Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đội ngũ các nhà văn nữ chiếm một vị trí đáng kể, những sáng tác của họ đã đem đến cho nền văn học nước nhà những đổi mới, cách tân trên nhiều phương
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN VĂN TÂN
NGHỆ THUẬT TRUYỆN CỦA DẠ NGÂN
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đội ngũ các nhà văn nữ chiếm một vị trí đáng kể, những sáng tác của họ đã đem đến cho nền văn học nước nhà những đổi mới, cách tân trên nhiều phương diện Nhà văn Dạ Ngân là một trong số những cây bút được người đọc quan tâm trong thời gian qua
Năm 2005, nhà văn Dạ Ngân đã nhận hai giải thưởng, một của Hội nhà
văn Hà Nội và hai là của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết Gia đình bé
mọn Quan trọng hơn khi tác phẩm được xuất bản thì chính tác giả đã “không
ngờ hiệu ứng của nó lại lớn thế” (1200 cuốn sách đã bán hết trong vòng ba tháng, hiện nay Nhà xuất bản đã in 1500 cuốn nữa)
Nhiều độc giả “Cảm ơn Dạ Ngân” bởi chị đã cho họ một thân phận, một cuộc đời để có thể sống, trải nghiệm và suy ngẫm, dù chỉ là qua những trang viết mà thôi
Trong thông báo về Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội năm 2004
-2005 (Báo Văn nghệ số 42 ra ngày 15-10 2005), có đoạn viết: “Dù đôi chỗ có
dấu hiệu phân vân và ngập ngừng giữa yếu tố tự truyện với hư cấu, Gia đình
bé mọn là cuốn tiểu thuyết chắc tay, chứng tỏ độ chín của cây bút nữ được
độc giả yêu mến từ đồng bằng sông Cửu Long, hiện sống và viết tại Hà Nội, trao giải cho tiểu thuyết này, Hội nhà văn Hà Nội muốn thêm một lần khẳng định sức bền của ngòi bút Dạ Ngân”
Vậy “độ chín” và “sức bền” của ngòi bút Dạ Ngân được thể hiện như thế nào qua các sáng tác của nhà văn? Đó là điều chúng tôi quan tâm trong luận văn này
Trang 31.2 Theo tự thuật về tiểu sử văn học, Dạ Ngân viết văn ngay từ những năm sau chiến tranh ( Năm 1978, vì nhiều nguyên do nội tâm, tôi thấy mình phải viết Còn nhớ, hôm ấy là một buổi trưa, căn hộ tập thể vắng tanh, tôi ngồi trước trang giấy mà tay kia vẫn nắm dây đưa võng cho con, đó là đứa con thứ hai của cuộc hôn nhân do chiến tranh thu xếp Tôi hết sức tin mình - chắc ai cũng phải có niềm tin thiêng liêng như vậy mới viết được - tin vào sự thúc bách lương thiện của trái tim mình Tạp chí Văn Nghệ tỉnh in truyện ấy vào số Tết, giờ tôi không dám đọc lại nó nhưng quả tình, lúc nhìn thấy cái truyện đầu tay của mình trên mặt báo, tôi tưởng mình vừa uống cả dòng sông rượu, ngây ngất và có thể làm được mọi điều tốt đẹp trên đời) Nhưng có lẽ, sự nghiệp văn chương của chị chỉ thực sự bắt đầu từ khi làn gió đổi mới, dân chủ của
Đảng thổi bùng lên Năm 1984, Dạ Ngân viết Con chó và vụ ly hôn Nhưng
truyện ngắn này đã được cất giữ rất lâu trong tủ để chờ cơ hội Giữa năm
1986, Con chó và vụ ly hôn mới được in Dư luận xôn xao quanh truyện ngắn
này có lẽ vì “lần đầu tiên những truyện khó nói nhất trong quan hệ vợ chồng lại được một cây bút nữ viết ra một cách thẳng thắn, sòng phẳng đến thế” (Nguyễn Hoàng Sơn ) Bản thân Dạ Ngân lúc đó cũng ý thức được rằng
ở thời điểm văn xuôi còn “e dè hay còn mãi trăn trở sau bao cấp” thì chắc chắn chị sẽ là “người đàn bà đi ngược gió một mình” Sóng gió qua đi, nhà văn có vinh dự của một người mở đường Năm 1987, Tạp chí Văn nghệ quân
đội đã trao giải nhì cho truyện ngắn Trên mái nhà người phụ nữ của Dạ Ngân
Năm 1989, chị tiếp tục gặt hái được thành công với giải nhì cuộc thi truyện
ngắn của Báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh cho truyện Thọ vẽ truyền thần Năm 2004 Miệt vườn xa lắm đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam Rồi
Gia đình bé mọn Những sáng tác của chị tuy không trở thành “hiện tượng”
(ngoại trừ tác phẩm Gia đình bé mọn), nhưng cũng có sức hấp dẫn nhất định
đối với độc giả
Trang 4Với ý nghĩa đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Nghệ thuật truyện
Dạ Ngân để nghiên cứu với mong muốn trên cơ sở đi sâu tìm hiểu nghệ thuật
trong sáng tác của Dạ Ngân, góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển của văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới nói chung và văn xuôi nữ nói riêng
2 Lịch sử vấn đề
Theo khảo sát của chúng tôi, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào thật sự có quy mô và tương đối hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật trong các sáng tác của Dạ Ngân, dù sự nghiệp của nhà văn đã được thời gian
và công chúng khẳng định Hầu hết, các bài viết hiện có đều mới ở dạng cảm nhận về một tập truyện ngắn, một tiểu thuyết mới xuất bản, hay một lời giới thiệu sách Có lẽ vì Dạ Ngân viết không thật nhiều, lại không thuộc những
“hiện tượng lạ vụt đến” tạo nên những đột biến trong làng văn kiểu như: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài Nhưng lặng lẽ mà quyết liệt đầy tự tin, nhà văn của miệt vườn miền Tây này đã từng bước khẳng định được chỗ đứng của mình qua mỗi tác phẩm
Năm 1986, tập truyện ngắn Quãng đời ấm áp của Dạ Ngân ra mắt bạn
đọc Tập truyện gồm 12 truyện ngắn với các mảng đề tài khác nhau ở những
thời gian và không gian khác nhau Đọc Quãng đời ấm áp, Chu Huy có cảm
nhận: “Dù viết về đề tài nào đi nữa, Dạ Ngân đều hướng người đọc tìm đến cội nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp, từ những tình cảm trong sáng, mãnh liệt, từ những nền tảng tư tưởng không bao giờ mờ phai của những năm tháng chiến tranh giải phóng đầy hy sinh gian khổ mà rất đỗi hào hùng” Ở tác phẩm đầu tay này của Dạ Ngân, Chu Huy nhận ra những ưu trội của văn phong Dạ Ngân sau này sẽ phát triển thành thế mạnh riêng của chị: “viết khá sành về tâm lý nhân vật nữ” Trong nhiều truyện khác, Dạ Ngân cũng gợi được ấn tượng của
Trang 5người đọc bằng “những phát hiện Đó là đoạn đối thoại trong Thi vị cuộc đời
khi chủ nhiệm trại lúa giống vặn vẹo và răn đe chiến sĩ thi đua nông nghiệp
Trần Thanh Tâm Đó là tâm trạng xúc động của Dung trong Đêm cuối tuần
Hình ảnh miệt giồng phong phú của một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với dòng Nước Đục, xóm chài, cầu khỉ, với những con người với cá tính và ngôn ngữ địa phương làm cho cách viết của Dạ Ngân thêm dễ mến” Bên cạnh đó, tác giả Chu Huy cũng nhận ra những hạn chế khó tránh khỏi của “đứa con đầu lòng” của Dạ Ngân: “còn đều đều, không có truyện thật nổi bật và giọng văn
kể chuyện ở ngôi thứ nhất ở hầu hết mọi chuyện dễ nhàm chán Dạ Ngân còn thiếu một sự nhuần nhuyễn, lô-gic trong khi xử lý các tình huống, các kết thúc thường phải dùng đến một số yếu tố ngẫu nhiên, nhưng sự cố ”; đồng thời ông cũng đặt niềm tin: “Con đường truyện ngắn của chị mới là bước đầu, chị
có vốn sống và vật liệu phong phú, lại tinh tế trong nhận xét, nên người đọc
có cơ sở để tin vào những sáng tác tiếp theo của chị”[67]
Cũng qua những truyện ngắn đầu tay này của Dạ Ngân, nhà phê bình Nguyễn Văn Lưu đã nhận định: “Trong số những cây bút nữ viết văn xuôi hiện nay, Dạ Ngân là một tác giả trẻ đang được chú ý đến Truyện của chị đậm đà tâm tình của một phụ nữ Nam Bộ giàu tình cảm và suy tư luôn trăn trở
về cuộc sống cá nhân và đồng đội, bạn bè với gia đình, quê hương, với lý tưởng và nghĩa vụ, những khao khát nồng cháy của trái tim thiếu nữ trước cuộc đời”
Riêng truyện ngắn được giải nhì Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1987
Trên mái nhà người phụ nữ đã được giới phê bình đánh giá cao bởi một thứ
văn xuôi giàu chất thơ Nguyễn Trọng Hoàn khẳng định truyện có nhiều đoạn thành công bởi “ở đó hình ảnh, màu sắc, âm thanh được khai thác một cách
Trang 6triệt để làm trang viết trở nên thi vị, thực sự có hồn, khiến người đọc có thể tri giác như được bước vào thế giới sinh động tồn tại dưới dạng vật chất”
Năm 1990, tập truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn gồm chín truyện ngắn
viết từ năm 1985 đến 1989 ra đời đã khẳng định thêm chỗ đứng của Dạ Ngân giữa làng văn Nhà văn Ngô Ngọc Bội, người có công “dọn đường” cho
Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Khách ở quê ra của Nguyễn Minh
Châu và những truyện ngắn đầu tiên của Phạm Thị Hoài đến được với công
chúng trong bài viết về Con chó và vụ ly hôn cho rằng: “Trong những năm
1985 - 1990, một thời văn chương có nhiều biến động : “Tìm tòi - Trăn trở -
Xô bồ thì Dạ Ngân vẫn bình tĩnh đi theo hướng đã chọn Vốn là một cây bút từng trải, dày dặn vốn sống, biết khai thác sự uyên thâm của văn chương bác học, biết chắt lọc từ cuộc sống thực của đồng bằng sông Cửu Long - một cuộc sống đa dạng, một vùng ngôn ngữ đa cảm và giàu hình tượng - văn của Dạ Ngân lắng đọng, vừa ấm áp đôn hậu, vừa dữ dằn cay đắng rất Nam Bộ để rồi hướng tới cái thiện” Ông còn nhận ra “cái mạnh nhất, quý nhất của Dạ Ngân
