Tìm hiểu nghệ thuật trần thuậttrong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, vì vậy không chỉ để hiểu tài năng cá tínhsáng tạo của một nhà văn, mà còn gợi mở nhiều vấn đề mang ý nghĩa lý luậntrong sá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-MAI VĂN QUÂN
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ XUÂN HÀ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN VĂN HẠNH
VINH - 2011
Trang 2Lời cảm ơn
Để thực hiện luận văn này, trong suốt quá trình, tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của nhiều người Nhân dịp luận văn hoàn thành, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới các thầy cô giáo, những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Văn Hạnh - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi.
Vinh, ngày 6/12/2011
Tác giả
Trang 3Chương 1 Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trong bối cảnh
truyện ngắn Việt Nam sau 1986
9
1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hoá - thẩm mỹ cho sự phát triển
của truyện ngắn Việt Nam sau 1986
9
1.2 Những đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 14
1.2.2 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người 18
1.3 Một cái nhìn khái quát về truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 241.3.1 Vài nét về cuộc đời và sáng tạo của Võ Thị Xuân Hà 241.3.2 Quan điểm nghệ thuật của Võ Thị Xuân Hà 271.3.3 Những cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 31
Trang 42.1.1 Cốt truyện và vai trò của cốt truyện trong truyện ngắn 452.1.2 Tình huống trong cốt truyện truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 482.1.3 Kết cấu cốt truyện trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 51
2.2.3.3 Sử dụng thủ pháp liên tưởng, đồng hiện 78
Chương 3 Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn
Võ Thị Xuân Hà
81
3.1.2 Các sắc thái giọng điệu trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 83
3.1.2.3 Giọng điệu lạnh lùng, mỉa mai, giễu cợt 913.1.3 Kết cấu giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 94
3.2.2 Các màu sắc ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn
Võ Thị Xuân Hà
105
Trang 53.2.2.1 Ngôn ngữ mang màu sắc Phật giáo 105
xử lí vấn đề riêng Hệ quả tất yếu là truyện ngắn Việt đương đại đã gặt hái
Trang 6được nhiều thành công trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kểđến nghệ thuật trần thuật
1.2 Võ Thị Xuân Hà là nhà văn xuất hiện sau 1975 Chị thuộc trong sốkhông nhiều những cây bút nữ đang khá sung sức, thể hiện được dấu ấnphong cách, cá tính sáng tạo của mình Xuân Hà viết khảo cứu, kịch bảnphim, tiểu thuyết, truyện dài và đặc biệt ở địa hạt truyện ngắn, với 11 tậptruyện đã ra mắt công chúng, chị đã để lại dấu ấn đậm nét trong đời sống vănhọc những thập niên gần đây Tuy nhiên, thành tựu nghiên cứu truyện ngắn
Võ Thị Xuân Hà còn rất mỏng Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyệnngắn Võ Thị Xuân Hà, chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói khám phá tàinăng, sáng tạo truyện ngắn của chị
1.3 Thế giới truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà phản ánh cái nhìn đa chiều,
đa diện về con người và cuộc sống, thể hiện những tìm tòi, thể nghiệm củatruyện ngắn Việt Nam những năm gần đây Tìm hiểu nghệ thuật trần thuậttrong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, vì vậy không chỉ để hiểu tài năng cá tínhsáng tạo của một nhà văn, mà còn gợi mở nhiều vấn đề mang ý nghĩa lý luậntrong sáng tác truyện ngắn Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
Thuộc thế hệ những nhà văn nữ Việt Nam trưởng thành sau 1975, Võ ThịXuân Hà đến với văn chương như là định mệnh vậy (chữ “định mệnh” - theocách nói của nhà văn) Chị bộc bạch về mình “Người đàn bà viết truyện cóđôi mắt đen, mở to, thăm thẳm, lúc dịu dàng cái nhìn của một người con gáigốc Huế, lúc ánh lên sự lạnh lùng, sắc sảo của một người phụ nữ sớm bươnchải với những nhọc nhằn của cuộc sống đất Hà thành luôn coi văn chươngnhư cái nghiệp” [13, tr 19] Xuân Hà bắt đầu ghi tên mình vào làng văn Việt
Nam với tập truyện ngắn đầu tiên: Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào - Nxb Văn
học, 1992 Từ đó đến nay, mặc dù cuộc sống “xê dịch”, phải đối mặt vớinhiều thử thách, chị vẫn không ngừng viết, liên tục cho ra đời nhiều đầu sách
Trang 7và bước đầu tạo được hiệu ứng tích cực từ phía dư luận (đã xuất bản 15 tậptruyện ngắn, hai tập truyện dài, hai cuốn tiểu thuyết, một tập khảo cứu và một
số tác phẩm đang hoàn tất đề cương) Võ Thị Xuân Hà cũng là nữ nhà văn códuyên với nhiều giải thưởng văn học và kịch bản điện ảnh Qua những trangviết, người đọc nhận ra bóng dáng chị ở trong đó, một Xuân Hà trải nghiệm,
cá tính, tinh tế, thành thực, hết mình Bởi thế, ngay từ khi mới xuất hiện trênvăn đàn, truyện ngắn Võ Xuân Hà đã thu hút sự chú ý quan tâm của đông đảocông chúng, nhất là cư dân mạng
Phong Điệp với bài viết Nhà văn Võ Thị Xuân Hà - Bí quyết chống
nhàm chán đăng tải trên Website http://www.phongdiep.net đã có những cảm
nhận khá thú vị về tập truyện ngắn Thế giới tối đen Tác giả bày tỏ tình cảm
thân thiết cũng như sự khâm phục tinh thần “xả thân” vì văn chương của VõXuân Hà Đọc những trang văn tinh tế, thâm trầm của Xuân Hà, nhiều người
sẽ nghĩ chị rất cầu kỳ, dụng công về câu chữ nhưng “thực ra Xuân Hà là mộttrong những tác giả hiếm hoi có thể viết văn với cái lối của một nhà báo.Nghĩa là ở bất cứ đâu, trong hoàn cảnh nào chị cũng có thể ngồi gõ máy như
nhập đồng” [16] Có cùng cách nhìn ấy, Cửu Chân trong bài phỏng vấn Võ
Thị Xuân Hà - văn chương nhân đôi niềm vui, đăng ngày 08/04/2005 trên báo Tiền phong online đã cho độc giả thấy một Xuân Hà, bên cạnh công việc kinh
doanh bận rộn, thì sức hút văn chương với chị không bao giờ là đủ Chị dànhnhiều thời gian, tâm huyết cho những trang viết mới Xuân Hà chia sẻ với
Cửu Chân về những điểm thú vị trong tập truyện Thế giới tối đen Tập truyện
có nhiều truyện ngắn gần như là tự truyện của chị, không hư cấu, tô vẽ, tất cảđều được minh hoạ bằng hình ảnh thật những người thân gần gũi với nhà văn.Bằng lối hành văn “trong trẻo”, không “đao to búa lớn”, không “văng tục chửi
bậy”, không “gào thét và gây sự” Thế giới tối đen là một triết lý đi ngược với
khái niệm thông thường, rằng hễ cứ cái gì “tối” và “đen”, thì suy luận ra là
“xấu” Trên tạp chí Người đẹp Việt Nam, với bài Ngôi nhà gương của Võ Thị
Trang 8Xuân Hà, nhà văn Hà Phạm Phú cho rằng sáng tác của Xuân Hà đã dến với
bạn đọc bằng những truyện ngắn “đậm chất đàn bà” Trong rất nhiều truyệnngắn của Xuân Hà, chị luôn dành sự ưu ái quan tâm cho những người phụ nữ
Họ là những người đến từ nhiều vùng quê khác nhau, có người miền biển, cóngười miền rừng, người miền xuôi, người miền ngược… Tuy nhiên ở họ cómột điểm giống nhau, cuộc sống có nghèo khó hay sung túc mặc kệ, luôn bịtrộn lẫn thực tại và mộng tưởng, bị ám ảnh bởi quá khứ còn tương lai thì đầybất trắc “Những người đàn bà ấy cười nói, đi đứng, yêu đương vụng trộm,sung sướng và căm giận không hiểu sao lại làm cho lòng ta xáo động, đánhthức nỗi buồn chìm sâu và ngủ quên trong đáy tim mình từ bao năm, êm ái lantoả, thấm dần vào từng huyết quản Nỗi buồn còn bắt nguồn từ những khátvọng, ước mơ không đạt đến được, từ sự tan vỡ hạnh phúc mà đôi khi chính
mình là thủ phạm Bởi quá yêu mình hay không chịu hiểu người” [72] Khi
viết về người phụ nữ, Xuân Hà luôn có ý nhấn mạnh vào nỗi khổ tinh thầncủa họ Chị lý giải nguyên nhân này bằng tham vọng, bằng sự xô đẩy củacuộc đời Cũng có khi nhà văn nhìn sâu vào những bí ẩn của thế giới tâm linh,của những thế lực vô hình đeo bám đời sống con người Và dĩ nhiên, thế giớitâm linh chưa bao giờ là dễ lý giải Ngoài ra ở bài viết này, Hà Phạm Phú còn
có sự thâm nhập bằng cảm nhận vào hình tượng tác phẩm và tìm ra đượcnhững khái quát về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của chị Bài báođưa ra, phân tích các nhân vật nữ trong một số truyện ngắn và chỉ dừng lại ởmức nhận định tổng quát Thời hiện đại với những bức bí của nó khiến họchênh vênh giữa lối sống bản năng và khát vọng hướng thiện, hạnh phúc, khổđau Bằng cái nhìn tinh tế, sự cảm thông sâu sắc của nữ giới đã mang đến chovăn học cảm giác bề bộn của cuộc sống trong thời buổi đồng tiền áp chế mọiphương diện đời sống Hàng loạt truyện ngắn của Võ Xuân Hà đều có nhânvật phụ nữ khao khát được yêu và sống đúng nghĩa với tình yêu Nhiều truyện
Trang 9của Võ Thị Xuân Hà đã chạm đến khía cạnh tinh vi của đời sống tình cảm,của gia đình thời hiện đại, những nỗi đau, dù vẫy vùng nhưng không lối thoát.
