1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn nguyễn tuân

136 1,6K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 878 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, chúng tôi muốn qua việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân để xác lập một cái nhìn có tính hệ thống các phương thức trần thuật của nhà văn nhằm khám phá

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VÀ VỊ TRÍ

NGUYỄN TUÂN TRONG VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT

NAM TRƯỚC CÁCH MẠNG THANMGSTÁM 1945 1.1 Vị trí của Nguyễn Tuân trong văn học lãng mạn Việt Nam

1.2 Vai trò của trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân 27

1.2.2 Vai trò của trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân 30

Chương 2 ĐIỂM NHÌN VÀ NHỊP ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN

2.1.1 Điểm nhìn trần thuật chủ quan (trần thuật tham dự) 40

2.1.2 Điểm nhìn trần thuật khách quan (trần thuật không tham dự) 482.1.3 Sự luân phiên, chuyển dịch các điểm nhìn trần thuật 55

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN

3.1.2 Giọng điệu khách quan lạnh lùng 84

3.1.3 Giọng điệu ngợi ca, luyến tiếc vẻ đẹp Vang bóng một thời 88

Trang 3

3.2.3 Đặc điểm lời văn trần thuật 113

trong sáng tác cũng như nghiên cứu văn học, vấn đề cách kể như thế nào được đặc biệt quan tâm hơn là kể cái gì Hướng tìm hiểu này thúc đẩy cách sáng tạo, cách tiếp nhận

về gần hơn với đặc trưng thẩm mĩ của sáng tạo văn học Đó chính là lí do khiến chúng tôi chọn nghiên cứu nghệ thuật trần thuật của nhà văn Bởi tìm hiểu nghệ thuật trần thuật chính là đi sâu khám phá những đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của mỗi nhà văn, trên cơ sở đó, giải mã cấu trúc bên trong của tác phẩm, đồng thời có cơ sở để tìm

Trang 4

hiểu, đánh giá những sáng tạo, những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển truyện ngắn nói riêng và quá trình hiện đại hoá văn xuôi Việt Nam nói chung

1.2 Nguyễn Tuân là một tác gia lớn trong văn học Việt Nam hiện đại Tên tuổi

và sự nghiệp của ông đã được khẳng định từ các tập tuỳ bút và nhất là tập truyện ngắn

Vang bóng một thời trước Cách mạng tháng Tám Đọc truyện ngắn Nguyễn Tuân,

chúng tôi nhận thấy nghệ thuật trần thuật là một trong những phương diện cơ bản tạo nên giá trị thẩm mĩ đặc sắc cho văn phong của ông Từ trước Cách mạng tháng Tám

1945 cho đến nay, sáng tác của Nguyễn Tuân, nhất là truyện ngắn đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học Tuy nhiên, hướng nghiên cứu nghệ

thuật trần thuật của nhà văn từ góc độ Tự sự học vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Vì vậy, chúng tôi muốn qua việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân để xác lập một cái nhìn có tính hệ thống các phương thức trần thuật của nhà văn nhằm khám phá những đặc sắc trong sáng tạo nghệ thuật truyện ngắn của nhà văn này

1.3 Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, Nguyễn Tuân là một tác gia quan trọng, số tiết và số tác phẩm được dạy học khá nhiều Bản thân là một giáo viên trực tiếp dạy học Ngữ văn, việc tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Tuân là một hướng nghiên cứu mới, giúp chúng tôi có thêm cơ sở lí luận để giải mã sâu hơn giá trị tác phẩm của Nguyễn Tuân và các tác phẩm tự sự nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Tuân khẳng định sự độc đáo của mình trong đời sống văn học Việt nam hiện đại bằng thể loại truyện ngắn và tuỳ bút Ông là nhà văn có nội lực sáng tạo dồi dào và luôn gây được sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình văn học Tính đến nay đã

có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn ở nhiều phương diện khác nhau Qua thu thập tài liệu, chúng tôi nhận thấy một số hướng nghiên cứu như: nhận xét về con người

và tác phẩm Nguyễn Tuân; bàn về khuynh hướng truyện ngắn; quan niệm sáng tác; phong cách nghệ thuật; những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong một số truyện ngắn và tuỳ bút… Cùng với sự phát triển của ngành Tự sự học, những nét đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật văn xuôi Nguyễn Tuân ngày càng được phát hiện, nghiên cứu sâu hơn

Trang 5

Trần thuật là một khái niệm có nội hàm rộng Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ xin đề cập đến những ý kiến bàn về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám như: cách lựa chọn điểm nhìn trần thuật, nhịp điệu trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật Chúng tôi cho rằng, đây là những phương diện nghệ thuật cơ bản góp phần làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Tuân

2.1 Một số ý kiến về cách tổ chức điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân

Trong nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Tuân, chưa thấy nhiều công trình đi sâu vào các phương diện cụ thể của nghệ thuật trần thuật Tuy chưa gọi đúng khái niệm điểm nhìn trần thuật nhưng một số ý kiến cũng đã đề cập đến phương diện này, dù ở

những mức độ khác nhau Từ 1940, trên báo Ngày nay (số 212), Thạch Lam đã nhận ra

một Nguyễn Tuân “yêu mến và than tiếc những cái đã qua, và cố sức làm sống lại cả một thời xưa cũ” “Những nhân vật được trình bày với lời ăn tiếng nói riêng, với những suy xét theo hồi ấy” Hoặc, ông “khéo phác họa được cái “không khí” của những ngày

đi mất ấy” Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại, đã nhận xét về tài năng trần

thuật của Nguyễn Tuân: “Những bài bút kí, những truyện ngắn, truyện dài của ông

đăng từ 1938 trong Tiểu thuyết thứ bảy, Tao đàn, Hà Nội tân văn và Trung Bắc chủ

nhật đã làm cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông và

những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc, lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một phác hoạ, nhưng bao giờ nó

cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn” Ông phát hiện, đọc Vang bóng

một thời, “người ta có cảm tưởng gần giống như những cảm tưởng trong khi ngắm một

bức hoạ cổ” “Cái hay cái dở của tập tranh này của Nguyễn Tuân ở cả như sự dàn xếp,

ở cả như những nét, những màu, rồi sau mới đến cái thú vị của những cảnh, những vật,

tuỳ theo sự xét đoán và sở thích của từng người” Trương Chính (trong Tuyển tập

Trương Chính, tập 2, 1997) cho rằng, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân đã “tìm

được sự tài hoa trong thời quá khứ Và những chuyện cũ, người cũ đó, ông kể lại bằng một giọng thán phục và luyến tiếc như là những cái gì cố hữu của người Việt Nam ta” Ông nhìn, kể cuộc đời “qua màn sương tâm tình của ông”, một lối kể “trầm tĩnh”

Trang 6

nhưng lôi cuốn người ta “một cách dịu dàng, êm ái” “Chưa ai viết về quá khứ mà dựng lại được cái không khí thời xưa như Nguyễn Tuân Ông kể chuyện các cụ thưởng trà, đánh cờ, ngâm thơ thành thạo như người trong cuộc sống thời ấy Từ khung cảnh cho đến nhân vật, cách ăn nói, dáng điệu, thần thái nhất nhất, ông đều khôi phục y nguyên”

Đi sâu hơn vào nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn Nguyễn Tuân là Phan Cự Đệ

trong chuyên luận: Truyện ngắn Việt Nam hiện đại - Lịch sử phát triển của các khuynh

hướng và loại hình truyện ngắn Ông cho rằng: “Nguyễn Tuân vẫn giữ cho mình lối kể

chuyện gần với truyền thống dân tộc, một cách hành văn hoàn toàn Việt Nam Cơ bản vẫn là lối kể chuyện theo tuyến tính thời gian, dường như ít thay đổi điểm nhìn trần thuật và rất hiếm trường hợp kể chuyện từ ngôi thứ nhất” Theo ông, “Điểm thu hút nhất của truyện ngắn Nguyễn Tuân là nghệ thuật xây dựng nhân vật” và sự linh hoạt

trong cách kể chuyện, xây dựng cốt truyện Mai Quốc Liên (trong cuốn Phê bình và

tranh luận văn học, Nxb Văn học, 1998) đã chỉ ra cách nhìn, điểm nhìn trần thuật chủ

quan của Nguyễn Tuân “thấm đẫm chất trữ tình, chất thơ của một người nhập cuộc” Mặc dù chưa tập trung vào cách tổ chức điểm nhìn trần thuật, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Tuân là muốn làm sống dậy vẻ đẹp “vang bóng một thời” với một cách kể chuyện xuất phát từ điểm nhìn trần thuật chủ quan, trầm tĩnh, với một tình cảm thán phục, luyến tiếc những vẻ đẹp xưa, lúc khách quan, lạnh lùng, tràn đầy căm phẫn cuộc đời đen bạc và lũ ô trọc

2.2 Một số ý kiến, nhận xét về giọng điệu trần thuật của văn Nguyễn Tuân

Đây là phương diện được nhiều nhà nghiên cứu đề cập với những góc độ khác nhau Vũ Ngọc Phan thấy Nguyễn Tuân “hay dùng lối phiếm luận, cái giọng khinh bạc bất cứ về việc gì” “Là người có tính hào hoa và giọng điệu khinh bạc đệ nhất trong văn giới Việt Nam hiện đại” Trương Chính vừa khẳng định “giọng điệu khinh bạc, cao ngạo” trong văn Nguyễn Tuân vừa lí giải căn nguyên của nó “Xét cho cùng, giọng khinh bạc của ông là do ông phủ nhận thực tại xấu xa của xã hội, do lòng hoài nghi đạo đức giả, dối người đời, do lòng tự cao tự phụ của mình xen lẫn cả lòng hoài nghi của chính bản thân mình nữa”…Nguyễn Đăng Mạnh khi theo dõi quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân cũng nhận thấy “giọng khinh bạc gai góc Nguyễn ném vào bọn người có đầu óc nô lệ, bọn hãnh tiến, vào cuộc đời nô lệ” “Ở một số truyện, Nguyễn Tuân châm

Trang 7

biếm, có lúc kín đáo nhẹ nhàng nhưng cũng có lúc quyết liệt, táo bạo bọn thống trị đế quốc và phong kiến tay sai”

Trong những truyện ngắn viết trước cách mạng, các nhà nghiên cứu còn phát hiện Nguyễn Tuân “gợi lên trong lòng người đọc một nỗi ngậm ngùi, luyến tiếc về một thời vàng son đã qua, hướng người ta quay về quá khứ” (Tôn Thảo Miên) Thạch Lam,

Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Phan Cự Đệ… đều khẳng định thái độ trân trọng, tình yêu của Nguyễn Tuân dành cho vẻ đẹp vang bóng một thời của quá khứ dân tộc Văn

Tâm trong một bài viết in trong Nguyễn Tuân - người đi tìm cái đẹp, Nxb Văn học,

1997, nhận định: “Khi Nguyễn Tuân tái hiện hiện thực trước mắt, cái tôi - Nguyễn Tuân thường chiếm vị trí tiền cảnh cùng thái độ khinh miệt; ngược lại, khi hướng về đời sống văn hoá dân tộc cái tôi ấy của tác giả lùi xa hẳn về hậu cảnh”[…] và “được

người viết tái tạo bởi một thái độ đặc biệt trân trọng” Đỗ Đức Hiểu phát hiện ở Vang

bóng một thời như “một bài thơ với những nhịp mạnh xen lẫn những nhịp nhẹ, với

những trùng điệp day dứt, những rung động mãnh liệt hay nhẹ nhàng, toả lan thành

những đợt sóng dữ và những làn sương mờ” (Chất thơ trong Vang bóng một thời, in trong Nguyễn Tuân về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007).

Tóm lại, nhận xét về giọng điệu văn Nguyễn Tuân, mỗi người một cách nói song các nhà nghiên cứu đều gặp nhau ở sự phát hiện ra giọng điệu cốt lõi và nổi bật của văn Nguyễn Tuân: chất khinh bạc lạnh lùng, cao ngạo cùng một tình cảm tha thiết, trân trọng vẻ đẹp xưa

2.3 Một số ý kiến về ngôn ngữ trần thuật của truyện ngắn Nguyễn Tuân

Ngôn ngữ, cách tổ chức lời văn nghệ thuật trong tác phẩm Nguyễn Tuân là một phương diện được bàn luận khá sôi nổi Nguyễn Tuân từng nói rằng: “nghề văn là nghề chữ, cái nghề dùng chữ mà sinh sự” Chữ trong văn ông giàu có lạ lùng Mỗi trang văn

của ông là những “trang hoa”, “Tờ hoa” Văn ông tổng hợp nhiều thứ kiến thức: lịch

sử, địa lí, hội hoạ, điển ảnh, văn chương…Ông nhìn sự vật từ phương diện thẩm mĩ, văn hóa, vốn từ giàu có, do đó ông luôn tìm thấy những mới mẻ bất ngờ ở sự vật và có

đủ vốn liếng để diễn tả Ngay từ những ngày xuất hiện tập Vang bóng một thời, Vũ

Ngọc Phan đã ngợi ca: “Tác phẩm đầu tay của ông là một văn phẩm gần tới sự toàn

mĩ” (Nhà văn hiện đại) Trương Chính: “trong sáng lạ lùng” Nguyễn Đăng Mạnh cho

Trang 8

rằng văn Nguyễn Tuân được viết với “nghệ thuật văn xuôi điêu luyện”, “kho từ vựng phong phú, giàu có, có ý thức sáng tạo từ mới và cách dùng từ mới” Mai Quốc Liên, Hoài Anh cho Nguyễn Tuân là “bậc thầy nghệ thuật ngôn từ”, “nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa” Văn Tâm cũng phát hiện “ngôn ngữ Nguyễn Tuân đầy chất tạo hình và điển ảnh”, là người có “vốn từ cổ phong phú tạo hiệu quả lợi hại trong tái hiện

cụ thể lịch sử quá khứ”