là nghệ thuật khắc hoạ: cách nhìn của góc cạnh Khai thác tâm lý nhân vật, tình tiết, chi tiết và sử dụng ngôn ngữ thật tài hoa Cái đặc thù của chị là khai thác chiều sâu, truy kích đến cùng Có thể cũng là tình huống ấy, bối cảnh ấy người khác viết rất nhạt nhẽo, vô vị Dạ Ngân đặt đúng chỗ, điểm đúng huyệt, bằng những nét nhỏ tinh vi, có thể nói là tọc mạch - nét riêng của phụ nữ, làm cho văn của Dạ Ngân chói lên, người đọc phải sửng sốt ngơ ngác” Nhà
nghiên cứu văn học Mai Hương trong bài viết “Truyện ngắn của Dạ Ngân” đã
đánh giá cao hướng khai thác, tiếp cận hiện thực riêng, nét đặc sắc trong thế giới nhân vật và văn phong của Dạ Ngân Những thế mạnh này đều được phát
huy và thể hiện trong tiểu thuyết Gia đình bé mọn - cuốn sách tâm huyết và
quan trọng của nhà văn
Trang 7Cuốn tiểu thuyết gần đây nhất Gia đình bé mọn đã nhận được nhiều ý
kiến phản hồi từ phía độc giả, các nhà văn, nhà phê bình Nhà văn Nhật Tuấn
đã viết về Chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt trong Gia đình bé mọn và cho rằng: “Gia đình bé mọn của Dạ Ngân thật ra chẳng bé mọn chút nào, nó chứa
đựng một dung lượng thông tin nén chặt Khác hẳn chiều hướng lảng tránh hiện thực tạo nên một thứ văn chương tào lao đầy rẫy trên văn đàn hiện nay, nhà văn Dạ Ngân thực sự đã dũng cảm rọi đèn vào những góc tối, khuất tất của cuộc sống, làm hiện rõ toàn cảnh bức tranh xã hội đầy nhức nhối hiện
nay” Nhà văn Hoài Nam trong Bốn lời bình cho tiểu thuyết Gia đình bé mọn
nhận định đây là “cuốn tiểu thuyết kể chuyện gia đình”, qua đó “tác giả cho thấy một mẫu hình phụ nữ chủ động chèo lái con thuyền cuộc đời mình, một kiểu phụ nữ kiên nhẫn tới mức “lì lợm” để sống thật và sống đẹp với chính nhu cầu tinh thần của mình” Thống nhất với nhận định của Nhà nghiên cứu
Hoàng Ngọc Hiến, nhà văn Hoài Nam khẳng định: Gia đình bé mọn còn là
tiểu thuyết có đề tài “rộng hơn đề tài gia đình” Đó là thân phận con người dưới sức ép chiến tranh “Chiến tranh đã khắc dấu ấn của nó lên đời sống xã hội, lên nhân tính, lên tình yêu của một thời kỳ đằng đẵng ngay cả khi tiếng súng chỉ còn ám ảnh trong giấc ngủ Là người từng ở Cứ nhiều năm, sau đó lại kinh qua thời kỳ hậu chiến như hàng triệu người dân Việt Nam khốn khổ,
nhà văn Dạ Ngân thấu hiểu điều này, và có lẽ Gia đình bé mọn chính là kết
quả của cả một quá trình mà bà đã suy ngẫm rất nhiều về chiến tranh và
những hệ quả của nó, tất nhiên theo cách riêng của bà” Tác giả của Bốn lời
bình cho Gia đình bé mọn còn khẳng định những phẩm chất làm nên thế
mạnh ngòi bút của Dạ Ngân “sự cẩn trọng và tinh tế trong câu chữ, khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa “mỹ văn” và ngôn ngữ đời thường của người Nam
Bộ, sự sắc sảo trong phác hoạ nhân vật bằng một vài chi tiết đắt giá, nhanh
Trang 8gọn; và sau cùng là một cái nhìn cuộc đời - dù với sự phê phán - nhưng vẫn
luôn bằng ánh mắt đôn hậu”
Cũng về cuốn tiểu thuyết này, dịch giả - nhà nghiên cứu Trần Thiện Đạo
tâm đắc với: “Thuật kể chuyện truyền thống không hoa hoè, không kiểu cách,
không cầu kỳ, có thể bảo là cổ điển đó là bệ phóng nhấc cuốn tiểu thuyết
trồi lên, nổi bật”
Tác giả Lê Tú Anh cho rằng Gia đình bé mọn là một cuốn tự truyện dưới
dạng tiểu thuyết và khẳng định đó là sự tìm kiếm thành công về mặt thể loại
của Dạ Ngân
Theo Hoàng Thị Quỳnh Nga trong bài Cảm ơn Dạ Ngân nhận xét: “Đề
tài về người đàn bà nổi loạn theo quan niệm đạo đức không có gì mới, cốt
truyện cũng khá đơn giản Nhưng có lẽ điều thành công của Dạ Ngân ở cuốn
sách này là khả năng miêu tả sâu sắc, tinh tế những cảm giác, cảm xúc rất phụ
nữ của Tiệp cũng như tâm trạng dằn vặt đến quặn thắt của một người luôn
mặc cảm không sống hết mình cho con… Ngoài những trang viết tinh tế và
xúc động về cảm giác và sự giằng xé, Gia đình bé mọn còn hấp dẫn người đọc
bởi bức tranh xã hội thời kỳ bao cấp”
Còn nhà văn Wayne Karlin (sinh năm 1945 tại New York) đã nhận xét:
“Tiểu thuyết Một Gia Đình Bé Mọn”, cuốn sách lần theo cuộc đời của Lê Thị
Mỹ Tiệp, người đàn bà từng có một thời con gái là nữ du kích góp phần vào
cuộc chiến tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và một xã hội lý tưởng, đến
tuổi trưởng thành, lại đấu tranh cho giải phóng con người và tình yêu cá nhân
Hành trình của cái “gia đình bé mọn” của Tiệp trùng hợp với hành trình của
đất nước nàng từ đoạn chót của cuộc chiến Việt - Mỹ đến thế kỷ 21, từ ngày
đầu cuộc giải phóng và tái thống nhất đất nước (ít nhất cũng cho bên chiến
Trang 9thắng) đến sự vỡ mộng và suy thoái do những chính sách hậu chiến có tác dụng khuyến khích tham nhũng, sự làm ăn kém hiệu quả, tiếp tục lòng hận thù giữa kẻ thua người thắng và cuối cùng là đến tận thời Đổi Mới, thời kỳ được cho là đất nước đang hướng tới sửa chữa nhiều sai lầm trong quá khứ - khi thành công khi không nhưng luôn luôn phải đối mặt với những phức tạp mới
Trong khi câu chuyện của Tiệp xẩy ra giữa ba thời kỳ này - giải phóng, suy thoái, và đổi mới - và có thể tương ứng cho ba thời kỳ này - giải phóng, suy thoái, và đổi mới - bản thân Tiệp không bao giờ chỉ là vai trò tượng trưng:
Dạ Ngân đã sáng tạo ra một cá nhân hiện thực đầy đặn, một sự đối lập của kiểu nhân vật thuần túy mang lý tưởng cách mạng rất có giá trong chiến tranh
và sau chiến tranh và trước thời kỳ đổi mới, trong văn học Việt Nam cũng như trong tư tưởng Khổng giáo với người phụ nữ tam tòng tứ đức Tác giả đã làm chúng ta nhận thức được cuộc đấu tranh là có tính cá nhân như thế nào khi bà xây dựng nhân vật Tiệp là một nhà văn, và một vài nhân vật khác như vậy nữa - không giống chút nào với những phần còn lại của cái gia đình quy ước của nàng - những nhân vật mà chân trời và ý nghĩa của sự lựa chọn đã rộng mở, được phơi bày ra trong văn chương của bà:
“Quả tình, giữa nàng và những người thân là hai thế giới, phía kia không
có Tầng đầu địa ngục, không có Sông Đông êm đềm, không có Người Tình, không có cả Rôbinxơn và Những người khốn khổ còn nàng thì lúc nào cũng
sách vở bút mực, xê dịch và ham muốn Những lúc như lúc nầy Tiệp thấy công việc viết lách của mình thật dị thường, những suy nghiệm của mình thật phù phiếm, những việc khiến mình đau khổ hoặc khát thèm thật vô bổ Những người đàn bà rất biết tận dụng sự chi phối ấy chỉ quan tâm đến tôn ti và trật
tự, đến công dung và ngôn hạnh cổ truyền, đến yên ổn và sung túc, ai là cán
Trang 10bộ thì phải làm rạng danh thân tộc bằng cương vị ngày một cao hơn, ai là nông dân thì phải chăm chỉ và giỏi nhang đèn Những bài báo của nàng còn
có thể hiểu được, thứ văn chương mà nàng lọm cọm hằng đêm kia thì thật đáng hoài nghi vì nó không có hình thù, không có quyền lợi, suy ra nó hư vô
họ, nàng vẫn ngưỡng mộ lòng chung thủy và tính cách mạnh mẽ của người vợ
và con gái của một cựu đại tá Nam Việt Nam không còn nhà ở và nghèo đói đến tận cùng vì đã từng dính líu đến phía thất trận, hơn cả những con người máy và đạo đức giả cùng cơ quan Bằng cách này hay những cách khác, cuốn tiểu thuyết dựng lên hai hoàn cảnh xã hội - nơi lằn chia cắt đất nước vẫn còn giữ lại một thời gian sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975 - và sự mạnh mẽ của tính cách nhân vật Tiệp.Gia đình nội ngoại của Tiệp, những người miền Nam bắt nguồn từ vùng châu thổ sông Mekong đều có truyền thống nho giáo
và cách mạng Sau khi cha nàng chết trong lao tù của chính quyền Nam Việt Nam trong chiến tranh, nàng và tất cả anh chị em bắt mối với những người được gọi là Việt Cộng, những du kích của Mặt trận giải phóng miền Nam đang chiến đấu chống lại chính phủ và người Mỹ, cuộc chiến chính nàng cũng tham gia từ năm 16 tuổi Khi gặp Tuyên lần đầu tiên, người đàn ông sau này thành chồng nàng, anh ta cũng là một chiến sĩ Mặt Trận, thì mối quan hệ của
họ càng khăng khít hơn và thực ra - như sau này nàng kể lại - phải chăng cũng
vì chiến tranh mỗi ngày càng ác liệt:
Trang 11“nàng rụt sâu xuống hơn trong cái công sự với người thanh niên có thể chết cùng với mình bởi một quả pháo chụp pháo đào hay pháo trộn gì đó Dàn đồng ca của súng đạn, đô la và giàu có chừng như bất tận, không mệt mỏi, như chúng muốn băm vằm cái ngã ba và cái cây trâm bầu trên đầu họ ra Tai Tiệp ù đặc, mắt nàng long lanh cảm thán vì Tuyên đã nắm được tóc nàng kéo lên đúng lúc và đã ấn nàng xuống cái công sự như cái lỗ huyệt nầy Nàng cười sằng sặc rồi nàng mếu máo khóc, bỗng nàng nín bặt vì nghe thấy có hai bàn tay đang áp vào, hàng nút áo bung ra tự bao giờ, hai trái ngực nàng đang săn lên run rẩy bởi đôi bàn tay ngốn ngấu trong thứ nước màu sữa đục, lạ quá, cảm giác được mơn trớn mà cũng được dày vò nâng lên hạ xuống trong mặt nước có mùi âm phủ, lạ quá Hình như anh ta có hào hển rằng đã có ý với nàng từ lâu, ngay hồi mới đầu quân về cơ quan, đã chấm nàng và mơ được cưới nàng làm vợ Không gian bỗng lịm đi, tai họa đã qua thật, nàng tót lên miệng công sự chống tay lên mép đất ngồi thở Mùi của đất đai cây cỏ bị huỷ diệt, mùi môi của người thanh niên vừa khám phá được phân nửa nàng dưới công sự, mùi của thân xác lần đầu nghe thấy nó cồn từ bên trong ra, cấp rấp, kêu gào sống sót rồi, phơi bày rồi, tận hưởng đi buông xuôi đi Tuyên dựng nàng đứng lên: “Giờ phải đi coi chiếc xuồng rồi kiếm chỗ, tụi nó cho pháo dọn bãi, thế nào hồi nữa cũng có đổ quân nhảy giò!” Thế là có ân tình, có kỷ niệm sống chết và có cả chữ tín trong sự trao gửi tiết trinh ”
Ở chỗ này Dạ Ngân trở thành một trong số ít nhà văn hiện đại Việt Nam phơi bày một cách trực tiếp sợi tóc mong manh giữa cái chết và tình dục phát
lộ ra trong thời chiến và cũng có ý ám chỉ sự mù lòa đầy quyến rũ của bản thân chiến tranh Người tình đậm đà, đầy dũng cảm chiến trận trở thành tay quan liêu tự mãn, cuồng tín và một người cha người chồng bàng quan trong những năm hòa bình sau chiến thắng, “ mẫn cán, cần cù và hoàn toàn đáng thương hại” Chủ nghĩa lý tưởng nồng nhiệt xã thân cho đại nghĩa và sự gần
Trang 12kề cái chết đã từng làm họ yêu nhau, làm tình với nhau lần đầu trong nỗi kích
động mạnh mẽ đã không sống sót nổi trước áp lực của cuộc sống trong hòa
bình và Dạ Ngân dùng cuộc sống tình dục của Tiệp như là của đánh cược cho
nỗi thất vọng đó Trong khi nhiều nhà văn Việt Nam, từ Nguyễn Du, tác giả
Truyện Kiều và vào thế kỷ 18, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã đi trước dùng tình
dục để thám hiểm tính cách và tập tục xã hội (và ngược lại), chuyện mô tả
tình dục một cách trực tiếp của Tiệp là hiếm hoi, ít nhất cũng trong những tác
phẩm văn học Việt Nam đã được dịch ra tiếng Anh mà chúng ta có dịp đọc
Tiệp đã không thỏa mãn với Tuyên và cô ấy đi tìm một tình yêu lý tưởng, xúc
động và đầy cảm hứng hơn, tự buộc vào những chuyện rắc rối tệ hại, thậm chí
lâm vào những thách thức còn tồi tệ hơn nhiều khi muốn làm lành với chồng,
và cuối cùng thì hai mươi năm lịch sử truyền kỳ, khi Tiệp và Đính, ông chồng
nhà văn xứ Bắc mà nàng đã yêu, người có hoàn cảnh li hôn phức tạp, nào con
cái, công việc, và cảnh tái hôn, cái vũ trụ nhỏ gọi là gia đình “bé mọn”, thực
ra đó là ánh xạ của cuộc đấu tranh của chính đất nước Trong khi phải đối mặt
với một Việt Nam sau cảnh hoang tàn chiến tranh nặng nề, cảm nhận thất
vọng của Tiệp khi thấy những chiến sĩ từng đánh giặc rất hiệu quả, thì lại kém
cỏi tạo dựng một xã hội mà con người có thể sống được, cảm nhận ấy lan toả
khắp nơi và bi đát Gia Đình Bé Mọn tràn ngập mô tả sinh động những pha
nhỏ nhặt chuyện tham nhũng, đạo đức giả và ăn trên ngồi trốc, sự nghèo đói
tột cùng và cảnh xếp hàng vô tận để có chút hàng hóa và thực phẩm sau chiến
tranh
Tiệp đấu tranh để được sống với người mình yêu, vật lộn để xác định rõ
tình yêu của mình cũng như khuôn dạng con người nàng cần phải có trong
đời, thì nước Việt Nam của nàng cũng phải đấu tranh để khẳng định bản thân
mình và tương lai mà nó muốn đạt tới như thế Tiệp phạm sai lầm, học hỏi để
Trang 13lớn lên, bị biến đổi như thế nào thì đất nước của nàng cũng vậy Nếu đến thăm thủ đô Việt Nam hôm nay, thăm đường phố với san sát cửa hàng, những khách sạn và quán cà phê tràn ngập cùng với những con người kiên nghị và một tinh thần năng động có mặt ở khắp nơi, ai còn tưởng tượng được cái nghèo triền miên và cảnh đói khát của những năm bảy mươi, hơn nữa có thể tưởng tượng là những quả bom đã từng được rải xuống chính những đường phố này trong những năm chiến tranh Vẫn còn đói nghèo và bất cập cùng tất
cả những vấn đề mới mẻ đồng hành một cách căng thẳng giữa hiện đại và truyền thống trong bước ban đầu của toàn cầu hóa Thế nhưng cũng đã có những biến đổi hầu như kỳ diệu Cuốn tiểu thuyết đến với chúng ta năm 2005, với Tiệp và Đính, với đất nước của họ, vẫn còn nhức nhối bao vấn đề chưa có lối thoát, vẫn còn cuộc vật lộn để tự khẳng định mình, nhưng thời chiến tranh
đã đi xa và sự hoang tàn cũng đã đi theo nó Cũng như bản thân Hà Nội, đang
cuộn lên với những đợt sóng ngầm của một thời đại mới: rào cản được hạ xuống, ý tưởng dám nghĩ dám làm được khởi sắc, những ý kiến được nói to,
giây trói được cởi bỏ, hy vọng đang ló dạng…”
Như vậy, đã có những nhận xét, đánh giá xung quanh sáng tác của Dạ Ngân từ năm 1986 đến nay Tuy nhiên, đa phần các ý kiến mới chỉ dừng lại ở mức độ ấn tượng, cảm nhận chung hoặc phát hiện, dự đoán thông qua một tập truyện hay một tiểu thuyết của Dạ Ngân chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về toàn bộ sáng tác của nhà văn Xâu chuỗi các bài viết, các ý kiến về sáng tác của Dạ Ngân từ trước đến nay, chúng tôi thấy các ý
kiến đều thống nhất ở việc khẳng định:
Đề tài sáng tác chủ yếu của Dạ Ngân chính là đề tài gia đình Song vấn
đề đặt ra trong tác phẩm của bà thường lớn hơn bản thân đề tài, vượt ra ngoài
Trang 14phạm vi đề tài như thân phận và hoàn cảnh con người trong chiến tranh, trong thời hậu chiến
Nhà văn Dạ Ngân có sở trường nắm bắt và miêu tả tâm lý nhân vật Ngoài ra, ở chị còn có sự cẩn trọng và tinh tế trong từng câu chữ
Chúng tôi xem đây là những gợi ý quý báu của các nhà phê bình và các nhà văn, để đi sâu khảo sát một cách hệ thống hơn các sáng tác của Dạ Ngân, cũng như đóng góp của cây bút này với văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát có hệ thống các sáng tác của Dạ Ngân và trên
cơ sở đi sâu tìm hiểu nghệ thuật thể hiện, luận văn nhằm:
- Góp phần làm sáng tỏ nghệ thuật xây dựng nhân vật và cốt truyện cũng như để tìm hiểu một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu trong truyện của Dạ Ngân
- Khẳng định những nét đặc sắc làm nên gương mặt văn chương Dạ Ngân - một cây bút văn xuôi nữ tiêu biểu thời kỳ đổi mới, cũng như những đóng góp của nhà văn với sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung, văn xuôi thời kỳ đổi mới nói riêng
4 Đối tƣợng, Phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Nhằm có cái nhìn bao quát về nghệ thuật truyện Dạ Ngân, chúng tôi tập trung nghiên cứu các phương diện sau đây:
- Văn xuôi nữ Việt Nam đương đại và quá trình sáng tác của Dạ Ngân
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật và cốt truyện trong truyện của Dạ Ngân
Trang 15- Một số thủ pháp nghệ thuật trong truyện của Dạ Ngân
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Trang 16- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Văn xuôi nữ Việt Nam đương đại và quá trình sáng tác của Dạ Ngân
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật và cốt truyện trong truyện của Dạ Ngân
Chương 3: Một số thủ pháp nghệ thuật trong truyện của Dạ Ngân
Trang 17
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC
CỦA DẠ NGÂN
1 1 Văn xuôi nữ Việt Nam đương đại
1.1.1 Bối cảnh xã hội sau đổi mới
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, một kỷ nguyên mới
đã mở ra cho dân tộc Từ đây, một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc trở thành động lực, mục tiêu định hướng cho mọi sự phát triển trong đó có sự phát triển của văn học Khi cuộc chiến tranh vừa kết thúc, thì sức mãnh liệt về chiến công tạm lắng xuống và thực trạng của đất nước sau chiến tranh với tất
cả những đổ nát, ngổn ngang, bộn bề, nhức nhối đã xuất hiện, đòi hỏi một sự nhận thức, sự đối mặt với những vấn đề phức tạp đang diễn ra Suốt ba mươi năm tắm mình trong thực tiễn chiến tranh, dường như nhà văn chưa có điều kiện, chưa có thì giờ để nghiền ngẫm suy tư, để quan sát hiện thực từ nhiều phía Khi chiến tranh đã lùi lại phía sau, họ mới tìm được một khoảng cách thích hợp để ngắm nghía, nghĩ suy và nhận diện nó trong tính tổng thể toàn vẹn và tính nhiều mặt của sự kiện Những gì trong chiến tranh chưa bộc lộ, chưa được nhận thức, chưa tiện nói ra thì nay đã phơi bày trước mắt Trong niềm vui sum họp Bắc Nam, sum họp gia đình, dòng họ, quê hương có cả những nỗi buồn do hi sinh mất mát Trong cái được lớn của đất nước, non sông, có cái mất của mỗi con người, mỗi gia đình… Với cái nhìn đạo đức thế
