểm tra sau thông quan: từ các luận
cứ lý thuyết đến các nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước và hoạt động kiểm tra sau thông quan Đây đều là các nội dung rất quan trọng có thể đáp ứng tốt yêu cầu thông tin tham khảo Tuy nhiên hoạt động KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua có nhiều đặc điểm khác biệt và còn gặp nhiều bất cập, thác thức, trong khi đó do yêu cầu và mục đích khác nhau, nên mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về KTSTQ, nhưng các công trình trong và ngoài nước được tổng quan vẫn chưa đưa ra được cơ sở khoa học của việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam Vì vậy cần làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm, nội dung, tiêu chí đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đối với quản
lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam
Hai là, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích cơ sở khoa
học để Việt Nam hoàn thiện công tác KTSTQ, chứ chưa đi sâu vào phân tích cụ thể đối với các nội dung của quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam như: Hoạch định về KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu; Xây dựng chính sách thực thi KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu; Tổ chức thực hiện kế hoạch
Trang 20KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu và Kiểm tra, giám sát về KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu
Ba là, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các mô hình KTSTQ
và đây là những tài liệu hữu ích cho luận án Tuy nhiên những công trình này chưa
đề cập đến những kinh nghiệm của các quốc gia nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu các kinh nghiệm của các quốc gia về quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu là rất có ích cho Việt Nam
Bốn là, hầu hết các công trình nêu trên mới chỉ nghiên cứu về các mô hình
KTSTQ, hiện đại hóa của ngành hải quan nói chung mà chưa nghiên cứu nhiều về các quy trình, nội dung, yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, thực tế trong quá trình hội nhập hiện nay, Việt Nam vẫn chưa ban hành nhiều chính sách nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng cũng như đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian tới sẽ có nhiều ý nghĩa thực tiễn để phù hợp với quy định của các hiệp định FTA và các hiệp định khác mà Việt Nam đã ký kết
3 Câu hỏi và Mục tiêu nghiên cứu đề tài luận án
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Thế nào là KTSTQ hàng hóa nhập khẩu và khái niệm về quản lý
nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu?
Câu hỏi 2: Các mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, tiêu chí đánh giá quản lý nhà
nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu?
Câu hỏi 3: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với KTSTQ
hàng hóa nhập khẩu? Kinh nghiệm nào của quốc tế có thể áp dụng cho việc quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Hải quan Việt Nam?
Câu hỏi 4: Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với
KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua?
Câu hỏi 5: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập là gì?
3.2 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
• Mục tiêu chung: Xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện QLNN
đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu Việt Nam trong thời kỳ HNQT đến năm 2025
và định hướng tới năm 2030
• Mục tiêu cụ thể:
+ Nghiên cứu, tập hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về KTSTQ và quản
Trang 21lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ HNQT Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học rút ra nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam thời kỳ HNQT
+ Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ HNQT, tìm ra những hạn chế, bất cập cần hoàn thiện và chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế đó
+ Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2025 định hướng tới 2030 để phù hợp với yêu cầu HNQT và tiến trình cải cách hiện đại hóa ngành Hải quan, góp phần nâng cao hiệu quả công tác QLNN của Hải quan Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ HNQT, các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu trong thời
kỳ hội nhập quốc tế của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập
khẩu tại Việt Nam và nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
- Phạm vi về thời gian: Thời điểm lựa chọn nghiên cứu từ năm 2007 -
2018 Đây là giai đoạn kể từ khi Việt Nam bắt đầu có những bước tiến cơ bản mang tính bền vững tham gia vào các tổ chức, diễn đàn, cam kết trong khu vực
và trên thế giới về kinh tế Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản
lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa NK của Hải quan Việt Nam đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030
- Phạm vi nội dung: Luận án đi sâu phân tích 4 nội dung chính của QLNN đối với KTSTQ hàng nhập khẩu thời kỳ HNQT, gồm: Hoạch định về KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu; Xây dựng chính sách thực thi KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu; Tổ chức thực hiện kế hoạch KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu; Kiểm tra, giám sát về KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Luận án sử dụng mẫu phiếu điều tra, thu thập thông tin, ý kiến đánh giá của các đối tượng liên quan nhằm đánh giá các lĩnh vực nghiên cứu của luận án Các mẫu phiếu khảo sát được tập trung vào 02 đối
Trang 22tượng liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu, đó là: các cán bộ QLNN về KTSTQ bao gồm: Chi cục KTSTQ - Tổng cục Hải quan, các Cục Hải quan ở địa phương và 110 doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa tại Việt Nam Đối với số phiếu điều tra phát ra tại các doanh nghiệp nhập khẩu là
220 phiếu phát ra và số phiếu thu về 198 phiếu, sau khi làm sạch còn lại 180 phiếu hợp lệ Đối với các cơ quan quản lý nhà nước phát ra 100 và thu về 75 phiếu hợp lệ
Sau khi thu được các phiếu hợp lệ, luận án xử lý các kết quả khảo sát doanh nghiệp và cán bộ KTSTQ qua phần mềm SPSS 20.0 để xác định các điểm trung bình, độ lệch chuẩn của các ý kiến khảo sát Để đánh giá điểm trung bình, luận án dựa trên sử dụng đánh giá theo thang đo Likert nên đã phân định 5 thang đo điểm để đánh giá với các mức điểm bình quân dưới 3 được đánh giá là chưa tốt, từ 3 đến dưới 3.5 là trung bình và trên 3.5 là tốt