Ở phương diện ngôn ngữ xây dựng hình tượng nghệ thuật, Đoàn Trọng Huy thấy ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Tuân có khả năng xây dựng hình tượng không gian nghệ thuật đa dạng: không gian kí vãng, không gian kinh dị, không gian văn hoá…

(Hình tượng không gian đa dạng trong văn xuôi nghệ thuật Nguyễn Tuân, Tạp chí

Nghiên cứu văn học, 6/2007) Từ góc độ hệ thống ngôn từ, tác giả Đinh Trí Dũng phát

hiện Nguyễn Tuân có “biệt tài trong sử dụng từ láy”, các “động từ diễn tả tâm trạng sợ hãi của con người trước cái huyền bí” để tạo nên “cái riêng không thể trộn lẫn của

Nguyễn Tuân trong việc tạo ra những hình tượng kì ảo kiểu Liêu Trai” trong Yêu

ngôn” (Màu sắc Liêu Trai trong các tác phẩm Yêu ngôn của Nguyễn Tuân (nhìn từ góc

độ ngôn từ), Sông Lam, 94/2009)

Phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân là một phương diện được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm (Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Ngọc, Đỗ Ngọc Thống, Hà Văn Đức…) Họ

đã chỉ ra nhiều đặc điểm cụ thể của văn phong Nguyễn Tuân Đó là một thứ văn chương chăm chú khám phá ở phương diện “kĩ thuật” Theo Phan Ngọc: “Nguyễn là người đầu tiên nêu lên cái đẹp ở khía cạnh kĩ thuật Tiếng nói mới của anh mà hầu như không ai để ý, đó là anh nhìn cái đẹp ở khía cạnh kĩ thuật…” “Trước Nguyễn, văn học

là cuộc đời những con người, những tình huống éo le của thân phận Với anh, văn học

là để giáo dục những kiến thức về văn hoá và cách nhìn kĩ thuật để tự mình tạo ra cái đẹp… biến ngôn ngữ kĩ thuật thành ngôn ngữ nghệ thuật và vẽ lên một bức tranh kì ảo,

mông lung, trong đó từng chi tiết đều chính xác lại có kết thúc tung bay được”(Quá

trình chuyển biến của một phong cách, trong sách Thử xét văn hoá văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb TN, 2000) Hà Văn Đức lại thấy “văn xuôi Nguyễn Tuân giàu hình

tượng, giàu nhạc điệu và đầy chất thơ”, màu sắc huyền thoại, với những mô típ nghệ thuật đầy ấn tượng (mô típ “buổi chiều máu”, mô típ “sương mờ”, mô típ “Liêu Trai”

Trang 9

(Chất thơ trong Vang bóng một thời) Đỗ Ngọc Thống trong bài viết Nguyễn Tuân và

phép lạ hoá trong văn (TBKH ĐHQG Hà Nội, 1/1993) phát hiện Nguyễn Tuân dùng

rất nhiều thủ pháp lạ hoá trong văn như động từ hoá danh tính từ; đảo trật tự từ; sử dụng tối đa từ gần nghĩa, đồng nghĩa, dùng từ đặc biệt; cách so sánh liên tục, tới tấp, gây ấn tượng mạnh…

Về đặc điểm câu văn Nguyễn Tuân, Thạch Lam sớm phát hiện ra cái cách “hành văn cầu kì, kiểu cách” Trương Chính cũng nhận xét: “Đây đó có những câu văn hơi cầu kì, văn hoa một chút nhưng lại rất hợp với đề tài Không có nó, tác phẩm mất đi một phần giá trị” Vũ Ngọc Phan cũng cùng quan điểm này, “Người ta hay nói đến những cái lôi thôi, những cái dài dòng trong văn của Nguyễn Tuân, nhưng người ta quên không nhớ rằng M.Prút, Tuốc-ghê-nhép còn dài dòng hơn nhiều, mà đó chỉ là

những sự diễn tả thành thực của tâm hồn” (Nhà văn hiện đại) Mai Quốc Liên thấy câu

văn xuôi Nguyễn Tuân “nó trùng điệp, phức điệu, phức cú để diễn tả cho được những quan hệ phức tạp” nhưng “bao giờ cũng trong sáng, đúng, ở đó ông chú ý đến giọng điệu, cách sắp xếp từ ngữ để làm nổi bật các mối quan hệ trong sự vật và trong cảm

giác của chính ông” (Phê bình và tranh luận văn học, NxbVăn học, H.,1998) Nguyễn Đăng Mạnh trong: Nguyễn Tuân, một phong cách độc đáo và tài hoa cũng viết: “Câu

văn Nguyễn Tuân cũng có nhiều kiểu kiến trúc đa dạng Ông là nghệ sĩ ngôn từ biết chú trọng tới âm điệu, nhịp điệu của câu văn xuôi… Câu văn có khớp xương biết co

duỗi nhịp nhàng” Còn Hà Bình Trị trong Thầy chữ Nguyễn Tuân cũng nhận thấy câu

văn Nguyễn Tuân “nhịp điệu đĩnh đạc, thong thả, từ tốn, tưởng cầu kì nhưng đó là cách gợi không khí cho truyện, tạo nhịp điệu hài hoà”… Hà Văn Đức cũng khẳng định cái tài hoa, uyên bác, vốn từ vựng phong phú và lối diễn đạt nhiều khi cầu kì, khác lạ

(Nguyễn Tuân một bậc thầy về ngôn ngữ, TCKH ĐHTH Hà Nội, số 4.1991).

Nhìn chung, các ý kiến trên đã đi vào khám phá những đặc sắc của đề tài, ở khả năng xây dựng hình tượng nghệ thuật, ở sự sáng tạo ngôn từ và đặc điểm câu văn… của Nguyễn Tuân Lịch sử vấn đề cho thấy, những nhận định đánh giá ở trên về nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Tuân nghiêng về nhận xét có tính khái quát những đặc sắc

về nội dung (kể cái gì) hơn là nghệ thuật kể (kể như thế nào) Một số phương diện quan trọng trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Tuân như: cách tổ chức điểm nhìn trần

Trang 10

thuật, nhịp điệu, giọng điệu trần thuật còn sơ lược và chưa được quan niệm rõ ràng Riêng phương diện nhịp điệu trần thuật, giọng điệu trần thuật, những yếu tố quan trọng cấu tạo nên hình thức nghệ thuật của tác phẩm Nguyễn Tuân còn ít được đề cập Trên thực tế số công trình chuyên sâu qui mô lấy nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân làm đối tượng chính để nghiên cứu một cách hệ thống và có ý nghĩa thao tác còn khá khiêm tốn Mặc dù vậy, những ý kiến, nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu trên là rất ý nghĩa: gợi mở và định hướng cho chúng tôi thực hiện đề tài này

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp phân loại - thống kê

Chúng tôi tiến hành khảo sát hầu hết các tập truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Tuân sáng tác trước 1945, tìm hiểu, phân loại và thống kê các phương thức trần thuật, nhịp điệu trần thuật, giọng điệu trần thuật cơ bản, các thủ pháp trần thuật, đặc điểm hành văn, các kiểu câu, hệ thống các từ loại ưa dùng của nhà văn…để có cơ sở đánh giá nghệ thuật trần thuật của nhà văn

3.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Nghệ thuật trần thuật thuộc phương diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học, nó bao gồm nhiều vấn đề Chúng tôi tiến hành phân tích từng phương diện của trần thuật, từ đó, khái quát chung về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân

3.3 Phương pháp cấu trúc - hệ thống

Nghệ thuật trần thuật nằm trong cấu trúc văn bản nghệ thuật tự sự, nên chúng tôi khảo sát các dạng thức trần thuật trong một số tác phẩm tiêu biểu để có cái nhìn bao quát và hệ thống cấu trúc tự sự cơ bản, góp phần làm nên cách trần thuật của nhà văn

3.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xem xét những nét đặc sắc của nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân với một số cây bút truyện ngắn trước 1945

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

4.1 Đối tượng nghiên cứu: nghệ thuật trần thuật của nhà văn Nguyễn Tuân, bao

gồm một số phương diện: điểm nhìn, nhịp điệu, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Truyện ngắn Nguyễn Tuân sáng tác trước Cách mạng

tháng Tám 1945, tập trung khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu

5 Nhiệm vụ đề tài

5.1 Đề tài tập trung khảo sát nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Tuân theo hướng tự sự học trên các phương diện: điểm nhìn, nhịp điệu, các thủ pháp trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật Hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần tiếp nối khẳng định tài năng Nguyễn Tuân trong nghệ thuật truyện ngắn Qua đề tài, chúng tôi đề xuất một hướng tiếp cận nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm tự sự có giá trị thao tác, mặc dù vấn đề còn phải bàn thêm và đây chỉ là những thử nghiệm

5.2 Khảo sát sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân, nhất là sáng tác giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945, chúng tôi hướng tới một cái nhìn khái quát về tác phẩm của ông để xác định vị trí, sự độc đáo, đóng góp về thể loại truyện ngắn của nhà văn trong quá trình phát triển nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Mặt khác, nghiên cứu văn xuôi Nguyễn Tuân dưới góc nhìn Tự sự học để thấy được vai trò quan trọng của trần thuật trong phương thức tự sự, trong sáng tạo tác phẩm của nhà văn

5.3 Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Tuân trước 1945, chúng tôi nhằm nhận diện những nét đặc sắc của nghệ thuật trần thuật của nhà văn như: cách tổ chức điểm nhìn, nhịp điệu trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật Qua những phương diện cơ bản trên đây, chúng tôi có thêm cơ sở để khẳng định phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về sự nghiệp sáng tác và vị trí của Nguyễn Tuân trong văn

học lãng mạn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945

Chương 2: Điểm nhìn và nhịp điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân Chương 3: Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

VÀ VỊ TRÍ CỦA NGUYỄN TUÂN TRONG VĂN HỌC LÃNG MẠN

VIỆT NAM TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 1.1 Vị trí của Nguyễn Tuân trong văn học lãng mạn Việt Nam trước 1945

1.1.1 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, con người và văn chương Nguyễn Tuân luôn là một đề tài gây được sự chú ý và hấp dẫn đối với người đọc nói chung và các nhà văn, các nhà nghiên cứu nói riêng Là một người tài hoa, uyên bác, giàu cá tính, Nguyễn Tuân hoạt động trên nhiều lĩnh vực: viết văn, làm báo, diễn kịch…ở lĩnh vực nào ông cũng say sưa, thể hiện hết cái “tôi” của mình

Sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Tuân được chia làm hai giai đoạn chính: trước và sau Cách mạng tháng tháng Tám “Tác phẩm của Nguyễn Tuân trước

Trang 13

Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh các đề tài: “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp

“Vang bóng một thời”, đời sống trụy lạc và “Yêu ngôn”[71,166].

Bước vào nghề văn, Nguyễn Tuân đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực trào phúng lên án bọn thống trị đế quốc, tay sai và đã để lại ít nhiều dấu ấn Từ 1938 -1940 trở đi, ông mới định hình được sở

trường của mình và thành công xuất sắc với hàng loạt truyện ngắn và tuỳ bút: Một

chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941)…

Vườn xuân lan tạ chủ (truyện ngắn, đăng lần đầu trên Tiểu thuyết thứ bảy, 1935)

đánh dấu sự xuất hiện một Nguyễn Tuân giàu tiềm năng trong lựa chọn đề tài, nghệ thuật dựng cảnh, tạo không khí ở thể loại truyện ngắn và những quan niệm về cái đẹp Lấy cảm hứng từ “chủ nghĩa xê dịch” (một lí thuyết vay mượn của phương tây),

Nguyễn Tuân đã viết một loạt tác phẩm: Một chuyến đi, Cửa Đại, Chiếc va li mới,

Thèm đi, Lại đi nữa, Những ngày Thanh Hoá,…thậm chí ông còn viết cả một cuốn tiểu

thuyết có tính chất tự truyện và giàu chất tuỳ bút là Thiếu quê hương (1940) về đề tài này Một chuyến đi (1938) được xem như khúc dạo đầu của một cây bút tài hoa không

gặp nhiều may mắn Tập du kí tập hợp những bài viết của Nguyễn Tuân trong những ngày ông sống và đóng phim ở Hương Cảng, ghi lại một cách sống động, tài hoa phong cảnh, phong tục và tâm trạng kẻ xa quê khi năm hết tết đến nơi quê người Tác phẩm chất chứa những hoài vọng và thất vọng của một cái “tôi” tài hoa, tài tử bị ám ảnh bởi

cái sự “đi” Ông lấy sự “xê dịch” làm cảm hứng cho sáng tác của mình, lấy cái “tôi” cá

nhân mình làm nhân vật trung tâm để phô bày tất cả những cảm nhận, suy nghĩ của mình về những gì mà ông được gặp trên đường xê dịch Đối với Nguyễn Tuân hồi ấy, sống là đi, đi không mục đích, chỉ cốt thay đổi để tìm cảm giác mới lạ, để thoát li thực tại đau buồn: “cái va li đẹp nhất cuộc đời này vẫn là cái va li chứa toàn bản thảo của những năm tháng đi làm ở phương xa trở về” và “chỉ có cuộc đời rộng rãi, chỉ có con đường đời vô định mới cho người ta biết được những câu đẹp đẽ một cách quái dị như

thế thôi” [75,268-283] Bạch - nhân vật chính của Thiếu quê hương có cái thú đi đây đi

đó, dù “đi để mà đau khổ cả trong lúc đi lẫn lúc nghỉ” Bạch lấy quan niệm xê dịch làm tiêu chuẩn gốc để đánh giá con người Bạch dị ứng với những thói quẩn quanh xó nhà