sự, thực tại chiến tranh đã bước đầu được lí giải bổ sung, lý giải theo tinh thần phân tích sâu sắc Tuy thái độ thận trọng và những chiêm nghiệm sâu lắng của các nhà văn trong thời kỳ này có làm cho văn học chững lại, thiếu đi cái khí
Trang 18thế của thời ra trận nhưng hình như đó lại là khoảng lặng cần thiết sau chiến tranh để chuẩn bị cho sự ra đời của những tác phẩm chứa đựng những quan điểm mới, cái nhìn mới về hiện thực Hoà bình lập lại, những quy luật của đời sống chiến tranh tỏ ra không còn hiệu lực Một quy luật khác đã hình thành và chi phối tiến trình lịch sử Nhưng sự thay đổi đó không diễn ra một cách mau
lẹ, chóng vánh, mà có khi còn kín đáo, âm thầm Cho nên việc nhận thức nó cũng không phải là việc một sớm một chiều, không ít những quán tính, những kinh nghiệm đã trở nên lỗi thời, không phù hợp, thậm chí còn cản trở sự phát triển của xã hội đã không được nhận thức Tiêu biểu là việc duy trì cơ chế điều hành xã hội theo kiểu hành chính, tập trung quan liêu bao cấp, gia đình trị, vấn đề họ tộc … kéo dài gần 10 năm Với cơ chế này lực lượng sản xuất bị kìm hãm nặng nề, kinh tế hàng hoá chậm phát triển, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, cơ sở kỹ thuật hạ tầng không được xây dựng, những vấn đề chính trị, xã hội hậu chiến không tìm được hướng giải quyết thoả đáng Mặt khác, trên lĩnh vực đạo đức tinh thần của xã hội, những vấn đề nhức nhối do hậu quả của chiến tranh không những không được giải quyết mà còn bùng lên
ở những bình diện khác nhau “Cái nông thôn hợp tác xã hoà thuận và yên bình tất cả cho tuyền tuyến ngày nào giờ đã bộc lộ những bê bối, lủng củng, thậm chí rệu rã trước những cố gắng ràng buộc, trước sự kìm hãm của những chính sách lỗi thời không còn đáp ứng được đòi hỏi của quy luật vận động và phát triển Bên cạnh sự nỗ lực của ý chí, một thực tại khác đã nhen nhóm và hình thành Đây chính là mầm mống đầu tiên, là cơ sở để đất nước thức tỉnh
tư duy sau những nỗ lực sai lầm” (Phan Trọng Thưởng - TCVH - số 2003.) Chưa bao giờ kịch tính của sự phát triển lại thu hút sự quan tâm của toàn xã hội như thời kỳ này Nhiều mâu thuẫn tiềm ẩn trong cuộc sống và trong quá trình sản xuất đã đến lúc chín muồi, đòi phải được bộ lộ và giải quyết Vấn đề quan hệ của người nông dân với ruộng đất, hay vấn đề quyền
Trang 1910-lợi cá nhân, họ tộc … Ý thức về gia đình, dòng họ, quyền hành là những thí
dụ Mới nghe tưởng là vấn đề nhỏ nhưng thực chất nó là vấn đề trung tâm tác động đến cơ chế quản lý xã hội, đến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Nhiều người nhận xét rằng đây là thời kỳ của những mâu thuẫn, xung đột không chỉ bề ngoài mà cả bên trong nội dung của mỗi hiện tượng, mỗi vấn
đề Hơn nữa, đời sống xã hội từ khi chuyển qua cơ chế thị trường càng trở nên phức tạp và căng thẳng “hằng ngày, hằng giờ diễn ra cuộc đối chứng giữa hai mặt nhân cách và phi nhân cách, giữa cái hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và bóng tối vẫn còn rơi rớt bên trong tâm hồn mỗi con người - miếng đất nương nấu và gieo mầm nhiều lỗi lầm và tội ác” (Nguyễn Minh
Châu “Bến quê” Nxb Tác phẩm mới - HN 1985 tr144) “Cái nhất thời trong
cái muôn đời, cái độc ác nằm ở giữa cái nhân hậu, cái cực đoan nằm giữa cái tinh thần xởi lởi, cởi mở; cái nhảy cẫng lên lấc láo giữa cái dung dị, thái độ bình thản chịu đựng và tinh thần trách nhiệm đầy suy nghĩ “ (Nguyễn Minh
Châu “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh hoạ” Văn nghệ số
ra ngày 5-12-1987) Đây cũng là vấn đề ý thức, quan niệm của nhiều nhà văn trong cao trào đổi mới văn học Ý thức này trở thành tình cảm, hứng thú, thúc giục họ cầm bút viết thêm những tấn bi kịch của con người, kiếp người, đặc biệt là con đường đi tìm hạnh phúc cá nhân của những người phụ nữ trong cuộc sống bộn bề hôm nay
Người phụ nữ đời nào cũng vậy, là tặng phẩm tuyệt diệu của tạo hóa Nhưng sự phản ánh họ trong văn học qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn thì mỗi thời mỗi khác Trong một giai đoạn mà cảm hứng công dân chi phối hoạt động sáng tác, người phụ nữ trong văn học Cách mạng Việt Nam 1945-1975
ít được nhìn nhận ở những đặc trưng giới tính Họ thường mang trong mình một phẩm chất chung xác định giá trị con người là lòng yêu nước, ý chí chiến đấu, thành tích cống hiến cho tập thể Họ được ca ngợi là những người “giỏi
Trang 20việc nước đảm việc nhà” Trong xu hướng tìm lại con người ở những đặc trưng bản thể và khát khao trần thế, các nhà văn thời kỳ đổi mới nhìn nhận người phụ nữ nghiêng về những gì thuộc về thiên tính, thiên chức của họ Văn học đổi mới không còn nhiều những phụ nữ sắt đá, kiên cường nữa mà thay vào đó là những con người yếu đuối, nhẹ dạ cả tin, đa cảm, đa đoan Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta được gặp gỡ đủ loại phụ nữ trong truyện của các nhà văn nữ Bằng kinh nghiệm bản thân, các nhà văn này thoải mái phô bày đời sống của người phụ nữ ở tầng sâu bản thể Họ đem đến cho văn học những trải nghiệm mới, những hiểu biết mới về người phụ nữ Họ cho ta cảm nhận về người phụ nữ hiện đại, những con người thật đa sự Sự bất ổn trong nội tâm của họ là do “bản tính” của họ mà ra chứ không do ai khác gây ra Viết văn đòi quyền lợi cho người phụ nữ hoặc phản ánh tình trạng mất bình quyền nam nữ cũng là mục đích sáng tác của nhiều cây bút nữ thời nay Trong văn giới Việt Nam, chúng ta thường nghe câu nói "Văn là người" Chúng tôi không cho rằng nhà văn sống ngoài đời ra sao thì sống trong tác phẩm cũng như thế Văn không phải là tấm gương phản chiếu thành thật con người tác giả Tuy nhiên, để hiểu sâu sắc tác phẩm của nhà văn thì một việc nhất thiết phải làm là tìm hiểu quan niệm của nhà văn về đối tượng thẩm mĩ
mà họ hướng đến Phải thấy rằng, những nhà văn nữ sau đổi mới trước hết họ cũng là những người phụ nữ hiện đại Họ có một nghề nghiệp với những va chạm phức tạp Họ có một gia đình với những mối quan hệ bề bộn như nhà văn Võ Thị Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ
Mỗi người có một câu chuyện, mỗi người là một dòng sông, nó chảy từ nguồn ra tới biển Dòng sông là thứ chúng ta không thể cắt khúc, rồi xóa đi khúc này khúc nọ được, nó cần có sự liên tục Trò chuyện với các nhà văn, lĩnh hội ý kiến của họ cũng như soi bóng mình xuống dòng sông tư tưởng của
họ Có thể dòng sông này hiền hòa, êm ả, dòng sông kia nhiều ghềnh thác
Trang 21hoặc ngay trên môt dòng sông cũng có khúc dịu dàng, có khúc dữ dội nhưng chính những nét khác biệt đó lại tạo nên sự cuốn hút mãnh liệt Quan điểm của các nhà văn nữ có thể có những điểm tương đồng, cũng có thể khác biệt, điều đó không có gì khó hiểu Qua những phát biểu đó, chúng ta hiểu về người phụ nữ hiện đại trong tác phẩm của họ hơn, nhờ vậy, tác phẩm của họ đến gần với độc giả hơn
1.1.2 Những tác giả, tác phẩm tiêu biểu
Từ năm 1986 đến năm nay, xã hội ta có những biến chuyển sâu sắc trên
mọi phương diện: sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã và đang được đẩy nhanh tốc độ phát triển, việc giao lưu, hội nhập đa phương với thế giới cũng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong xu thế mở cửa Lịch
sử xã hội luôn tác động và chi phối đến văn học Đó là một quy luật Văn học Việt Nam sau năm 1975 cũng không nằm ngoài quy luật đó Với một tiền đề
xã hội - thẩm mỹ như thế, sự đổi mới của văn học Việt Nam sau năm 1975 là tất yếu Từ nửa sau thập kỉ 80 nhờ công cuộc đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam văn học thực sự có bước chuyển đổi lớn Từ năm 1986 văn học bước vào công cuộc “cởi trói” cho mình Sự cởi mở nhiều chiều đã mang đến những chuyển biến lớn lao về tư duy văn học Chính vì vậy văn học thời kì này đa dạng hơn về giọng điệu, phong phú hơn về thể loại và cũng gây nhiều tranh cãi hơn Bước chuyển mình của văn học được thể hiện ở cả ba thể loại là: thơ, kịch, văn xuôi Ở văn xuôi, thể loại ghi lại dấu ấn rõ rệt nhất với việc
đi sâu phản ánh cái hàng ngày, cái thường nhật Về ngôn ngữ và phương thức trần thuật có nhiều thủ pháp mới như: tăng cường đối thoại, độc thoại nội tâm, miêu tả theo dòng ý thức, đồng hiện Tất cả những điều đó đã làm tăng thêm sức hấp dẫn cho văn xuôi Mười năm đầu đổi mới văn đàn đã chứng kiến sự được mùa của văn xuôi Trong đó có sự đóng góp của các cây bút nữ Người
Trang 22ta nói nhiều đến một nền văn học “mang gương mặt nữ” “Đã hình thành một
tỉ lệ giữa phái yếu và đấng mày râu là 2/3 - một tỉ lệ đáng gờm Mười năm sau