Trên Website http://www.vietbao.vn, đăng ngày 10/08/2005, với tựa đề bài viết Võ Thị Xuân Hà - Người con của các dòng sông, nhà báo Nguyên
Anh đã nhận xét về lối viết của Võ Thị Xuân Hà như sau: “Lớn lên bên dòngHồng Hà nhưng quê gốc của chị là bên dòng Hương Giang… Do đó, văn VõThị Xuân Hà vừa có sự mãnh liệt và bất ngờ của dòng Hồng Hà, vừa có cái
âm trầm bình thản, sâu thẳm và dữ dội của dòng Hương Giang… Văn của chịluôn tựa như hai dòng nước, có khi đối lưu, có khi hoà lẫn, có khi hỗn mang,
mạn hư thực” [99] trong một số truyện ngắn của chị như: Lúa hát, Vĩnh biệt
giấc mơ ngọt ngào, Bầy hươu nhảy múa…Trên báo Đại đoàn kết, số 118,
đăng ngày 26/11/2006, tác giả Hàn Thuỷ Giang với nhan đề bài viết Võ Thị
Xuân Hà – Người sống trên đất lặng lẽ đã tìm thấy sự đồng cảm sâu sắc với
nhà văn, tác giả bài báo chia sẻ “Dường như trong văn chương, chị là mộtngười mẹ cố bù đắp cho những nhân vật của mình vợi bớt nỗi mất mát cô đơntrước cuộc đời đầy bất trắc này” Quả đúng như vậy, Võ Thị Xuân Hà đã tìmđược cách thể hiện tình nhân ái qua những chi tiết nhỏ, tinh tế, những chi tiếtđôi khi nhiều người không chú ý tới Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà không tô
Trang 10hồng cuộc sống, thậm chí văn chị đọc lên người đọc thấy cái nghiệt ngã, đắngcay nhưng lan tỏa trên mỗi trang viết là tấm lòng của một người phụ nữ cóniềm tin, biết tin và hết lòng yêu cuộc đời, con người Chị luôn tin vào cái bảnthể nguyên sơ của con người, dù nó đã bị chà đạp, làm băng hoại Đó là bản
chất của hiện thực Mới đây, trong một bài viết, với nhan đề Những chuyện
đời hư ảo mê đắm tình yêu cuộc sống của tác giả Nguyễn Long Khánh đăng
trên trang http://www.vannghechunhat.net/ đã giới thiệu nội dung chính một
số truyện ngắn trong tập Chuyện của con gái người hát rong Qua đó, tác giả
bài viết đánh giá nhà văn Võ Thị Xuân Hà có tài biến những câu chuyện giản
dị đời thường thành những chuyện cổ tích mộng mơ, lấp lánh đôi cánh tìnhyêu bay lên trong ước vọng như chị đã tin vào ngôi sao chiếu mệnh của mình
từ hồi thơ ấu “Đọc Võ Thị Xuân Hà, thấy dấu vết cuộc sống vất vả hằn lêntrong đời chị: thật nhiều va đập, dằn vặt, đắng cay vì cuộc mưu sinh Ngườicon gái gốc Huế ra Hà Nội học hành rồi trụ lại, tranh đấu để tồn tại trưởngthành, chững chạc, thành công dân Thủ đô và một nhà văn có giọng điệu,phong cách riêng của mình Đó thật là điều đáng kể: phải có bản lĩnh, nghị lựcmạnh mẽ, kiên định mới đến được mơ ước ấp ủ từ thời thơ ấu của mình” [46]
Ở bài Võ Thị Xuân Hà - Hành trình nhận diện chính mình do tác giả Ngọc Lan thực hiện được đăng ngày trên báo Nông thôn ngày nay, số ra ngày
13/09/2005 Tác giả bài viết mặc dù đã tiếp cận đối tượng sáng tác, nhưngcũng mới chỉ là tiếp cận ở bề ngoài với cái nhìn tổng quan Dẫu biết rằng cuộcsống sẽ nghiệt ngã, ngòi bút của tác giả cheo leo giữa gánh nặng áo cơm vàvăn chương nghệ thuật, nhưng chị luôn cố gắng, thậm chí còn “tự huyễn hoặcmình” nữa để viết, để “Mong được là chính mình” Đó là nội dung mà bài
Mong được là chính mình của tác giả Thu Hà đăng ngày 14/02/2007 trên báo Tuổi trẻ Thành Phố Hồ Chí Minh Bài báo đã nêu lên được nhiều khía cạnh
trong nghệ thuật truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà Đó là lối nhận xét tinh tế,thâm trầm nhưng đậm triết lí; giọng điệu trữ tình, mỉa mai pha chút hài hước
Trang 11dí dỏm; không gian đa chiều; tình huống đơn giản nhẹ nhàng nhưng sâu sắc…
Đó là một trong những lí do khiến truyện ngắn của chị nổi bật, đi theo mộthướng riêng, không lẫn lộn với bao nhiêu tác giả nổi bật của thời các nhà văn
nữ đang “lên ngôi” này Càng ngày ngòi bút của chị càng sung sức trên mọi
phương diện Tác giả Lê Văn trong bài viết Võ Thị Xuân Hà và nỗi đau của
nhân vật thời hậu chiến đăng trên báo Vietnamnet.com.vn, ngày 26/06/2007
đã cho độc giả thấy một Võ Thị Xuân Hà không đau đáu với cuộc chiến vànhững trang văn nhức nhối bên trong như Võ Thị Hảo, nhưng từ sâu thẳmtrong mạch văn chương của chị vẫn bàng bạc sâu lắng một đất nước tan chiếnnhưng chưa tàn chiến Bao nhiêu số phận con người vẫn gieo neo khi cuộcchiến đã đi qua Sự thật là vẫn có những số phận con người như đi ngược lạivới niềm vui chung của đất nước chiến thắng Bằng tấm lòng bao dung, sựnhạy cảm của một nhà văn nữ tinh tế, một cái nhìn vừa đôi khi như máu thịtchính mình vừa là sự cảm thông chia sẻ, ẩn sau những nội dung câu chữ giản
dị đời thường là những tâm tình, sự day dứt khôn nguôi về số phận con ngườikhông trọn vẹn, về cuộc đời mất mát về nhân tình thế thái đổi thay… Nguyễn
Thị Thu Thủy trong bài phỏng vấn gần đây với nhan đề Tham gia chương
trình “Mùa xuân nước Pháp” để gần độc giả hơn đăng trên http://thethaovanhoa.vn Xoay quanh nó chỉ là những câu hỏi về chương trình
mà Võ Thị Xuân Hà có tham gia giao lưu với nội dung “Không gian đa chiềutrong bút pháp Võ Thị Xuân Hà” Ngoài ra không có gì động chạm đến sángtác của tác giả Tuy nhiên qua bài phỏng vấn chương trình này cũng giúpchúng tôi nhận thấy rằng “Không gian đa chiều” là một đặc trưng nghệ thuậttrong sáng tác của Xuân Hà, để từ đó tiếp tục đi sâu khảo sát phân tích
Trong bài viết Quả lắc Võ Thị Xuân Hà trên đăng tải trên Website:
http://www.tonvinhvanhoadoc.vn/, ngày 22/11/2010, tác giả Ngô Hương
Giang đã nhấn mạnh ở tính biến điệu, dao động, biện chứng của con mắt tưduy truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà Bài viết cho thấy: “Thế giới truyện ngắn
Trang 12Võ Thị Xuân Hà phản ánh thế giới của những náu ẩn tâm thức, không ngừngvận động, thôi thúc từ phía ý thức chủ thể sáng tạo Thế giới ấy không phảnánh đơn giản những ký ức vụn vặt, được chắp lối từ quá khứ, đó là tập hợp sốđông những ký ức không ngừng được tư duy lại và tự phản chứng với xã hội,xuyên qua nhiều khoảnh khắc lấp chồng của thời gian, của văn hoá”
Điểm lại những bài viết trên đây có thể thấy, cho đến nay, chưa cónhiều bài viết mang tính nghiên cứu về truyện ngắn Võ Xuân Hà Hầu hết các
ý kiến mới dừng lại ở cảm nhận ban đầu với mục đích giới thiệu sáng tác của
Võ Xuân Hà với công chúng Bên cạnh đó, việc hầu hết bài viết được đăng tảitrên các tờ báo mạng hoặc các tờ báo không chuyên cũng phần nào cho thấymục đích của người viết Trong khi đó, như đã nói ở trên với những gì đã có,
Võ Xuân Hà đã chứng tỏ được một năng lực sáng tạo với những cách nhìn,cách viết mới mẻ Thực tế đó là một gợi ý thú vị để chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân
Hà.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là khámphá cách tổ chức trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, chỉ ra được vị trí của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trong bối
cảnh truyện ngắn Việt Nam đương đại
Thứ hai, chỉ ra được cách tổ chức và những đặc sắc trong nghệ thuật
trần thuật của Võ Thị Xuân Hà trong truyện ngắn
Thứ ba, trong một chừng mực nhất định rút ra được một số vấn đề về
phong cách truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghệ thuật trần thuật trongtruyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Trang 134.2 Tổ chức trần thuật trong tác phẩm văn học bao gồm nhiều bìnhdiện với những cấp độ khác nhau Ở đây, chúng tôi giới hạn phạm vi kháo sáttrên một số phương diện cơ bản, như: cốt truyện và nhân vật; giọng điệu vàngôn ngữ trần thuật.