Ngoài ra luận án cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn, thông qua việc lựa chọn 2 đến 3 người tại mỗi cơ quan, tổ chức theo 4 nội dung cơ bản về quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam Đối tượng phỏng vấn chuyên sâu bao gồm: (1) Cán bộ công chức tại Tổng cục Hải quan và tại Chi cục KTSTQ; (2) Các chuyên gia tại các trường Đại học và Viện nghiên cứu Luận án thực hiện phỏng vấn 25 chuyên gia về quản lý nhà nước đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu thực trạng nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Luận án tập hợp, thu thập các số liệu thứ cấp thông qua các sách, báo, tạp chí khoa học chuyên ngành, các luận án có liên quan, các dữ liệu đã được công bố của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, Cục hải quan các tỉnh và dữ liệu của một số tổ chức như VCCI, Tổ chức Hải quan quốc tế (WCO) và Ngân hàng thế giới (WB)
5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Thống kê mô tả: Sau khi thu thập số liệu sơ cấp, luận án tổng hợp thống kê,
tính toán các loại số tuyệt đối, tương đối, số bình quân, các chỉ số (dùng để phản ánh mức độ) Đây là phương pháp phổ biến nhất trong nghiên cứu các hiện tượng kinh tế
xã hội Thực chất là tổ chức điều tra thu thập số liệu trên cơ sở khách quan số lớn đảm bảo yêu cầu chính xác, đầy đủ và kịp thời Các phương pháp trên dùng để đánh giá thực trạng thực thi và các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chí đánh giá QLNN đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu
Phương pháp phân tích so sánh: Trên cơ sở thu thập các số liệu thứ cấp và sơ
cấp của các doanh nghiệp nhập khẩu, cơ quan QLNN, các chỉ tiêu số điểm trung bình được sử dụng để so sánh hiệu quả QLNN đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu
Trang 23của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2018
5.3 Các phương pháp nghiên cứu khác
5.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Luận án tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến QLNN
về hải quan, KTSTQ hàng hóa nhập khẩu để từ đó xây dựng và phân tích cơ sở lý luận về QLNN đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu trong điều kiện HNQT
Ngoài ra luận án tổng hợp các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để phân tích thực trạng theo 04 nội dung QLNN đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ HNQT của Việt Nam trong những năm qua
5.3.2 Phương pháp kế thừa
Luận án tham khảo và sử dụng một số kết quả đã được nghiên cứu trước liên quan đến QLNN đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu để bổ sung vào luận chứng và vận dụng trong luận án Luận án không sử dụng phương pháp này để sao chép mà
sử dụng các kết quả đó một cách khoa học và hợp lý để làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN đối với KTSTQ hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ HNQT của Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu đề tài luận án
Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về công tác kiểm tra sau thông
bối cảnh quan trong hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy ở các trường đại học, cũng như công tác kiểm tra sau thông quan của hải quan các cấp; Phân tích rõ vai trò và sự cần thiết hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan trong bối cảnh đẩy mạnh công tác hiện đại hóa của ngành hải quan và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay; Nghiên cứu kinh nghiệm về công tác kiểm tra sau thông quan ở hải quan một số
quốc gia và rút ra nhận xét, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra sau thông quan trên hai góc độ: Hoàn thiện công tác kiểm tra sau thông quan từ các thủ đoạn gian lận, sơ hở chính sách và kẽ hở trong quản lý của Việt Nam và Hoàn thiện công tác kiểm tra sau thông quan trên cơ sở áp dụng các phương pháp quản lý hải quan hiện đại, tuân thủ các chuẩn mực của hải quan thế giới Cả hai góc độ đều được xem xét, đánh giá qua thực tế từ năm 2007 đến 2018 Trên cơ sở đó, luận án phân tích, đánh giá kết quả đã đạt được và những tồn tại hạn chế cũng như tìm ra nguyên nhân của những tồn tại hạn chế đó
Trang 24Luận án đã đóng góp những giải pháp hoàn thiện công tác KTSTQ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và cả trong thời gian dài ở tương lai theo các nội dung: Xác lập vị trí pháp lý, tổ chức bộ máy, mô hình KTSTQ của hải quan Việt Nam, hoàn thiện các phương pháp quản lý hải quan, nghiên cứu các kẽ hở đối với các loại hình NK hải quan, hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của các cơ quan KTSTQ của hải quan Việt Nam, nghiên cứu áp dụng các phương pháp quản lý hải quan hiện đại hoàn thiện công tác KTSTQ Các giải pháp trình bày súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu, bên cạnh ý nghĩa thực tiễn, những giải pháp còn gợi mở những ý tưởng, tạo tiền đề cho các nghiên cứu hoàn thiện công tác KTSTQ trong tương lai xa hơn
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án kết cấu gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Trang 25CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TRONG THỜI
KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1.1 Kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Trong kinh tế chính trị của Marx-Lenin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có thể thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Hay nói cách khác hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được[6]
Theo Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 16/04/2005 của Việt Nam thì nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Theo Khoản 6, Điều 4 - Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014, hàng hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ
trong địa bàn hoạt động hải quan
Như vậy, hàng nhập khẩu là hàng hóa được sản xuất từ một nước khác và nhập qua cửa khẩu Việt Nam, có xuất xứ từ nước ngoài Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
1.1.2 Khái niệm, mục tiêu, đặc điểm và phân loại hình thức kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.1.2.1 Khái niệm về KTSTQ và KTSTQ hàng hóa nhập khẩu
- Khái niệm về KTSTQ
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về KTSQ Theo cuốn sách “Sổ tay hướng dẫn về KTSTQ của Tổ chức Hải quan ASEAN” năm 2003 thì KTSTQ là một biện pháp hải quan có hệ thống mà cơ quan hải quan tự thỏa mãn về độ chính xác và tính trung thực của việc khai báo hải quan thông báo việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên
Trang 26quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại của các cá nhân/các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế[81]