đó chúng ta có thể kiểm nghiệm sự sung sức và bền bỉ trong sáng tạo nghệ thuật của đội ngũ những nhà văn nữ Bên cạnh thế hệ nhà văn đã trưởng thành trong chiến tranh như: Lê Minh, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Như Trang, Lê Minh Khuê…, thế hệ nhà văn mới phát lộ tài năng Đây là đội ngũ nhà văn đông đảo, trẻ tuổi, sung sức, tự tin và đầy nhiệt huyết Có thể kể đến những gương mặt quen thuộc với bạn đọc như: Võ Thị Hảo, Lý Lan, Phạm Thị Hoài, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Châu Giang, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Trần Thùy Mai… Với nhiệt huyết và sáng tạo không ngừng họ xứng đáng là đội ngũ kế cận thế hệ đàn chị của mình Họ đã thể hiện khả năng sáng tạo của mình bằng các ngôi vị quán quân trong các cuộc thi viết truyện ngắn, tiểu thuyết do tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức Mỗi tác giả có một cách viết riêng song ẩn dưới những trang viết của họ là niềm yêu thương, sự trân trọng, sự cảm thông với số phận của những người phụ nữ Các chị đã thể hiện được lợi thế của giới tính khi xây dựng một thế giới nhân vật nữ có nội tâm phong phú và phức tạp, đào sâu khai thác những bí ẩn trong tâm hồn người phụ nữ Các nhà văn nữ có lối viết phá cách và giọng điệu đa dạng Nguyễn Thị Thu Huệ chao chát và từng trải nhưng cũng không kém phần dịu dàng, đằm thắm Võ Thị Hảo ngọt ngào Y
Ban táo bạo và khắc khoải trong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Ước mơ của chị bán
hàng rong, Thiên đường và địa ngục, Làng Cò, Cưới chợ Phan Thị Vàng
Anh với lối viết lạnh lùng, trí tuệ và hóm hỉnh Lý Lan hồn hậu và sắc sảo Nguyễn Ngọc Tư sâu lắng và mượt mà trong giọng điệu Nam bộ Bên cạnh những mặt mạnh, văn xuôi nữ giới cũng còn những hạn chế như: “chưa tìm được sự cân đối hài hòa” giữa lí trí và trí tuệ (theo Phương Lựu), quan tâm đến “chuyện” nhiều hơn “văn” (theo Bùi Việt Thắng) và nguy cơ lặp lại mình
Trang 23khá rõ Tuy nhiên với những thành công của họ chúng ta tin tưởng rằng họ sẽ
đi xa hơn và sẽ là lực lượng kế cận có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn học nước nhà
Trước tiên có thể kể đến là nhà văn Phạm Thị Hoài sinh năm 1960 Bà
là một nhà văn hiện đại, nhà biên soạn và dịch giả Bà đang sống ở Đức Phạm Thị Hoài sinh ra và lớn lên tại tỉnh Hải Dương Năm 1977, bà đến Đông Berlin và học ở Đại học Humboldt, nơi mà bà đã tốt nghiệp chuyên ngành về văn khố Năm 1983, bà trở về Việt Nam, sống ở Hà Nội, làm chuyên viên lưu trữ văn thư rồi bắt đầu viết văn một cách nghiêm chỉnh Năm
1988, quyển tiểu thuyết đầu tay của bà được xuất bản tại Hà Nội với tựa
đề Thiên sứ rồi sau đó quyển này bị cấm lưu hành Về sau, Thiên sứ được dịch
sang tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức và Phần Lan Năm 1993, bản
dịch Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải “Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất”
của tổ chức Frankfurter LiBeraturpreis trao tặng hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức Riêng bản dịch tiếng Anh thì đoạt giải Dinny O'Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000 Cũng trong năm này, Phạm Thị Hoài rời Việt Nam sang Berlin, nơi bà đang sống và làm việc hiện nay Ở Berlin, bà sáng lập tạp chí Talawas trên Internet có tầm ảnh hưởng lớn Trong lời bạt
bản dịch Thiên sứ của Tôn Thất Quỳnh Du, ông viết về Phạm Thị Hoài như
sau:
“Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến đọc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai Những viên chức văn hóa của Việt Nam phản đối cái nhìn phê phán của bà về nước Việt Nam hiện tại, bà đã
vi phạm bởi sự thiếu tôn trọng truyền thống và phạm phải những điều cấm kỵ của xã hội […] Mặc dù bị công kích trên diễn đàn công khai, Phạm Thị Hoài chưa bao giờ là bị cáo về sự bất đồng quan điểm chính trị Thay vào đó,
Trang 24những kẻ phỉ báng đã buộc tội bà là có cái nhìn bi quan quá đáng về Việt Nam, bà đã sỉ nhục “sứ mệnh thiêng liêng của một nhà văn”, thậm chí bà còn viết “dung tục” nữa Nhưng, ngay cả những nhà phê bình mạnh mẽ nhất cũng thừa nhận rằng bà là một nhà văn có con mắt u ám trong việc mổ xẻ chi tiết, chua cay và hài hước, song lại có thính giác tốt về nhịp điệu của tiếng Việt”
Ngoài tác phẩm Thiên sứ, được ca ngợi trên bình diện quốc tế, Phạm Thị Hoài còn xuất bản những tiểu luận, hai tuyển tập truyện ngắn Đó là Mê
Lộ (1989) và Man Nương (1995) Ngoài ra, bà còn một tác phẩm khác
là Marie Sến (1996) Bà là một dịch giả nổi tiếng về văn chương Đức Bà đã
dịch những tác phẩm của Franz Kafka, Bertolt Brecht, Thomas Bernhard và Friedrich Dürrenmatt sang tiếng Việt Bà còn là người biên soạn
quyển Trần Dần – Ghi: 1954-1960 (Paris, TD Mémoire, 2001), một tuyển tập
các bài báo của Trần Dần Những tiểu luận và truyện ngắn của bà xuất hiện trong những tạp chí văn chương ở Hoa Kỳ, Úc, Thụy Sĩ và Đức, ngoài ra còn xuất hiện trong một số tuyển tập về truyện Việt Nam đương đại, gồm
có: Night, Again và Vietnam: A Traveler's Literary Companion Riêng quyển Sunday Menu, một tuyển tập truyện ngắn của bà do Tôn Thất Quỳnh
Du dịch sang tiếng Anh, quyển này được xuất bản lần đầu tại Pháp năm 1977
với tựa đề Menu de dimanche, còn bản tiếng Anh Sunday Menu thì do
Pandarus Books xuất bản tại Úc năm 2006 và được University of Hawaii Press xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 2007
Tiếp đến là nhà văn Trần Thùy Mai tên thật là Trần Thị Thùy Mai, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1954 tại Hội An, Quảng Nam Quê quán: làng An Ninh Thượng, xã Hương Long, huyện Hương Trà, (nay là phường Hương Long, Thành phố Huế), tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 25Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng Tốt nghiệp Tú tài 2 từ 1972, chị thi đậu thủ khoa môn văn Đại học Sư phạm Huế Sau 1975, chị học tiếp Đại học Sư phạm Năm 1977, sau khi tốt nghiệp, Trần Thùy Mai được giữ lại trường, làm công tác giảng dạy và nghiên cứu môn Văn học dân gian Năm 1987, chị quyết định chuyển sang làm biên tập viên
ở Nhà xuất bản Thuận Hóa Với lối rẽ này, Trần Thùy Mai đã chọn nghiệp viết làm con đường đi cho riêng mình
Trưởng thành cùng thế hệ với Lý Lan, Nguyễn Thị Minh Ngọc ở Sài Gòn, những người cầm bút đầu tiên sau chiến tranh Có thể nói, đây chính là thế hệ dò đường đi tìm những đề tài hậu chiến Tính từ truyện ngắn đầu tay
"Một chút màu xanh" in trên Tạp chí Sông Hương đến nay, nữ nhà văn người Huế này đã có trên 30 năm cầm bút với hàng trăm tác phẩm truyện ngắn được nhiều thế hệ bạn đọc yêu mến Trong đó, một số truyện ngắn nổi tiếng như:
Gió thiên đường, Thập tự hoa, Quỷ trong trăng, Thương nhớ Hoàng Lan, Mưa đời sau, Người bán linh hồn, Trăng nơi đáy giếng, Thị trấn hoa quỳ vàng của chị đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nhật Trần
Thùy Mai là một trong những nhà văn nữ viết khỏe và khá đều tay hiện nay
"Những truyện ngắn của chị rất đa dạng, phảng phất không khí đất trời xứ Huế, quan tâm đến mọi mặt của cuộc sống, nhất là lớp trẻ và nhìn họ với một con mắt đầy yêu thương và hy vọng" Trong khoảng 10 năm trở lại đây, Trần Thùy Mai viết nhiều về những đề tài và nhân vật lịch sử, đặc biệt là những nhân vật nữ in bóng trong lịch sử triều Nguyễn, gắn liền với Kinh thành Huế Trần Thùy Mai từng tâm sự: “Với tôi, viết là một nghề Nó giống như mọi nghề khác ở chỗ phải có kỹ năng và lương tâm Vì thế, trong cuộc đời tôi đã
có nhiều lúc buồn nản nhưng chưa bao giờ thấy chán viết, chưa bao giờ muốn
bỏ bút”
Trang 26Là một phụ nữ Huế nhẹ nhàng, tinh tế và sâu sắc, Trần Thùy Mai thấm thía nỗi đau, sự tổn thương và mất mát trong tình yêu Một điều dễ dàng nhận thấy, Trần Thùy Mai dành tình cảm ưu ái rất riêng cho các nhân vật nữ của mình "Cuộc sống vốn đa chiều và phức tạp Tình yêu cũng không nằm ngoài quy luật khắc nghiệt ấy Thế nhưng, tình yêu dẫu mất mát, phụ bạc và đớn đau đến nhường nào thì con người cũng chỉ thật sự tìm thấy hạnh phúc khi có
nó Chính vì thế, tình yêu trong truyện ngắn Trần Thùy Mai không đơn thuần
là một câu chuyện lãng mạn, thấm đẫm nước mắt để "câu khách" mà đó là cái
cớ để chị nói về cuộc sống với những con người đang ngày ngày sống, yêu và ruồng bỏ tình yêu của chính mình Mỗi câu chuyện đau đáu một nỗi niềm
Tác phẩm: Cỏ hát, tập truyện ngắn đầu tay in chung với Lý Lan, Nhà
xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội - 1983 Bài thơ về biển khơi , Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế - 1983 Thị trấn hoa quỳ vàng, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội - 1994 Trò chơi cấm, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh - 1998 Người khổng lồ núi
Bạc, Truyện thiếu nhi, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh - 2002 Đêm tái sinh, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế - 2003 Thập tự hoa,
Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế - 2003 Biển đời người, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội - 2003 Thương nhớ
Hoàng Lan, Tập truyện ngắn chọn lọc, Nxb Văn Mới, California, USA -
2003 Mưa đời sau, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh - 2005 Mưa ở Trasbourg, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Phụ Nữ,
Hà Nội - 2007 Lửa hoàng cung, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh - 2008, Nxb Thanh Niên, Hà Nội - 2010 Một mình ở
Tokyo, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh -
2008 Onkel yêu dấu, Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ
Trang 27Chí Minh - 2010 Trăng nơi đáy giếng, tập truyện ngắn chọn lọc, Nhà xuất
bản Thanh Niên - 2010
Nghiên cứu: Truyện kể dân gian Bình Trị Thiên, Sưu tầm - biên khảo,
Soạn chung với Trần Hoàng, Phạm Bá Thịnh, Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị
Thiên xuất bản 1986 Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên, Sưu tầm - biên khảo,
Soạn chung với Trần Hoàng, Phạm Bá Thịnh, Đinh Thị Hựu, Nhà xuất bản
Thuận Hóa, Huế - 1989 Dân ca Thừa Thiên Huế, Sưu tầm - biên khảo, Nhà
xuất bản Thuận Hóa, Huế - 2004
Dịch thuật: Bên trong, Tập truyện ngắn của các tác giả nữ Nhật Bản,
dịch từ tiếng Anh, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế - 2010 Nhiều truyện ngắn của Trần Thùy Mai đã được chuyển thể kịch bản sân khấu hoặc dựng thành phim như: "Hãy khóc đi em" (2005)"Gió thiên đường", "Thập tự
hoa" (2005), "Trăng nơi đáy giếng" (2009) nhưng người đọc vẫn muốn nếm
hết những vị đắng cay, điệu man mác cho đến những dòng cuối cùng
Viết về văn chương Trần Thùy Mai, nhà nghiên cứu Hồ Thế Hà có nhận
xét: “ Những nhân vật của Trần Thùy Mai thường không bình lặng Họ cô
đơn, hẫng hụt, tiếc nuối nhưng không bao giờ từ bỏ khát vọng sống của mình bằng cách bơi ngược dòng sông ký ức để làm sống lại những điều tốt đẹp Đọc Trần Thùy Mai, tôi bị cuốn hút bởi chất nhân ái và triết lý này Con người dù giận hờn, hằn học nhưng trong tận cùng sâu thẳm của ý thức cộng đồng, họ âm thầm sẻ chia và nhận nỗi đau về mình để được kéo dài ra trong niềm vui của người khác, để được yêu trong trắc ẩn dù có khi không tránh khỏi sự đối xử thờ ơ, nguội lạnh của tha nhân ”
Nguyễn Vinh Sơn, đạo diễn bộ phim “Trăng nơi đáy giếng”, một đồng
hương xứ Huế với nữ nhà văn thì nhận xét: “Cảm nhận của Trần Thùy Mai
Trang 28đầy Huế Chất thơ là thuộc tính của người Huế từ cung cách đi đứng, nói năng đến lối sống thâm trầm, sâu sắc, tinh tế ”
Nhà báo Hoàng Nguyên Vũ cho rằng: “Càng về sau văn chị viết càng
đời, càng đầy đủ mặn ngọt đắng cay của những phận đời trong đó Dù những cái kết được báo trước nhưng người đọc vẫn muốn nếm hết những vị đắng cay, điệu man mác cho đến những dòng cuối cùng.”
Tiếp là nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: tên thật là Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976, quê quán ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Hiện chị sống và làm việc tại TP Cà Mau Nguyễn Ngọc Tư cũng là Hội viên Hội Nhà Văn trẻ tuổi nhất hiện nay Người ta xem Ngọc Tư là một hiện tượng lớn của văn học nước nhà năm 2005 - 2006 GS TS Trần Hữu Dũng (việt kiều Mỹ)
gọi Ngọc Tư là “đặc sản” vì chị đã tạo ra điểm riêng ấn tượng nhất mà dẫu
cuộc thi có cắt phách họ vẫn nhận ra
Chị khẳng định mình ngay từ tập truyện đầu tay và rất nhiều giải
thưởng cao quý thuộc về chị: Ngọn đèn không tắt giải I - Cuộc vận động
sáng tác văn học tuổi hai mươi lần II năm (2000) Giải B - hội văn học Việt
Nam với tập truyện Ngọn đèn không tắt năm (2001) Nhận tặng thưởng tác
giả trẻ - Ủy Ban toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam - tập truyện
Ngọn đèn không tắt Được bình chọn một trong mười gương mặt trẻ tiêu biểu
năm (2003) do Trung ương đoàn trao tặng Tập sách này đã được chọn in lại trong "Tủ sách Vàng" của NXB Kim Đồng năm 2003 Nguyễn Ngọc Tư cũng đoạt Giải 3 cuộc thi sáng tác truyện ngắn 2003 - 2004 của báo Văn nghệ với
truyện ngắn "Đau gì như thể " Truyện ngắn Cánh đồng bất tận được Hội
nhà văn Việt Nam trao giải A (2006)
Riêng Cánh đồng bất tận đã đưa tên tuổi Ngọc Tư leo lên đỉnh cao
vinh quang trong lao động nghệ thuật Chị trở thành một trong những nhà văn
Trang 29nổi bật nhất thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, góp phần đưa truyện ngắn đương đại
lên một tầm cao mới Các nhà nghiên cứu lí luận văn học, phê bình văn học
đã ghi nhận; từ sau hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp, văn học Việt Nam chờ đợi rất lâu mới có lại một cây bút tài hoa và làm nên dư luận, tên tuổi ấy là Nguyễn Ngọc Tư Ai cũng ngạc nhiên hết sức vì ở nơi tận cùng đất mũi Cà Mau, sách báo yếu và thiếu lại tạo ra một bông hoa lạ, lạ đến mức bị kiểm điểm và đòi trục xuất chị ra khỏi quê hương Mỗi một truyện ngắn của chị
“được ví như một bữa ăn thịnh soạn nhưng hợp khẩu vị, làm cho mọi người ai
cũng thấy vừa miệng, cách bày biện toàn “đặc sản” Nam bộ với chất liệu tươi
tắn, mới mẽ” Ông Huỳnh Công Tín chân thành nói: khi tôi bắt tay vào làm
cuốn Từ điển từ ngữ Nam bộ tôi thấy rất khó khăn, nhưng khi vớ được
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói thật tôi mừng “như vớ được vàng”
Mặc dù tuổi đời còn trẻ nhưng chị đã toả sáng rực rỡ trên con đường văn học, điều này không phải cây bút nào cũng có được Truyện của chị gây
ra hai luồng dư luận khen chê, song điều quan trọng nhất bạn đọc yêu văn gọi
chị “đặc sản” Nam bộ rất mới nhưng không quá lạ
Năm năm qua, chị tiếp tục gây ngạc nhiên và đem lại nhiều thiện cảm cho bạn đọc bằng giọng văn tưng tửng mà tình cảm của mình Chị cũng là tác giả trẻ nhất có tên trong tuyển tập truyện ngắn Việt Nam được dịch và in ở
Mỹ, do đó chị đã vinh dự được chọn lên hình chương trình “Người đương thời” năm 2005 Hiện tại nhiều truyện ngắn của chị được dịch ra tiếng Nhật, tiếng Anh để giới thiệu với độc giả ở nước ngoài Vốn là một học sinh giỏi văn của trường Phan Ngọc Hiển, nhưng Nguyễn Ngọc Tư chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành một nhà văn Những năm tháng sống cùng với ông ngoại, sớm lao vào công cuộc mưu sinh (làm văn thư cho tạp chí Bán đảo Cà Mau)
có lẽ là một trong những duyên cớ khiến Nguyễn Ngọc Tư bước chân vào lĩnh
Trang 30vực viết văn “Đổi thay” là truyện ngắn đầu tay của nhà văn Nguyễn Ngọc
Tư, được đăng trên tạp chí Văn nghệ Cà Mau Nhưng chị thật sự được độc giả
cả nước biết đến khi đoạt giải I cuộc thi “Văn học tuổi 20 lần thứ 2” của Hội Nhà văn TP.HCM với tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” (2000) Cũng từ
đó nhiều tập truyện của chị liên tục được độc giả trong và ngoài nước ủng hộ
như: Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Giao
thừa (đoạt một giải thưởng của Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam) Và đến
tập truyện “Cánh đồng bất tận” (2005) thì có thể nói Nguyễn Ngọc Tư đã thật
sự khẳng định được tên tuổi và tài năng của mình trên văn đàn của Việt Nam Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư cũng xuất sắc trong mảng tạp văn khi cho ra đời ngay sau tập truyện “Cánh đồng bất tận” một cuốn tạp văn “nặng ký” đầu tiên có tên là “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” (2005) tập hợp những bài viết của chị đã đăng trên tạp chí “Thời báo kinh tế Sài Gòn” Và năm 2007 vừa qua, chị lại cho ra đời một tập tạp văn mới “Ngày mai của những ngày mai” được độc giả và giới phê bình đánh giá tốt Có thể nói, chị là một trong những nhà văn trẻ viết khỏe và viết đều khi chỉ trong vòng ba năm đã cho ra đời bốn tập truyện ngắn (không kể tạp văn) Điều đó chứng tỏ chị là một nhà văn miệt mài lao động, miệt mài sống và tích lũy vốn sống để nuôi dưỡng cảm hứng và năng lực sáng tác, chứ không chỉ nhờ vào năng khiếu thiên bẩm Qua chặng đường bảy năm cầm bút, tung hoành trên cả hai thể loại truyện ngắn và tạp văn, Nguyễn Ngọc Tư đã phần nào khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ những người sáng tác trẻ của cả nước, đã xác lập được một phong cách sáng tác riêng biệt mang dấu ấn “Nguyễn Ngọc Tư”- một văn phong rặt chất Nam Bộ hiền hòa, hào sảng đậm đà vang bóng một thời nhưng vẫn hồn hậu nồng nàn say mê đến tận ngày nay