4.3 Về tư liệu khảo sát, chúng tôi tập trung khảo sát 3 tập truyện ngắnsau:
* Chuyện của con gái người hát rong, Nxb Hội Nhà văn, 2006
* Thế giới tối đen, Nxb Hội Nhà văn, 2009
* Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí, Nxb Hội Nhà văn, 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọnmột số phương pháp, như: khảo sát, thống kê, phân loại; phân tích tổng hợp;cấu trúc, hệ thống; so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trong bối cảnh truyện ngắn
Việt Nam sau 1986
Chương 2 Cốt truyện và nhân vật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà Chương 3 Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị
Xuân Hà
Và cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo
Chương 1 TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ XUÂN HÀ TRONG BỐI CẢNH TRUYỆN
NGẮN VIỆT NAM SAU 1986
1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hoá - thẩm mỹ cho sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Trang 141.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội
Bối cảnh lịch sử - xã hội ở mọi thời đại đều có tác động sâu sắc đến đờisống văn học Hay nói khác đi, hoàn cảnh khách quan chi phối cái nhìn chủquan của người người nghệ sỹ Do đó, tìm hiểu sự vận động và phát triển củamột thời kỳ văn học, hoặc một tác giả, tác phẩm văn học, không thể bỏ quahoàn cảnh lịch sử Sẽ không võ đoán khi nói rằng, nếu lịch sử nhân loại cứchảy trôi bằng phẳng, không có những biến động thì sẽ không có những tácphẩm văn học kiệt xuất Và nếu nói, hoàn cảnh nảy sinh anh hùng, thì cũng cóthể nói, hoàn cảnh đã tạo ra những nhà văn với nhãn quan vượt tầm thời đại
Đại thắng mùa xuân năm 1975 mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyênđộc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội Hoà bình lập lại, việc xây dựngCNXH gặp vô vàn khó khăn trong bối cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiếntranh với bao thương tích nặng nề Đó không những thiệt hại về vật chất màcòn hao tổn lớn về sức người, thật khó có thể bù đắp được trong một thời gianngắn Con đường chúng ta đi không phải là con đường bằng phẳng, mà chônggai, gập ghềnh, “vấp váp và trả giá” (Nguyên Ngọc) Khi vết thương chiếntranh còn chưa lành, chúng ta lại phải gồng mình bước vào cuộc kiến thiếtthời hậu chiến với muôn vàn khó khăn, thử thách Nhìn từ thực tiễn hoàn cảnhđất nước, mới thấy nhà văn Nguyễn Minh Châu nói thật chí lý: “Cái mảnh đấtbao lớp người liên tiếp đổ xương máu giành được độc lập, xưa nay đất dướichân người thắng giặc có bao giờ nở sẵn đầy hoa” [10, tr 29] Nền kinh tế sauchiến tranh khủng hoảng trầm trọng Những mặt trái, mặt phi đạo đức của xãhội không ngừng bộc lộ, phát triển, len lỏi vào tất cả mọi ngõ ngách của đờisống, nhiều tiêu cực của cơ chế quản lý bao cấp đã góp phần tạo nên sự trì trệ.Mâu thuẫn giai cấp, các tầng lớp xã hội ngày càng nổi rõ khó bề giải quyết.Tâm lý con người không tránh khỏi những băn khoăn, hoang mang lo lắng khiđối diện với những biến động khủng hoảng của xã hội Đó là môi trường thíchhợp cho những tiêu cực có thể xảy đến bất cứ lúc nào Đời sống văn hoá văn
Trang 15nghệ chững lại, độc giả dửng dưng với người viết, nhiều nhà văn lâm vào tìnhtrạng bế tắc, không tìm được phương hướng sáng tác Ý thức nghệ thuật của
số đông người viết và công chúng chưa thực sự bắt nhịp với thời đại Nhữngquan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kỳ trước tỏ rabất cập, lỗi thời trước hiện thực mới và thị hiếu mới Đây là thời gian mà nhàvăn Nguyên Ngọc gọi là “khoảng chân không trong văn học” Nhưng cũngchính trong khoảng thời gian này đã diễn ra sự vận động có chiều sâu trongđời sống văn học Văn học đã chuyển từ cuộc chiến đấu cho quyền sống của
cả một dân tộc sang một cuộc chiến đấu mới, dù âm thầm nhưng quyết liệtkhông kém Đó là “cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng cá nhân”, màtheo cách nói của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “không có gì ồn ào nhưng xảy
ra từng giờ, từng ngày ở khắp mọi lĩnh vực của đời sống” [10, tr 31] Vănhọc đặt trong mối quan hệ với hiện thực đời sống thường nhật đã bộc lộ tất cả
sự phức tạp, đa dạng, đa chiều của nó trong guồng máy vận động khôngngừng nghỉ Đây quả là bước chuyển không hề giản đơn với một nền văn học
đã được mặc định với “bè cao” trong một thời gian dài Nguyễn Khải, mộtnhà văn nhiều kinh nghiệm cũng phải thừa nhận: “Chiến tranh ồn ào náo động
mà lại có sự yên tĩnh, giản dị của nó, hoà bình mà lại chất chứa những sóngngầm, những gió xoáy ở bên trong” [57, tr 44] Khó khăn lớn của một đấtnước vừa ra khỏi chiến tranh như là một lời thách thức, “như một thứ chiếntrường mới, lập tức mở ra trên vùng chiến trường cũ”, đòi hỏi con người phảiđầy đủ bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ mới vượt qua được Đúng như Nguyễn Minh
Châu đã từng đề cập trong tiểu thuyết Miền cháy: “Bước ra khỏi cuộc chiến
tranh cũng cần phải có đầy đủ nghị lực như bước vào một cuộc chiến tranh”[41, tr 26] Những vận động chiều sâu của đời sống văn học, những trăn trởkiếm tìm âm thầm mà quyết liệt, “điềm đạm mà dũng cảm” ở một số nhà vănmẫn cán với nghề, bước đầu đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận
Trang 16Năm 1986, Đảng ta tiến hành Đại hội Đảng lần thứ VI Đây là Đại hộiđổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và tưduy Đặc biệt, vào tháng 10 năm 1987, cuộc giao lưu văn hóa, văn nghệ giữaTổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và các văn nghệ sĩ được diễn ra trong khôngkhí dân chủ, cởi mở Tại diễn đàn này, đi kèm với chủ trương cách tân lànhững trao đổi thẳng thắn với tinh thần “cởi trói” cho văn nghệ Một cánh cửalớn đã mở ra cho văn học nghệ thuật nước nhà Nối tiếp sau đó là sự ra đờicủa Nghị quyết 05 của Bộ chính trị về công tác văn hóa văn nghệ (1987),nhân thêm vị trí và chức năng mới cho văn nghệ: “Văn học nước ta phải đổimới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” Nhà văn của chúng ta bấy giờ cũng
tự xác định “không thể viết như trước nữa” Chưa bao giờ lại có nhiều cuộchội nghị “bàn tròn” về văn học như thời kỳ này Đường lối đổi mới cùng các
sự kiện chính trị, văn hóa sau đổi mới như một cú hích, đã tạo đà và thổi mộtluồng sinh khí nhiệt huyết cho văn nghệ Tinh thần “cởi trói”, “tự cứu lấymình”, “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”, “tự do sáng tạo phải đi đôivới tự do phê bình” đã dần hình thành nếp trong đời sống văn nghệ Từ nhữngbiến động lịch sử đã tác động sâu sắc đến tâm lý con người Trong chiến tranhcon người đối mặt giữa sự sống và cái chết, anh dũng và hèn nhát, nhưng khithời bình con người phải đối mặt với bao biến cố của cuộc sống thường nhật.Trong guồng quay của nền kinh tế thị trường, sự bon chen, xô bồ của đời sốngmưu sinh, nội tâm con người bí ẩn và khó nắm bắt hơn Thế nên thị hiếu, khảnăng nhận thức của con người cũng không hề đơn giản dẫn đến cách thẩmđịnh văn học cũng gai góc hơn Độc giả ngày nay “không bằng lòng với hiệnthực khách quan được phản ánh, họ đòi hỏi ở nhà văn tinh thần nghiền ngẫm,suy luận nghiêm túc Bởi vậy cái nhìn giản đơn một chiều về cuộc sốngkhông còn hấp dẫn Thậm chí người đọc hôm qua còn mặn mà là thế, bỗngdưng hờ hững quay lưng lại với văn học nước nhà vì lối viết không mới mẻ,
vì những vấn đề hiện thực đã quá cũ mòn Đòi hỏi từ phía người tiếp nhận, sự
Trang 17tự ý thức phải thay đổi từ phía người sáng tạo cộng với đường lối chính sáchthông thoáng đã tạo đà cho văn học Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ” [8, tr.
9] Đó thực sự là môi trường thuận lợi cho sự tìm tòi sáng tạo người nghệ sĩ.
1.1.2 Bối cảnh văn hóa – thẩm mỹ
Chúng ta dễ dàng nhận thấy, bất luận một tác phẩm, một trào lưu, mộtnền văn học nào, xét đến cùng, cũng không thể đứng trên, đứng ngoài sự vậnđộng của nền tảng của xã hội, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ của mảnh đất đãsinh ra nó, tức là sự vận động của nền tảng xã hội mà trên cơ sở đó nó hìnhthành và phát triển Và như vậy, việc đổi mới nghệ thuật trần thuật của vănxuôi Việt Nam giai đoạn sau 1986 không nằm ngoài quy luật trên
Ra khỏi chiến tranh, mọi hoạt động của con người lại dần dần trở lại vớicuộc sống đời thường, trong đó có văn chương nghệ thuật Nguyễn Minh
Châu trong bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa
được viết năm 1987 đã nhấn mạnh: “thời kì này diễn ra một cuộc đối chứnggiữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và phi hoàn thiện, giữa ánhsáng và khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong mỗi tâm hồn, mỗi con người”[9] Trên bình diện ý thức và quan niệm nghệ thuật, từ những năm 90 của thế
kỉ trước văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng đã có những biến đổi quantrọng theo hướng dân chủ hóa Ở giai đoạn trước, do sự chi phối của chiếntranh, văn học được nhìn nhận như là vũ khí tư tưởng, tự nguyện gánh vácnhiệm vụ tuyên truyền, thiên về chiến thắng, về cái anh hùng vĩ đại của dântộc Ngày nay những tác phẩm viết theo lối tư duy cũ không còn hấp dẫn độcgiả Trước đây cách viết sử thi là khuynh hướng cơ bản, đến nay nó khôngcòn đáp ứng được nhu cầu phản ánh hiện thực đa dạng, đa chiều của cuộcsống sau chiến tranh Yêu cầu đổi mới nền văn học một cách toàn diện càngtrở nên bức thiết, từ quan niệm nghệ thuật, quan niệm hiện thực về con người,các thủ pháp nghệ thuật Nhiệm vụ khám phá thực tại được coi trọng, ý thức
Trang 18sâu hơn về sự thật Văn học hướng đến tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự
- đời tư, nhất là từ nửa đầu những năm 80 trở đi Nhiều cây bút đã đi vào thểhiện mọi khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nêncuộc sống đời thường phồn tạp mà vĩnh hằng Có lẽ do ảnh hưởng của nềnkinh tế thị trường, cái nhìn về văn học cũng thoáng và cởi mở hơn Khôngnhững thế văn học còn đóng vai trò như một thứ hàng hóa đặc biệt, viết vănđược xem như một trò chơi tinh thần, không vụ lợi nhằm để thưởng thức vàgiải trí lành mạnh nhất Vì thế, quan niệm về kiểu nhà văn đã có sự thay đổi.Nếu như trước đây chúng ta quá đề cao các chức năng nhận thức, giáo dục, vàcho rằng “mỗi nhà văn là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” có nhiều nhiệm
