Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ : Mai cốt cách , tuyết tinh thần Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên nhi
Trang 1NGỮ VĂN 9 – ÔN TẠP TRUYỆN KIỀU
TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Đê: Hãy viết một bài văn thuyết minh ngắn giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Du và giá trị tác phẩm
“truyện Kiều”
I- Mở bài:
-Giới thiệu khái quát về
Nguyễn Du (thiên tài văn
học-“thi sĩ của các thi sĩ”
-Giới thiệu truyện Kiều (tác
phẩm lớn của Nguyễn Du,
đỉnh cao của nghệ thuật thi ca
tiếng Việt)
II-Thân bài :
a/ Thuyết minh về cuộc đời và
sự nghiệp văn học của Nguyễn
Du:
-Thân thế: sinh mất, bút hiệu,
quê quán, gia đình
-Thời đại: đầy biến động
-Về cảnh đời :+Năng khiếu
văn học bâm sinh
+Trải qua mười
năm gió bụi => có vốn sống
I- Nguyễn Du được coi là một thiên tài văn học, một tác gia văn
học tài hoa và lỗi lạc nhất của văn học Việt Nam “thi sĩ của các nhà thi sĩ” Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) là tác phẩm lớn
nhất của ông, là đỉnh cao chói lọi nhất của nghệ thuật thơ ca tiếngViệt
II-a/ Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Du:
-Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là ThanhHiên;quê ở làng Tiên Điền , huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinhtrong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyềnthống văn học
Quê hương ông vẫn lưu truyền câu ca:
Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Lam hết nước , họ này hết quan.
Cuộc đời của Nguyễn Du gắn bó với những biến cố lịch sử củagiai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu hế kỷ XIX Đây là giai đoạn lịch
sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật : chế độ phong kiếnViệt Nam khủng hoảng trầm trọng , bão táp phong trào nông dânkhởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm trên
đất Bắc (1786-1796) “Ông trải qua mười năm gió bụi”, có lúc ốm
đau không có thuốc, mái tóc sớm bạc Năm 1802, Gia Long triệuNguyễn Du ra làm quan Ông được làm chánh sứ sang TrungQuốc (1913-1914) Năm 1820, ông được cử làm chánh sứ lần thứhai, nhưng chưa kịp đi, ông đã mất
Năng khiếu văn học bẩm sinh, vốn sống vô cùng phong phú, kếthợp với trái tim yêu thương vĩ đại đã tạo nên thiên tài Nguyễn Du
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du vô cùng rạng rỡ, để lạinhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm:
Về chữ Hán có 3 tập thơ : Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạplục, Thanh Hiên thi tập
Về chữ Nôm có Truyện Kiều, Văn chiêu hồn
b/ Truyện Kiều:
Nguyễn Du đã lấy cốt truyện từ “Kim Vân Kiều truyện” của
Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) mà sáng tạo ra truyện Kiềubằng thơ lục bát dài 3254 câu, đậm đà màu sắc dân tộc
Giá trị nội dung và nghệ thuật:
Về nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện
thực và giá trị nhân đạo:
Giá trị hiện thực : Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một
xã hội bất công , tàn bạo
Giá trị nhân đạo: Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm
Trang 2Về nghệ thuật :
Truyện Kiều là kết tinh hành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trêncác phương diện ngơn ngữ, thể loại Với truyện Kiều, ngơn ngữvăn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ Vớitruyện Kiều , nghệ thuật tự sự đã cĩ bước phát triển vượt bậc từnghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắchọa tính cách và miêu tả tâm lý nhân vật
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, niềm tự hào của nhân dân ta, đấtnước ta:
III-Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
(Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu) Truyện Kiều là tập đại thành của ngơn ngữ văn học dân tộc
Đoạn: CHỊ EM THÚY KIỀU (Trích truyện Kiều)
1 Qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” em có nhận xét gì về nghệ thuật tả người của Nguyễn
Du ?