Trang 14

ở những người bình thường Tâm trạng luôn cảm thấy “Thiếu quê hương” của Bạch xuất phát từ sự chứng kiến cuộc sống tù túng, tăm tối của chế độ thực dân phong kiến,

mà bản thân không lại không có khả năng chống trả Thành ra, “xê dịch” là một cách chống trả, vùng vẫy để thể hiện sự bất mãn, bất lực của Vi Bạch Mặc dù cái tôi “xê dịch” có lúc rơi vào khủng hoảng, song chính trong những lần “đi” ấy, “Nguyễn Tuân

có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết với cảnh sắc và hương vị của đất nước mà ông

đã ghi lại bằng một ngọn bút đầy trìu mến và tài hoa” [71,166] Con người ấy…nhiều khi muốn tỏ thái độ khinh thế ngạo vật, đã cố tình ném ra những điều trái tai, gai mắt,

do đó đã có lúc nói những lời bạc bẽo với quê hương mình, nhưng thực ra thì “vẫn là

một tấm lòng An Nam hoàn toàn” Thiếu quê hương phần nào phác họa chân dung tinh

thần những thanh niên trí thức những năm trước 1945

Trong loạt sáng tác trước Cách mạng, Vang bóng một thời (1940) là tập truyện

ngắn được đánh giá cao nhất về tư tưởng và nghệ thuật Lần đầu tiên, quá khứ xã hội Việt Nam được xem xét và ghi chép từ một cái nhìn hiện đại Ấy là thời phong kiến đã qua nhưng dư âm còn vang vọng lại Nguyễn Tuân không viết về trật tự xã hội, về tư tưởng, đạo đức cũ, mà thiên về mô tả vẻ đẹp riêng của một thời xưa: những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh, tao nhã… Đối tượng mà Nguyễn Tuân quan tâm là những trí thức phong kiến cuối mùa Họ là những ông Cử, ông Nghè, ông

Tú, những hưu quan như cụ Kép, cụ Ấm, cụ Thượng… có nhân cách, tài hoa nhưng bất đắc chí Họ chơi ngông với đời bằng lối sống ẩn mình, bỏ ngoài danh lợi, chỉ biết vui thú, hưởng lạc một cách tao nhã, đài các, cầu kì như: uống trà, nhắm rượu, chơi hoa, chơi chữ, đánh thơ, thả thơ Tất cả cung cách sống của họ đều toát lên sự cầu kì, lịch

lãm, tài hoa, đầy nghi lễ nhịp nhàng và rất đỗi thiêng liêng (Những chiếc ấm đất, Chén

trà sương, Hương cuội, Đánh thơ, Thả thơ, Đèn đêm thu…) Và, Nguyễn Tuân đã nâng

tất cả những vẻ đẹp đó lên hàng “nghệ thuật” Qua những câu chuyện ấy, “Nguyễn Tuân đã khơi lại đống tro tàn dĩ vãng, cái dĩ vãng đầy “những nét rầu rầu, những màu xam xám” đã gợi lên trong lòng người đọc một nỗi ngậm ngùi, luyến tiếc về một “thời vàng son” đã qua, hướng người ta muốn quay về quá khứ” [49,30] Theo Nguyễn Đăng

Mạnh, “Vang bóng một thời cũng như nhiều tuỳ bút của ông, còn thấy những mĩ tục

nói lên cái thái độ sống giản dị mà sâu sắc, thanh đạm mà tinh tế, tài hoa của dân tộc

Trang 15

mình” [49,117] Đó là tài hoa, là tấm lòng tha thiết của Nguyễn Tuân dành cho văn hóa dân tộc.

Có ý kiến cho rằng, do nhu cầu khẳng định cái tôi tài hoa, uyên bác, độc đáo khiến ngòi bút Nguyễn Tuân đôi chỗ hơi cực đoan, chỉ quan tâm đến cái đẹp thuần tuý, mang tính hình thức, xuất hiện trong những tình huống oái oăm Vì thế người đọc có cảm giác vừa thú vị, vừa rờn rợn khi ông miêu tả tuyệt vời cái đẹp nghệ thuật “chém

treo ngành” của Bát Lê (Bữa rượu máu); cái đẹp của nghệ thuật “ném bút chì” của đám cướp tài hoa Cai Xanh, Lí Văn, Phó Kình (Một đám bất đắc chí); hay cái đẹp của

những dòng chữ của một tử tù; cái “thanh âm trong trẻo” trong tâm hồn Quản ngục

(Chữ người tử tù) Tuy nhiên, ẩn sau những gì ông miêu tả không phải không mang

một ý nghĩa xã hội tích cực, một quan niệm sâu sắc về cái đẹp, về lẽ sống

Tóm lại, sự độc đáo về đề tài và quan niệm nghệ thuật, thái độ tha thiết trân trọng vẻ đẹp một thời, cách kể chuyện chậm rãi, trang trọng, tài hoa khi tả cảnh, dựng không khí, miêu tả tâm lí tinh tế, vốn ngôn ngữ giàu có phù hợp với đề tài phản ánh…

đã làm cho tập truyện không chỉ là “Vang bóng một thời” mà còn tiếp tục “vang bóng”

cùng thời gian

Trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân hay viết về đề tài đời sống trụy lạc

Các phóng sự Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941), tùy bút Chiếc lư đồng

mắt cua (1941) đưa người đọc đến với đời sống hiện tại trong không gian của những

nhà chứa, xóm hút, tiệm hút, tiệm rượu Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc phản ánh

tâm trạng, tình cảnh những con người trẻ tuổi hoang mang, bế tắc đã tìm cách thoát li, đắm mình trong khói thuốc phiện, đàn ngọt, phách hay Mặc dù bị chính quyền Pháp kiểm duyệt gắt gao, nhưng hai phóng sự vẫn còn quyến rũ, bởi nó mở vào thế giới Nguyễn Tuân, thế giới của những hoài nghi, coi thường tất cả những giá tri được coi là truyền thống, lật mặt trái của đạo đức núp bóng cửa thiền, để trình bày một không khí cảm bẫy phù dung mà âm dương không khác biệt, tu tục nằm chung, thiện ác lẫn lộn,

tù mù dưới ánh đèn dầu lạc Miêu tả tài tình, giọng điệu khinh bạc, hoài nghi là những nét nổi bật trong hai thiên phóng sự này

Nếu trong phóng sự, Nguyễn Tuân chỉ là người ngoài cuộc, tỉnh táo viết về

người khác, thì với Chiếc lư đồng mắt cua, ông hướng ống kính vào bên trong, chiếu

Trang 16

cả ngoại cảnh lẫn nội tâm của chính mình Trong tuỳ bút này, Nguyễn Tuân đã sử dụng một lối tự thuật đặc biệt, khi phóng bút, khi kể, khi luận, khi bình để ghi lại khá đầy đủ

và chân thực những đam mê sa đoạ của nhân vật xưng tôi, là Nguyễn (cũng là chính mình) sau khi đi tù về Đó là quãng thời gian Nguyễn Tuân khủng hoảng, bế tắc, bất mãn với xã hội nhưng không có lí tưởng nên đành bất lực Hoá thân vào những ông Thông Phu, Bảo, Đào Tâm, những tay chơi khét tiếng hào hoa, lao vào hành lạc để tiêu sầu, lấy cái ồn ào của những cuộc truy hoan để khuấy động một cách giả tạo những ngày tháng trống rỗng của mình Cuối cùng, Nguyễn cảm thấy cô đơn, trống rỗng: “hiu quạnh sống trong người mình và xung quanh mình, cái gì cũng chỉ gợi đến những ý xa vắng, lạnh và cũ và mòn mỏi và ngừng hết… tôi có cái cảm tưởng gở dại là mình đã trở nên một người goá bụa, hoàn toàn goá bụa Goá vợ con, thân thích, anh em bạn, goá nhân loại, goá hết cả” [75,175-267] Vũ Ngọc Phan cho rằng Chiếc lư đồng mắt cua chính là "lời tự thú", là "thiên sám hối của một thanh niên khinh bạc và sa ngã vì

đã sống không lí tưởng"[49,32] (Dẫn theo Nguyễn Tuân tác gia và tác phẩm)

Bên cạnh những hạn chế, người đọc vẫn bắt gặp những trang viết sắc sảo khi Nguyễn Tuân dùng ngòi bút tài hoa, giọng khinh bạc của mình để ném vào bọn trưởng giả hãnh tiến, vào cuộc đời đen bạc Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần, đôi khi người ta vẫn thấy những cá tính tài hoa muốn vươn lên trên cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục, khát khao một thế giới tinh khiết, thanh cao được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật

Khoảng những năm cuối của chế độ thuộc địa Pháp (1943-1945), trong tâm

trạng hoang mang, bế tắc cực độ, Nguyễn Tuân viết một loạt tác phẩm: Tóc chị Hoài (1943), tập Nguyễn (1945) và một loạt truyện có màu sắc hư ảo và kinh dị mà ông gọi

là Yêu ngôn (Xác ngọc lam, Rượu bệnh, Đới - Roi, Lửa nến trong tranh, Loạn âm)

Những sáng tác này cho ta thấy một chân dung tương đối toàn diện về con người

Nguyễn Tuân trong thời kì có nhiều khủng hoảng, bế tắc về tư tưởng Tóc chị Hoài thể

hiện khá đậm nét cái tôi Nguyễn Tuân - người đam mê, khao khát cái đẹp, thích đi tìm cái lạ, cái đẹp, ông ngợi ca cái đẹp lãng mạn của mái tóc một người đàn bà và cho rằng

“cái người nào trong suốt đời người mà không được ngắm một mớ tóc cho tử tế thì cái thẩm mĩ quan của người ấy còn lung lay lắm” [75,331] Quan niệm rất chủ quan này

Trang 17

cho người đọc nhận ra Nguyễn Tuân hồi ấy, “sống hay viết, đối với ông nhiều khi chỉ

là để tìm mình, để thực hiện cái cá nhân mình cho đến kì cùng Thế giới khách quan không đáng kể, giá trị của ngòi bút là ở bản ngã người nghệ sĩ có độc đáo hay không” [49,109] Nguyễn Tuân còn tự hoạ mình như một con người cô độc mà kiêu ngạo: “Rồi tôi vênh váo đi giữa cuộc đời như một viễn khách không có quê hương nhất định, cái gì cũng ngờ hết, duy chỉ có tin chắc ở cái kho cái vốn tình cảm và cảm giác của mình” [75,330]

Yêu ngôn là mảng sáng tác đặc biệt của Nguyễn Tuân Khoảng 1943, Nguyễn

Tuân đã cho đăng trên tờ Thanh Nghị và Trung Bắc Chủ nhật một số truyện ngắn hoang đường viết theo lối Liêu Trai của Bồ Tùng Linh Ông dự định in Yêu ngôn, một

tuyển tập gồm những tác phẩm có tính cách hư ảo, huyền bí nhưng chưa kịp làm thì Cách mạng tháng Tám nổ ra Về sau, năm 1998, Nguyễn Đăng Mạnh dựa trên ý định

Nguyễn Tuân mà biên soạn và cho xuất bản Yêu ngôn gồm: Đới - Roi, Rượu bệnh, Xác

ngọc lam, Lửa nến trong tranh và Loạn âm Nhà biên soạn còn đưa vào tập sách hai

truyện đã in trong Vang bóng một thời là Trên đỉnh non Tản và Khoa thi cuối cùng cùng phần cốt lõi của Chùa Đàn, tựa đề Tâm sự của nước độc viết trước 1945 (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2000) Với Yêu ngôn người đọc có thêm một tác phẩm mới mà

tư tưởng và thi pháp độc đáo đã tạo sự cân bằng với Vang bóng một thời Có thể xem

Yêu ngôn là một cuộc săn tìm cảm giác mới lạ, mãnh liệt Ở đề tài này, đã bộc lộ tất cả

sức mạnh của trí tưởng tượng để diễn tả niềm khao khát cảm giác khác thường, mãnh liệt, điều mà ông không tìm thấy trong cuộc sống thực tại Không hướng đến đề cao những ông nghè, ông cử tài hoa, bất đắc chí, lấy ẩm thực làm vui để chơi ngông với

thiên hạ, Yêu ngôn hướng đến một thế giới nửa thực, nửa hư, nửa người nửa ma Ông

sinh sự với đời bằng một thứ ngôn ngữ tài hoa, phong phú, với những cách diễn đạt cầu

kì khác lạ Ngay cách đặt tên truyện đã gây được những ấn tượng về cái kì lạ, khác

thường: Trên đỉnh non Tản, Khoa thi cuối cùng, Xác ngọc lam, Rượu bệnh, Đới - Roi,

Lửa nến trong tranh, Loạn âm…Nguyễn Tuân đề cập nhiều đến mối liên hệ siêu hình

giữa sống - chết, tình yêu và nghệ thuật, về thân phận cái đẹp, về người nghệ sĩ để đưa

ra quan niệm “Tài, Tử tương đố” Tài tử nào rồi cũng chuốc lấy cái chết, như một sự tiền định

Trang 18

Khoa thi cuối cùng kể về câu chuyện hai anh em ông đầu xứ, nổi tiếng học giỏi

nhất vùng Nam, lều chõng đi thi với bao hoài bão, nhưng âm hồn người đàn bà xoã tóc,

ẵm con hiện lên trong lều giữa trường thi để báo oán, không cho hai ông Đầu Xứ làm bài vì chuyện người cha hai ông xưa kia đã thất đức với nàng: đời cha ăn mặn, đời con

khát nước Đới - Roi viết về cái chết của một nghệ sĩ cùng đường Cậu ấm Đái, con cụ