vụ diễn đạt tiếng nói chung của dân tộc Bây giờ, người ta coi văn học nhưmột phát ngôn của người nghệ sĩ, là tiếng nói của cá nhân, là sự can dự củangười trí thức vào thời đại mình, làm phong phú và giàu có hơn đời sống tinhthần của xã hội Để không bị công chúng đối xử với những trang viết đầy tâmhuyết của mình bằng một thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, các nhà văn buộc phải thayđổi cách viết Đó là lí do tại sao nền văn học dân tộc sau 1975, đặc biệt từ
1986 đến nay xuất hiện nhiều cây bút độc đáo như Nguyễn Huy Thiệp, HồAnh Thái, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Bình Phương, Dương Hướng, PhanThị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần ThịThường, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư…
Từ góc độ người đọc, sau 1986 trong hoàn cảnh hoà bình, nhu cầu thẩm
mĩ của người đọc đã thay đổi Công chúng đòi hỏi mỗi nhà văn phải đáp ứngthị hiếu, nhìn nhận hiện thực cuộc sống của đất nước một cách toàn diện chứkhông phải một chiều như văn học thời chiến tranh Điều này đòi hỏi các nhàvăn buộc phải thay đổi cách viết, thay đổi tư duy nếu không muốn bị bạn đọc
bỏ quên Người ta bắt đầu nhìn nhận lại nhiều giá trị cũ, bàn bạc lại một sốchân lý của thời đã qua, dường như mọi thứ đều muốn được đo đạc bằngnhững tiêu chí mới Hiện thực cuộc sống sau chiến tranh và diễn biến tâm lý
Trang 19phức tạp của con người, đòi hỏi các lĩnh vực của xã hội phải có cơ chế quản líthích hợp Đối với văn học, người nghệ sỹ phải nhìn nhận lại mọi vấn đề đadạng, phức tạp của cuộc sống Nghệ sỹ là con mắt, lỗ tai của xã hội, bằngthực tế của đời sống văn học phải phản ánh đúng bản chất của hiện thực, phảinói thẳng, nói thật mới mong đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của người đọc Bởihơn bao giờ hết “tầm quan trọng của thị hiếu người đọc là cái nôi cho tácphẩm thế này hoặc thế kia ra đời và sống được” [41, tr 4]
1.2 Những đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Nhìn trên nét lớn, có thể thấy truyện ngắn Việt Nam sau 1986 tập trung
đổi mới ở những phương diện sau: đổi mới về tư duy nghệ thuật, đổi mớiquan niệm nghệ thuật về con người và đổi mới nghệ thuật trần thuật
1.2.1 Đổi mới tư duy nghệ thuật
Nằm trong quy luật phát triển chung của đất nước, sau năm 1975, đặcbiệt là từ những năm 80 trở lại đây, cùng với sự đổi mới về đường lối kinh tế,chính trị, văn học cũng đang chuyển mình và có sự đột phá trong tư duy nghệthuật Đổi mới tư duy nghệ thuật để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mớitrở thành vấn đề cấp thiết của văn học Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Đảng
Cộng sản Việt Nam 1987 về Công tác văn hoá văn nghệ có ý nghĩa vô cùng
to lớn với đời sống văn học, tạo nên một luồng sinh khí mới cho văn học nóichung và văn xuôi nói riêng Nghị quyết 05 nhấn mạnh: “Đảng khuyến khíchvăn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệmmạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hình vàthể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện” [44, tr 17]
Đề tài, cảm hứng của văn học đã thay đổi nhiều so với thời kì trước.Những bản anh hùng ca đã không còn, thay vào đó là những vấn đề nhânsinh, là những cuộc đấu tranh trong đời sống nội tâm của con người, conngười được nhìn đa chiều, đa diện hơn… Cái mới, cái cách tân trước tiên cóthể kể đến của văn xuôi Việt Nam sau 1986 là sự chuyển đổi tư duy nghệ
Trang 20thuật Văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng sau 1975 và đặc biệt sau
1986 chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết Tư duy tiểu thuyết,theo nhà nghiên cứu M Bakhatin là tư duy suy ngẫm cái hiện thực, suy ngẫm
về cái đương đại đang diễn ra, “cái đương đại chưa hoàn thành” [4, tr 57].Cùng với kiểu tư duy nghệ thuật mới, là sự xuất hiện một kiểu nhà văn mới
Họ vừa là “con đẻ” của thời đại văn học mới, vừa góp phần tạo nên sự đổimới tư duy nghệ thuật và là người trực tiếp đem lại những thành tựu văn họcthời đổi mới Điều đó cũng chứng tỏ ý thức tạo dựng một nhãn quan nghệthuật mới, ý thức đó được bộc lộ qua hai dấu hiệu cơ bản Thứ nhất, tác phẩmnghệ thuật vượt ra ngoài cảm hứng sử thi hoành tráng thường thấy ở văn học
1945 -1975, để tiến tới sự đa dạng, phong phú với nhiều gam giọng điệu Giatăng chất đối thoại, độc thoại, màu sắc huyền ảo trong tác phẩm Thứ hai, cáinhìn tỉnh táo của các nhà văn thực chất là cái nhìn đầy suy tư, triết luận và ýthức trách nhiệm cao trước cuộc sống Đồng thời, cùng với sự thay đổi trongcấu trúc tư duy nghệ thuật thì vị thế nhà văn cũng thay đổi Nhà văn khôngđóng vai trò là người rao giảng đạo đức, bằng những tác phẩm mang tính chấtminh hoạ cho một tư tưởng, một chân lý sẵn có, mà phải góp phần đắc lựctrong việc khai thác những góc khuất của đời sống hiện tại, đánh thức nhữngkhao khát, những trắc ẩn, những miền vô thức ẩn kín mà bấy lâu nay bị bỏquên
Văn học thời kỳ này còn hoài nghi với những giá trị đã quá ổn định vềcon người, về cuộc sống Nó phát triển theo những giá trị mới: dự báo, dựcảm, chiêm nghiệm về sự biến đổi tất yếu của xã hội và thân phận con người
Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học những cảm hứngmới, những đề tài và chủ đề mới, đưa đến hệ quả tất yếu trong văn học là sựthay đổi quan niệm nghệ thuật về con người “Văn học ngày càng đi tới mộtquan niệm toàn vẹn và sâu sắc về con người mà nền tảng triết học và hạt nhân
cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản” [57, tr 16] Con người trở
Trang 21thành trung tâm của mọi vấn đề văn học Con người vừa là xuất phát điểm,vừa là đối tượng khám phá, vừa là đích cuối cùng của văn học, đồng thời conngười cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi
sự kiện và biến cố lịch sử Con người xuất hiện trong văn học thời đổi mớiđược “định vị” ở nhiều vị thế: con người xã hội, con người lịch sử, con ngườivăn hoá, con người cá nhân… Con người được nhìn ngắm trong nhiều mốiquan hệ: quan hệ với người khác, quan hệ với chính mình, quan hệ với xã hội.Con người được soi chiếu trên nhiều bình diện: ý thức và vô thức, cao thượng
và thấp hèn, thiên thần và ác quỷ… Có thể nói, văn học đã thực sự khôi phụclại giá trị đích thực của con người, chứ không còn là “sự quên mất con người”nữa Đổi mới tư duy nghệ thuật đồng nghĩa với sự sáng tạo, và nó chấp nhậnmọi hiện thực, cho dù hiện thực ấy có nghiệt ngã thế nào đi chăng nữa
Hiện thực đời sống thay đổi khác trước rất nhiều, đòi hỏi các nhà văn
có cách tiếp cận hiện thực phù hợp Văn học lúc này không chỉ chú trọng vàohai đề tài Tổ quốc và CNXH như trước nữa Một mảng hiện thực lớn hầu như
bị bỏ quên trước đây nay được đặc biệt chú ý Đó là những vấn đề đời tư, đờithường, đạo đức, số phận cá nhân, nhất là tình yêu nam nữ Mọi vấn đề củađời sống hay nói cách khác, tất cả những gì liên quan đến con người đều đượcnhà văn quan tâm và đưa vào trong văn học cản hứng sử thi thời kì 1945 -
1975 nghiêng về phản ánh các sự kiện có ý nghĩa lịch sử, có tính toàn dânhướng ngòi bút của các văn nghệ sĩ vào việc khám phá ngợi ca những conngười tiên tiến, con người anh hùng, những người xả thân vì nghĩa lớn thì đếntác phẩm văn học sau 1975, đặc biệt sau 1986 ngược lại, nghiêng về nhữngvấn đề đời tư, đời thường, những vấn đề đạo đức hướng tới những con ngườiđời thường trong cuộc sống, những số phận cá nhân hết sức phức tạp
Hình tượng con người được đưa vào văn học qua hai thời kì đã có sựkhác biệt cụ thể Nếu nhân vật của văn học trong 30 năm chiến tranh là nhữngcon người mẫu mực, lí tưởng của Đảng, cách mạng mà nhà văn mong muốn
Trang 22xây dựng để nêu gương cho mọi người noi theo thì trong văn học sau chiếntranh, con người hiện lên như nó vốn có trong cuộc sống Văn học đã vượtqua vị thế độc thoại với độc giả về những suy tư, trắc trở của cuộc sống thờibình Những tác phẩm văn học sau 1986 không đơn giản là tiếng hô xungphong của một tiểu đội mà còn là chiều sâu tâm linh, là những khát khao thầmkín về tình yêu, tình dục, hạnh phúc gia đình về những gì là bản thể của conngười Cách nhìn của nhà văn về con người và hiện thực thời kì này đa chiều,
đa diện và phức tạp hơn Nếu con người trong văn học trước 1975 được nhìnđơn giản, một chiều, hết sức rạch ròi giữa thiện - ác, cao cả - thấp hèn, tâm lí
ít phức tạp, không có sự giằng xé nội tâm thì con người sau 1975, đặc biệt từnăm 1986 được nhà văn nhìn từ nhiều góc độ, trong mọi mối quan hệ: Conngười là một tiểu vũ trụ vô cùng phức tạp: cái xấu, cái tốt đan xen, cùng tồntại trong một con người Nhân vật trong sáng tác văn học giai đoạn này đã có
cá tính, không na ná giống nhau như trước nữa, họ hiện lên không ai giống ainhưng lại hiện hữu trong muôn mặt của cuộc sống đời thường có thể nói đây
là đây là thời kì mà trong văn học con người được soi chiếu từ rất nhiều khíacạnh, chiều kính
Như vậy, cùng với sự thay đổi của lịch sử, xã hội là sự thay đổi về tưduy nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo Văn xuôi nói chung, truyện ngắn nóiriêng đã bổ sung một mảng hiện thực to lớn trong đời sống văn học mà trướcđây hầu như bị bỏ quên Chính vì vậy mà hiện thực cuộc sống trong các trangvăn đầy đủ hơn, phong phú hơn, gần với hiện thực đang tồn tại hơn Bởi thế
mà văn học lúc này đời hơn, thực hơn
Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳngvào sự thật đã là những động lực tinh thần cho văn học của thời kỳ đổi mớiphát triển mạnh mẽ, sôi nổi Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâucủa đời sống văn học, nó vừa là kết quả vừa là động lực cho những tìm tòi đổimới trong sáng tác, đồng thời lại tác động mạnh mẽ đến sự tiếp nhận của công
Trang 23chúng văn học Tư duy văn học mới đã dần hình thành, làm thay đổi các quanniệm về chức năng của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống,nhà văn và bạn đọc, về tiếp nhận văn học Đồng thời sự đổi mới tư duy nghệthuật cũng thúc đẩy mạnh mẽ những sự tìm kiếm, thể nghiệm cách tiếp cậnthực tại, các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát huy cá tính và phong cách
cá nhân của nhà văn
1.2.2 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người
Văn học là một ngành khoa học đặc thù phản ánh thế giới tâm hồn, tưtưởng của con người Lịch sử văn học nhìn theo một giác độ nào đó là lịch sửcủa những quan niệm nghệ thuật về con người Quan niệm nghệ thuật về conngười là hạt nhân cơ bản của tư duy nghệ thuật, quy định “những nguyên tắc
cắt nghĩa về thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật” [30, tr.