-Đoạn thơ miêu tả nhân vật theo bút pháp nghệ thuật ước lệ quen thuộc trong văn họccổ Nghĩa là sử dụng những qui ước trong biểu hiện nghệ thuật như dùng hình tượng thiên nhiên
đẹp: trăng , hoa , ngọc, tuyết,….để nói về vẻ đẹp con người Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng,
thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ :
Mai cốt cách , tuyết tinh thần
Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên nhiên, với
những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc:
Vân xem trang trọng khác vời Khuơn trăng dầy dặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tĩc tuyết nhường màu da
Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ:
Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa
xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương mặt trẻ trung
Cái tài của Nguyễn Du là tuy sử dụng bút pháp ước lệ nhưng chân dung hai chị em Thúy
Vân, Thúy Kiều hiện lên thật sinh động, đa dạng , “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.
Khi miêu tả chân dung nhân vật là chân dung mang tính cách số phận Vẻ đẹp của Thúy
Vân tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh, “mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc
đời bình lặng, suôn sẻ Còn vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, các vẻ đẹp
khác phải đố kị – “hoa ghen”, “liễu hờn” – nên số phận nang phải éo le đau khổ.
Trang 3-Sự tinh tế của tác giả là khi miêu tả nhân vật Thúy Kiều, tác giả miêu tả chân dungThúy Vân trước để làm nền nổi bật lên chân dung Thúy Kiều Có thể coi đây là thủ pháp nghệthuậït đòn bẩy Nguyễn Du chỉ dành bốn câu để gợi tả Vân, trong khi đó dành tới mười hai câuthơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình, còn vẻ đẹp của Kiều lànhan sắc , tài năng , tâm hồn.
Thúy Vân, Thúy Kiều là những nhân vật chính diện nên khi miêu tả tác chủ yếu tác giả dùng bút pháp ước lệ Vì vẻ đẹp của hai chị em Kiều là vẻ đẹp lí tưởng nên Nguyễn Du đã dùng
những khuôn mẫu, ước lệ để diễn tả vẻ đẹp vượt ra ngoài, vượt lên trên khuôn mẫu của tuyệtsắc giai nhân
2-Em có nhận xét gì về cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du trong việc miêu tả ngoại hình hai chị em Thuý Kiều ,cách miêu tả ấùy đã dự báo số phận của hai nhân vật như thế nào?
-“Chị em Thuý Kiều” là đoạn thơ miêu tả nhân vật vô cùng đặc sắc trong thơ trung đại, mộttrong những nét đặc sắc ấùy là việc sử dụng từ ngữ
+Miêu tả ngoại hình hai chị em Thuý Kiều , Nguyễn Du dùng bút pháp ước lệ – truyền thốngcủa văn học cổ điển, dùng hình tượng thiên nhiên đẹp : trăng, hoa, ngọc, tuyết, để nói về vẻđẹp con người
+Cách sử dụng ngôn ngữ để miêu tả hai nhân vật có điểm khác Với Thuý Vân thì dùng “thua”,
“nhường”:
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Còn Thuý Kiều thì dùng “ghen”, “hờn”:
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
*Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, một vẻ đẹp mà thiên nhiên (mây,tuyết) cũng phải chịu thua, nhường! Nhưng chỉ đến mức ấy thôi, nghĩa là ở trong vòng trời đất , vẫn trong
qui luật tự nhiên Vẻ đẹp của Vân tạo sự hoà hợp, êm đềm với xung quanh Vẻ đẹp này báo
hiệu tính cách ,số phận cuộc đời sau này của Thuý Vân là một cuộc đời êm ả, bình lặng.
*Vẻ đẹp của Thuý Kiều là vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, khác nhiều với vẻ đẹp trang trọng hiền hoà
của Vân Một vẻ đẹp đếùn độ “hoa ghen”, “liễu hờn” Điều đó chứng tỏ nhan sắc Thuý Kiều đã
vượt ra ngoài khuôn khổ, ngoài tưởng tượng ,ngoài qui luật tự nhiên Thiên nhiên ,tạo hoá có sựganh ghét , đố kị , báo hiệu một sự trả thù sau này của trời đất (thiên nhiên) đối với số phận của
Kiều Hai từ ghen hờn đã báo trước cuộc đời Kiều chắc sẽ trải qua nhiều tai ương , bất hạnh.