Bố Nam, quất roi chầu lừng danh một thời trong chốn ăn chơi tài tử Nhưng khi thất

vận, không thể sống nhờ lòng thương hại của một giáo phường, chàng đã tự tử Xác

ngọc lam là cái chết của vị thần nữ gỗ dó thường được gọi là cô Dó, linh hồn của nghệ

thuật làm giấy Cô Dó quê ở thượng ngàn, trót yêu cậu Năm, người họ Chu có nghề làm giấy dó nổi tiếng Nàng theo chồng xuống dưới Kinh châu, ẩn thân trong phiến đá giúp chồng, nàng thổi cho giấy dó một linh hồn Khi chồng chết, nàng giúp con cháu được năm đời, rồi bị lưu lạc vào tay phàm tục Thần Dó chết, di hài nàng và phiến đá

biến thành “Xác ngọc lam” Lửa nến trong tranh viết về sự cháy của ngọn nến thần bí trong một bức hoạ cổ Loạn âm là cuộc hàn huyên giữa hai người bạn cũ: một ông quan

Kinh Trịnh trên trần và một ông Quan Ôn dưới cõi âm được Diêm Vương cử về trần

mộ phu xuống âm phủ

“Yêu ngôn” không được phổ biến rộng rãi như Vang bóng một thời, nhưng sự

độc đáo của chủ đề tư tưởng và thi pháp đặc biệt đã tạo nên một Nguyễn Tuân một mình một cõi, không thể trộn lẫn Sử dụng nhiều chi tiết huyền ảo để tạo nên một thế

giới huyền ảo kiểu Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh nhưng thế giới nghệ thuật của

Nguyễn Tuân vẫn rất riêng: ma chính là người, là trạng thái tẩu hoả nhập ma trong tâm hồn người, người đôi lúc hoá ma mà không biết Thần thánh trong tác phẩm Nguyễn Tuân ăn ở với người như người Ma, thần, tiên cũng là thứ ma tài hoa rất Nguyễn Tuân Điều này khác hẳn với thần thánh Hi Lạp, Trung Quốc Tất cả những điều ấy làm nên

một “Yêu ngôn” biến ảo, có sức hấp dẫn kì lạ Mặc dù viết truyện ma nhưng Nguyễn

Tuân không chỉ để hướng người đọc đến sự sợ hãi “Qua Yêu ngôn, vượt qua lớp sương khói huyền ảo của cái không thực, Nguyễn Tuân vẫn muốn hướng con người đến với cái đẹp, cái thiện”[9,67]

Tập tự truyện Nguyễn (1945) gồm sáu truyện ngắn (Nhà Nguyễn, Đôi tri kỉ

gượng, Chuyến xe tình, Cái cà vát đen, Một người cha về quê ăn tét, Lửa trại), là hình

Trang 19

ảnh cái “tôi” Nguyễn Tuân tài năng, ôm ấp khát vọng khẳng định mình bằng sự nghiệp văn chương và luôn mang một bầu tâm sự bất hoà trước Cách mạng: “Nguyễn đã dùng một quyển sách in để tỏ rõ cá tính mình Cuốn sách đã đánh dấu sự có mặt của chàng ở cuộc sống này - một cuộc sống đầy bất mãn và uất kết của người trong cuộc, phản lại nỗi lèm nhèm, lẹt đẹt, lờ mờ, luộm thuộm và bằng lòng của tất cả xung quanh” [74,400] Nguyễn châm biếm, khinh bạc bọn bất tài, bọn trọc phú, đã giàu lên một cách hỗn láo, bất lương nhưng lại cứ tự xưng là tài hoa, rồi cũng bắt chước mọi người khinh thế ngạo vật, bỉ báng đồng tiền Kiêu ngạo, bất cần nhưng rồi có lúc lại tự mình chán chính mình, cảm thấy trống rỗng, vô nghĩa: “À, cái đời tiềm tàng của riêng mỗi người, Nguyễn chán lắm rồi, không thể chán hơn được thế này nữa Chàng đã mất hết cả tin tưởng trong cái lối sống riêng biệt mà trước kia chàng cho là màu nhiệm kì thú

lắm”[74,436] Nguyễn thắt một cái cà vát đen để tự để tang mình (Cái cà vạt đen)

Chán chường, trống rỗng, vô nghĩa là tâm trạng chàng Nguyễn trong hầu hết tập

Nguyễn Để giải toả bức bối, Nguyễn phải ra đi, bất cần gia đình, vợ con (Nhà

Nguyễn) Tuy nhiên cũng có lúc, Nguyễn sám hối, cảm thấy mình là “một đứa ích kỉ

quá và không xứng đáng tí nào đối với cái độ lượng xung quanh”[74,443] Có lúc Nguyễn muốn đem nửa đời tội lỗi của mình với bao nhiêu năm tháng hoài nghi cũ để

“đánh đổi lấy một đêm đốt lửa thiêng liêng của cái nhân loại Sói con ấm sáng trong trẻo kia”[74,451] Dù băn khoăn day dứt nhưng Nguyễn vẫn không đủ dũng cảm để từ

bỏ lối sống giang hồ, phóng túng

Nhìn lại những sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, đa số các nhà nghiên cứu cho Nguyễn Tuân là một hiện tượng phức tạp về quan điểm tư tưởng và nghệ thuật Nhưng không thể phủ nhận các sáng tác của ông đều thể hiện một phong cách nghệ thuật độc đáo từ đề tài, lối kể chuyện, xây dựng nhân vật, dựng không khí, ngôn ngữ giàu có, tài hoa, uyên bác Theo cách nói của Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Tuân “là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng, cả về lối văn lẫn về tư tưởng” [58,426]

Cách mạng tháng Tám đã giúp lớp nhà văn tiền chiến như Nguyễn Tuân đổi đời, thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống và trong nghệ thuật, nó làm hồi sinh một trái tim vốn sẵn tình yêu quê hương đất nước Một cuộc đời mới, một quan niệm nghệ thuật

Trang 20

mới, một hướng đi mới mở ra với Nguyễn Tuân Từ 1945 đến 1975, ông nhiệt thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước.

Trong niềm vui đổi thay ấy, Nguyễn Tuân viết Vô đề (sau đổi thành Lột

xác,1945) gần như là một tuyên ngôn của ông trước sự đổi thay của đất nước và bản

thân Nếu trước đó, chàng Nguyễn lãng tử, kiêu ngạo, bất cần, chán chường, muốn từ

bỏ tất cả, nay Nguyễn “bằng lòng ở lại giữa cuộc đời này” Nguyễn Tuân bây giờ chỉ còn niềm tin yêu đối với cuộc sống Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng Nguyễn Tuân quan

niệm cuộc “Lột xác” đơn giản, dễ dàng quá Một Nguyễn Tuân phức tạp, nhiều mâu

thuẫn trước cách mạng chắc không dễ gì thay đổi trong chốc lát nhân sinh quan của

mình Dẫu sao, Lột xác cũng đã ghi nhận một bước chuyển về tư tưởng của người trí

thức yêu nước

Chùa Đàn (1945) tiếp tục mạch văn “sám hối”trong những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám Chỉ khác Lột xác, Nguyễn Tuân phải mượn những yếu tố có tính chất hoang đường, thậm chí kinh dị ma quái để diễn tả tư tưởng của mình Chùa Đàn vẫn

tiếp mạch truyện viết về mối liên hệ siêu hình giữa sống, chết của những người tài tử, những người nghệ sĩ trong một không gian huyền hoặc, phi thực mà Nguyễn Tuân đã viết trước Cách mạng Hành trình thác sinh trong nghệ thuật là một hành trình bí mật

chứa chất những u uẩn luân hồi Chùa Đàn cho thấy hình như cái con người nghệ sĩ

trong Nguyễn Tuân không dễ gì trút bỏ những quan niệm cũ, cuộc sống cũ để hoà nhập

ngay với một thời mới Về mặt tài hoa văn chương, Chùa Đàn (gồm: Dựng, “Tâm sự của nước độc”, Mưỡu cuối), trong đó phần cốt lõi là Tâm sự của nước độc được đánh giá khá cao GS Hoàng Như Mai cho rằng: “Chùa Đàn ấy là tất cả nhà văn Nguyễn

Tuân, một Nguyễn Tuân toàn vẹn, tinh hoa tư tưởng, tài hoa văn chương” [49,313]

Có thể khẳng định, Lột xác, nhất là Chùa Đàn là những phương diện khác nhau

của tâm hồn Nguyễn Tuân ở một thời điểm đang chuyển biến dữ dội về tư tưởng của Nguyễn Tuân để quyết từ bỏ con người cũ, cuộc sống cũ sau Cách mạng tháng Tám

Từ Đường vui (1949) đến Tình chiến dịch (1950)…trở đi, ngòi bút Nguyễn Tuân thực

sự chuyển biến Trước Cách mạng, ông đi một mình, lang thang cô độc, không mục đích, không phương hướng Nay ông đi cùng nhân dân, bộ đội và nhận ra “sức mạnh

Trang 21

của đất nước luôn luôn hiện hình trên từng tấc gang đường xa” (Đường vui) Sự gần

gũi, hoà nhập với cuộc đời mới cho Nguyễn Tuân niềm vui, tình cảm mới, chất lãng mạn công dân khoẻ khoắn để tạo nên những trang tuỳ bút thật hồn nhiên, xúc động: cái

“tôi” Nguyễn Tuân “trở nên thân mật với người ở bản xóm như là đã quen biết từ lâu lắm…những lúc đơn vị chuyển sang địa điểm khác mình thấy nhớ tiếc” “Nhiều đồng bào đã nhớ tên tôi và cả người tôi đã thấm sâu vào cảnh và người mộc mạc đáng yêu nhất vùng này…” [75,408] Không còn một chàng Nguyễn khinh bạc, bất cần thuở nào, chỉ có Nguyễn Tuân hôm nay đã thực sự sống trong lòng quần chúng

Nguyễn Tuân vốn là người say “đi”, say khám phá và sáng tạo Nhiệt tình cách mạng, tình cảm tha thiết đối với quê hương đất nước và những hiểu biết sâu sâu rộng

về cảnh sắc và con người Việt Nam đã giúp Nguyễn Tuân sáng tạo nhiều thiên tuỳ bút

đặc sắc Tiêu biểu cho những sáng tác sau hoà bình (1954) là tập tuỳ bút Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Kí (1976) cùng rất nhiều bài tuỳ bút nổi tiếng viết về cảnh sắc và hương vị đất nước Trong Sông Đà Nguyễn Tuân say sưa khám phá

sự giàu có về tài nguyên và phong cảnh tuyệt vời của miền Tây Tổ Quốc Gặp Sông

Đà, ngòi bút Nguyễn Tuân “bung nở” chất tài hoa, uyên bác và cái hứng thú đặc biệt

trước thiên nhiên dữ dội, hùng vĩ và thơ mộng Sông Đà còn tạo nên một phong cách

mới, một sự thay đổi trong tư tưởng của Nguyễn Tuân Không chỉ tìm đến với vẻ đẹp thiên nhiên, Nguyễn Tuân còn tìm đến khám phá vẻ đẹp con người Tây Bắc Ông dựng lại những tấm gương anh hùng của các chiến sĩ cách mạng ở nhà tù Sơn La, những cán

bộ hoạt động hồi Tây Bắc bị giặc chiếm, những bộ đội, dân công trong chiến dịch Điện Biên…Và đặc biệt, Nguyễn Tuân dành sự trân trọng, ngợi ca những lớp người đi mở đường xây dựng Tây Bắc, những cán bộ địa chính, những người lái đò Sông Đà dũng cảm mà tài hoa, nghệ sĩ trong vượt thác Sông Đà…Nguyễn Tuân gọi đó là “chất vàng

mười” của tâm hồn con người Tây Bắc Sông Đà mang đậm cảm hứng lãng mạn cách

mạng, là sự kế thừa và phát triển phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân sau cách mạng

Tuỳ bút Người lái đò Sông Đà là một trong những áng văn tiêu biểu nhất của tập Sông

Đà (1960)

Thời chống Mĩ, trong niềm say sưa với cuộc đời mới, Nguyễn Tuân tiếp tục đến với nhiều vùng đất mới để khám phá, ngợi ca Ông lên “mỏm Lũng Cú tột Bắc”, ra đảo

Trang 22

Cô Tô, vào đất lửa Quảng trị…để viết những trang kí đặc sắc ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và nhân dân anh hùng Nguyễn Tuân có một loạt bài tuỳ bút, kí sự dựa

trên tài liệu và trí tưởng tưởng tài hoa về đề tài thống nhất Bắc – Nam: Cầu ma, Đò

tuyến, Cắm cột mốc giới tuyến, Vẫn tiếng dội ấy của huyện biển Cà Mau…

Trong những ngày Hà Nội đánh Mĩ, Nguyễn Tuân bám trụ cùng Hà Nội để viết

tập kí Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972) Trong tập kí này, Nguyễn Tuân cung cấp cho

người đọc một lượng thông tin sống động về truyền thống lịch sử, cảnh quan Hà Nội, nhất là con người Hà Nội dũng cảm, kiên cường, hào hoa, lịch lãm, sang trọng ngay trong những ngày ác liệt nhất Ngoài ra, Nguyễn Tuân có dịp tung giọng điệu khinh bạc, đả kích sở trường của mình giáng vào bọn giặc Hoa Kì là đánh vào bọn giặc lái

máy bay bị bắt sống trên bầu trời Miền Bắc Bài Hà Nội giải tù Mĩ qua phố Hà Nội là

một thành công in đậm cá tính, phong cách Nguyễn Tuân Nhà văn sử dụng con mắt của điển ảnh để quay những thước phim thời sự lột tả chân dung những “sĩ diện Huê Kì”: “Chà! Cái ngày Hà Nội giải tù Mĩ thật là một ngày không quên được! Một không khí trang nghiêm lịch sử, một khí thế bừng bừng của thủ đô căm hờn như bốc dựng lên với sự kiện nước sông Hồng trong những ngày cao trào cách mạng, được nhắc đến từ nhà bảo tàng lịch sử: Hà Nội trị thuỷ và trị Mĩ! Hà Nội cũng là lớp thuỷ triều, bao đời nay từng dồn Pháp, đuổi Nhật, giờ đây lại đùng đùng như những “con sóng dữ” muốn cuốn phăng đi “những rơm rác Hoa Kì”