273] Quan niệm nghệ thuật về con người còn là tiêu chí “đánh dấu trình độ tư
duy nghệ thuật của một thời đại, một trào lưu, một tác giả” [7, tr 206] Quan
niệm nghệ thuật về con người là “sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người
đã được hoá thân thành các nguyên tắc, biện pháp thể hiện con người trongvăn học, tạo nên giá nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trongđó” [30, tr 273]
Con người là đối tượng khám phá, phát hiện và tái hiện trung tâm củavăn học Quan niệm nghệ thuật về con người chính là thước đo sự tiến bộ,phát triển nghệ thuật từ xưa đến nay Bởi nó là yếu tố chi phối các yếu tố kháccủa nghệ thuật biểu hiện Sau năm 1975, đặc biệt từ sau năm 1986, văn học từ
tư duy sử thi chuyển sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng cao cả chuyển sangcảm hứng đời thường, thế sự Bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn thời kỳ này
có những cách tân lớn trong tư duy và gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể.Đến giai đoạn này, truyện ngắn đã phát huy được khả năng tiếp cận và phảnánh hiện thực con người thời kỳ đổi mới một cách nhanh nhạy và sắc bén.Đặc trưng của thể loại truyện ngắn là “cưa lấy một khúc của đời sống”, tìm ra
Trang 24những tình huống tiêu biểu, có khả năng khai thác sâu những bước ngoặt của
số phận, tạo cơ sở cho sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người Truyệnngắn Việt Nam sau 1986 đã đề cập, phản ánh tương đối toàn diện vị trí và giátrị của con người cá nhân Con người cá nhân với những mối quan hệ trongcuộc sống thường nhật được xem là đối tượng trung tâm của văn học Bốicảnh mới đã thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, đòi hỏi văn học phảiquan tâm đến mỗi con người và từng số phận Sự thức tỉnh ý thức cá nhâncũng là mốc quan trọng nhất làm thay đổi quan niệm về con người ở thời kỳđổi mới Truyện ngắn ở thời kỳ đổi mới quan tâm đến mọi vấn đề của conngười “Đó là nỗi đau của chiến tranh để lại, là sự mất mát của người línhbước ra khỏi cuộc chiến, là nỗi hận thù của dòng họ, gia tộc, là cái khắcnghiệt của sự đói khát cô đơn Có cả những vấn đề của cõi tâm linh, tiềm thức
và vô thức Mọi cảm xúc, mọi cung bậc của đời sống đều sống dậy trongnhững câu chữ giản dị Bao nhiêu phức tạp ồn ào, bao nhiêu dư vị đắng chátcủa cuộc sống thời đổi mới đều được truyện ngắn phản ánh chân thực” [32, tr.12] Sau năm 1986, đặc biệt là hiện nay con người không còn gì là riêng tưnữa, mọi ngóc ngách sâu kín nhất của con người, bằng hình thức này hoặchình thức khác đều được đưa lên mặt báo Những vấn đề tế nhị, thiêng liêngnhất của con người, văn học đều chạm tới và xới tung lên như một vấn đề củahiện thực chân thực Vì thế những mảnh đời riêng biệt, âm thầm lặng lẽ haysôi động ồn ào đều được nhà văn nhìn nhận khai thác làm nên sự đa dạngphức tạp trong thế giới nhân vật
Truyện ngắn thời kỳ đổi mới đi sâu vào mọi vấn đề của cuộc sốngthường nhật Đó là chiều sâu triết lý và những cảm nhận về nỗi cô đơn củathân phận con người, là những mất mát của người lính bước ra khỏi cuộcchiến, là những vấp váp của nhân cách trước những cám dỗ của đời sống kinh
tế thời mở cửa, là những hận thù của dòng họ gia đình… Đan xen giữa cái ảo
và cái thực, giữa cõi vô thức và ý thức… mọi cung bậc, mọi cảm xúc của đời
Trang 25sống đều sống dậy trên câu chữ Bao nhiêu dư vị, khoảnh khắc từ hạnh phúcđến đau khổ, từ đắng chát đến ngọt ngào đều soi tỏ tận cùng, chân xác nhữngphương diện của đời sông Sau mỗi câu chuyện ta thấy ẩn hiện thấp thoángđâu đó một đời người, một kiếp người, và không khí của cả một xã hội, cảmột thời đại Con người luôn phải đặt trong tình thế mong manh của đườngphân giới hai cực đối lập vừa phải chung sống vừa phải đấu tranh với nhau.Tiếp cận với thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Võ ThịHảo, Trần Thị Thường, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, YBan, ĐỗHoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư… Chúng ta luôn thấy họ là những cá thể riêngbiệt, nhưng lại là những khuôn mặt khác nhau của cuộc sống đời thường đadạng, biến hóa sinh động Xuất hiện trong văn xuôi lúc này không còn lànhững con người anh hùng với giọng điệu ngợi ca hào sảng, mà là số phậnnhững cá nhân đời thường chân thực và gần gũi nhất.
Như vậy có thể thấy, văn học sau 1975, đặc biệt là sau 1986 ngày càng
đi tới một quan niệm trọn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng triếthọc và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản Con ngườivừa là điểm xuất phát, vừa là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đíchcuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trịcủa mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử
1.2.3 Đổi mới nghệ thuật trần thuật
Nghệ thuật trần thuật (nghệ thuật tự sự) là một trong những yếu tốquan trọng trong phương thức biểu hiện của truyện ngắn Mặt khác, nghệthuật trần thuật cũng được xem là tiêu chí đánh giá khả năng sáng tạo của mỗinhà văn Ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ người kể chuyện tạo nên giá trị củatác phẩm tự sự nói chung, truyện ngắn nói riêng Đội ngũ nhà văn Việt Namđương đại rất quan tâm đến khía cạnh truyền đạt giọng điệu cái tôi của mình
Trang 26trong tác phẩm khiến cho hình thức kể chuyện ở ngôi thứ nhất xuất hiện ngàycàng nhiều.
Giọng điệu trần thuật là một trong những yếu tố làm nên âm hưởng chủđạo của tác phẩm văn học cũng như cả một giai đoạn văn học Thời kỳ vănhọc 1945 - 1975 do viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn chonên, nhìn tổng thể, các tác phẩm mang đậm âm hưởng anh hùng ca, đi kèmvới thái độ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Giọng điệu chủ yếu làgiọng trữ tình, ngọt ngào đằm thắm, hay giọng hào hùng lạc quan phơi phới.Nhà văn nhân danh cộng đồng để ngợi ca, tự hào về những con người, nhữngthế hệ oanh liệt, làm rạng danh lịch sử dân tộc Văn học sau 1986 có nhiều đổimới, trong đó có giọng điệu Nếu trước đây, các tác giả chủ yếu thiên vềgiọng kể, tả thì bây giờ nó cơ bản nặng về lý giải, phân tích, đánh giá cuộcsống, khai thác chiều sâu tâm lý, tính cách con người… Do nhà văn đi sâuvào phân tích, lý giải đời sống nội tâm con người, cho nên nó cũng là đốitượng khám phá chủ yếu của văn học Văn học sau 1986, mặc dù vẫn cógiọng ngợi ca hào hùng nhưng đan xen với giọng khác Đó là giọng buồnthương, bi ai khi tác giả đề cập đến mất mát, tổn thương, đến số phận của conngười thời hậu chiến Giọng trầm tĩnh sâu lắng, chua xót khi viết về nhữngtiêu cực trong xã hội Tính đơn giọng dần dần nhường chỗ cho tính đa thanh,phức điệu, giọng độc thoại chuyển sang đối thoại
Văn xuôi trong thời kì đổi mới đã đem lại nhiều biến đổi trong nghệthuật trần thuật Từ bỏ sự áp đặt một quan điểm được cho là đúng đắn nhất vì
đó là quan điểm của cộng đồng, ngày nay người viết có thể đưa ra nhiều quanđiểm khác nhau, chính kiến khác nhau Để làm được điều đó, cách tốt nhất làchuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lênquan điểm, thái độ của mình và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn,cùng đối thoại, sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảongược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một trật tự thời gian duy
Trang 27nhất, tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra được hiệu quả nghệ thuật mới.Trong sự đa dạng về phương thức trần thuật, nhiều nhà văn lại ưa thích cách
kể chuyện từ ngôi thứ nhất với vai kể là một nhà văn, nhà báo, một ngườichứng kiến, quan sát kể lại câu chuyện về người khác hoặc kể về chính mình.Trường hợp Nguyễn Huy Thiệp lại cách tân nghệ thuật trần thuật bằng sựsáng tạo kiểu “người kể chuyện không đáng tin cậy” rất khác với “người kểchuyện biết hết” khá phổ biến trong văn xuôi trước đây Dễ dàng nhận thấy,trong văn xuôi sử thi, người trần thuật thường là đại diện cho quan điểm cộngđồng, vì thế nó có thể và cần phải phán truyền chân lí để người đọc tuân theo
và hưởng ứng Kiểu nhân vật kể chuyện biết hết sẽ rất phù hợp với văn xuôi
sử thi, giống như người trần thuật vô hình mà biết hết mọi điều trong các pho
sử thi cổ đại Người trần thuật trong nhiều truyện ngắn của nhà văn NguyễnHuy Thiệp thường công khai nói về sự không biết hết mọi điều do mình kểlại, thậm chí có khi còn đánh lạc hướng độc giả hoặc kể ra những điều nửatin, nửa ngờ - loại nhân vật kể chuyện này thể hiện quan điểm phi sử thi,không muốn và không tin rằng người kể có thể áp đặt một quan điểm duynhất lên mọi sự việc, với niềm tin rằng mình đã nắm được chân lí
Trong thời kì chiến tranh cách mạng, văn học nhìn con người chủ yếu ở
tư cách con người công dân, con người dân tộc, giai cấp Điều đó là phù hợp