Trong miêu tả, Nguyễn Du đã dự cảm về thân phận mỗi người trong tương lai : Thuý Vân thì êm đềm phẳng lặêng, còn tương lai Thuý Kiều đầy sóng gió bất trắc.
CẢNH NGÀY XUÂN (Đoạn thơ tả cảnh thiên nhiên) 1- Phân tích bức tranh cảnh thiên nhiên ở bốn câu thơ đầu trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”?
“Cảnh ngày xuân” (Trích truyện Kiều - Nguyễn Du) là bức tranh thiên nhiên mùa xuân cùngvới cảnh lễ hội xuân nhộn nhịp, tươi vui Trong dĩ, bốn câu đầu gợi tả khung cảnh mùa xuân :
Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bơng hoa.
Hai câu đầu:
Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi
Trang 4gợi tả mùa xuân theo cách riêng Trước hết hình ảnh “con én đưa thoi”là hình ảnh ẩn dụ nhân hóa
vừa gợi thời gian vừa gợi không gian, Hình ảnh chim én bay liệng trong bầu trời xuân rất nhanh nhưchiếc thoi chạy đi chạy lại trên khung dệt không những nêu lên nét đặc trưng của mùa xuân (mùaxuân chim én về) mà còn gợi thời gian trôi đi rất nhanh (như thoi đưa), ngày xuân , ngày vui trôi rất
nhanh Cảm giác nuối tiêc thời gian thoáng hiện ở câu thơ “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” khi tác giả tả ánh sáng đẹp của mùa xuân đã trải qua hơn sáu mươi ngày, đã hết tháng hai sang tháng ba Những số từ “chín chục, ngoài sáu mươi” cùng với từ “đã” nói lên điều ấy Trong
tháng cuối cùng của mùa xuân chim én vẫn rộn ràng bay liệng giữa bầu trời trong sáng
Hai câu thơ tiếp theo không hoàn toàn là sáng tạo của Nguyễn Du Ông đã tiếp thu và đổimới từ hai câu thơ cổ Trung Quốc :
Phương thảo thiên liên bích
Lê chi sổ điểm hoa
( cỏ non liền với trời xanh, tên cành lê có mấy bông hoa)
So với hai câu thơ xưa, rõ ràng hai câu thơ của Nguyễn Du trở thành một bức họa tuyệt đẹp về mùaxuân:
Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Gam màu làm nền cho bức tranh xuân là thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời Trên cái nềnxanh dịu mát đó điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng Câu thơ cổ Trung Quốc chỉ nói cành lê điểm
vài bông hoa mà không nói tới màu sắc của hoa lê Nguyễn Du chỉ thêm một chữ “trắng” cho hoa
lê mà bức tranh xuân đã khác Trong câu thơ của Nguyễn Du , chữ trắng đã thành điểm nhấn, làm
nổi bậc thần sắc của hoa lê, của bức tranh Màu xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho
màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: “cỏ non” mới mẻ, tinh khiết, giàu sức sống; “xanh tận chân trời” khoáng đạt trong trẻo; “trắng điểm một vài bông hoa” thanh khiết Chữ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn chứ không tĩnh tại.
Màu trắng –xanh hài hòa gợi cảm giác mênh mông mà không quạnh vắng, trong sáng mà tẻtrung, nhẹ nhàng mà thanh khiết Đúng là một bức họa tuyệt tác về cảnh ngày xuân trong sáng
2- Hãy phân tích sáu câu cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”?