Theo quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Hải quan 2014 Việt Nam thì:
“KTSTQ là hoạt động của cơ quan Hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan” Việc KTSTQ nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực
nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu người khai hải quan
Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan được quy định tại Điều
79 Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành Nội dung KTSTQ tại trụ sở
cơ quan Hải quan được quy định như sau: người khai hải quan có nghĩa vụ cung cấp xuất trình hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc các hình thức có giá trị tương đương hợp đồng, hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm, chứng nhận xuất xứ hàng hóa, chứng từ thanh toán, hồ sơ, tài liệu kỹ thuật của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến hồ sơ đang được kiểm tra và giải trình những nội dung liên quan
- Khái niệm về KTSTQ hàng hóa nhập khẩu
KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu là quá trình các công chức hải quan kiểm tra tính trung thực hợp lý và độ tin cậy của các thông tin mà chủ hàng đã khai báo với cơ quan hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ nhập khẩu, chứng từ kế toán, chứng từ ngân hàng,… của các lô hàng NK đã thông quan Những chứng từ này do các chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân) có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc giao dịch lô hàng NK đang lưu giữ
Như vậy, có thể hiểu KTSTQ hàng hóa nhập khẩu là khâu nghiệp vụ kiểm tra cuối cùng và đóng vai trò như một nghiệp vụ thẩm định lại những nghiệp vụ kiểm tra trước của các đối tượng tham gia vào hoạt động nhập khẩu Đây là một công cụ hữu hiệu đối với công tác kiểm tra hải quan, vì nó đưa ra bức tranh rõ ràng
và đầy đủ về các giao dịch có liên quan tới hàng hóa xuất khẩu, được phản ánh trong các sổ sách và ghi chép của doanh nghiệp KTSTQ cho phép cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp kiểm tra hải quan theo hướng đơn giản, ưu tiên làm thủ tục hải quan nhanh chóng, thuận tiện đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan nhưng vẫn đảm bảo việc ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, gian lận thuế, vi phạm chính sách quản lý nhập khẩu, đấu tranh chống gian lận thương mại hữu hiệu nhất
Trang 271.1.2.2 Mục tiêu, phạm vi và đối tượng KTSTQ hàng hóa nhập khẩu
- Mục tiêu KTSTQ hàng hóa nhập khẩu: Mục tiêu của hoạt động KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu là kiểm tra việc chấp hành Luật Hải quan, Luật Quản
lý thuế, Luật Thuế nhập khẩu và các quy định khác có liên quan đến chính sách mặt hàng để từ đó phát hiện, ngăn chặn kịp thời tình trạng gian lận về thuế
Quá trình thực hiện KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu đòi hỏi công chức hải quan phải kiểm tra xét đoán xem doanh nghiệp có chấp hành nghiêm túc các văn bản pháp quy, các quy định mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải chấp hành hay không, xét về góc độ này KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc loại hình kiểm toán tuân thủ
Nhưng mục đích chính của KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu là phát hiện tình trạng gian lận để trốn lậu thuế vì vậy phải kiểm tra xét đoán sổ sách và chứng
từ kế toán bằng các kiến thức của kiểm toán tài chính Như vậy xét về bản chất thì KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc loại hình kiểm toán tuân thủ - tài chính
- Phạm vi kiểm tra: KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu chỉ kiểm tra xét
đoán các chứng từ thương mại, chứng từ NK, các ghi chép kế toán ngân hàng có liên quan đến các lô hàng NK Đặc điểm này khẳng định chức năng chuyên biệt chuyên ngành không thể thay thế của KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu và phân biệt nó với mọi loại hình kiểm tra, kiểm toán khác
- Về đối tượng kiểm tra: KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu chỉ kiểm tra các
đơn vị có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến kinh doanh NK đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Không phân biệt thành phần kinh tế, nguồn vốn chủ sở hữu cũng không chờ đợi sự thỏa thuận hoặc văn bản yêu cầu của doanh nghiệp, cụ thể:
+ Các chủ thể liên quan trực tiếp đến kinh doanh NK chính là các chủ hàng
NK (doanh nghiệp hoặc cá nhân)
+ Các chủ thể liên quan gián tiếp đến hoạt động NK có thể là (nhưng không chỉ giới hạn trong các đối tượng này): Các đại lý khai thuê/môi giới hải quan: nắm giữ các chứng từ thương mại NK, hải quan, các thông tin khác về hàng hóa và trị giá; Các doanh nghiệp NK ủy thác: nắm giữ các thông tin giao dịch trước khi ký hợp đồng thương mại và thực hiện hợp đồng; Các doanh nghiệp kho vận, logistics: nắm giữ các chứng từ vận chuyển hàng hóa NK, số lượng bản chất chủng loại, đơn giá, tổng trị giá hàng hóa; Các hãng vận tải hàng hóa NK: Phát hành và lữu trữ chứng từ vận chuyển hàng hóa, hành trình của phương tiện vận tải, cước phí vận tải (để xác định trị giá hải quan và xuất xứ hàng hóa), biển bản hải sự, báo cáo tổn hại hàng hóa (để xem xét trường hợp tổn thất trị giá thương mại của hàng hóa là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới việc xét giảm số tiền thuế phải nộp
Trang 28thường dễ bị lợi dụng để gian lận tiền thuế); Các hãng bảo hiểm hàng hóa NK: phát hành và nắm giữ các chứng từ bảo hiểm, phí bảo hiểm (một yếu tố cấu thành trị giá hải quan) và các chứng từ khác (Trị giá bảo hiểm, số tiền bảo hiểm) để xác định trị giá hải quan, mối quan hệ tương tác về thời gian ghi trên chứng từ bảo hiểm với thời gian ghi trên các chứng từ khác có ý nghĩa quan trọng trong nghiệp
vụ xét đoán chứng từ; Các ngân hàng thương mại: nắm giữ các chứng từ ghi nhận
số tiền thực tế người mua đã chuyển trả cho người bán, để từ đó phân tích với nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa NK về hình thức thanh toán, phương thức thanh toán, thời điểm thanh toán là cơ sở để kiểm tra sự trung thực của trị giá mà doanh nghiệp khai báo với cơ quan hải quan; Các cơ quan, tổ chức giám định hàng hóa: phát hành và nắm giữ các chứng từ giám định về hàng hóa như số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hóa NK là yếu tố xét đoán về trị giá khai báo, tổng trị giá của hợp đồng và là yếu tố thường được lợi dụng để gian lận trị giá khai báo và gian lận tiền thuế phải nộp
1.1.2.3 Đặc điểm về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về KTSTQ, nhưng các quan niệm này đều thể hiện các đặc điểm cơ bản của hoạt động KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu như sau:
- KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu là một trong các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan hải quan, hoạt động nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan này cùng thực hiện trách nhiệm quản lý về mặt hải quan trong mối quan hệ phối kết hợp với các đơn vị chức năng khác của lực lượng hải quan, ví dụ: đơn vị thông quan, đơn vị kiểm soát điều tra, quản lý rủi ro, Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu không phải là một hệ thống độc lập mà là một trong các chức năng của cơ quan hải quan, đóng góp vai trò trong phạm vi hoạt động chiến lược tổng thể của ngành Hải quan
- KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu là hoạt động kiểm tra diễn ra sau khi hàng hóa nhập khẩu đã được thông quan và do cơ quan hải quan thực hiện theo các trình tự và thủ tục do pháp luật quy định
- KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu có liên quan đến quy định của pháp luật về nghĩa vụ lưu giữ hồ sơ và các chế tài có liên quan Vì kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu được thực hiện dựa trên việc kiểm tra sổ sách giấy
tờ là chủ yếu, nên để thực hiện có hiệu quả, cần quy định rõ nghĩa vụ và các chế tài liên quan đến việc lưu giữ hồ sơ của đối tượng
- KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu được tiến hành nhằm xác định việc người khai hải quan có tuân thủ các yêu cầu của Luật Hải quan và các qui định liên
Trang 29quan đến hàng hóa nhập khẩu hay không Nội dung này đòi hỏi các cán bộ hải quan phải có năng lực về nghiệp vụ chuyên môn Ngoài ra, nội dung này cũng có ý nghĩa khuyến khích các nhà nhập khẩu hoặc bất kỳ đối tượng khai hải quan nào tuân thủ các quy định pháp luật hải quan thông qua việc tự khai báo và tự chịu trách nhiệm
về nội dung khai báo của mình
- KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu được tiến hành với sự hỗ trợ từ các nguồn thông tin có liên quan bao gồm cả các dữ liệu điện tử được các cá nhân/tổ chức liên quan cung cấp, xuất trình Cán bộ kiểm tra sau thông quan tập hợp các bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin, đánh giá chúng trên cơ sở quy định pháp luật hải quan và sau đó xác định tính chính xác và trung thực của việc khai báo hải quan
- KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu không chỉ áp dụng với đối tượng khai hải quan trực tiếp mà còn áp dụng với các cá nhân/tổ chức tham gia vào thương mại quốc tế Hoạt động thương mại quốc tế ngày nay có rất nhiều đối tượng tham gia, và thông tin từ các đối tượng đó có thể rất hữu ích cho cơ quan Hải quan trong việc xác định tính chính xác và trung thực của khai báo Hải quan
- KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu được thực hiện với sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan hải quan và đối tượng kiểm tra Cần lưu ý là kiểm tra sau thông quan không phải là biện pháp điều tra vi phạm hải quan ngay cả khi Luật Hải quan cho phép các cán bộ hải quan vào các cơ sở của cá nhân, công ty để kiểm tra hồ sơ của
họ và tiến hành xử phạt những ai chống đối hoặc ngăn cản công tác kiểm tra Thông qua quy trình kiểm tra sau thông quan, các cán bộ hải quan tiếp cận, hợp tác với các
cá nhân, tổ chức đang bị kiểm tra (người bị kiểm tra) và tiến hành kiểm tra sau thông quan với sự hợp tác và đồng ý của họ
1.1.2.4 Phân loại về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu a) Phân loại kiểm tra sau thông quan của WCO và hải quan một số quốc gia
Trong bối cảnh cải cách hành chính, áp dụng phương thức quản lý hải quan hiện đại để tạo thuận lợi, giảm chi phí cho thương mại thì các thủ tục hành chính và việc kiểm tra ở trong khâu thông quan hàng nhập khẩu sẽ ngày càng giảm và sẽ giảm tới mức tối thiểu có thể, dẫn đến khối lượng công việc của lực lượng KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu ngày càng lớn với những rủi ro cần phải được kiểm soát Tuy nhiên, mức độ rủi ro, yêu cầu kiểm soát đối với mỗi trường hợp là khác nhau, nếu áp dụng cùng một cách thức, mức độ kiểm tra như nhau là không hiệu quả, không cần thiết và khó khả thi Vì vậy, nhìn chung các nước đều chia KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu thành nhiều loại/hình thức khác nhau để thực hiện
- WCO phân loại KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu như sau:
Trang 30+ Kiểm tra sau khi hoàn thành thủ tục thông quan: Áp dụng đối với từng lô
hàng, mục đích chủ yếu là kiểm soát về việc kê khai thuế Đối với những lô hàng ở khâu thông quan nhận thấy có những rủi ro cụ thể hoặc có nghi ngờ khai báo không chính xác, tuy nhiên, trên cơ sở phân tích lợi ích giữa tạo thuận lợi và quản lý, giữa chi phí và hiệu quả thấy không nhất thiết phải kiểm tra ngay thì áp dụng hình thức kiểm tra sau đối với từng lô hàng, bằng cách: khi làm thủ tục thông quan, nếu thấy
có nghi ngờ việc người khai hải quan kê khai thiếu một khoản tiền thuế đáng kể thì chuyển nghi ngờ đó cho bộ phận hải quan sau khâu thông quan có trách nhiệm tiến hành kiểm tra kỹ hơn hồ sơ lô hàng đó Tuy yêu cầu và cách làm không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể coi hình thức kiểm tra này tương tự như hoạt động kiểm tra sau thông quan tại các Chi cục hải quan (đơn vị thông quan) mà hải quan Việt Nam đang áp dụng
+ Kiểm tra tại cơ quan hải quan (office/desk audit or verification):
Chủ yếu áp dụng đối với những trường hợp có dấu hiệu rủi ro, nhưng mức độ rủi ro không lớn, có tính chất đơn giản hay đơn lẻ Phương pháp kiểm tra cũng đơn giản, chủ yếu bằng hình thức thông báo cho người khai hải quan biết các nội dung
mà cơ quan hải quan đang nghi ngờ và yêu cầu người khai hải quan giải trình
Trong trường hợp không thể kết luận được và phải tiến hành bước tiếp theo
là KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan thì hoạt động kiểm tra tại cơ quan hải quan
có thể coi như là bước khảo sát tiền KTSTQ (pre-audit survey)
+ KTSTQ trên diện rộng, tại trụ sở người khai hải quan (field/on- site audit):
Hình thức kiểm tra này được tiến hành tại trụ sở người khai hải quan Nội dung kiểm tra rộng đến mức nào tùy thuộc vào kết quả phân tích rủi ro, độ dài thời gian tính từ cuộc kiểm tra lần trước Kết quả hình thức kiểm tra này sẽ cho thấy bức tranh đầy đủ về hoạt động kinh doanh của trụ sở người khai hải quan, kể cả hệ thống kinh doanh, phương thức kinh doanh, các đối tác,… Căn cứ vào mục đích, kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu tại trụ sở người khai hải quan bao gồm 3 loại:
Thứ nhất, kiểm tra hệ thống kinh doanh: Đây là hình thức kiểm tra theo cách