Tập tuỳ bút Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988) nổi bật với các bài tùy bút

Phở, Cốm, Giò lụa,… thể hiện những cảm nhận tinh tế và tài hoa về vẻ đẹp những món

ăn, thức quà dân dã mà tinh tế, sang trọng của người Hà Nội Đó chính là sự bày tỏ tình yêu tha thiết đối với quê hương, đất nước của Nguyễn Tuân

Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân, trong nhiều thể loại mà ông đã thử bút, đọng lại với thời gian có lẽ là truyện ngắn và tuỳ bút Trước Cách mạng, tập

Vang bóng một thời, Yêu ngôn đã khẳng định văn nghiệp Nguyễn Tuân bằng một

phong cách trần thuật riêng cùng những chủ đề thách đố mà ít nhà văn khác dám bước

vào Yêu ngôn độc đáo về bút pháp nghệ thuật nhưng chưa được quan tâm nhiều Sau

Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân dường như chỉ viết tuỳ bút, và với tuỳ bút tên tuổi nhà văn lớn Nguyễn Tuân ngày càng nổi bật Nguyễn Tuân được coi là một hiện

Trang 23

tượng văn học phức tạp, độc đáo bậc nhất trong văn học Việt Nam hiện đại Dù viết về

đề tài gì, Nguyễn Tuân cũng đều muốn chứng tỏ một phong cách nghệ thuật nhất quán: độc đáo, tài hoa, uyên bác, thường nhìn nhận, miêu tả, đánh giá thế giới theo tiêu chuẩn của cái đẹp, của nghệ thuật, của văn hóa Mỗi nhân vật dù thuộc loại người nào cũng đều phải là những nghệ sĩ xuất chúng trong nghề nghiệp của mình Phong cách tự do phóng túng và ý thức cá nhân sâu sắc đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể văn tuỳ bút như là một tất yếu Tuỳ bút vốn là thể loại lỏng lẻo về phép tắc, nhân vật chính là “cái tôi” của chính người cầm bút Sự hấp dẫn của tuỳ bút phụ thuộc ở cái tôi người viết có thực sự độc đáo, phong phú, tài hoa hay không Với tuỳ bút, cái tôi Nguyễn Tuân thực

sự là chính mình Một gia tài tuỳ bút cả trước và sau Cách mạng tháng Tám đã đưa ông lên hàng “nhà tuỳ bút số một của văn học Việt Nam hiện đại”[49,168] Đây là một đóng góp của Nguyễn Tuân về mặt thể loại đối với lịch sử văn học Theo Vương Trí Nhàn: “nhìn lại văn học Việt Nam trong thế kỉ XX, người viết có tài thì nhiều, trong đó

có những ngòi bút tạo ra được một thế giới rộng lớn hơn…có một cái nhìn nhân bản sâu sắc hơn so với Nguyễn Tuân, song đã mấy ai có được cái thể tài riêng của mình, như ông Nguyễn và thể tuỳ bút”[49,176]

Trong văn học Việt Nam hiện đại, danh tiếng Nguyễn Tuân còn gắn liền với những đóng góp không nhỏ về phương diện hiện đại hoá ngôn ngữ văn xuôi tự sự Ông

có kho từ vựng phong phú, nhiều tìm tòi, sáng tạo về từ ngữ và trong cách tổ chức lời văn nghệ thuật Khác với thứ ngôn ngữ được trau chuốt công phu bóng bẩy nhưng lại

nhanh chóng trở nên xưa cũ của văn xuôi Tự lực văn đoàn, ngôn ngữ văn xuôi tự sự

trong truyện ngắn Nguyễn Tuân vừa cổ kính, trang trọng vừa mới mẻ, giàu sức biểu hiện và hấp dẫn Mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều cho thấy sự kì công của lao động ngôn ngữ Lúc nào ông cũng cố gắng làm mới ngôn ngữ của chính mình Ý thức và và thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc ấy thật đẹp, đáng trân trọng

Đánh giá về sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân không phải bao giờ cũng có sự thống nhất Bởi Nguyễn Tuân vốn là một hiện tượng văn học phức tạp Trong toàn bộ sáng tác của ông, dù ở giai đoạn sáng tác nào, đề tài nào đều thấy nổi bật một phong cách nhất quán: nhìn nhận, đánh giá thế giới theo tiêu chuẩn của cái đẹp, của nghệ thuật và một cái tôi tài hoa, uyên bác Với phong cách độc đáo ấy, Nguyễn Tuân đã có

Trang 24

nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà Nhà thơ Nguyễn Đình Thi là người đánh giá rất cao sự nghiệp văn chương Nguyễn Tuân “Nguyễn Tuân là một trong mấy nhà văn lớn mở đường và đắp nền cho văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX Cùng với những bạn cùng thời như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân đã đặt viên đá riêng vào cái nền còn mới mẻ của văn xuôi tiếng Việt ta, và viên đá của Nguyễn Tuân là một hòn đá tảng mà tôi tin là sẽ chắc bền trong thời gian” [49,606] Niềm tin đó của nhà thơ đã được khẳng định qua năm tháng

1.1.2 Vị trí truyện ngắn Nguyễn Tuân trong văn học lãng mạn Việt Nam

1930 -1945

Nhắc đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ đến “lối chơi độc tấu” của ông trong thể văn tuỳ bút Nhưng đó là Nguyễn Tuân ở giai đoạn sáng tác sau Cách mạng tháng Tám Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân đã khẳng định tài năng đặc biệt của mình bằng sự đột phá ở đề tài, cảm hứng và thi pháp sáng tác trong thể loại truyện ngắn

Khởi đi từ truyện ngắn Vườn xuân lan tạ chủ (1935), nhất là tập Vang bóng một thời,

và một loạt truyện “Yêu ngôn” viết theo lối Liêu Trai…Nguyễn Tuân đã “mang vào

một thứ chất lạ trong văn học” (Vương Trí Nhàn), và tự vạch cho mình một lối đi riêng, không thể trộn lẫn với bất cứ nhà văn nào khác Từ đây, văn học lãng mạn Việt Nam có thêm một khuôn mặt mới, một phong cách truyện ngắn mới

Trong hầu hết các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân bao giờ cũng được khẳng định là một tác gia lớn Nói đến trào lưu văn học lãng mạn, không thể không nhắc đến Nguyễn Tuân Bởi, Nguyễn Tuân rất tiêu biểu cho trào lưu văn học lãng mạn những năm 1939-1945 Phan Cự Đệ khẳng định: “Từ năm 1939-

1940 trong văn học lãng mạn Việt Nam xuất hiện một cây bút truyện ngắn với phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo: Nguyễn Tuân Suốt đời đi tìm cái Đẹp, thờ cái Đẹp như tôn giáo của mình” [13,333]

Trong sáng tác của Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời là tác phẩm được đánh

giá nhiều nhất bởi sự hấp dẫn của văn chương Song còn một lí do khác nữa, nói như

Nguyễn Đình Thi, khi Vang bóng một thời xuất hiện, “Người ta thấy khác nào thêm

một ngôi sao vừa hiện lên ở một góc riêng trên bầu trời văn học tối sầm”[49,602] Thạch Lam đánh giá rất cao sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân trong tác phẩm này về

Trang 25

nội dung cảm hứng, về lối viết: “Trong cái vội vàng, cái cẩu thả của những tác phẩm xuất bản gần đây, những sản phẩm đã hạ thấp văn chương xuống mực giá trị của một

sự đua đòi, người ta lấy làm sung sướng khi thấy một nhà văn kính trọng và yêu cái

đẹp, coi công việc sáng tạo là công việc quý báu và thiêng liêng” Vang bóng một thời

đánh dấu bước đường trở lại tìm những vẻ đẹp xưa mà các nhà văn ta thường sao nhãng”[49,268] Các nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh…đều nhấn mạnh phong cách nghệ thuật độc đáo, vị trí không thể thay thế, và những đóng góp lớn của nhà văn Nguyễn Tuân trong tiến trình phát triển truyện ngắn Việt Nam hiện đại Vì sao Nguyễn Tuân lại được coi trọng như thế? Trước hết, Nguyễn Tuân là nhà văn độc đáo ở cách nhìn nhận, đánh giá thế giới theo tiêu chuẩn của cái đẹp, của nghệ thuật Thế giới nhân vật của ông là thế giới của những con người có cốt cách tài hoa, tài tử, những kẻ hào hoa, phong nhã, đi tìm cái đẹp trong các thú chơi tao nhã trong văn hoá ứng xử, ẩm thực…nhìn chung là cái đẹp trong văn hoá dân tộc đã bị mai một nay chỉ còn vang bóng Chỉ mình ông “yêu mến dĩ vãng, tiếc thương và muốn vớt lại những vẻ đẹp đã qua, mới có thể làm sống lại cả một thời xưa được” trong khi nhiều nhà văn khác sao nhãng quá khứ Tình yêu tha thiết quê hương, đất nước, thái độ trân trọng những giá trị văn hoá của dân tộc đã giúp nhà văn chắt lọc, tinh luyện nên những trang văn để đời mà “về sau ông không bao giờ đạt tới nữa” [58,426-450] Xuất phát từ nhu cầu khẳng định cá tính độc đáo đã đẩy Nguyễn Tuân tìm đến một lẽ sống khác người, vô thần, coi thường đạo lí thường tình của nhân thế, chỉ có nghệ thuật là bá chủ Nguyễn Tuân quan niệm, nhà văn không có nhiệm vụ xét

xử của một quan toà, cũng không có nhiệm vụ giáo huấn tinh thần của một linh mục Nhà văn chỉ có nhiệm vụ tìm kiếm và khai phá cái đẹp Mà nghệ thuật không chỉ ngự trị ở những nơi trong sạch, thanh cao, nó tiềm ẩn khắp mọi nơi, kể cả những chỗ tăm tối, mê lạc, tội lỗi của những kẻ vong thân, vong mạng; ở những kẻ tử tù, những người coi ngục; ở những tay anh chị giang hồ lẫn tên chuyên nghề đao phủ; ở trong tâm hồn đứa trẻ lên bảy, trong gan ruột ông lão gần đất xa trời; ở trong ngọn than hồng, trong

ấm nước đang sôi; trong chiếc đèn kéo quân; trong những câu thơ thả ra đánh bạc…Tất

cả những cái đẹp ấy được Nguyễn Tuân nâng niu, trân trọng, miêu tả một cách tài hoa,

Trang 26

cầu kì, nâng lên hàng nghệ thuật Những biểu hiện ấy trong sáng tác khiến Nguyễn Tuân bị đánh giá là nhà văn chỉ quan tâm đến cái đẹp thuần tuý, mang tính hình thức.

Cho dù bị xem là một hiện tượng văn học phức tạp, Nguyễn Tuân vẫn là nhà văn được bạn đọc trân trọng Giá trị văn chương trong truyện ngắn của ông nói riêng trước hết là ở nội dung phản ánh giàu giá trị nhân văn và đặc sắc về hình thức nghệ thuật của một người nghệ sĩ đích thực tha thiết với cái đẹp, với nghệ thuật, với nền văn hoá dân tộc Đi tìm cái đẹp, sáng tạo cái đẹp là thiên chức của người nghệ sĩ chân chính Trong hành trình ấy, Nguyễn Tuân đã dấn thân một cách kiêu hãnh, một mình đối mặt với “pháp trường trắng” để sáng tạo những tác phẩm độc đáo và ông đã làm được điều đó bằng sự nghiệp văn chương của mình

Thứ hai, ở phương diện nghệ thuật truyện ngắn, Nguyễn Tuân là nhà văn luôn mài sắc mình để làm nghề cho thật đắt Vương Trí Nhàn đánh giá Nguyễn Tuân “là một trong số ít nhà văn ở ta nhạy cảm về hình thức và có được cách hiểu toàn diện về bản chất cái đẹp trong hình thức nghệ thuật Đọc văn Nguyễn Tuân luôn luôn cảm thấy hình thức đứng ra thách thức với nội dung, giữa hình thức với nội dung vừa sóng đôi nhau, vừa đuổi bắt nhau Luôn luôn cảm thấy ông viết rất đặc biệt, mình không thể nào bắt chước nổi”[49,151] Nguyễn Tuân sử dụng khá đa dạng bút pháp trần thuật hiện đại nhưng vẫn giữ cho mình lối kể chuyện gần với truyền thống dân tộc, một cách hành văn “hoàn toàn Việt Nam” (Vũ Ngọc Phan) Khi viết về vẻ đẹp “vang bóng một thời”, Nguyễn Tuân chọn lối kể chuyện chậm rãi, trang trọng, ngôn ngữ rất phù hợp với đề tài, giúp ông dựng lại sinh động cái “không khí”, cách ăn nói, cách suy xét của những ngày xưa đã mất Khi đả kích bọn thực dân và tay sai, Nguyễn Tuân lại sử dụng lối viết

lạnh, khách quan, để sự việc tự bộc lộ (Bữa rượu máu) Ngoài khả năng “phục cổ”,

truyện ngắn Nguyễn Tuân hấp dẫn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật Nhân vật Nguyễn Tuân, dù là ai, làm nghề gì, ở họ đều lấp lánh chất tài hoa, nghệ sĩ, hoặc một sự đặc biệt nào đó Chỉ vài nét, Nguyễn Tuân đã có thể khắc hoạ một tính cách, một huyền sử

về nhân vật Đó là Ngổ Béo (Con sư tử một năm Quý Sửu), Lão tướng nghĩa quân Cờ đen Hồ Viễn (Ngôi mả cũ), Huấn Cao (Chữ người tử tù), Lí Văn, Phó Kình, Cai Xanh