Trang 31Như vậy qua tìm hiểu về một số nhà văn nữ tiêu biểu với giọng điệu mới
mẻ, có cá tính và ngôn ngữ sắc sảo, mạnh bạo mà vẫn không thiếu chất đằm thắm, dịu dàng, đã đóng góp những tiếng nói riêng, những hương sắc riêng cho diện mạo văn xuôi đương đại Việt Nam Nếu như ở Trung Quốc, lớp nhà văn nữ sinh ra vào thập kỉ 70 xuất hiện khá nhiều và tác phẩm của họ gây ấn tượng; ở Pháp thập kỉ 90 của thế kỉ trước chứng kiến giới văn chương nữ đã sánh vai nam giới; ở châu Phi từ những năm 80 trở đi, một thế hệ thứ hai các cây bút nữ đã xuất hiện tạo ra một hiện tượng xâm lấn, đôi khi có tính lật lại trật tự trên văn đàn; ở Nga văn xuôi nữ mạnh dạn cất tiếng nói về bản thân vào những thập niên 80-90; thì ở Việt Nam từ sau những năm đổi mới và đặc biệt là từ thập kỉ 90 trở đi, văn xuôi nữ đã thực sự chiếm ưu thế trên văn đàn
GS Phương Lựu đã nhận xét: “Đây là hiện tượng tốt đẹp, đánh dấu một phương diện phát triển của văn học” Văn xuôi nữ hứa hẹn những bước đi đầy triển vọng, góp phần làm phong phú diện mạo văn học Việt Nam thế kỉ XXI
1.2 Quá trình sáng tác của Dạ Ngân
1.2.1 Vài nét về tiểu sử nhà văn
Nhà văn Dạ Ngân có tên thật là Lê Hồng Nga, sinh ngày 6 tháng 1 năm
1952 Quê gốc ở xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mĩ, tỉnh Cần Thơ Bà là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Bà là phụ nữ miệt vườn chính cống và bà luôn tự hào
về điều đó
Tuổi thơ nhà văn được bảo bọc bằng nghề vườn, cây vườn và nhà nội, trong đó vai trò quyết định thuộc cô bà, người đàn bà goá đã ở vậy đến già để chăm nuôi bầy cháu cho ba bà đi kháng chiến Cho đến khi ba bà bị tù, án khổ sai Côn Đảo rồi chết trong xà lim thì bà thuộc về cô bà hoàn toàn, tâm hồn và tính cách ấy đã quyết định tư chất của bà Ở vào vùng hành lang giữa căn cứ kháng chiến tỉnh với căn cứ kháng chiến Khu Chín, gia đình bà không có sự
Trang 32lựa chọn nào khác cho các chị em gái trong nhà: tất cả phải đi vào Cứ tham gia đánh giặc, con đường của cha bà Lý tưởng đã được đơn giản hoá thành thù nhà rồi sau mới là nghĩa nước
Ngay từ hồi ở Cứ, lúc nhà văn che đèn lén đọc "Sông Đông êm đềm",
cuốn sách thời đó bị coi là “có vấn đề chính trị và đạo đức”, những người lớn tuổi trong toà báo bảo sớm muộn gì bà cũng viết văn Bà để ngoài tai những lời tiên tri, chiến tranh khiến người ta chỉ ước mình thoát chết mỗi ngày, sau
đó cái gì chả được! Sau đó bà làm việc tại Sở văn hoá thông tin tỉnh Hậu Giang
Rồi từ bộ phận làm tin thuộc Sở văn hoá thông tin tỉnh Hậu Giang, bà được chuyển sang Hội văn nghệ tỉnh sau truyện ngắn ấy Năm 1987, bà được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam và con đò thứ hai đã đưa bà đi thật xa miệt vườn của mình, nhưng đó là hành trình thuận theo nhiều nghĩa Cuối cùng bà cũng được tu nghiệp bốn năm ở Trường viết văn Nguyễn Du, cũng được sống trong bầu không khí của văn hoá cội nguồn, giữa Hà Nội từng cưu mang bà, hai nhà văn hai con người khốn khó trong thời kỳ đi tìm một chỗ dừng chân
để tồn tại cùng với
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác :
Cho đến nay Dạ Ngân đã có cả thảy 10 đầu sách, đó là các tác phẩm:
Quãng đời ấm áp (tập truyện ngắn - 1986), Ngày của một đời (tiểu thuyết -
1989), Con chó và vụ ly hôn (tập truyện - 1993), Chân trời nơi ấy ( phim truyện 2 tập - 1995), Gia đình bé mọn …
Bà được nhận giải Nhì của tạp chí Văn nghệ quân đội cho truyện ngắn
Trên mái nhà người phụ nữ (1997) giải Nhì báo tuổi trẻ cho truyện ngắn Thơ
vẽ truyền thần (1989)
Trang 33Dạ Ngân là một tác giả viết văn xuôi xuất hiện sau 1975, nhưng sớm có được vị trí trên văn đàn Sáng tác của bà thường đề cập đến những vấn đề của
đời sống thường nhật Với Con chó và vụ ly hôn, người ta nói tác phẩm “đã
gây ồn ào cho người đọc ngang bằng với dư luận ồn ào về cuộc tình của chị” Người đọc gặp ở đây một bút pháp hiện thực, tâm trạng sắc sảo về những tình cảm thầm kín trong đời sống vợ chồng Con người quan hệ với nhau đâu chỉ với tư cách sinh vật mà chủ yếu là với tư cách tình cảm hòa hợp, tâm hồn nhạy cảm nữa Và khi nhu cầu tình cảm, tâm hồn đó đã không còn hòa hợp,
đã trở nên xa lạ thì việc chia tay của những cặp vợ chồng là điều tất nhiên Ở
truyện ngắn Vòng tròn im lặng mạch triết luận ấy vẫn tiếp nối với thế hệ nàng,
con gái nàng, rồi cháu gái nàng, dù không ai khiến bảo, nhưng định mệnh thế nào vẫn là những cuộc hôn nhân bị tan vỡ, phải đi bước nữa đầy gian truân và đầy định mệnh Thế mới biết người phụ nữ xây dựng được hạnh phúc gia đình
bền chặt thật là khó khăn như thế nào Truyện ngắn Nhìn từ phía khác lại là
mảng viết về chiến tranh với nhân vật Thảo, một nữ chiến sĩ hoạt động ở nội thành trong vai một cô hầu bàn ở nhà hàng Vĩnh Thịnh Cô đã chịu biết bao
sự chịu đựng ê chề đến nhẫn nhục với những bọn thực khách đủ loại khác nhau, với những bà chủ, những bảo kê các kiểu Trong một lần giữa lúc Thảo đang bị bọn thực khách dở trò chơi xấu, Thuận một thương phê binh cộng hòa cũng là một thực khách thường xuyên ở nhà hàng Vĩnh Thịnh đã ra tay cứu giúp Thảo Cô đã mật báo về cứ nhân thân của người thương phê binh đó và được lệnh nghiên cứu bám sát, giác ngộ Để làm được lệnh đó Thảo phải tiếp tục quan hệ và đến khi nhận ra những phẩm chất cao thượng của người lính phía bên kia trận tuyến này, cô phải trốn chạy khỏi tình yêu của chính cô Sau chiến tranh, Thảo không gặp lại người phế binh cộng hòa ấy nữa, nhưng người phế binh ấy vẫn mãi mãi là hạt bụi đã từng rơi vào trong con mắt cô
Nhìn từ phía khác có lẽ là một cách cảm nhận có phần mới mẻ của Dạ Ngân
Trang 34về những người lính phía bên kia trận tuyến Đây cũng là một cách viết có tìm tòi trong mảng đề tài chiến tranh
Tóm lại, Dạ Ngân thuộc thế hệ phụ nữ sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, trưởng thành khi đất nước hòa bình Cuộc đời Dạ Ngân cũng lắm thăng trầm, truân chuyên, nhưng bà vẫn vượt qua tất cả bằng một nghị lực phi thường Dạ Ngân là một ví dụ tiêu biểu cho những người phụ nữ Việt Nam vượt qua những ngăn trở, những định kiến của xã hội để giành lấy hạnh phúc
Bà là người phụ nữ hiện đại dám giải phóng triệt để về mặt tự do cá nhân để
có tất cả năng lực như nam giới Tuy vậy, nhà văn Dạ Ngân vẫn nhấn mạnh chức năng làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ, bà còn cho rằng chính tính nữ trong đời sống hôn nhân và trong tình mẫu tử sẽ làm cho người phụ nữ hiện đại thành đạt “một cách có hương vị”, bằng sự từng trải của một người phụ nữ trí thức đứng tuổi
Truyện của Dạ Ngân thuộc loại theo dõi kĩ cũng khá thú vị Bà có cách viết trầm tĩnh, chậm rãi những vấn đề tâm trạng của con người, đặc biệt là những người phụ nữ trong đời sống thường nhật Bà đã từng nghĩ: Văn chương, đó không chỉ là nghề như mọi nghề mà còn là con đường khổ ải cho những người đàn bà cầm bút Dù vậy, vẫn hơn, vì con đường ấy cho người ta
sự cô độc tối cao, niềm tin dai dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình
Nhìn chung bà đã có được nét riêng trong mạch truyện của mình và là một người viết xuất hiện từ sau 1975 nhưng đã có được chỗ đứng trong lòng bạn đọc, đồng thời còn khẳng định được mình trong văn học Việt Nam đương đại
Trang 35CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN
TRONG TRUYỆN CỦA DẠ NGÂN
2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện của Dạ Ngân
2.1.1 Khái niệm nhân vật
Nhân vật văn học là phương thức nghệ thuật nhằm khai thác những nét
thuộc đặc tính con người Tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, một trường phái hoặc dòng phong cách Tô Hoài trong ý thức sáng tác đã nhấn mạnh “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” (“Tô Hoài Nghệ thuật và phương pháp viết văn” - NXB Văn học – 1997, tr.62 ) Về nhân vật,
Từ điển văn học (bộ mới) định nghĩa: Nhân vật Văn học - “Thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người , một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống con người [14 - tr.1254] Theo giáo trình
Lí luận văn học - Phương Lựu (Chủ biên): “Nhân vật văn học là con người được miêu tả thể hiện trong các tác phẩm bằng phương pháp văn học” [23 – tr.277] Nhà văn miêu tả nhân vật hướng tới xây dựng hình tượng để phản ánh hiện thực, cắt nghĩa đời sống Bởi vậy phản ánh hiện thực là chức năng quan trọng của nhân vật văn học Trong tác phẩm văn học, nhân vật có thể có tên hoặc không có tên Nhân vật văn học có thể là những con người được miêu tả đầy đặn về ngoại hình và nội tâm, có tính cách, tiểu sử thường thấy trong tự