Sáu câu cuối trong đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” ghi lại cảnh chị em Thúy Kiều đi chơi xuân đang dần bước trở về nhà Mặt trời đã “tà tà” gác núi Ngày hội ngày vui đã trôi qua nhanh:
Tà tà bóng ngã về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nhịp thơ chậm rải.Nhịp sống như ngừng trôi Tâm tình thì “thơ thẩn”, cử chỉ thì “dan tay”, nhịp chân thì “bước dần” Một cái nhìn man mác, bâng khuâng: “lần xem” đối với cảnh vật Tất cả đều nhỏ bé: khe suối chỉ là “ngọn tiểu khê”, “dịp cầu nho nhỏ”; phong cảnh “thanh thanh”; dòng nước
“nao nao” Cả một không gian êm đềm , vắng lặng.Tâm tình chị em Kiều như dịu lại trong bóng tà dương Như đang đợi chờ một cái gì sẽ đến, sẽ nhìn thấy? Cặp mắt cứ “lần xem” gần xa:
Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang Tác giả đã sử dụng liên tiếp một loạt từ láy: “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”,
việc dùng từ của thi nhân vừa chính xác vừa tinh tế , vừa có tác dụng gợi nhiều cảm xúc cho ngườiđọc Các từ láy vừa gợi tả được hình ảnh sự vật, vừa thể hiện tâm trạng con người.Cảnh vẫn mangcái thanh , cái dịu của mùa xuân : nắng nhạt, khe nước nhỏ, một dịp cầu nhỏ bắc ngang Mọi chuyểnđộng đều nhẹ nhàng : mặt trời từ từ ngã bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn
quanh; tất cả nhạt dần , lặng dần Cảnh ở đây được cảm nhận qua tâm trạng Những từ láy “tà tà”,
“thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người.
Trang 5hai chữ “nao nao”(nao nao dịng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật Nỗi niềm
man mác bâng khuâng thấm sâu , lan tỏa trong tâm hồn giai nhân đa tình , đa cảm Cảm xúc bângkhuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đang cịn mà sự linh cảm một điều xảy ra đã xuất hiện
Dịng nước “nao nao” uốn quanh như báo trước ngay lúc này thơi Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên :
Sè sè nắm đất bên đường Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Sẽ gặp chàng thư sinh “phong tư tài mạo tĩt vời” – Kim Trọng.
Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng tưng nhưng rất sống động,
gần gũi, thân quen đối với bất cứ người Việt Nam nào Khơng cịn xa lạ vì “ngọn tiểu khê” ấy, “dịp cầu nho nhỏ” ấy là màu sắc đồng quê, là cảnh quê hương đất nước mình Tính dân tộc là một nét
đẹp đậm đà trong thơ Nguyễn Du, nhất là những vần thơ tả cảnh
Đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều (Trích truyện Kiều – Nguyễn Du)
*Nét nội dung , nghệ thuật cơ bản của đoạn trích:
• Nộâi dung: Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du trên cả hai phương diện: vừa lênán những thế lực xấu xa tàn bạo , vừa thương cảm trước sắc đẹp, tài năng nhânphẩm bị chà đạp
• Nghệ thuật: miêu tả nhân vật phản diện bằng nét bút hiện thực, khắc họa tínhcách qua diện mạo cử chỉ ( khác với miêu tả nhân vật chính diện bằng bút phápnghệ thuật ước lệ có phần lí tưởng hóa nhân vật)