tiếp cận từ trên xuống (top-down), theo đó: Việc kiểm tra bắt đầu từ việc xem xét, đánh giá cơ cấu bên trên và mục tiêu kinh doanh của trụ sở người khai hải quan, thường là một cuộc đối thoại với đại diện cấp cao của trụ sở người khai hải quan Tiếp theo là việc phân tích, đánh giá hoạt động của hệ thống kinh doanh đó và việc
tổ chức lưu trữ tài liệu, dữ liệu, kế toán DN có hệ thống tổ chức kinh doanh sơ sài, kiểm soát nội bộ yếu thường là dấu hiệu của những rủi ro cao Bước tiếp theo là tiến hành kiểm tra mẫu một số hồ sơ hàng hóa nhập khẩu để đánh giá, xác định mức độ
Trang 31tuân thủ của người khai hải quan Mức độ hoàn thiện của hệ thống kinh doanh, quản
lý của trụ sở người khai hải quan quyết định mức độ kiểm tra thử và phạm vi của cuộc kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu
Thứ hai, kiểm tra tổng hợp (comprehensive audit): Hình thức kiểm tra này là
xem xét rà soát toàn bộ hoạt động kinh doanh của DN, qua đó đánh giá sự tuân thủ pháp luật của DN Ở hình thức kiểm tra này, đối với những DN có hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh tốt thì việc kiểm tra tập trung vào việc phân tích tình hình, số liệu, nhiều hơn so với kiểm tra thực tế Hình thức kiểm tra này được thực hiện tại trụ sở DN Lượng thông tin phải kiểm tra, phân tích thường là lớn, độ lớn của các thông tin này tùy thuộc vào quy mô kinh doanh của DN, mức độ thường xuyên kiểm tra đối với DN Hình thức kiểm tra này sẽ cho thấy bức tranh hoàn chỉnh nhất
về hoạt động kinh doanh của DN, kể cả hệ thống kinh doanh, phương pháp kinh
doanh, các đối tác,…
Thứ ba, kiểm tra trọng điểm (focused audit): Hình thức kiểm tra này chỉ tập
trung vào kiểm tra những lĩnh vực nhất định, ví dụ như trị giá, mã số, xuất xứ, Tuy là kiểm tra trọng điểm, nhưng khi cần thiết có thể mở rộng kiểm tra đối với lĩnh
vực liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, cơ sở sản xuất, kinh doanh
- Hải quan Hàn Quốc phân loại kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu như sau:
Trên cơ sở phân loại đối tượng KTSTQ (gồm 4 loại: DN trung thực, DN được coi là trung thực, DN chịu sự giám sát chung của hải quan, DN chịu sự giám sát đặc biệt của hải quan) chia KTSTQ thành 3 loại: kiểm tra ngay 1 đến 2 ngày sau khi hàng hóa được thông quan; kiểm tra theo kế hoạch đối với những mặt hàng nhạy cảm, nông sản, thủy sản NK; kiểm tra tổng hợp Mục tiêu của hai hình thức đầu là nhằm ngăn ngừa trốn thuế, của hình thức thứ 3 là nhằm đánh giá mức độ tuân
thủ pháp luật của DN để phân loại quản lý
- Hải quan Trung Quốc phân loại kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu như sau:
Trung Quốc xây dựng tiêu chí và chia DN thành 3 loại A, AA và AAA để áp dụng các hình thức, mức độ kiểm tra khác nhau
Nghiên cứu trên cho thấy, theo kinh nghiệm của WCO và hải quan các nước, phân loại kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu thường gắn liền với mục đích kiểm tra; nói đến kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là nói đến kiểm tra tại DN, kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu tại cơ quan hải quan thường chỉ áp dụng đối với trường hợp kiểm tra lô hàng, vấn
đề đơn lẻ, không phức tạp Đối với phạm vi kiểm tra rộng hơn, vấn đề phức tạp hơn
Trang 32thì hoạt động kiểm tra tại cơ quan hải quan được coi là hoạt động khảo sát, chuẩn bị cho kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu tại DN
b) Phân loại kiểm tra sau thông quan của Việt Nam
Việt Nam đã tham khảo WCO và hải quan các nước, căn cứ thực tiễn hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu những năm qua và dự báo trong tương lai gần về hoạt động quản lý hải quan nói chung Việt Nam xác định việc chia kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu thành nhiều loại với mục đích, đối tượng, phạm vi, hình thức, phương pháp kiểm tra khác nhau là
cần thiết, hợp lý và khoa học để việc kiểm tra đáp ứng đồng thời các yêu cầu kiểm
soát được rủi ro, tạo được thuận lợi, có hiệu quả
Mặc dù Việt Nam chưa thể chuyển hẳn từ kiểm tra trong thông quan sang kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu được do đặc điểm về tổ chức
bộ máy và kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu nói riêng Tuy nhiên, cách phân loại này cũng là cách tiếp cận của luận án Cách phân loại kiểm tra
sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam căn cứ vào:
- Căn cứ vào mục đích kiểm tra, chia kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu thành 3 loại:
+ KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu đối với lô hàng:
Mục đích chủ yếu của hoạt động kiểm tra này là khắc phục các sai sót về thuế đã có nghi ngờ nhưng chưa xem xét cụ thể khi làm thủ tục thông quan nhằm giải phóng hàng nhanh, giảm chi phí cho DN Hoạt động kiểm tra này được thực hiện càng sớm càng tốt sau khi hàng hóa được thông quan Đối tượng kiểm tra là lô hàng Phạm vi kiểm tra chủ yếu là một hoặc nhiều yếu tố tính thuế (tùy từng trường hợp), như tên và mã số hàng hóa, trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hóa, lượng hàng, chủng loại hàng, phẩm chất và công dụng hàng hóa…Nơi kiểm tra: chủ yếu là kiểm tra tại cơ quan hải quan Phương pháp kiểm tra chủ yếu là kiểm tra trực tiếp hồ sơ giấy, trọng tâm là một hoặc nhiều các chứng từ hỗ trợ (tùy từng trường hợp), như hóa đơn thương mại, chứng từ thanh toán, chứng từ vận tải, chứng nhận xuất xứ, tài liệu hướng dẫn sử dụng hàng hóa… Bản chất của loại hình KTSTQ này là nâng cấp công tác phúc tập hồ sơ hải quan thành KTSTQ đối với lô hàng nên chủ yếu do đơn
vị thông quan thực hiện
+ KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu đối với nhóm hàng:
Mục đích chủ yếu của hoạt động kiểm tra này là về thuế Tùy theo chính sách thuế (thuế quá cao khiến việc kinh doanh không có lãi hoặc lãi quá thấp chẳng hạn), chính sách quản lý NK (miễn thuế theo loại hình NK đối với mặt hàng có mức thuế cao chẳng hạn), quan hệ cầu - cung của thị trường, khả năng quản lý của hải quan…
Trang 33nổi lên trong từng giai đoạn mà có những mặt hàng, loại hình NK trở nên tiềm ẩn khả năng rủi ro về thuế cao hơn điều kiện bình thường và so với các mặt hàng khác Tuy chưa có đối tượng cụ thể, nhưng trong chương trình, kế hoạch kiểm tra, cần ưu tiên kiểm tra trước đối với các trường hợp này Đối tượng kiểm tra là các DN có hoạt động NK mặt hàng thuộc loại trên Tùy thuộc vào quy mô NK của từng đối tượng, độ phức tạp của từng mặt hàng để xác định hình thức kiểm tra phù hợp (kiểm tra tại cơ quan hải quan, yêu cầu giải trình hoặc kiểm tra trực tiếp tại DN)
+ KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu tổng hợp:
Mục đích kiểm tra là nhằm đánh giá, xếp loại mức độ tuân thủ pháp luật Đối tượng kiểm tra là DN Phạm vi kiểm tra tương đối rộng (rộng đến mức nào tùy từng đối tượng: quy mô, mặt hàng, loại hình, lĩnh vực kinh doanh, đã từng được kiểm tra hay kiểm tra lần đầu, khoảng cách thời gian từ lần kiểm tra trước, kết quả các cuộc kiểm tra trước đó…) Đây là hình thức kiểm tra mang đầy đủ nhất các đặc trưng của hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu
- Căn cứ vào địa điểm kiểm tra, chia KTSTQ thành 2 loại:
+ KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ:
Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ được tiến hành tại cơ quan hải quan Căn cứ vào mục đích kiểm tra chia làm hai loại:
Loại thứ nhất, xem xét những nghi ngờ về khai sai thuế Phạm vi kiểm tra
thường tập trung vào những lô hàng, nhóm hàng cụ thể Kết quả kiểm tra có thể là một trong hai tình huống: kết luận được hoặc chưa kết luận những vấn đề kiểm tra Trường hợp đã kết luận được thì kết thúc kiểm tra; trường hợp chưa kết luận được thì kết quả kiểm tra được coi là giai đoạn chuẩn bị hay còn gọi là hoạt động tiền kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu tại DN
Loại thứ hai, chuẩn bị cho KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu tại DN Đối
với loại này, phạm vi kiểm tra có thể là một số lô hàng, một số lĩnh vực (do KTSTQ tại chỗ chưa kết luận được) hoặc toàn bộ hoạt động NK của đối tượng trong một giai đoạn nhất định
+ KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu tại DN: Loại KTSTQ này tương ứng với hình thức KTSTQ tổng hợp nêu trên, là hình thức KTSTQ đặc trưng nhất
1.1.3 Nội dung và quy trình kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu
1.1.3.1 Nội dung kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu
Trong quá trình tiến hành KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu, việc xác định
rõ ràng đối tượng của KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu là vô cùng quan trọng
Vì vậy, KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu thường bao gồm các nội dung sau:
- Kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại
Trang 34doanh nghiệp và cơ quan HQ nơi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu
- Kiểm tra đối chiếu hồ sơ khai báo với sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, chứng từ, hợp đồng mua bán ngoại thương của doanh nghiệp còn lưu giữ tại doanh nghiệp (kể cả dữ liệu điện tử)
- Kiểm tra tính chính xác của các căn cứ tính thuế, tính chính xác của việc khai các khoản thuế phải nộp, được miễn, không thu, được hoàn
- Kiểm tra, phân tích, phân loại mã số hàng hóa đối với mặt hàng nhập khẩu tương tự, giống hệt mà doanh nghiệp dự kiến nhập khẩu theo hợp đồng đã ký
- Kiểm tra việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về thuế
- Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hải quan
- Kiểm tra thực tế hàng hóa nhập khẩu đã thông quan tại trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp, cửa hàng, nơi sản xuất hoặc nơi lưu giữ hàng hóa trong trường hợp cần thiết
1.1.3.2 Quy trình kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu
Hiện nay không có một khuôn mẫu trình tự nhất định áp dụng cho mọi cuộc KTSTQ, nhưng xét về mặt khái quát thì trình tự tiến hành KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu phải thực hiện qua 3 bước chung cơ bản: Bước 1: Chuẩn bị kiểm tra; Bước 2: Thực hiện kiểm tra và bước 3: Kết thúc kiểm tra và xử lý kết quả
Để cụ thể hóa các bước chung trên thì quy trình KTSTQ hàng hóa nhập khẩu theo WCO thường có 8 phần sau: Xác định đối tượng kiểm tra; Kiểm tra bộ
hồ sơ lưu hải quan; Lập kế hoạch KTSTQ; Khảo sát trước kiểm tra; Kiểm tra hồ
sơ, chứng từ thương mại; Kiểm tra chứng từ ngân hàng; Kiểm tra chứng từ và sổ
kế toán; Lập biên bản kết luận kiểm tra Tuy nhiên thực tế không phải cuộc kiểm tra nào cũng bắt buộc phải thực hiện đầy đủ 8 phần đó
1.1.4 Vai trò của kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu là mô hình đã được xây dựng và phát triển có hiệu quả ở hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới tuy có khác nhau về tên gọi, cơ cấu tổ chức, môi trường pháp lý, đào tạo cán bộ, Nhưng lại hoàn toàn giống nhau về chức năng cơ bản là phát hiện và ngăn chặn gian lận thương mại trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa thông qua hoạt động KTSTQ
KTSTQ đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa có vai trò rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả công tác QLNN về hải quan:
Thứ nhất, nâng cao năng lực quản lý Hải quan KTSTQ đối với hoạt động
nhập khẩu hàng hóa là một trong những biện pháp nâng cao năng lực quản lý của cơ quan Hải quan, chống gian lận thương mại có hiệu quả, tạo điều kiện cho thông quan
Trang 35nhanh, góp phần tích cực phát triển giao lưu thương mại quốc tế, cải thiện môi trường đầu tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp
Thứ hai, đảm bảo việc chấp hành pháp luật Việc nghiêm chỉnh và có hiệu
quả theo quy định của Luật Hải quan, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu, các quy định về XNK của các Bộ, ngành liên quan và các hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam đã tham gia góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp
Thứ ba, chống gian lận thương mại có hiệu quả hơn Phát hiện và ngăn
ngừa tình trạng gian lận thương mại của doanh nghiệp nhập khẩu, giải quyết được việc thông quan hàng hóa nhanh chóng tại các cửa khẩu góp phần tích cực vào phát triển thương mại quốc tế; ngăn chặn tình trạng gian lận và trốn thuế nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế cho NSNN
Thứ tư, Tăng thu thuế, giảm thiểu chi phí và rủi ro Mặc dù thuế suất thuế
nhập khẩu giảm dần theo tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, song số thu thuế đối với hàng hoá NK của ngành Hải quan hàng năm vẫn tăng cao, KTSTQ đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu cho ngân sách nhà nước, giảm chi phí quản lý về Hải quan; giảm thiểu rủi ro cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Hải quan
Thứ năm, phát hiện và ngăn ngừa việc nhập khẩu các mặt hàng cấm nhập khẩu, các mặt hàng quản lý hạn ngạch nhập khẩu, các mặt hàng hạn chế nhập khẩu
như rượu, bia, thuốc lá, Thông qua hoạt động KTSTQ có thể mở rộng phạm vi kiểm tra tiếp theo khi cần thiết trong nhiều lĩnh vực khác, như kiểm tra chế độ giấy phép, về hạn ngạch, về xuất xứ hàng hoá, về chống bán phá giá,…
1.2 Quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