(Một đám bất đắc chí), Phó Sứ (Đánh thơ)…Trong các truyện ngắn lãng mạn, nhân vật

thường được phóng đại và lí tưởng hoá Nguyễn Tuân thường đặt nhân vật vào những

Trang 27

cảnh, tình huống đối lập, tương phản, tình huống kì lạ…để khắc hoạ nhân vật và thể hiện chủ đề tư tưởng Đó là cuộc gặp gỡ oái oăm của quản ngục và Huấn Cao trong tù,

là cảnh cho chữ đặc biệt xưa nay chưa từng có trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt,

đầy phân chuột, phân gián (Chữ người tử tù) Xác ngọc lam cũng có hai tình huống kì

lạ, kì ảo, có ý nghĩa tượng trưng để nối về số phận mong manh của cái đẹp trong cuộc đời đầy phàm tục

Bút pháp nghệ thuật lãng mạn cũng thể hiện đặc sắc trong mảng sáng tác Yêu

ngôn Trên đỉnh non Tản, Khoa thi cuối cùng, Lửa nến trong tranh, Rượu bệnh, Xác ngọc lam, Loạn âm…là những truyện ngắn mang màu sắc kì ảo, kinh dị, bút pháp trần

thuật của Nguyễn Tuân biến ảo khó lường Trong thế giới kì ảo của Nguyễn Tuân, cái thực, cái ảo, ma và người, âm và dương hoà lẫn Ma chính là người, ma nhập trong tâm hồn người, người hoá ma mà không biết Thần thánh của Nguyễn Tuân ăn ở với người,

như người, một thứ ma tài hoa giúp đỡ con người Ở Yêu ngôn, cuộc đời hiện ra rờn rợn một không khí âm u, ma quái đem đến cho loạt truyện Yêu ngôn của Nguyễn Tuân

một sức hấp dẫn kì lạ Sự độc đáo của Yêu ngôn là viết về thế giới ma, cõi âm nhưng Nguyễn Tuân không phải chỉ hướng con người ta đến sự sợ hãi “Đằng sau lớp sương khói huyền ảo ma quái ấy, Nguyễn Tuân vẫn muốn hướng con người đến với cái đẹp, cái thiện”[9,67] Vì thế thế giới ma của Nguyễn Tuân vừa tài hoa, tài tử, lại còn ân nghĩa, rất gần gũi với con người Lối “tư duy nghệ thuật kiểu Liêu Trai”[48,191] (Vương Trí Nhàn) là một nét nhất quán trong phong cách biểu hiện của Nguyễn Tuân Hai nhà văn Nguyễn Tuân ưa thích thời trước Cách mạng là người André Gide và BồTùng Linh, nhưng bút lực Nguyễn Tuân có nhiều lúc xuất thần Nguyễn Tuân đọc, thích và phục Bồ Tùng Linh nhưng ông không chịu ảnh hưởng của chất “Liêu Trai”

hiện thực của Bồ Tùng Linh Yêu ngôn có những nét gần với chất huyền ảo trong dòng tiểu thuyết huyền ảo Châu Mĩ la tinh ra đời sau thế chiến chiến hai Chỗ Nguyễn Tuân

gặp gỡ các nhà văn Châu Mĩ la tinh sau này là cả hai đều đi từ những nét đặc thù trong văn hoá dân gian để hư cấu nên những tác phẩm pha trộn mộng - thực, mộng - ma, thành một thế giới âm dương không ngăn cách Thế giới của Bồ Tùng Linh là một thế giới hiện thực không huyền ảo mà âm dương chia cách: ma là ma, người là người Bồ Tùng Linh dùng ma để giáo huấn người, tác phẩm của ông có tính cách phê phán (gián

Trang 28

tiếp) xã hội Trong tác phẩm của Nguyễn Tuân rất khó xác định nội dung hiện thực và cảm hứng phê phán Có lẽ vì thế tác phẩm Nguyễn Tuân biến ảo hơn, hiện đại hơn, có chỗ đứng cao trong nền văn học hiện đại thế kỉ XX

Một lí do nữa làm nên tên tuổi Nguyễn Tuân là sự đóng góp của ông trong việc hoàn thiện ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt theo hướng hiện đại “Ngôn ngữ Nguyễn Tuân không bao giờ đi theo những lối mòn, những câu chữ nhợt nhạt, có sẵn”[9,65] Ngôn ngữ của ông là thứ ngôn ngữ tài hoa, uyên bác, giàu giá trị thẩm mĩ Nhiều nhà nghiên cứu cho Nguyễn Tuân là nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa, là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam Văn Nguyễn Tuân là một “nghệ thuật văn xuôi điêu luyện”,“câu văn xuôi biết co duỗi nhịp nhàng” (Nguyễn Đăng Mạnh), “trong sáng

lạ lùng” (Trương Chính), “gần đạt tới sự hoàn mĩ” (Vũ Ngọc Phan)… Đặc biệt cho đến nay, “chưa có cây bút nào vượt được Nguyễn Tuân trong việc gợi không khí cổ kính của một thời quá vãng xa xôi” (Hà Bình Trị) Có thể nói Nguyễn Tuân đã thổi vào truyện ngắn Việt Nam hiện đại một phong cách ngôn ngữ vừa cổ kính, uyên bác, vừa

kì ảo, ma quái mà vẫn rất hiện đại Phan Ngọc tìm thấy ở Nguyễn Tuân cách viết mới: chăm chú khám phá sự vật ở phương diện “kĩ thuật” Còn Đỗ Ngọc Thống lại thấy ở ông khả năng sử dụng thủ pháp lạ hóa ngôn từ bằng những liên tưởng, so sánh mở rộng liên tục, sử dụng lớp từ đồng nghĩa, gần nghĩa Đinh Trí Dũng phát hiện chất ma quái

kiểu Liêu Trai trong Yêu ngôn qua hệ thống ngôn từ xây dựng hình tượng nghệ thuật kì

ảo… Lối diễn đạt của Nguyễn Tuân nhiều khi cầu kì, khác lạ, không dễ đọc, nhưng nếu đọc kĩ sẽ nhận ra một Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác và rất có trách nhiệm với ngòi bút của mình Bao giờ Nguyễn Tuân cũng muốn đem lại những cảm giác mới mẻ, thú

vị cho người đọc

Với những gì chúng ta vừa nêu, Nguyễn Tuân xứng đáng là một cây bút truyện ngắn có hạng trong văn học lãng mạn Việt Nam trước 1945 Các truyện ngắn của ông,

tiêu biểu là tập Vang bóng một thời xứng đáng là những tác phẩm có giá trị của nền

văn xuôi Việt Nam hiện đại Cùng với những nhà văn xuất sắc khác như Nguyễn công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài…Nguyễn Tuân đã góp phần làm cho văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt ngày càng hoàn thiện, giàu thẩm mĩ và đa dạng về phong cách

Trang 29

Những đóng góp mới mẻ về nghệ thuật viết truyện ngắn đã tạo nên vị thế quan trọng của Nguyễn Tuân trong văn học lãng mạn nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Chính vì thế, trong các công trình biên soạn qui mô về văn học Việt Nam hiện đại bao giờ Nguyễn Tuân cũng được đề cập như một hiện tượng văn học đặc biệt Tiêu

biểu như Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (Nxb Văn học, 2003); Tinh tuyển văn

học Việt Nam của Nguyễn Đăng Mạnh; công trình Văn học Việt Nam thế kỉ XX - Phan

Cự Đệ chủ biên; Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp - chân dung, Phan Cự Đệ chủ biên (Nxb GD, 2007); Tuyển tập truyện ngắn lãng mạn 1930 -1945, Nguyễn Văn Lưu tuyển chọn (Nxb Văn học, 2007) Theo Trương Chính, riêng tập Vang bóng một thời

trong “Năm 1988, Nxb Văn học in lại 30.000 bản giấy đẹp, bìa cứng, đề “in lần thứ sáu” Ít có tác phẩm được trân trọng như vậy” [49,276] Hầu hết những nhà nghiên cứu danh tiếng đều tìm hiểu về Nguyễn Tuân Trong chương trình Ngữ văn THCS, THPT

và Đaị học, Nguyễn Tuân là một tác gia lớn, rất được coi trọng

Tất cả những công trình trên góp phần khẳng định tên tuổi, tài năng của Nguyễn Tuân: một nhà văn tiêu biểu của trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1939-

1945, một cây bút truyện ngắn bậc thầy trong nền văn xuôi hiện đại Sự xuất hiện của Nguyễn Tuân lúc ấy càng có ý nghĩa hơn khi trào lưu văn học lãng mạn đang trên đà

bế tắc về tư tưởng và phong cách nghệ thuật

1.2 Vai trò của trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân

1.2.1 Giới thuyết về trần thuật

Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển

thuật ngữ văn học, trần thuật “là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc

giới thiệu, khái quat, thuyết minh, miêu tả, đối với nhân vật và sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người nhất định, vai trò của trần thuật là rất lớn M.Gorki vạch rõ tiểu thuyết hay tự truyện, những con người được tác giả thể hiện hành động với

sự giúp đỡ của tác giả, tác giả luôn luôn ở bên cạnh họ mách cho người đọc phải hiểu

họ như thế nào, giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, những động cơ bí

ẩn đằng sau hành động của các nhân vật được miêu tả Tô đậm thêm cho tâm trạng của

họ bằng những đoạn miêu tả thiên nhiên, trình bày hoàn cảnh và nói chung là luôn giật dây cho họ được thực hiện những mục đích của mình, điều khiển một cách tự do và

Trang 30

nhiều khi rất khéo léo mặc dù người đọc không nhận thấy những hành động, những lời

lẽ, những việc làm, những mối tương quan của họ” [20,364]

Như vậy, có thể thấy thành phần trần thuật trước hết đó là lời thuật, chức năng của nó là kể việc Tuy nhiên trần thuật còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả…Về hình thức, trần thuật chủ yếu là đối thoại, độc thoại của chủ thể trần thuật với độc giả Trong tác phẩm tự sự, trần thuật gắn toàn bộ công việc bố cục, kết cấu tác phẩm, trần thuật là cả một hệ thống tổ chức phức tạp nhằm đưa hành động, lời nói nhân vật vào đúng vị trí của nó để người đọc có thể bình luận theo ý định tác giả Khi nói đến trần thuật, người ta thường nói đến cái nhìn, giọng điệu trần thuật, nhịp điệu trần thuật, bố cục trần thuật, khoảng cách góc độ của người trần thuật đối với cốt truyện tạo thành Giọng điệu trần thuật chỉ mối quan hệ giữa thái độ của người kể đối với các sự kiện được kể Bố cục trần thuật hình thành với sự triển khai, đan cài, phối hợp, luân phiên các điểm nhìn gần gũi với sự việc, có điểm nhìn cách xa trong không gian và thời gian, có điểm nhìn bên ngoài hoặc nhìn xuyên qua nội tâm nhân vật, có cái nhìn nhân vật, sự kiện từ một nền văn hoá khác Về các kiểu trần thuật, từ thế kỉ XIX trở về trước thịnh hành kiểu trần thuật khách quan do một người trần thuật biết trước

sự việc tiến hành kể theo ngôi thứ ba Sang thế kỉ XX, ngoài lối kể chuyện truyền thống ấy còn thêm kiểu trần thuật ngôi thứ nhất do một nhân vật trong truyện đảm nhiệm Sự trần thuật có khi biến thành “dòng ý thức” lời độc thoại nội tâm “Trần thuật

là phương diện cấu trúc của tác phẩm tự sự thể hiện mối quan hệ chủ thể với khách thể trong loại hình nghệ thuật” [20,365] Vì vậy khi tìm hiểu tác phẩm tự sự người ta thường chú ý đến trần thuật, và cùng lời miêu tả, trần thuật đóng vai trò không nhỏ trong sự tái hiện thế giới và thể hiện tư tưởng nhà văn vào tác phẩm văn học

Theo Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học thì trần thuật được hiểu là

“thành phần lời tác giả - của người trần thuật hoặc của một người kể chuỵện…Trần thuật bao gồm việc kể và miêu tả các hành động và các biến cố trong thời gian; mô tả chân dung, hoàn cảnh hành động, tả ngoại cảnh, tả nội thất…; bàn luận; lời nói bán trực tiếp của các nhân vật Do vậy trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu tạo tác phẩm tự sự Tính chất của trần thuật tuỳ thuộc vào điểm nhìn (cũng gọi là “lập trường”

Trang 31

hoặc “quan điểm”) mà từ đó nó được dẫn dắt…Có thể phân chia các kiểu “điểm nhìn” tạo thành trần thuật:

1) Xét ở bình diện đánh giá: tác giả, người kể chuyện, nhân vật có thể cùng một lập trường tư tưởng…

2) Xét ở bình diện định tính không gian-thời gian: cái được mô tả liên quan tới tác giả hoặc nhân vật bình giá ở phương diện thời - không gian nào

3) Xét ở bình diện cảm nhận các biến cố: sự cảm nhận có thể được xem như chủ quan, ở trường hợp này, trần thuật sẽ được tạo dựng dựa vào dữ kiện một sự cảm nhận của một ai đó…” [2,337-338]

Ở Việt Nam từ khoảng năm 2000 trở lại đây, khi ngành Tự sự học (một phân nhánh chủ yếu của thi pháp học hiện đại) xuất hiện thì trần thuật - một trong những phương diện của Tự sự học được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn Tự sự học tập trung nghiên cứu cấu trúc của văn bản trần thuật trên các phương diện: điểm nhìn, quan điểm, góc nhìn trần thuật, các hành vi của người trần thuật và ngôn từ của anh ta

Trần Đình Sử trong sách Lí luận văn học, tập 2 (2008) viết: “Trần thuật là sự trình bày

liên tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định Trần thuật

là sự thể hiện của hình tượng văn học, truyền đạt nó tới người thưởng thức” [68,100] Trần thuật là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học “Về bản chất, trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả, cung cấp thông tin về sự kiện, nhân vật, theo một thứ tự nhất định trong không gian, thời gian và về ý nghĩa, trần thuật có nhiệm vụ cho người đọc biết ai xuất hiện ở đâu, khi nào, làm gì, trong tình

huống nào…” [69,100] Lại Nguyên Ân trong bài viết “Về việc mở ra môn trần thuật

học trong ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam”(Tự sự học, phần 1,2007) quan niệm:

“Trần thuật” (narration) trỏ phương thức nghệ thuật đặc trưng trong các tác phẩm thuộc loại văn học tự sự” “Thực chất hoạt động trần thuật là kể, là thuật; cái được thuật, được kể, trong tác phẩm văn học tự sự là chuyện” [65,146] Như vậy, trần thuật đòi hỏi phải có người kể, người thổ lộ Trần thuật phải xử lí mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi sự kiện và các nhân vật trong tác phẩm

Trang 32

Theo Trần Đình Sử, “có hai yếu tố quyết định trần thuật là người kể và chuỗi ngôn từ Từ người kể chuyện ta có ngôi trần thuật, lời trần thuật, điểm nhìn trần thuật

Từ chuỗi ngôn từ, ta có thể kể đến các yếu tố: lược thuật, dựng cảnh, hồi thuật, dự báo, gây đợi chờ, phân tích bình luận, giọng điệu” [68,100] Nói một cách khác, trần thuật

là sự phân bố thế giới hình tượng qua một văn bản ngôn từ nhằm đạt được hiệu quả tư tưởng thẩm mĩ…là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện, tình tiết, các mối quan hệ xung đột về sự kiện và nhân vật tạo nên sức hấp dẫn theo tổ chức điểm nhìn trần thuật đây là yếu tố then chốt đóng vai trò quan trọng trong cấp đọ kết cấu trần thuật

Nhà lí luận người Mĩ Jonathan Culler đã đưa ra ý kiến: “Bất cứ trần thuật nào đều có người trần thuật, người kể, bất kể người trần thuật ấy có được xác nhận rõ ràng hay không? Bởi vì trọng tâm của chủ đề mỗi câu chuyện đều là vấn đề mối quan hệ giữa người trần thuật hàm ẩn với câu chuyện mà nó kể ra, nên muốn hiểu rõ một đoạn

tự sự một tác phẩm tự sự, bắt buộc phải xác nhận các bộ phận thuộc về cái nhìn của

nó, phân biệt bản thân hành động và sự quan sát của người trần thuật đối với hành động đó” [67,189] Trong tác phẩm tự sự, trần thuật như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào tác giả Vì thế vai trò của tác giả là rất lớn.“Tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang thế giới cảm quan đặc thù và trung tâm tổ chức ngôn ngữ theo nguyên tắc nghệ thuật” [20,106]

Trên cơ sở những lí luận về trần thuật, các thành phần của trần thuật, bản chất của trần thuật trong tác phẩm tự sự, chúng ta nhận thấy rằng, khảo sát cách trần thuật của một nhà văn (tức cách nhà văn kể như thế nào) cùng một lúc người nghiên cứu nhận ra được nghệ thuật kể, lời văn kể cùng cái nhìn, điểm nhìn của nhà văn về con người và thế giới Qua những phương diện đó, người đọc nhận ra sức cảm hoá, hấp dẫn, lôi cuốn của tác phẩm không chỉ ở nội dung mà chính là cả hình thức kể của tác giả Tóm lại, trần thuật là yếu tố thuộc hình thức trong cấu trúc văn bản tự sự, phương diện này góp phần làm nổi bật vai trò chủ thể trần thuật Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật chính là nghiên cứu “kĩ thuật” kể của mỗi nhà văn

1.2.2 Vai trò của trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Tuân

Trang 33

Truyện ngắn của Nguyễn Tuân hấp dẫn người đọc ở sự đặc biệt của đề tài, sự phức tạp của quan niệm nghệ thuật Dù chỉ lướt qua một lần thôi, nhưng tác phẩm của ông, dù sau bao nhiêu năm, vẫn cứ quanh quất bên ta, trước ta như là vang bóng Điều

đó chứng tỏ tác phẩm của Nguyễn Tuân đã vượt qua thử thách của thời gian, khiến người đọc trân trọng và càng đọc kĩ hơn Sức hấp dẫn của văn Nguyễn Tuân ngoài lí do nội dung được phản ánh trong tác phẩm, tấm lòng và nhân cách nhà văn, còn một lí do không thể phủ nhận, đó là cách kể (cách trần thuật) của nhà văn Đối với tác phẩm tự

sự, nghệ thuật kể chuyện đóng vai trò quan trọng nhất trong các yếu tố hình thức Nguyễn Tuân cũng được đánh giá là một trong số những nhà văn có tài kể chuyện hay nhất của thế kỉ XX là bởi ông biết vận dụng một cách tài tình và sáng tạo ngôn ngữ tự

sự để dựng người và tả cảnh, để kể và tả, để giới thiệu, bình luận về sự kiện, nhân vật

và để nhân vật tự nói lên những uẩn khúc bên trong của mình Xét cho cùng, sức sống của nội dung tư tưởng trong tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào tài năng kể “như thế nào” của nhà văn

Nét nổi bật trong phong cách tự sự của Nguyễn Tuân là dù kể về cái gì, miêu tả cái gì cũng nhằm mục đích gây được ấn tượng đậm nét, phải tạo được cảm giác mãnh liệt cho người đọc Phong cách này chi phối rất rõ hệ thống đề tài và hình tượng nghệ thuật trong sáng tác của ông trước Cách mạng Nguyễn Tuân bắt đầu khẳng định phong cách của mình và thu hút giới nghiên cứu ở cả nội dung tư tưởng và cách kể chuyện

của mình từ Vườn xuân lan tạ chủ (đăng Tiểu thuyết thứ bảy, 1935) Đây là truyện

ngắn có tính chất báo hiệu một Nguyễn Tuân đặc biệt từ đề tài, quan niệm về cái đẹp, cách tạo không khí khinh mạn, cao ngạo, thần kì, thoát tục và nhiều sáng tạo ngôn ngữ Câu chuyện đưa người đọc trở về với “Tuý lan trang”, chủ nhân là quan án Trần cùng con gái yêu - cô chiêu Tần Cảnh cô chiêu Tần hàng ngày theo lời cha chèo thuyền trên sông Mã đi mua thứ “rượu khê” ở làng Vĩnh Trị về “bón hoa” đẹp như một bức thuỷ mặc Vị hưu quan “đã không quan tâm đến vóc xương khô” của mình chỉ lo cho hoa trong thời loạn “một mai lũ người ô hợp tràn đến” Bên cạnh quan Án là cậu ấm Hai

“giữa buổi loạn li mà chỉ biết có ngón đàn, hiểu có hồn hoa”, “tâm người tài tử, chọn lầm thế kỉ, buồn, tủi, cực đến dường nào” Ba con người tài tử gặp nhau, tạo nên một đạo sống thanh khiết, thoát tục nơi “Tuý lan trang” Nhưng rồi tai họa ập đến, “Tuý lan

Trang 34

trang” bị đốt, cô chiêu Tần bị cướp bắt đi, quan Án phẫn uất mà chết, lạ thay, “giống

cỏ quý kia cũng quyết tạ theo tri kỉ, không thể ở lại với thế gian” Giai nhân, người tài

tử mất đi, thuật cất “rượu khê” ở làng Vĩnh Trị cũng thất truyền Lan biết tạ theo chủ, các loài cây cỏ khác ở “Tuý lan trang” cũng “đều ủ rũ để tang người thiên cổ” Xót xa

hơn lũ mục đồng thô lậu, hồn nhiên cho trâu bò giẫm nát cả “mồ hoa”…Vườn xuân lan

tạ chủ nổi bật với giọng điệu xót xa của một nghệ sĩ trước sự mất mát của cái đẹp bởi

thời loạn lạc Quan niệm về cái đẹp, nghệ thuật không thể chung sống cùng bạo lực và

sự dốt nát; về thân phận người tài tử; những sáng tạo về ngôn ngữ, lối kể chuyện chậm rãi, cổ kính, trang trọng, gần lối kể dân gian, kể theo tuyến tính thời gian, kết hợp giữa thuật, miêu tả và bình luận ngoại đề, nhiều hình ảnh, chi tiết mang tính ẩn dụ…đã hội

tụ đầy đủ trong truyện ngắn này Những phẩm chất nghệ thuật ấy sẽ bộc lộ rõ hơn về

sau trong Vang bóng một thời và Yêu ngôn…

Vang bóng một thời và Yêu ngôn khẳng định một lối thoát của Nguyễn Tuân cho tâm hồn và cho nghệ thuật của mình Trong Vang bóng một thời ông hướng về dĩ vãng

với thái độ của một người đi tìm những cảm giác lạ, đi tìm cái đẹp thuần tuý của nghệ thuật Ở mảng đề tài này, Nguyễn Tuân thường chọn ngôi kể vắng mặt, mạch trần thuật chậm rãi, từ tốn, ít sự kiện, đối thoại ít, nhịp nhàng, giọng điệu trang trọng, nhiều trân trọng và nuối tiếc Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhà văn đã tìm được một lối kể riêng, nói như Thạch Lam, “tác giả đã khéo phác hoạ được cái không khí của những

ngày đi mất ấy” Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại cũng có cảm giác đọc Vang

bóng một thời của Nguyễn Tuân như “ngắm những bức họa cổ” Thạch Lam nhận xét

sự độc đáo của đề tài Vang bóng một thời “là người đầu tiên”[ ] đã làm hoạt động

dưới mắt người đọc cả cái dĩ vãng thắm màu đỏ, và tìm diễn được những đặc sắc và những triết lí cũ kia”[49,267] Nguyễn Tuân không lí tưởng hoá chế độ phong kiến, ông chỉ chắt chiu gạn lọc những nét đẹp trong khi biểu hiện cuộc sống Vì thế, thế giới nhân vật của ông có những cá tính, phong cách đặc biệt của họ Mỗi truyện một cách trần thuật, không lặp lại Cụ Ấm thích uống trà trong sương sớm và pha trà với thứ nước đọng trong lá sen buổi mai “Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm Pha cho mình cũng như pha mời khách, cụ Ấm đã để vào đấy bao nhiêu công phu Những công phu đó đã trở nên lễ nghi, nếu trong ấm trà pha ngon,

Trang 35

người ta nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lí” [74,151] Một cụ Kép để tất cả cái

“quãng đời xế chiều” của mình vào việc chăm sóc một vườn hoa quý Cụ thường nói rằng: “người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành, chí tình ra mà đối đãi với cả đến cái đẹp không bao giờ lên tiếng nói Như thế mới phải đạo, đạo của người tài tử” [74,127] Cách chơi hoa, uống trà, thưởng rượu Thạch lan hương của các cụ ngày xưa được Nguyễn Tuân miêu tả tỉ mỉ, chậm rãi và đầy lễ nghi nhịp nhàng, trang trọng, thiêng liêng và tất cả đã được nâng lên thành đạo, thành nghệ thuật Chính cái tài hoa, thái độ mến yêu, tiếc nuối vẻ đẹp xưa giúp Nguyễn Tuân thăng hoa thành những trang hoa, “tờ hoa” ít nhiều mang màu sắc lí tưởng hoá để thể hiện quan niệm của mình trong

Chén trà sương, Hương cuội, Những chiếc ấm đất, Đèn đêm thu…

Truyện Ngôi mả cũ đưa chúng ta đến cái “hương vị cũ kĩ và nhẫn nại của một sự

hi sinh” [49,128] Sau thời loạn, một nhà gia thế chỉ còn hai chị em Người chị không lấy chồng, ở nhà dệt vải nuôi em ăn học Cậu em chăm chỉ và ngoan ngoãn, yêu chị, kính chị như kính mẹ Sự phối hợp giữa thuật, kể, phác họa về gia cảnh hai chị em cô

Tú cậu Chiêu, về ông tướng Cờ Đen cũ, cùng những trang miêu tả cảnh bằng những câu văn dài, nhiều liên tưởng chủ quan, đặc sắc, đặc biệt là cách kể chuyện cụ Hồ Viễn

và cậu Chiêu đánh cờ không có quân đi, không có bàn bày, hai người ngồi trên hai

chiếc cáng, vừa đi, họ vừa đánh cờ bằng miệng…làm cho Ngôi mả cũ trở thành một

bức vẽ phác hoạ về một gia đình nền nếp cũ, về những con người tài hoa cao siêu với đằng sau, lờ mờ cảnh hãi hùng, cảnh tàn phá của những ngày loạn lạc

Nguyễn Tuân rất thành công trong những thủ pháp phối hợp giữa kể và miêu tả

để dựng chân dung nhân vật bằng cách tạo nên những “huyền sử” nào đó bao quanh cuộc đời của họ Chỉ vài nét chấm phá, Nguyễn Tuân đã có thể khắc hoạ những nét tính cách đặc trưng nhất của nhân vật, làm hiện lên trước mắt ta những hành động, những phẩm chất được cá thể hoá theo cách riêng hết sức độc đáo để gây ấn tượng, góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng của truyện ngắn Nguyễn Tuân Đó là chuyện về cụ thượng Nam Ninh về trí sĩ ở Hà Nội, xa lánh người con trai trưởng là ông Huyện lệnh Thọ Xương “tâm thuật hèn kém”, chỉ thích sống thanh đạm, yên bình bên gia đình người con trai thứ là ông cử Hai tài hoa, lãng tử “sống cuộc đời mình như người ta chơi chơi

vậy thôi”(Đèn đêm thu); cụ Hồ Viễn (Ngôi mả cũ) mặc áo dài “sường sám”, đội mũ

Trang 36

“sường chí” có quả bông đỏ, tay cầm quạt trông nhàn nhã như một thư nho sinh, ông còn nổi tiếng là một lão tướng võ nghệ cao cường và bí mật của nghĩa quân Cờ Đen Nay thất thế làm thầy địa lí vẫn sống cầu kì, kiểu cách: cụ để móng tay rất dài, “móng