-Về lai lịch, tông tích không rõ ràng:ngườiø “viễn khách” mà quê “ cũng gần”; tên Mã
Giám Sinh nhưng Giám sinh đâu phải tên, mà chỉ chung chung người họ Mã, học trường Quốc tử
giám mà thôi! Không nói tên thật của mình.Cách giới thiêu như vậy phải chăng là có dụng ý lừadối mẹ con Thúy Kiều (lấy chồng gần , người có học, dù là làm lẻ cũng an ủi được phầnnào).Để chứng tỏ là giám sinh , hắn đến nha øKiều cũng có cả một đám tôi tớ theo sau, nhưngcái cảnh:
Trước thầy sau tớ xôn xao
Cho thấy “thầy” và “tớ” đều là lũ người ô hợp ; từ láy “xôn xao” đã tả được bộ dạng hàng tôm,
hàng cá của y
-Ngoại hình: Miêu tả ngoại hình Mã Giám Sinh, tác giả tác giả kết hợp giữa “chụp cận
cảnh” và “quay lướt” Nguyễn Du chụp cận cản làm rõ bộ mặt và trang phục của Mã:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi , áo quần bảnh bao
Hắn đã ngoài bốn mươi tuổi tuổi đứng đắn , tuổi làm cha , làm ông mà đi hỏi vợ là hơi lạ( nhưng ở đây là vợ bé, vợ lẽ -thiếp hay nàng hầu) Cái điều khiến ta nghi ngờ chính là cái
“mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” của hắn Có cái gì đó làm dáng, làm đỏm quá đáng , kệch cỡm, khoe khoang lộ liễu không hợp với lứa tuổi Ngoài ra, “mày râu nhẵn nhụi”, phải
chăng Nguyễn Du muốn nói hắn là đàn ông mà không râu là kẻ “vô nghì” ( kẻ bất nhân , bất
Trang 6nghĩa :đàn ông không râu vô nghì) Từ “nhẵn nhụi” gợi cảm giác về một sự trơ trẽn , phẳng lì Aùo quần “bảnh bao” là áo quần trưng diện cũng thiếu tự nhiên Phủ một lớp hào nhoáng lên vẻ
bên ngoài của nhân vật, tác giả đã chế giễu, mỉa mai tên buôn người họ Mã Sự đả kích ấy càng
sâu cay hơn khi một người “trạc ngoại tứ tuần” lại tỉa tót công phu, lại tô vẽ cho mình ra dáng
trẻ
-Nguyễn Du đã rất nhanh tay ghi lại (quay lướt) cái hành động:
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng
“Ghế trên” là ghế ở vị trí quan trọng, dành cho bậc cao niên , bậc huynh trưởng , bậc đáng kính Thế mà, Mã vừa vào nhà đả nhảy “tót” lên ngồi , hắn đã quên rằng mình là kẻ đi hỏi vợ,
bản chất con buôn của hắn đã bộc lộ, hắn cho rằng mình là kẻ bề trên , kẻ có tiền , muốn làm gì
chẳng đươc “Tót” là hành động rất nhanh nhẹn Khác với “tót vời” là tuyệt vời Ngồi tót là một
hành động hết sức bất nhã của Mã Giám Sinh Mã vô tình hay cố ý? Đó là bản chất thói quenhay do sơ suất? Theo dõi Mã từ đầu, biết nguồn gốc của Mã, chúng ta dễ đoán rằng đây làhành động theo thói quen của y, thói quen của kẻ hạ lưu, vô học, cậy mình có tiền chẳng coi ai
ra gì Hành động “ngồi tót” là quá bất ngờ, quá nhanh,”ống kính” không nhanh, không nhạy thì
làm sao có thể ghi lại được
-Nhàthơ cũng đã rất nhanh ghi lại cách nói năng cộc lốc của Mã ( cũng có thể là của mụ
- Về bản chất , Mã Giám Sinh là điển hình của bản chất con buôn lưu manh với đặc tínhgiả dối, bất nhân và vì tiền Bản chất bất nhân , vì tiền của Mã Giám Sinh bộc lộ qua cảnh muabán Thúy Kiều
+Mã bất nhân trong tâm lí lạnh lùng vô cảm, xem Kiều như đồ vật:
Mối càng vén tóc bắt tay
……….