Trang 36sự, kịch, cũng có thể là những người thiếu hẳn những nét đó nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người
cụ thể mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm như nhân dân là nhân vật
chính trong tiểu thuyết Chiến tranh và Hoà bình của L.Tônxtoi Nhân vật văn
học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Bởi vậy nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật mang tính ước lệ, không bị đồng nhất với con người thật ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học khác các nhân vật trong hội hoạ điêu khắc ở chỗ nó bộc lộ mình trong “hành động” và “quá trình” Nhân vật văn học luôn hứa hẹn những điều sẽ xảy ra và những điều chưa biết trong quá trình giao tiếp Nhân vật văn học mang tính chất “hồi cố” bởi vì mỗi bước phát triển đều làm nhớ lại công thức nhận biết ban đầu, làm cho nó sâu thêm hoặc điều chỉnh cho nó xác đáng nhưng không bao giờ bỏ quên hoặc rời xa chuẩn ban đầu Là một hiện tượng thẩm mĩ, mỗi nhân vật trong tác phẩm văn học bao giờ cũng được miêu tả như một loại hình nhân cách, một mô hình cá nhân nhờ vậy mà người đọc luôn có thể cảm nhận nhân vật văn học như một cấu trúc chỉnh thể Mô hình cá nhân được miêu tả như một chỉnh thể còn được gọi là vai văn học Nhân vật trong tác phẩm văn học luôn đảm nhận vai văn học cụ thể xác định, vai văn học đó có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện
tư tưởng tác phẩm Văn học phản ánh hiện thực thông qua việc xây dựng nên các nhân vật - các tính cách xã hội, bởi tính cách xã hội là kết tinh các quan
hệ đời sống Tính cách là cơ sở của hình tượng nhân vật, tính cách giúp người đọc cảm nhận nhân vật như một chỉnh thể thống nhất, toàn vẹn, sinh động Như vậy nhân vật có một đặc trưng rất quan trọng, đó là phương tiện khái quát các tính cách số phận con người và quan niệm về chúng Tính cách trong
Trang 37nghĩa rộng nhất là sự thể hiện các phẩm chất xã hội, lịch sử của con người qua các đặc điểm cá nhân gắn liền với các phẩm chất thuộc bản thể con người Tính cách có một hạt nhân là sự thống nhất của cá tính và cái chung xã hội lịch sử Tính cách còn được biểu hiện như là đặc điểm của nhân vật, khuynh hướng xã hội và quy luật hành động của nhân vật Tính cách vừa là sự thống nhất hữu cơ giữa phương diện tâm sinh lý với phương diện tư tưởng, tình cảm
xã hội, vừa là sự thống nhất biện chứng giữa cá tính và cái chung xã hội lịch
sử Tính cách trở thành hiện tượng thẩm mĩ khi nó miêu tả được những con người cụ thể, sống động Những nhân vật khái quát nổi bật những tính cách
có ý nghĩa phổ biến sâu xa sẽ là những nhân vật điển hình Mỗi tính cách là kết tinh của một môi trường nên nhân vật còn có một đặc điểm quan trọng nữa là nhân vật như cầu nối dẫn dắt ta vào thế giới nghệ thuật và cuộc sống thực tại
2.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện của Dạ Ngân
2.1.2.1 Nghệ thuật khắc họa ngoại hình chân dung nhân vật
Mặc dù không thường xuyên chú trọng đến ngoại hình của nhân vật, nhưng khi cần khắc họa ngoại hình, ngòi bút của Dạ Ngân lại có khả năng của một “thợ vẽ truyền thần” (đây chính là tên một truyện ngắn của chị) Có khi chỉ qua vài nét phác thảo bên ngoài mà nhà văn lột tả được cả con người sâu kín bên trong Người xưa nói: “nhìn mặt mà bắt hình dong” điều đó quả đúng với nhiều nhân vật của Dạ Ngân
Qua nhân vật văn học, nhà văn bao giờ cũng nhằm khái quát một nội dung đời sống xã hội và một quan niệm tư tưởng sâu sắc, một cảm hứng tha thiết về cuộc đời Vì vậy, sự thể hiện của nhân vật phải được xem xét trong sự
Trang 38phù hợp với nội dung tính cách nhân vật, đồng thời phù hợp với kiểu loại nhân vật
Tuy nhiên, “không nên hiểu sự phù hợp giữa nội dung và sự thể hiện nhân vật theo lối một chiều Nhân vật phản diện thì cái gì cũng xấu Nhân vật chính diện thì cái gì cũng đẹp đẽ cao cả Thực tế văn học hết sức đa dạng Nhà viết kịch Trung Quốc, Lí Ngư đời Thanh (trong Nhân tình ngẫu kí) có nói, miêu tả nhân vật phải chú ý đến cái nghịch lý của tình người Tả cô gái giàu phải biết qua trang phục hết sức đơn sơ mà làm tôn vẻ sang trọng Tả cô gái nghèo phải biết qua sự trưng diện khoe khoang làm lộ sự nghèo nàn Có như vậy, sự thể hiện mới không đơn điệu” [83, 84]
Ngòi bút khắc họa ngoại hình nhân vật của Dạ Ngân đã tỏ ra không hề đơn điệu khi chị vẽ chân dung những con người - “sản phẩm” của thời bao
cấp: từ chú Ba Chủ tịch tỉnh, cho đến mụ bưu vụ hay cô nhân viên bán vé bến
xe, rồi gã nhân viên nhà tàu, Mỗi người một vẻ đặc sắc và ấn tượng khó quên Đối lập với cái chức Chủ tịch tỉnh mà chỉ nhắc tên, ai cũng phải nể vì, chú Ba “quần đùi áo thun lá tự nhiên như trên bộ sa lon nệm dày” tiếp khách
Mà khách đàn bà - hai mẹ con một nhà văn nữ có tiếng hẳn hoi Nhất là
“khoảnh khắc Kodak” “chú Ba vãnh tay xe mớ lông chân trên đùi ” mà nhà văn đã vừa nhanh mắt chợp được chứng tỏ dù đã ngồi ở vị trí cao nhất nhì trên tỉnh thì chú Ba vẫn còn “trung thành” tận độ với “gốc gác nông dân” cố hữu của mình Điều đó đã như một lời gợi ý vì sao vấn đề nhà ở với chú lại được giải quyết nhanh như thế “Chủ tịch cúi người trên bàn uống nước, ngoáy mấy chữ vào góc đơn – Sáng mời cô vô Ủy ban gặp tay phó của tui nó giải quyết cụ thể hơn.” [9, 266] Nó nhẹ nhàng biết bao so với những buổi tối dài dằng dặc mà hai mẹ con Tiệp đã chầu chực ngoài cổng, những mong gặp được chú Ba Nó đơn giản đến nỗi Tiệp phải nghĩ rằng “Một căn hộ, thật ra
Trang 39một căn hộ cũng không khác gì một mớ rau khi người ta muốn ban bố cho ai đó” [9, 266] Sau này khi đi thị sát xây dựng, chú Ba còn ngạc nhiên như không tin vào mắt mình vì “nhà văn mà phải bán đá cục sao ?” [9, 268] Không tốn nhiều giấy mực, chỉ qua vài nét phác thảo, nhà văn đã thành công khi tái hiện, lột tả được chân dung của những kẻ đang cầm trịch trên cao, nhưng có tầm nhìn thiển cận và lối giải quyết công việc giản đơn, xuề xòa của
Với những con báo lão luyện như Hai Khâm chắc chắn sẽ có những thủ
hạ sẵn sàng “bán linh hồn cho quỷ dữ” Thực tế, Dạ Ngân đã khắc họa chân dung của Tuyên trong ý tưởng “anh là con ngựa đã bị bịt mắt bởi đường trường hoạn lộ” “ Tiệp thường nhắm mắt để xem xem mình nhớ chồng ở hình ảnh nào, thì ra hình ảnh đầu tiên chính là lúc Tuyên quần đùi và lưng
Trang 40trần ngồi xổm trên chiếc ghế đay bên bàn ở phòng khách, bộ ngồi ưa thích của anh cả khi bên bàn ăn trong gian bếp, cái lưng dài dài cúi gằm, bộ ngực ít khi thể dục nên khá lép và cây viết trong tay chật vật với những con chữ mắc vào nhau như hoen còng Hoặc là hình ảnh lúc nầy, trước giờ họp báo, cái nắm của bàn tay trái ấm áp bên thái dương, tấm lưng là thành một chiếc lưỡi liềm với mặt bàn, cùi chỏ tay phải thô rám như đầu nhọn chiếc bánh mì thò ra, và tận tụy, hết sức đáng thương”[9, 64] Nếu chọn một chân dung mà nhà văn đã
có nhiều dụng công thì hẳn là bức chân dung này Nhà văn Tiệp đã vẽ nó bằng nung nấu của tám năm làm vợ của một anh chồng luôn để vợ phải gồng gánh một mình bao nỗi trần ai bởi còn bận phấn đấu cho cái phác đồ định sẵn:
“phó tổ thì cố lên làm trưởng - phó phòng rồi thì trưởng - vợ chồng sẽ lần lượt
đi học ở Học viện Chính trị Quốc gia và rồi sẽ làm Phó giám đốc (hay phó Ban) và lên nữa, lên mãi” [9, 36] Bạn đọc còn nhớ với chân dung nhân vật
Hộ xuất hiện ngay mở đầu truyện ngắn Đời thừa, nhà văn lớn Nam Cao đã
góp vào kho tàng con người Việt Nam (trong văn học) hình ảnh một trí thức say mê nghề nghiệp, hết lòng vì văn chương “Hắn đang đọc chăm chú quá Đôi lông mày rậm của hắn châu đầu lại với nhau và hơi xếch lên một chút Đôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra Cái trán rộng hơi nhăn Đôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên hai cái hố sâu của má thì bóng nhẫy Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bóng lên như vậy Cái mặt hốc hác, nghiêng ngiêng bên trên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn” Chân dung của sự say mê ấy khiến độc giả phải nể sợ Còn chân dung của Tuyên, cũng có một niềm say mê, nhưng niềm say mê làm đẹp lòng cấp trên ấy đã biến anh thành nô lệ của công việc, một thứ nô lệ “sẵn sàng hi sinh cả những mối quạn hệ nhân nghĩa riêng
tư cho sự nghiệp” [9, 59] Có thể nói, với Tuyên nhà văn chỉ chú ý đặc tả tư thế, dáng vẻ của nhân vật khi làm việc mà giúp người đọc có thể hình dung khá đầy đủ về một con người, thậm chí là mẫu người thời hiện đại