út lá lan của cụ uốn hai vòng như râu rồng”, đặc biệt là tài đánh cờ trên đường đi,

không cần bàn, không quân cờ, đánh cờ bằng miệng Huấn Cao (Chữ người tử tù) là

một tử tù nổi tiếng tài hoa viết chữ đẹp, có tài bẻ khoá vượt ngục nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn Cai Xanh, Lí Văn, Phó Kình “nghèo, cực, khái”, hành tung bí mật, chuyên

đánh “những tiếng bạc lớn”, có món “bút chì”, “bút chùng” thần diệu Ngổ Béo (Con

sư tử một năm Quý Sửu), suốt đời cũng chỉ có một ham muốn tột bậc, một khát vọng

thường trực: “Trong cái đời Ngổ Béo, nhất sinh, kẻ thất phu ấy chỉ lấy việc múa sư tử làm một điều khoái hoạt nhất Đời sống của Ngổ Béo, cả một năm hình như chỉ có một ngày rằm tháng Tám là đáng kể”[74,220]

Điểm độc đáo trong trần thuật của Nguyễn Tuân là cách lựa chọn điểm nhìn trần thuật để tạo sự đa dạng các thủ pháp trần thuật, và ngôn ngữ trần thuật Nếu Nguyên Hồng là nhà văn có thế mạnh ở cách trần thuật chủ quan (tự sự không giấu mình), lời trần thuật ở ngôi thứ nhất, cảm xúc, tình cảm người viết tràn ra trên trang giấy, lấn lướt tất cả thì Nguyễn Tuân lại thường chọn cách trần thuật khách quan, điềm tĩnh, nghiêng

về lí trí và linh hoạt trong lựa chọn và phối hợp các điểm nhìn trần thuật Sự linh hoạt trong phối hợp các điểm nhìn trần thuật làm ranh giới giữa ngôn ngữ người kể chuyện với ngôn ngữ nhân vật nhoè mờ, ngôn ngữ trần thuật vì thế giàu sắc thái trữ tình, đa thanh, tránh được sự nhàm chán Bởi thế văn Nguyễn Tuân có cái sắc sảo, lạnh lùng, tỉnh táo khi trần thuật Cái “tôi” người kể chuyện thường lùi hẳn về hậu cảnh để nhường toàn bộ các khuôn hình từ đặc tả đến toàn cảnh cho những đường nét màu sắc

cổ kính “vang bóng” hoặc để cho sự việc tự bộc lộ Lối viết ấy Nguyễn Tuân gọi là “lối viết lạnh” Đó là một lối viết với giọng điệu thản nhiên, lạnh lùng, tránh xa chất cảm

tính trong văn học cổ điển và lãng mạn xưa Bữa rượu máu, Chữ người tử tù là những

truyện tiêu biểu cho lối viết lạnh của Nguyễn Tuân Từ cách mở đầu truyện, dàn dựng cảnh, xây dựng các tình huống truyện, sự phối hợp đa dạng các điểm nhìn trần thuật tạo giọng điệu khách quan, giữa thuật, kể, đến cách kết thúc bằng mở, mở bằng kết…đều khác thường Lối trần thuật “giấu mình” như vậy làm cho văn bản tác phẩm có tính

Trang 37

chất “mở” hơn, hình tượng nghệ thuật nhiều ý vị hơn, làm đảo lộn giá trị, đảo lộn cách viết, nếp nghĩ trước nay

Một trong những nét đặc sắc trong trần thuật của Nguyễn Tuân là khả năng sử dụng ngôn ngữ tác giả để miêu tả phong cảnh, dựng khung cảnh sống phù hợp với nhân vật, xây dựng tình huống kì lạ và hay dùng lời bình luận “trữ tình ngoại đề” Khi thuật, Nguyễn Tuân cố giấu mình, nhưng khi miêu tả, cái “tôi” nhà văn hiện ra ở những

hư cấu tưởng tượng, những liên tưởng nhiều khi rất xa xôi, tưởng như lan man mà lại

thú vị, bằng những lời bình luận trữ tình đầy tính chất chủ quan (Vườn xuân lan tạ chủ,

Bữa rượu máu, Chữ người tử tù, Ngôi mả cũ, Đánh thơ, Lửa nến trong tranh, Trên đỉnh non Tản…)

Độ lôi cuốn, sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Tuân còn do sự linh hoạt

trong cách kể Nguyễn Tuân giỏi gây ấn tượng bằng những chi tiết, tình huống truyện

độc đáo, cách tạo dựng không khí, xây dựng nhân vật, tạo nhịp điệu trần thuật, tài đưa đẩy “biết cách dùng những câu chuyện chẳng có gì để nói những điều sâu sắc” (Nam Cao) Có truyện sử dụng những chi tiết đánh lạc hướng để dẫn đến một kết thúc bất

ngờ mang màu sắc dân gian (Một vụ bắt rượu lậu) Truyện Những chiếc ấm đất kết cấu

theo kiểu truyện trong truyện: chuyện về người ăn mày cổ quái pha trà, thưởng trà tài hoa, kì lạ lồng trong câu chuyện về cụ Sáu - người đam mê trà tàu đến lầm lạc Trong

Nhà Nguyễn, Nguyễn Tuân mượn việc “làm nhà” để đưa đẩy câu chuyện rất bất ngờ,

thú vị về một chàng Nguyễn lãng tử, bất cần, sống chỉ để mà đi Nguyễn làm nhà nhưng…không ở mà là “nhà cho thuê” Ông cụ thuê nhà không hề biết mặt “bác

Nguyễn”, tuy bác vẫn giữ lại một gian buồng để chứa sách Chữ người tử tù khéo léo

dựng một tình huống giàu tính kịch và nhanh chóng đẩy nó đến cao trào Mạch truyện

từ chỗ bình lặng trong lời kể chậm rãi, bỗng được nâng lên đỉnh điểm với chi tiết “Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn Quan Hình

Bộ Thượng thư trong Kinh bắt giải ông Huấn Cao và các bạn đồng chí ông vào Kinh Pháp trường lập ở trong ấy kia Ngày mai, tinh mơ, sẽ có người đến giải tù đi” [74,138] Một chi tiết đặt người đọc vào những băn khoăn: Liệu trước khi giã từ cõi đời, Huấn Cao có hiểu được sở nguyện cao quý của quản ngục hay không? Cái ước nguyện thiết tha, chính đáng của quản ngục có được đáp ứng? Đặt trong mạch truyện,

Trang 38

đây là chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa “thắt nút”, để tiếp sau đó xảy ra cảnh cho chữ “xưa nay chưa từng có” trong nhà lao là sự “cởi nút”, giải toả Một cách trần thuật độc đáo như vậy, "đem đến cho người đọc sự thoả mãn cùng những rung cảm thẩm mĩ sâu xa"[33,172] Đồng thời, cách kể như vậy cũng góp phần làm nổi bật vẻ đẹp kì vĩ của các nhân vật, nổi bật lên lí tưởng thẩm mĩ và tài năng trần thuật của Nguyễn Tuân.

Bữa rượu máu, Chữ người tử tù, Xác ngọc lam, Khoa thi cuối cùng, Trên đỉnh

non Tản, Loạn âm…là những truyện ngắn hấp dẫn bởi tác giả sử dụng các thủ pháp kì

ảo, một “kiểu tư duy kiểu Liêu Trai” để dựng tình huống truyện độc đáo, dựng cảnh, kể chuyện, gợi không khí rờn rợn, ma quái, thần tiên…Cùng miêu tả ma, nhưng trong

Khoa thi cuối cùng là oan hồn “Một người đàn bà trẻ, tóc xoã, ẵm con… kêu khóc giữ

rịt lấy tay không cho viết quyển nữa Gào khóc chán, người đàn bà ấy lấy mớ tóc xoã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên Lại cười sằng sặc lấy nghiên mực hắt vào quyển của

ông” Đầu Xứ Anh [74,189] Trong Loạn âm, bóng ma Quan Ôn dưới Diêm Vương lên

trần có dáng vẻ một thư sinh: “mặt tròn và đen và không râu ria, đầu đội mũ đuôi cá, chân đi hia, mình mặc áo bào màu cánh hạc đỏ - lưng và ngực thêu một con giao long

đen, dát bạc”[74,306] Trong Xác ngọc lam là một cây Dó thần có tiếng hát kì lạ, huyền

diệu và quyến rũ Cô Dó vì tình mà bỏ ngàn xanh, theo cậu Năm về làm vợ chàng, ẩn mình trong phiến đá xanh, mỗi đêm lại lách mình ra, giúp chồng nghè giấy Từ đấy, lò chế giấy nhà cậu Năm họ Chu làng Hồ Khẩu ven Hồ Tây rất phát đạt, giấy thơm, đẹp, nổi tiếng hơn Khi “cậu Năm trăm tuổi đi rồi, cô Dó đêm đêm ra ngồi ven Hồ Tây và ven sông Tô có mấy tháng liền” cất tiếng hát buồn nhớ thương chồng Vị Thần Non

Tản (Trên Đỉnh non Tản) là một cụ già rất đẹp: “râu tóc lông mi trắng xốp như bông,

chống một cây gậy trúc đùi gà vàng óng, khoan thai tiến vào cổng trước làng Chàng Thôn Trông ông cụ đĩnh đạc, cổ kính, đội cái nón cỏ giống kiểu nón tu lờ người tu hành” Nơi ở của Thần Non Tản ngày cũng như đêm, ánh sáng “lúc nào cũng nhờ nhờ như nước gạo loãng”, “ánh sáng vĩnh viễn nhờ nhờ như màu ngọc liệu, như chất nước quế trắng sơn pha loãng”[74,168-184]…

Một trong những nét mới mẻ, hiện đại, hấp dẫn trong nghệ thuật trần thuật của truỵện ngắn Nguyễn Tuân là sự đa dạng trong tổ chức các điểm nhìn trần thuật Nội dung trần thuật trong truỵện ngắn của ông được thể hiện bằng sự phối hợp nhiều chủ

Trang 39

thể trần thuật Bên cạnh tác giả trần thuật, nhà văn còn “trao bút” cho có các nhân vật,

để cho họ tự kể, tự nói về mình, đánh giá về nhau… Vì thế, nội dung nghệ thuật của tác phẩm không chỉ được truyền đạt từ duy nhất người kể chuyện mà còn bởi các nhân vật khác, bằng cả tiếng nói bên trong mang nhận thức, tình cảm của nhân vật

1.3 Tiểu kết

Tuy còn những đánh giá khác nhau về tác giả Nguyễn Tuân, bởi ông là một

“hiện tượng phức tạp”, nhưng nhìn chung, ông là một nhà văn lớn, được nhiều học giả tên tuổi nghiên cứu Hầu như mọi đánh giá của các nhà nghiên cứu đều dành cho Nguyễn Tuân những tình cảm trân trọng, cảm phục và ngợi khen một tài văn độc đáo trong văn học Việt Nam hiện đại

Trần thuật là một yếu tố hình thức chủ đạo chi phối nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Tuân Cách tổ chức trần thuật của nhà văn khá đa dạng từ cách xây dựng cốt truyện, chọn lối kể, cách mở đầu, kết thúc, góc nhìn để kể, nhịp kể, giọng điệu, các thủ pháp trần thuật… đều được xử lí linh hoạt Lối kể của Nguyễn Tuân nghiêng về duy lí, khách quan hơn là duy cảm Tuy nhiên, dù chọn lối trần thuật khách quan nhưng về cơ bản vẫn thiên về góc nhìn chủ quan với cách nhìn bên trong Cách kể này làm cho trần thuật của Nguyễn Tuân thấm đẫm dấu ấn chủ quan, cái “tôi” của nhà văn Nhịp điệu kể thường đĩnh đạc, trầm tĩnh, chậm rãi, trang trọng, ít gặp nhịp kể dồn dập, khẩn trương, sôi nổi Truyện ngắn Nguyễn Tuân thể hiện sự giàu có về ngôn ngữ, sự đa dạng trong lựa chọn điểm nhìn, giọng điệu trần thuật và các thủ pháp trần thuật Qua nghiên cứu

về truyện ngắn Nguyễn Tuân, chúng ta thấy nghệ thuật trần thuật đóng vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm tự sự nói chung và chính nó là một yếu tố làm nên sức hấp

dẫn đối với độc giả Đúng như Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết “Kể lại nội dung và

viết nội dung”, đã khẳng định rằng: “Thực ra trong tác phẩm văn học, “viết như thế nào” là để lại dấu ấn sâu sắc ở nội dung, là một bộ phận cốt yếu của nó, thậm chí là

linh hồn của nó Có thể nói rằng nếu như “viết như thế nào” không ra gì thì nội dung

cũng chẳng là gì cả” [65,98] Chúng ta cũng có thể khẳng định như vậy với truyện

ngắn Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám Như vậy, trần thuật là yếu tố hình thức chi phối nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Tuân, nó còn là cơ sở để đánh giá tài năng, phong cách và tâm huyết của nhà văn này

Trang 40

Chương 2 ĐIỂM NHÌN VÀ NHỊP ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN 2.1 Điểm nhìn trần thuật

Trần thuật là một phương tiện cơ bản của phương thức tự sự, là một yếu tố quan trọng tạo nên hình thức của tác phẩm văn học Sức hấp dẫn của tác phẩm tuỳ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật trần thuật của nhà văn Trong tác phẩm văn xuôi tự sự, nội dung trần thuật phải được thể hiện từ điểm nhìn, bằng quan điểm trần thuật nào đó Xác định điểm nhìn trần thuật nghĩa là chỉ ra vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật, tường thuật câu chuyện trong tác phẩm Điểm nhìn trần thuật “là phương thức phát ngôn trình bày miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả” [63,149] Điểm nhìn “thể hiện vị trí người người kể dựa vào để quan sát, cảm nhận,

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN - Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn nguyễn tuân
BẢNG THỐNG KÊ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w