QLNN là quản lý xã hội, quản lý từng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, do Nhà nước tiến hành và quản lý chính việc tổ chức hoạt động của Nhà nước QLNN theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước về kinh tế, xã hội, Theo nghĩa hẹp, là hoạt động quản lý do một loại cơ quan đặc biệt thực hiện mà Hiến pháp và pháp luật nước ta gọi là các cơ quan hành chính nhà nước, còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành nhà nước, hay thường gọi đơn giản là hoạt động chấp hành và điều hành
QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật và thông qua hệ
Trang 36thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế
QLNN về hải quan là hoạt động QLNN đối với hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan Theo Luật HQ Việt Nam năm 2014 thì có QLNN về HQ có 9 nội dung: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển Hải quan Việt Nam; Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hải quan; Hướng dẫn, thực hiện và tuyên truyền pháp luật về hải quan; Quy định về tổ chức và hoạt động của Hải quan; Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công chức hải quan; Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phương pháp quản lý hải quan hiện đại; Thống kê nhà nước về hải quan; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan; Hợp tác quốc tế về hải quan
Đối tượng quản lý của cơ quan HQ là hàng hóa XK, NK, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của cá nhân, tổ chức trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam; DN hoạt động XNK, khai thuê HQ, vận tải hàng hóa XNK, cho thuê kho, bãi chứa hàng hóa XNK; hành lý của người xuất nhập cảnh;…Một trong các nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan HQ là làm thủ tục HQ, kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa XNK để thông quan hàng hóa, nhanh chóng đưa hàng hóa vào chu trình sản xuất, kinh doanh của DN Hoạt động quản lý KTSTQ là một trong những hoạt động QLNN về HQ của cơ quan HQ
QLNN về KTSTQ đối với hàng hóa NK: Thông thường có hai góc độ tiếp cận QLNN về KTSTQ đối với hàng NK, bao gồm: Theo nghĩa rộng (Nhà nước ban hành và quản lý các hệ thống Luật, Nghị định và chính sách khác về KTSTQ hàng hóa NK); Theo nghĩa hẹp (Tiếp cận dựa trên QLNN về KTSTQ hàng hóa NK của các cấp quản lý HQ để thực thi quản lý KTSTQ hàng hóa NK) Luận án tiếp cận theo nghĩa hẹp, nên có thể hiểu QLNN về KTSTQ đối với nhập khẩu hàng hóa
là tác động có tổ chức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc KTSTQ hàng hóa NK, dựa trên việc thực thi các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chính sách đã được các cơ quan nhà nước các cấp ban hành (theo thẩm quyền) trong khuôn khổ pháp luật quy định, hướng dẫn khai thác, sử dụng, cũng như kiểm tra giám sát việc thực thi kế hoạch nhằm phát triển bền vững các nguồn lực, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất theo như chiến lược phát triển tổng thể của cả quốc gia
Như vậy, Quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với nhập khẩu
Trang 37hàng hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế là tác động có tổ chức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu, dựa trên việc thực thi các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chính sách
đã được các cơ quan nhà nước các cấp ban hành trong khuôn khổ pháp luật quy định nhằm đạt được các mục tiêu KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu cũng đáp ứng được các yêu cầu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Hoạt động QLNN về KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế có các đặc trưng cơ bản sau:
- Về chủ thể QLNN về KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu: Do tính chất
đặc thù của KTSTQ đối với hàng hóa NK trong thời kỳ hội nhập nên bên cạnh cơ quan trực tiếp QLNN về KTSTQ của ngành Hải quan (Tổng cục Hải quan) thì vai trò cơ quan QLNN về thương mại (Bộ Công thương) cũng rất quan trọng
- Về khách thể quản lý: Trong lĩnh vực KTSTQ, yếu tố khách thể thể hiện ở
hiệu lực không gian áp dụng QLNN phụ thuộc vào phạm vi, địa bàn tổ chức thực hiện QLNN QLNN về KTSTQ hàng hóa NK chỉ được thực hiện, áp dụng ở một
số phạm vi lãnh thổ, ranh gới nhất định và chỉ ở một số vùng, miền nhất định
- Về đối tượng quản lý: Việc KTSTQ đối với hàng hóa NK nhằm đánh giá
tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý nhập khẩu của người khai hải quan, cụ thể: DN nhập khẩu hàng hóa; chủ phương tiện vận tải; người điều khiển phương tiện vận tải; đại lý làm thủ tục hải quan hàng hóa NK, người khác được DN nhập khẩu hàng hóa, chủ phương tiện vận tải ủy quyền thực hiện thủ tục hải quan
- Về tuân thủ các cam kết trong quá trình hội nhập quốc tế: QLNN về
KTSTQ hàng hóa NK cần chuyển đổi “tư duy quản lý” với những “đặc quyền, đặc ân” của cơ quan công quyền sang “tư duy phục vụ” nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế quốc tế và hài hòa với phương thức hoạt động của tổ chức hải quan thế giới Song song với việc triển khai ứng dụng các mô hình quản lý mới, quốc gia cũng cần phải thực hiện các điều ước, cam kết quốc tế mà Chính phủ đã ký kết trong khuôn khổ WTO, WCO, AEC, APEC, CPTPP, EVFTA, các Hiệp định song phương với các nước
1.2.2 Mục tiêu, nguyên tắc của quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.2.2.1 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng
Trang 38hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
KTSTQ là một giải pháp quản lý Hải quan mang tính hệ thống Theo đó, cơ quan Hải quan đánh giá sự chính xác và trung thực của việc khai báo Hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ, hệ thống kinh doanh và các dữ liệu do cá nhân/doanh nghiệp tham gia trực tiếp hay gián tiếp đến thương mại quốc tế lưu giữ Vì vậy, để đạt được các mục tiêu chung của KTSTQ đối với hàng NK như: Xác minh được tính chính xác và trung thực của việc khai báo Hải quan của hàng
NK trong một khoảng thời gian xác định; Khuyến nghị được đối tượng kiểm tra thực hiện bổ sung, điều chỉnh những vấn đề chưa chính xác trong quá trình khai báo Hải quan; Khuyến khích được đối tượng kiểm tra nâng cao mức độ tuân thủ
pháp luật và quy định về Hải quan thì cần đạt được các mục tiêu cụ thể:
- Kiểm soát chính xác hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật Hải quan Thông qua việc KTSTQ, các cơ quan nhà nước sẽ quản lý được số lượng, loại hình hàng hóa, chất lượng hàng hóa nhập khẩu, từ đó kiểm soát được tất cả hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam
- Hạn chế tối đa hành vi vi phạm pháp luật về pháp luật Hải quan QLNN về KTSTQ hàng NK có vai trò trong việc hạn chế tối đa các hành vi trốn thuế, gian lận thuế, các hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, hành vi buôn lậu Đồng thời QLNN cũng làm tăng cường sự tuân thủ pháp luật thuế, bởi tính tuân thủ cao cũng là một trong những biểu hiện của hệ thống thuế phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội
- Tăng thu thuế, giảm thiểu chi phí và rủi ro Mặc dù thuế suất thuế nhập khẩu giảm dần theo tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, song số thu thuế đối với hàng hoá NK của ngành Hải quan hàng năm vẫn tăng cao, KTSTQ đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu cho ngân sách nhà nước, giảm chi phí quản lý về Hải quan; giảm thiểu rủi ro cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Hải quan
- Mở rộng phạm vi kiểm tra Thông qua hoạt động KTSTQ có thể mở rộng phạm vi kiểm tra tiếp theo khi cần thiết trong nhiều lĩnh vực khác, như kiểm tra chế độ giấy phép, về hạn ngạch, về xuất xứ hàng hoá, về chống bán phá giá…
- Là công cụ quản lý hiệu quả đối với công tác kiểm tra, giám sát của Hải quan Thông tin qua nghiệp vụ này cơ quan Hải quan có được khá đầy đủ các thông tin về giao dịch có liên quan được phản ánh trong hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp Tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý của cơ quan Hải quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của hệ thống
- Đơn giản hoá trong giám sát, quản lý Hải quan Cho phép cơ quan Hải quan áp dụng đơn giản hoá các biện pháp giám sát, quản lý trên cơ sở hiện đại hóa
Trang 39Hải quan nhưng vẫn đảm bảo chức năng quản lý nhà nước về Hải quan
1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Căn cứ Luật Hải quan Việt Nam năm 2014, nguyên tắc QLNN về KTSTQ đối với hàng NK trong thời kỳ HNQT phải đảm bảo:
- KTSTQ hàng hóa NK được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất
- Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của KTSTQ các cấp; KTSTQ cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của KTSTQ cấp trên
- Cần tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động XNK
- Hoạt động KTSTQ hàng hóa NK cần đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động minh bạch, hiệu lực, hiệu quả
- Các cán bộ, công chức KTSTQ hàng hóa NK không được gây phiền hà, khó khăn trong quá trình kiểm tra; Không bao che, thông đồng để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, gian lận thuế; Không được nhận hối lộ, chiếm dụng, biển thủ hàng hóa NK tạm giữ hoặc thực hiện hành
vi khác nhằm mục đích vụ lợi và các hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan Đối với người khai hải quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động NK không được thực hiện hành vi gian dối trong việc làm thủ tục hải quan; Không được phép buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, gian lận thuế; Tránh đưa hối lộ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mưu lợi bất chính;
- Thực hiện tốt các cam kết về quyền, nghĩa vụ và lợi ích theo quy định của WCO, các tổ chức quốc tế có liên quan về hải quan, các nước và vùng lãnh thổ
- Ngoài ra QLNN về KTSTQ hàng hóa NK cần đảm bảo: Tính bảo mật; Dẫn chứng bằng tài liệu, chứng cứ khi thực hiện KTSTQ hàng hóa NK
1.2.3 Phương pháp quản lý nhà nước đối với kiểm tra sau thông quan hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Để đảm bảo tính chính xác, trung thực của việc khai hải quan, sự tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan của các tổ chức, cá nhân trực tiếp nhập khẩu để ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, gian lận thuế, vi phạm chính sách quản lý nhập khẩu đã được thông quan, QLNN đối với
KTSTQ hàng NK thường bao gồm các phương pháp sau:
Trang 401.2.3.1 Phương pháp sử dụng nghiệp vụ kiểm toán
Trong chuyên ngành kiểm toán có hai phương pháp chính là phương pháp tuân thủ và phương pháp cơ bản, có thể tóm tắt như sau:[18]
- Phương pháp tuân thủ (Compliance Method): Kiểm toán viên căn cứ vào các quy chế kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp để tiến hành kiểm toán Ví dụ, trong trường hợp doanh nghiệp quy định Phòng Kế toán chỉ thực hiện các nghiệp vụ thanh toán tiền cho các lô hàng nhập khẩu trên cơ sở các chứng từ đề xuất của Phòng Kinh doanh đã được giám đốc duyệt, khi tiến hành kiểm tra các thông tin về tiền tệ thanh toán để xác định trị giá tính thuế của lô hàng, kiểm toán viên có thể yêu cầu Phòng Kinh doanh xuất trình toàn bộ chứng từ đề nghị thanh toán đã được giám đốc duyệt, sau đó tiến hành đối chiếu với chứng từ kế toán và chứng từ ngân hàng
Ưu điểm của phương pháp tuân thủ là tốn ít công sức, thời gian, chi phí thấp, nhưng kiểm toán viên chỉ nên áp dụng nếu xét thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp hoạt động có hiệu lực và đủ tin cậy
- Phương pháp cơ bản (Substantive Method): Phương pháp cơ bản là phương pháp kiểm toán mà theo đó kiểm toán viên phải kiểm tra phân tích toàn bộ các dữ liệu hiện có để tìm ra kết quả cuối cùng Phương pháp này thường đạt chất lượng cao hơn nhưng tốn rất nhiều thời gian và công sức
Cả hai phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Vì vậy, để một cuộc kiểm toán có chất lượng cao đồng thời vẫn tiết kiệm nguồn lực, kiểm toán viên phải lựa chọn áp dụng một cách linh hoạt cả hai phương pháp trên
Kiểm tra sau thông quan thực chất là một quá trình ứng dụng những kiến thức kiểm toán cơ bản để xét đoán, thẩm định tính trung thực, tính chính xác của các thông tin mà chủ hàng đã khai báo với cơ quan Hải quan Để thực thi tốt mô hình kiểm tra sau thông quan, các kiến thức cơ bản là hết sức cần thiết đối với công chức hải quan chuyên trách
Theo quy định của Ủy ban thông lệ kiểm toán quốc tế IAPC tại Nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế số 3 thì có các nguyên tắc cơ bản chi phối trách nhiệm của kiểm toán viên, và bất cứ khi nào một cuộc kiểm toán được thực hiện cũng phải tuân theo những nguyên tắc này Các nguyên tắc đó là: Nguyên tắc chính trực, khách quan và độc lập; Nguyên tắc bí mật; Nguyên tắc đảm bảo kỹ năng và khả năng; Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với những công việc do người khác tiến hành; Dẫn chứng bằng tài liệu; Mọi cuộc kiểm toán đều phải được lập kế hoạch; Kiểm tra khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ; Báo cáo kiểm toán
KTSTQ hàng hóa nhập khẩu thực chất là một quá trình ứng dụng những kiến thức kiểm toán cơ bản để xét đoán, thẩm định tính trung thực, tính chính xác của các thông tin mà người khai hải quan đã kê khai với cơ quan hải quan