Đắn đo cân sắt cân tài Eùp cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ Nếu là lễ “vấn danh” thì làm gì có chuyện “vén tóc bắt tay” “đắn đo cân ép thử ” Cảnh trên là cảnh của kẻ đi mua hàng “người” cân nhắc để tính lời lãi Dưới con mắt của Mã Giám Sinh,
Kiều tài sắc lúc này chỉ là một món hàng không hơn không kém để hắn kiếm chác Mã đã gật
gù tán thưởng món lời:”Mặn nồng một vẻ một ưa”, chẳng khác gì cử chỉ đê tiện “lẩm nhẩm gật đầu” của Sở Khanh sau này Khi đã ưa, đã vừa ý món hàng, Mã mới tùy cơ dặt dìu, lựa lời nói
khách sáo văn hoa Y trở về giọng điệu của chàng trai đi hỏi vợ:
Rằng:”Mua ngọc đến Lam Kiềup Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường
Vì sao Mã lại nói như vậy? Hẳn vì Mã đã khoe y là Giám sinh mà! Người có học phải nói vănhoa khác người thường chứ! Tuy nhiên, cách nói hoàn toàn mâu thuẫn với chuỗi hành động trêncủa Mã Rồi ngay tiếp sau, khi nghe mụ mối phát giá, y bắt đầu mặêc cả, cò kè thêm bớt chi lihồi lâu.Bản chất vì tiền của tên họ Mã thể hiện trong hành động mặc cả keo kiệt, đê tiện:
Trang 7Cò kè bớt một thêm hai Nếu trước đó, khi giành “ghế trên”, Mã vộ vàng “ngồi tót” thì lúc mua Kiều, hắn lại hết sức chậm rãi, tính toán chi li, hết “đắn đo”, hết “thử tài” lại “cò kè”, “thêm”,”bớt” Từ láy “cò kè”
đã lột tả chân dung và bản chất con buôn keo kiệt, dìm giá, đầy mánh lới của Mã Y mặc cảmãi , lâu lắm mới ngã giá chỉ còn non một nửa theo giá phát ban đầu của mụ mối Mã xứng là
tay mua hàng sành sỏi Cuối cùng, Mã nói vài câu hẹn ước các nghi lễ tiếp theo: nạp thái, vu qui… nhưng thực chất là định ngày đưa người đi (lấy hàng)
Với bút pháp kết hợp giữa kể và tả, bằng một số nét phác họa về mối quan hệ mờ ám,vẻ ngoài chải chuốt, nói năng vô lễ, cử chỉ vô học,hành động vô lương, Nguyễn Du đã khắc họasắc nét hình tượng Mã Giám Sinh, kẻ buôn ngươiø từ ngoại hình, đến tính cách, Mã giám Sinh đãtrở thành một điển hình bất hủ cho sự đê tiện, tàn ác
2- Cảm nhận của em về hình ảnh Thúy Kiều qua đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”? (xem SBT trang 44-45)
3-Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”?
-Tác giả tỏ thái độ khinh bỉ và căm phẫn sâu sắc bọn buôn người, đồng thời tố cáo thế lực đồngtiền chà đạp lên con người:
+Qua cách miêu tả Mã Giám Sinh với cái nhìn mỉa mai châm biếm, lên án :bộ mặêt nhẵn nhụi, quần áo bảnh bao không hợp với tuổi tứ tuần Hành động “ghế trên ngồi tót”, gật gù tán thưởng món hàng “ mặn nồng một vẻ một ưa”.
+Tố cáo thế lực đồng tiền đã biến con người tài sắc trở thành món hàng , để bọn buôn người
mua bán , kiếm chác Thái độ ấy còn thể hiện qua lời nhận xét: “Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong” Lời nhận xét có vẻ khách quan nhưng chứa đựng trong đó cả sự chua xót, căm phẫn.