và cần thiết Nhưng cũng vì thế mà các bình diện khác, những tư cách kháccủa con người thường bị văn học bỏ qua, hoặc nếu có quan tâm thì cũng phảiđược nhìn theo hệ quy chiếu của các giá trị cộng đồng, thống nhất với phầncăn bản (con người dân tộc, con người giai cấp) Văn xuôi hôm nay đã tiếpcận con người ở nhiều tư cách, vị thế và trên nhiều bình diện Nó đặc biệtquan tâm đến con người như một cá thể, một thực thể sống, trong đó chứađựng cả phần nhân loại phổ quát Từ sự thay đổi về nhận thức và quan niệmmới về con người, dẫn đến đổi thay trong thế giới nhân vật của văn xuôi.Trong văn xuôi trước 1975, các nhân vật được nhận diện trước hết theo lập
Trang 28trường dân tộc và cách mạng, bởi thế dễ dàng xếp, họ vào loại chính diện hayphản diện, tích cực hay tiêu cực Các nhân vật lại được khuôn vào trongnhững khung hình của tầng lớp xã hội, giai cấp Hệ thống nhân vật, vì thếthường được phân chia theo tầng lớp, nghề nghiệp, vị trí xã hội hoặc lứa tuổi,chẳng hạn như nông dân, công nhân, trí thức, người lính, bà mẹ, người phụnữ… Vượt qua giới hạn chật hẹp và cứng nhắc của cái nhìn con người và thểhiện nhân vật như trên, người cầm bút đã mở ra sự phong phú, đa dạng dườngnhư vô tận cho thế giới nhân vật Rất khó có thể đưa ra một bảng phân loạihay liệt kê nào có khả năng bao quát thế giới nhân vật của văn xuôi hiện nay.Nhưng cũng có thể dễ dàng nhận ra khá nhiều kiểu loại nhân vật mới vốnchưa có hoặc rất ít trong văn xuôi trước 1975: nhân vật cô đơn, con người bikịch, con người lạc thời, nhân vật tư tưởng, nhân vật kì ảo…
Khi tư duy tiểu thuyết đã thay thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ văn xuôicũng biến đổi theo hướng đó Văn xuôi tiếp cận đời sống ở cự li gần chứkhông phải qua một “khoảng cách sử thi tuyệt đối” (M Bakhatin) với thái độthân mật suồng sã chứ không phải tôn kính, thì hệ lời cũng phải thay đổi, từthứ ngôn ngữ trang trọng, chuẩn mực, chuyển sang thứ ngôn ngữ đời thường,đậm tính khẩu ngữ, thông tục Những cây bút thuộc thế hệ đến với văn học từthời kì đổi mới, do ít bị chi phối bởi thói quen ngôn ngữ của giai đoạn trước,
họ tạo được sự cách tân rõ rệt về ngôn ngữ văn chương Xuất phát từ tinh thầndân chủ và ý thức cá tính, họ có một cách ứng xử ngôn ngữ tự do, nhiều khiphá cách nhằm đem lại một hiệu ứng trực tiếp mạnh mẽ trong sự tiếp nhậncủa người đọc
1.3 Một cái nhìn khái quát về truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sáng tạo của Võ Thị Xuân Hà
Võ Thị Xuân Hà sinh ngày 20 tháng 04 năm 1959, chị thuộc số nhữngnhà văn trưởng thành sau kháng chiến chống Mỹ Xuân Hà sinh ra và lớn lên
Trang 29tại Hà Nội Tuy nhiên, quê gốc lại ở tỉnh Thừa Thiên Huế Hiện chị đangthường trú tại: 34b/47, ngõ 278, Thái Hà, Hà Nội
Xuân Hà sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi danh gia Mẹ củachị là người gốc Huế nhưng ba đời sinh sống ở Đà Lạt Năm 1982, Tốt nghiệpCao đẳng sư phạm Toán – Lý, Võ Thị Xuân Hà về dạy toán cấp hai một thờigian, sau đó chị thi vào Tổng hợp Văn, cho đến khi gần hết khoá học, chị bỏ
dở rồi tiếp tục thi, vào học và đỗ tốt nghiệp thủ khoa trường viết văn Nguyễn
Du khóa IV (1989 - 1992) Tốt nghiệp khóa Chính trị Cao cấp tại chức - Họcviện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1998 - 2001) loại giỏi Võ Thị Xuân Hàđược xem thuộc mẫu người thích “xê dịch” Từ 1993 đến 2000, Võ Thị Xuân
Hà làm phóng viên ở báo Vì trẻ thơ, báo Thiếu niên tiền phong, tiếp đó là Trưởng Ban biên tập của báo Điện ảnh kịch trường Từ 2000 - 2001 là
Trưởng phòng biên tập tổng hợp nhà xuất bản Văn học Và hiện tại đang là uỷviên Ban chấp hành, phó Ban sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam Xen kẽ giữacác công việc đó, Võ Thị Xuân Hà đã và đang lấn sân sang cả lĩnh vực kinhdoanh Lẫn lộn giữa tiếng gõ máy của những con chữ phóng túng hư hảo làtiếng đòi hỏi được sinh tồn áo cơm, đứng vững được quả là điều không dễchút nào Dù cuộc sống áo cơm bận rộn nhưng sức viết của chị vẫn đang ngàycàng mỗi dồi dào hơn và ngày càng được đông đảo bạn đọc đón nhận.Như là một cái duyên với nghiệp viết, vốn xuất thân là cô giáo dạy toán, vìđam mê với văn chương mới quyết tâm đi học viết văn Chị thi vào Tổng hợpVăn trong sự ngạc nhiên của tất cả đồng nghiệp nơi mình công tác, bởi lẽ đơngiản, trong thâm tâm mọi người đều nghĩ, nếu chị muốn học lên nữa thì phải
là Tổng hợp Toán mới hợp lý Trước quyết định “trái khoáy” của chị, không ítngười tỏ ý e ngại, thậm chí nghi ngờ sự dấn thân mạo hiểm này Vượt lên trêntất cả, chị quyết tâm nuôi dưỡng niềm đam mê, với quan niệm: muốn viết vănmột cách sâu sắc thì phải có kiến thức, năng khiếu chưa đủ, và chị bước quamọi lời can ngăn Với Võ Thị Xuân Hà, văn chương là nỗi niềm, là thân phận,
Trang 30là lương tâm, là định mệnh, là những trải nghiệm cuộc đời và đôi điều suy tư
từ những năm tháng sống lặn lội mưu sinh Võ Thị Xuân Hà trước hết là vìyêu văn song hành với chuyện cơm áo gạo tiền, nhưng sâu thẳm trong lòngchị luôn day dứt “Viết để đỡ đau hơn khi nhìn thực tế”, “viết để làm mặn cuộcsống” Từ trong huyết quản, Võ Thị Xuân Hà mang văn hóa của người miềnTrung - mảnh đất bao đời nay luôn phải đối mặt với gió bão, lụt lội, thời tiếtnắng gắt khắc nghiệt tôi luyện nên những con người mạnh mẽ, can trường vàrất kiên định Nét trầm mặc, bí ẩn rất Huế ẩn sâu trong từng trang viết thì dù
có sinh ra lớn lên ăn cơm và uống nước Hà thành cũng không thể nào trộn lẫnđược Những gì riêng và chung trong cuộc đời chị thể hiện ngay điều đó
Võ Thị Xuân Hà thuộc vào một thế hệ nhà văn như Hồ Anh Thái,Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thị Thu Huệ,rồi sau này một chút là Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh, thế hệ của cácnhà văn sinh ra trong khoảng thời gian từ cuối những năm 1950 cho tới cuốinhững năm 1960 Đây là thế hệ nhà văn nhận được sự kỳ vọng lớn lao của xãhội cũng như các nhà văn lớp trước, với mong muốn tạo ra các thay đổi cănbản trong nền văn học Việt Nam Và quả thực là họ đã tạo ra được một sốthay đổi so với trước ở một số phương diện Chẳng hạn có thể kể đến truyệnngắn Phan Thị Vàng Anh hay Phan Triều Hải Nhưng có một thực tế là từnhiều năm nay thế hệ các nhà văn này không còn thường xuyên xuất hiện trênvăn đàn nữa, ngày càng có ít tác phẩm Ngoài Hồ Anh Thái vẫn đều đặn insách mới thì chỉ còn rất ít sự hiện diện có thể kể tên, và trong những hiện diện
Trang 31Xuân Hà “mang trong mình đậm đà hai dòng văn hóa của hai vùng đất vănhiến Một Hà Nội - Thăng Long nghìn năm văn vật, một Huế - cố đô trungtâm Phật giáo, thành trì cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam” [4, tr.24] Điều này có ảnh hưởng sâu sắc trong văn chương Võ Thị Xuân Hà Chị
ăn và uống nước sông Hồng, nhưng vẫn ngấm sâu trong từng mao mạch là sựdịu dàng bí ẩn của dòng Hương Giang Bởi vậy, văn Xuân Hà vừa có sự mãnhliệt và bất ngờ của dòng Hồng Hà, vừa có cái âm trầm bình thản, sâu thẳm và
dữ dội của dòng Hương Giang Đó là điểm nổi bật mà người đọc dễ dàngnhận thấy trong những đứa con tinh thần của chị
Chạm ngõ làng văn bằng tập truyện ngắn Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào,
Nxb Văn học, 1992 Đến nay, cái tên Võ Thị Xuân Hà đã định hình tronglòng độc giả bởi khả năng sáng tạo phong phú, đa dạng: hiện chị đã cho xuất
bản 2 cuốn tiểu thuyết (Tường thành và Trong nước giá lạnh); 2 tập truyện dài (Chiếc hộp gia bảo và Chuyện ở rừng Sồi); 4 kịch bản phim (Chiếc hộp
gia bảo, Chuyện ở rừng Sồi, Đất lặng lẽ và Trăng nơi đáy giếng); 1 tập khảo
cứu (Gia đình Phật tử) Nổi bật nhất là ở lĩnh vực truyện ngắn, với 15 tập
truyện đã xuất bản, trong đó có nhiều tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc, người ta
vẫn nhắc đi nhắc lại từ hàng chục năm nay như: Đàn sẻ ri bay ngang rừng;
Ngày hội lúa; Cà phê yêu dấu; Bay lên miền xa thẳm; Trôi trong sương mù; Nơi dòng sông chảy qua; Một ngày muôn đời… Đặc biệt, khi Đàn sẻ ri bay ngang rừng ra đời - tác phẩm được đánh giá là thành công nhất của Võ Thị
Xuân Hà, ở cả cảm hứng, phong cách lẫn mức độ lôi cuốn cảm xúc ở ngườiđọc Hàng loạt tác phẩm của Xuân Hà tiếp tục ra mắt bạn đọc sau đó như
chuỗi Chuyện của con gái người hát rong; Làn khói mong manh; Con đường
vô tận; Thế giới tối đen; Không khóc ở Seoul”,… Ngoài việc vẫn giữ nguyên
tính chất điềm đạm như trước, lối viết của chị vẫn nhất quán ở các điểm:Luôn tìm câu chuyện và đặt vào tình huống đặc biệt để kể, kể bằng hình thứcsuy lý, đi kèm nhiều nhận xét và tìm cách sắp đặt các chi tiết Chính những
Trang 32nét nhất quán này cùng với chiều sâu tư tưởng làm cho Võ Thị Xuân Hàkhông những không trộn lẫn với biết bao nhà văn của thời đại nhà văn nữ màcòn tạo nên được hiệu ứng thẫm mỹ tốt ở người đọc.
1.3.2 Quan điểm nghệ thuật của Võ Thị Xuân Hà
Võ Thị Xuân Hà khởi đầu văn nghiệp của mình bằng truyện ngắn.Truyện ngắn là nơi bắt đầu cho con đường “xê dịch” hạnh phúc ít nhưng đaukhổ nhiều của người nghệ sĩ quá đam mê nghiệp viết như chị Thành tựu quantrọng nhất của văn học đương đại được đánh dấu bằng truyện ngắn và tiểuthuyết Truyện ngắn thành công chính là đòn bẩy cho Võ Thị Xuân Hà cóbước đột phá trên lĩnh vực tiểu thuyết, rồi đến các kịch bản phim Với tàinăng và bản lĩnh trong tìm tòi và khám phá, chị đã chứng tỏ được chỗ đứngcủa mình trong bức tranh chung của văn học Việt Nam sau 1986 với nhữngtìm tòi, thể nghiệm độc đáo
Tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du loại giỏi cũng là lúc Xuân Hà
hoàn thành tập truyện ngắn đầu tay Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào, với bút pháp
thiên về lối viết bè trầm Và người ta đã nhận thấy văn của Xuân Hà là văncủa một cô gái miền Trung, dịu dàng tinh tế: “Có một dòng nhựa sống vẫnchảy hoang hoài, mơ về quê nhà nhẹ nhàng trong văn chị, trong khi tác giảvẫn sống giữa lòng Hà Nội” [20, tr 4] Được mất của văn chương không thểtách bạch rõ ràng, nhưng những người “đã mang lấy nghiệp vào thân” đềucảm thấy mình đã có những hạnh phúc riêng mà người khác không thể cóđược Dạ Ngân coi nhà văn là kẻ “cô đơn giữa bầy đàn của mình”, Phan ThịThanh Nhàn từng lao đao vì những câu thơ trong trẻo bị hiểu lầm Nhưngnhư Võ Thị Xuân Hà hơn một lần thừa nhận, nếu “không có văn chương đờitôi còn bất hạnh hơn” [16], nghề viết là niềm đam mê khó bỏ Đến nay chúng
ta mừng cho chị, trên con đường đó chị đã có người đồng hành, con cái đãtrưởng thành, chị hạnh phúc và chăm lo nghiệp viết Chị đã hồi sinh, cuộcsống đã hồi sinh nơi chị Với chị, có lẽ giờ mới là bắt đầu…
Trang 33Với văn chương nghệ thuật, trước hết phải sáng tạo Võ Thị Xuân Hàluôn khẳng định ý chí quyết tâm không để mình nghèo nàn khổ sở Và chịcũng chưa bao giờ thấy mình khổ Bởi vì với chị, “nếu không tươi tỉnh sángláng thì không thể ngồi vào bàn viết” [13] Chị quan niệm: Không bao giờviết truyện giải trí Viết là phải có cảm hứng, có tư tưởng hành động Muốnviết khỏe, văn tươi sáng trước hết phải sống khỏe mạnh, sống vui tươi Dù cónhững lúc chị cũng đã viết trong nhiều khoảnh khắc nhọc nhằn, xa xót, vuisướng và hân hoan Chị luôn cảm thấy viết là sự thôi thúc của trách nhiệm vàlôi cuốn của đam mê Có lẽ vì thế nên chị rất trẻ, quá trẻ so với tuổi thực củachị đến hơn chục tuổi Vậy mà chị đâu có an nhàn, chị lao động làm việc quầnquật và viết khắp mọi lúc, mọi nơi, hễ rảnh là lôi máy tính ra gõ tành tạch.Chị là một trong số những nhà văn rất tự tin, biết tin vào cái Đẹp Tạo hóa bantặng con người thiên chức gì thì phải nỗ lực đam mê thực hiện hết mình vìthiên chức đó: “Tôi quan niệm cõi đời này tôi chỉ được đi qua có một lần Nếu
có kiếp khác thì tôi lại được phôi thai bằng ảnh hình khác, dù cốt lõi vẫn là tôiđấy, nhưng đâu có phải là tôi như cõi này Nên tôi không dám cho rằng câuchữ của tôi sẽ được bất tử; tôi không dám nhận rằng mình đang mạo hiểm.Nhưng tôi cũng không hề phù phiếm và thiếu tự tin đến mức sợ rằng các tácphẩm của mình sẽ bị ném vào đâu đó Chí ít cũng một vài ai đó trên cái cõinày đọc, một vài ý niệm sẽ được một vài ai đó nhớ Một chút có ích Thế là đủrồi Tôi có thể sẽ viết mãi viết mãi cho đến khi chết Có thể ngày mai “xếp bútnghiên” Nhưng cho dù thế nào, tôi mãi là một người biết tin vào cái Đẹp!”[99] Nhìn vào cuộc đời chị, thế giới của chị dường như chúng ta có cảm giácrằng nó không tồn tại hai từ “không thể”
Thiên hướng, quan điểm thẩm mỹ của nhà văn là làm đúng thiên chức
Về chuyện được mất trong văn chương chị quan niệm rất giản dị, không lêngân nhưng toát lên trong tâm hồn chị một con người nhân hậu, vị tha: “Có thểkhông phải đánh đổi gì hết, mà chỉ có được Đó là cái đích mà những người
Trang 34cầm bút như tôi cố gắng đạt tới, không chỉ cho mình, mà còn cho cả nhânloại Còn có thể xác suất may mắn không rơi vào tôi, thì bình thản đón nhậnmọi điều Tôi không đỗ lỗi cho văn chương” Thực tế chị là một nhà văn biếtcảm thông chia sẻ mọi bức xúc từ đời sống một cách tỉ mỉ Vì với chị cáithiện và cái đẹp rất mong manh, và người ta cần đấu tranh để giành lại nó.
Trong bài phỏng vấn về tiểu thuyết Tường Thành (dù là tiểu thuyết nhưng nội
dung, đề tài và hình tượng là tổng hợp những lát cắt đâu đó trong truyện ngắncủa chị Nên những ý kiến cho tiểu thuyết có thể đồng hành với truyện ngắncủa chị), Võ Thị Xuân Hà tâm sự “Tôi viết cuốn sách này trong nỗi bức xúccủa chính những người thân, bạn bè Hàng ngày tôi đều nghe họ nói, lo chochồng, bạn trai hay em mình hư hỏng sa ngã Tôi chia sẻ nỗi lo của nhữngngười phụ nữ bình thường, chỉ cốt sao giữ gìn được một khoảng nhỏ yên bình,hạnh phúc, mong sao còn được thánh thiện và tốt bụng Nhưng khó khăn lắm,khi sóng gió len lỏi vào từng mái nhà thì tình yêu, chung thủy, sự lành mạnh,đạo đức… đều có cơ bị mất Tôi cũng như họ, sợ mình phải đau khổ” Thếnên chị tự nhận mình là sứ giả của yêu thương: “Tôi còn gặp nhiều nỗi cayđắng thất bại khác Lảo đảo đứng dậy đi tiếp Tôi nhận mình có mặt trên đờikhông phải để được yêu Tôi phải yêu người Yêu hết thảy mọi sinh linh trêncõi nhân gian Ngôi sao chiếu mệnh của tôi lúc này đang lúc này đang buộctôi ngồi để viết ra những câu chuyện dâng cho cuộc sống Nhận ra điều này,tôi không còn thấy sợ cô đơn…” “Ngôi sao chiếu mệnh” hay chính là cuộcđời và cũng là tư tưởng hành động trong sáng tác của Võ Thị Xuân Hà
Vì biết tin, biết yêu cái đẹp, nên Võ Thị Xuân Hà có chính kiến độc lậptrong quan niệm sáng tác của mình Chị ý thức rõ tính dân tộc và bản sắc vănhóa của dân tộc mình Chị thẳng thắn, rõ ràng, có lúc phân thân nhưng đểhoàn thiện mình Có thể vì điều đó mà khi chị viết về thủ đô – với nền kinh tếthị trường nảy sinh ra bao nhiêu bộ mặt khác nhau của đời sống hoàn toàntách bạch, có sự phân thân rõ ràng với sự mềm mại, đôi khi nhọc nhằn lặng lẽ
Trang 35khi viết về miền Trung Với chị học hỏi tinh hoa văn học nước ngoài làchuyện đương nhiên, nhất là luôn phải cập nhật được tinh hoa của những câybút trẻ nhưng chị không quá ám ảnh về họ Chị kiên quyết: “Tôi phải đi conđường của riêng tôi, một nhà văn Việt Nam, với những gì đã và đang đến vớidân tộc mình, nhỏ hơn là những gì đã và đang đến với thân phận một nhà vănnhỏ bé như mình” [99] Và điều quan trọng hơn là phải nói thẳng, nói thật, dùsao chị đã bao nhiêu năm lăn lộn trong nghề báo, cũng như nghề văn Vì “Nếubắt nhà văn ném đi thiên chức mô tả cái “ nghiệt ngã tận cùng”, nghĩa là bảo
họ thôi đừng viết nữa.” Thế nên thiên hướng, quan điểm thẩm mỹ của nhàvăn là làm đúng thiên chức của một người cầm bút
Cho đến thời điểm hiện tại, có thể thấy Võ Thị Xuân Hà đã khẳng địnhđược tiếng nói của mình theo một cách riêng trên văn đàn Đặc biệt ở lĩnh vựctruyện ngắn, Võ Thị Xuân Hà đem lại một cái nhìn mới về việc khai thác nộidung, lựa chọn đề tài Những sáng tác của Võ Thị Xuân Hà dẫu chưa phải làtiên phong cho giai đoạn văn học sôi động này, nhưng nó lại có dư vị riêng,mang sức sống nhẹ nhàng mà bền bỉ trong lòng bạn đọc bởi cá tính và mộtphong cách khá riêng biệt Thành công đó một phần không nhỏ bắt nguồn từquan niệm nghệ thuật đúng đắn của chị
1.3.3 Những cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Sau năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Bối cảnh đó đã tạocho văn học những đổi thay mạnh mẽ Chủ đề nổi bật và mối quan tâm lớnnhất của văn học hiện nay là vấn đề đạo đức xã hội Cảm hứng nổi bật trongvăn học lúc này là những chiêm nghiệm, suy tư về cuộc sống nhân sinh Cuộcđấu tranh để hoàn thiện con người trong bối cảnh cơ chế thị trường diễn rangày càng khốc liệt Sáng tác của Võ Thị Xuân Hà cũng không nằm ngoài
Trang 36guồng quay nóng bỏng của thời đại Chị dấn thân, xông xáo, nhập cuộc tíchcực với những cảm hứng sáng tạo mới mẻ
1.3.3.1 Cảm hứng thân phận con người cá nhân
Đặt con người trong hoàn cảnh bề bộn phức tạp của thời hậu chiến, VõThị Xuân Hà đặc biệt chú trọng phản ánh con người cá nhân ở bi kịch tinhthần Dấu ấn của một thời kỳ đau thương tàn khốc do bom đạn chiến tranhvẫn còn tồn tại bên cuộc sống của con người Chiến tranh, tự bản thân nó đã
là điều thật khủng khiếp bởi chiến tranh là bi kịch bế tắc của con người, là nỗi
ám ảnh ghê ghớm của nhân loại Khi cuộc chiến đã tàn nhưng vẫn rải rắc lênbao nhiêu cuộc đời những hậu quả không gì đo đếm được thì quả là tàn nhẫn.Đằng sau bộ mặt của đất nước sau chiến tranh đã qua đi là những gương mặt,những số phận con người nhá nhem mặt trái của cuộc chiến Những sự thậtnghiệt ngã ấy được tái hiện nhiều lần trên những trang văn tả thực tưởngchừng như nhẹ nhàng dịu ngọt ban đầu nhưng thấm sâu dần là sự đắng chátcủa hiện thực Con người luôn được gắn kết với quá khứ bằng một sợi dây lúchữu hình, lúc lại vô hình, như một tiêu chí để nhận diện hiện tại Con ngườithường lí tưởng hóa cái đã qua đi Cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc đãtrở thành một thứ chuẩn mực, một chỗ dựa tinh thần cho con người Songcũng còn một quá khứ với những thành kiến, xung đột ý thức hệ trong chiếntranh mà thế hệ sau phải gánh chịu hậu quả Là bi kịch của cơ chế thị trường,con người hiện đại chúng ta gặp trong văn học là những số phận đầy éo le,buồn thảm Mỗi con người, mỗi cảnh đời là một thân phận Thân phận conngười cá nhân trong Võ Thị Xuân Hà là những con người nhỏ bé, lạc lõng vàbất hạnh sống thoi thóp luôn đối mặt với sự toan tính mưu sinh và bị dồn vàonhững tình thế bất trắc
Lấy hiện thực về con người làm trung tâm phản ánh, truyện ngắn VõThị Xuân Hà khám phá đời sống tinh thần đầy phong phú, bí ẩn, phức tạp củacon người Tác giả đã xây dựng được những kiểu, mẫu người mà các nhà văn
Trang 37đương đại đang khai thác Đó là những kiểu người được tạo ra từ tất yếu củađời sống và mẫu người nữa là sản phẩm của trạng thái tâm lý hoài nghi, bêncạnh “con người ý thức”, còn có “con người vô thức”, bên cạnh “con người tựnhiên”, còn có “con người tâm linh”, có người “lớn hơn thân phận mình”, lại
có người “bé nhỏ hơn tính người của mình” Võ Thị Xuân Hà không đau đáuvới cuộc chiến và những trang văn nhức nhối bên trong như Võ Thị Hảo,nhưng từ sâu thẳm trong mạch văn chương của chị vẫn bàng bạc sâu lắng mộtđất nước tan chiến nhưng chưa tàn chiến Bao nhiêu số phận con người vẫngieo neo khi cuộc chiến đã đi qua Sự thật là vẫn có những số phận con ngườinhư đi ngược lại với niềm vui chung của đất nước chiến thắng Bằng tấm lòngbao dung, sự nhạy cảm của một nhà văn nữ tinh tế, một cái nhìn vừa đôi khinhư máu thịt chính mình vừa là sự cảm thông chia sẻ, ẩn sau những nội dungcâu chữ giản dị đời thường là những tâm tình, sự day dứt khôn nguôi về sốphận con người không trọn vẹn, về cuộc đời mất mát về nhân tình thế thái đổithay…
Đặt con người trong hoàn cảnh bề bộn phức tạp của thời hậu chiến, VõThị Xuân Hà đặc biệt chú trọng phản ánh con người cá nhân ở bi kịch tinhthần Dấu ấn của một thời kỳ đau thương tàn khốc do bom đạn chiến tranhvẫn còn tồn tại bên cuộc sống của con người Con người luôn được gắn kếtvới quá khứ bằng một sợi dây lúc hữu hình, lúc lại vô hình, như một tiêu chí
để nhận diện hiện tại Con người thường lí tưởng hóa cái đã qua đi Cuộcchiến tranh thần thánh của dân tộc đã trở thành một thứ chuẩn mực, một chỗdựa tinh thần cho con người Song cũng còn một quá khứ với những thànhkiến, xung đột ý thức hệ trong chiến tranh mà thế hệ sau phải gánh chịu hậuquả Võ Thị Xuân Hà cũng đặc biệt quan tâm đến những thân phận ngườidưới đáy cùng của xã hội như là giang hồ, đĩ điếm, lang thang cơ nhỡ Nhữngcon người đó cô đơn, bèo bọt, sống phiêu bạt, không quê hương, gia đình nhàcửa Hàng loạt những câu hỏi nhức nhối được đặt ra: Liệu một xã hội văn
Trang 38minh, tiên tiến mà còn quá nhiều những lớp người này tồn tại thì sẽ đi đếnđâu? Chúng ta cần phải làm gì để khắc phục nó? Cuộc sống luôn có điều kỳdiệu đang xẩy ra và chúng ta có quyền hi vọng Những ai sống bằng trái timchân thành sẽ nhận được quả phúc Và đặc biệt chỉ có tình yêu thương chânthành, không vụ lợi thì mới giúp con người vượt qua được những cám dỗ khókhăn trong cuộc sống.
Quê nhà không có bệnh phấn hoa khắc họa về số phận những con người
không quê hương, không lí tưởng Họ lạc loài với hai tiếng “dân tộc” SaoNam – nhân vật chính trong tác phẩm, là một người thanh niên sinh ra và lớnlên giữa buổi chiến tranh loạn lạc Mẹ mất sớm, cha mải mê với những côngtrình xây cất biệt thự Không ai định hướng cho con đường đi của mình, hếttrung học, Sao Nam được gọi vào học trường Sĩ quan Đà Lạt, nơi chỉ đào đạonhững kẻ đủ chiều cao, dáng chuẩn, học lực giỏi tuyển từ các vùng miền Họcxong cũng là thời điểm miền Nam giải phóng, Sao Nam “Ngơ ngác khi đượcquân cách mạng đưa vào trại tập trung học tập cải tạo tiếp Đợt học cải tạonày kéo dài những năm năm” [28, tr 237] Cải tạo xong con người này trởnên vô định “trên gương mặt cậu tôi chỉ còn nét phong sương trầm buồn và sựngơ ngác không biết mình đi đâu về đâu” [28, tr 239] Cả gia đình sang Mỹtheo diện HO Nhưng sang xứ người, họ không ý thức được đâu quê hương,đâu dân tộc, tại sao mình lại tồn tại? Sao Nam chỉ biết uống rượu và chửi bớikhông dứt…Thương vợ, anh ta cùng vợ lập ra một kế hoạch về “âm mưu giếtvợ” để cảnh sát bắt vào tù Ngồi trong tù, Sao Nam chỉ uống và viết Đókhông phải là niềm bi phẫn với chính mình, mà anh ta mắc bệnh “trầm kha”.Căn bệnh của con người lạc loài, không biết đâu là nguồn cội Là căn bệnh
“quái thai” của chiến tranh Vì thế những con người bình yên ở quê nhàkhông có bệnh này Câu chuyện là nỗi đau thân phận con người, đồng thờicũng là khao khát tìm về bản nguyên cội nguồn của con người Một khao khátchứa đựng uẩn khúc, day dứt của những con người hoài nghi với thời cuộc
Trang 39Khắc họa thân phận những con người chạy đua để kiếm kế sinh nhai,
truyện ngắn Con đường vô tận tái hiện sinh động cuộc sống nghèo khổ, lang
bạt của một lớp người dưới đáy xã hội Miêu tả cận cảnh một hội chợ ở tỉnh lẻtrong khung cảnh rét buốt, trời lại đổ mưa, người đọc cảm thấy sự yên ổn ấm
no của “cả nhà vui chơi có thưởng” đang là một con đường dài vô tận Tronggánh vui chơi có thưởng ấy, ông bà chủ xuất thân đều là trai gái bụi đời naykiếm sống bằng cách lấy tiền thiên hạ qua trò bịp vui chơi trúng thưởng Theogánh đó là cô em bà chủ, xuất thân cũng gái đứng đường và một đám cò mồi,mỗi đứa mỗi số phận Hai chị em gái, cha sống bằng rượu, mẹ bất lực, “haichị em lớn lên như nấm dại Đi bụi cũng là chuyện thường tình” Yêu một gãtrai, nhà trai không chịu cưới, hai đứa tự đi đăng kí rồi ở với nhau có một đứacon, nhà gã trai gọi hắn về cưới vợ, cô em bế con đi theo chị gái, sống cuộcsống lang bạt kỳ hồ Con bé người Quảng Ninh “nom gầy nhẳng”, nhưng vì
để có việc làm mấy ngày giáp tết cũng muốn “đong đưa” với gã chủ để “yêntâm về việc làm” Con bé con theo Thằng Lam “ăn rau má” làm nghề gái gọi,gái bán dâm…Buổi hội chợ chưa kịp kiếm được tiền lời thì ngay “hôm sautrong cái bầu trời ẩm ướt đe dọa lại sắp có cơn mưa to đổ xuống, cả hội chợlặng lẽ chịu khuất phục sự thua lỗ vì mưa và rét, người ta thấy bầu đoàn thê tửcủa cái nhà vui chơi có thưởng nhổ cọc lều rút lui Mặt mấy đứa làm thuê nhànày chảy ra” [29, tr 48] Miếng cơm manh áo của những con người này trôngchờ vào bầu trời, sáng tối một cách mong manh
Với Võ Thị Xuân Hà, cảm hứng thân phận con người cá nhân trongsáng tác của chị vẫn là sự kế thừa của văn học trước 1975 Tuy nhiên, độc giảnhận ra ở trong đó nhà văn kí thác những nỗi niềm riêng, đầy ẩn ức, nhữngthân phận, những kiếp người, những mảnh đời đen bạc sao mà đau nhói, ámgợi, cứ đeo bám ta mãi Điều này xuất khởi từ cái tình, cái tâm chân chính củangười nghệ sỹ chân chính
1.3.3.2 Cảm hứng phê phán
Trang 40Như chúng tôi đã đề cập, nền kinh tế thị trường, cả mặt tích cực và mặttồn tại của nó đều có tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, trong đó vănchương nghệ thuật cũng không ngoại lệ Nghĩa là ngoài những tác phẩm nghệthuật chân chính, có nhiều tác phẩm chạy theo thị hiếu, viết về các loại tệ nạnnhư một hình thức thỏa trí hiếu kì, buông thả, câu khách Họ đi ngược lại vớicác giá trị chuẩn mực truyền thống văn hóa dân tộc để nhằm thỏa mãn nhữngnhu cầu giải trí tầm thường Võ Thị Xuân Hà với đầy đủ ý thức trách nhiệm,qua tiếng nói phê phán của mình đã chứng tỏ bản lĩnh xông xáo của một nữnhà văn chân chính với quan điểm: “Tôi viết để đỡ đau hơn khi nhìn thực tế”.Nền kinh tế thị trường, đi đôi với những ưu điểm của nó là những mặt trái tệhại càng tăng mà chính bản thân con người không kiểm soát được Cái xấu,cái ác chen chân len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội dưới những
vỏ bọc khác nhau Con người được xem xét trên mọi phương diện, dù ở mặtnào, ở đâu còn tồn tại cái xấu, cái ác thì ở đó bị lên án, phán xét Võ Thị Xuân
Hà đã đi từ những điều bình thường nhất đến những phần khuất lấp nhất củacon người để khai thác Nền kinh tế thị trường chỉ quan tâm đến lợi nhuận.Tuân theo những quy tắc ấy cũng có nghĩa là con người chỉ có sống thựcdụng, chạy theo đồng tiền và hệ lụy của nó là con người mắc phải căn bệnh
“mất nhân tính” Nhà văn phát hiện ra căn bệnh ấy, cùng nói về cái xấu cái áckhông chỉ có mỗi việc chỉ trích, phơi bày với ý thức trách nhiệm mà là đểhướng đến sự khẳng định phẩm chất nhân cách con người
Kẻ đối đầu xoay quanh nhân vật chính tên Rô Rô vốn là một kẻ vô
học, đồng thời lại là một anh chàng nhà quê không bình thường Anh ta có sựkhôn ngoan, ranh mãnh của một kẻ mang trong mình bản chất láu cá Rô cótham vọng rất lớn về tiền bạc và địa vị Để đạt được tham vọng của mình, hắn
ta sẵn sàng đánh đổi tất cả: Bán rẻ nhân cách, tình yêu và dùng những thủđoạn đê tiện và hèn hạ nhất Rô đã thực thi hành động của mình bằng một kế
hoạch kiên định được vạch sẵn Không giống như Phùng trong Đất màu của