Đồng tiền biến nhan sắc thành món hàng tủi nhục , biến kẻ tán tận lương tâm thành kẻ mãnnguyện tự đắc Thế lực đồng tiền với thế lực lưu manh, thế lực quan laiï đã hùa vào nhau tàn phágia đình Kiều, tàn phá cuộc đời Kiều
-Nguyễn Du còn thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước thực trạng con người bị hạthấp, bị chàđạp Nhà thơ như hóa thân vào nhân vật để noiù lên nỗi đau đớn, tủi hổ của Thúy Kiều
Đề: Nhận xét nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua hai đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” và
“Mã Giám Sinh mua Kiều” (Trích truyện Kiều)
Gợi ý bài làmI- Giới thiệu truyện Kiều ,nêu nét đặc sắc nghệ thuật tả người
(Truyện Kiều là kiệt tác của Nguyễn Du , khơng những cĩ giá trị về nội dung ,Truyện Kiều cịn làkết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngơn ngữ, thể loại Đặc biệt là
theo đề bài (qua hai đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” và Mã Giám Sinh mua Kiều” ta cũng cảm nhậnđược tài năng tả người cua Nguyễn Du)
II-a/ Nhân vật trong truyện Kiều được chia làm hai tuyến : -Chính diện ( Thúy Kiều , Thúy Vân , KimTrọng, Từ Hải )- phản diện (Mã Giám Sinh, Tú bà, Hoạn Thư, Sơ Khanh )
b/ Cách miêu tả đối với nhân vật chính diện ( Trong đoạn “Chị em Thúy Kiều” ):
+Cách giới thiệu của tác giả đầy trân trọng và ưu ái Khi giới thiệu chị em Thúy Kiều:
Đầu lịng hai ả Tố nga Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
Trang 8+Khi miêu tả nhân vật chính diện thường là những con người lý tưởng , nên tác giả dùng bút phápước lệ , tượng trưng:Nghĩa là sử dụng những qui ước trong biểu hiện nghệ thuật như
dùng hình tượng thiên nhiên đẹp: trăng , hoa , ngọc, tuyết,….để nói về vẻ đẹp con
người Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ :
Mai cốt cách , tuyết tinh thần
Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên
nhiên, với những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc:
Vân xem trang trọng khác vời Khuơn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tĩc tuyết nhường màu da
Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ:
Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương mặt trẻ trung.
Cái tài của Nguyễn Du là tuy sử dụng bút pháp ước lệ nhưng chân dung hai chị
em Thúy Vân, Thúy Kiều hiện lên thật sinh động, đa dạng , “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.
Khi miêu tả chân dung nhân vật là chân dung mang tính cách số phận Vẻ
đẹp của Thúy Vân tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh, “mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ Còn vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị – “hoa ghen”, “liễu hờn” – nên số phận nang phải éo le đau khổ.
-Sự tinh tế của tác giả là khi miêu tả nhân vật Thúy Kiều, tác giả miêu tảchân dung Thúy Vân trước để làm nền nổi bật lên chân dung Thúy Kiều Có thể coiđây là thủ pháp nghệ thuậtï đòn bẩy Nguyễn Du chỉ dành bốn câu để gợi tả Vân,trong khi đó dành tới mười hai câu thơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều Vẻ đẹp của Vânchủ yếu là ngoại hình, còn vẻ đẹp của Kiều là nhan sắc , tài năng , tâm hồn
Thúy Vân, Thúy Kiều là những nhân vật chính diện nên khi miêu tả tác giảchủ yếu tác giả dùng bút pháp ước lệ Vì vẻ đẹp của hai chị em Kiều là vẻ đẹp lítưởng nên Nguyễn Du đã dùng những khuôn mẫu, ước lệ để diễn tả vẻ đẹp vượt rangoài, vượt lên trên khuôn mẫu của tuyệt sắc giai nhân
-“Chị em Thuý Kiều” là đoạn thơ miêu tả nhân vật vô cùng đặc sắc trong thơtrung đại, một trong những nét đặc sắc ấy là việc sử dụng từ ngữ:
+Cách sử dụng ngôn ngữ để miêu tả hai nhân vật có điểm khác Với Thuý
Vân thì dùng “thua”, “nhường”:
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Còn Thuý Kiều thì dùng “ghen”, “hờn”:
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
*Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, một vẻ đẹp mà thiên nhiên
(mây,tuyết) cũng phải chịu thua, nhường! Nhưng chỉ đến mức ấy thôi, nghĩa là ở
Trang 9trong vòng trời đất , vẫn trong qui luật tự nhiên Vẻ đẹp của Vân tạo sự hoà hợp,êm đềm với xung quanh Vẻ đẹp này báo hiệu tính cách ,số phận cuộc đời sau này
của Thuý Vân là một cuộc đời êm ả, bình lặng.
*Vẻ đẹp của Thuý Kiều là vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, khác nhiều với vẻ đẹp trang
trọng hiền hoà của Vân Một vể đẹp đến độ “hoa ghen”, “liễu hờn” Điều đó chứng
tỏ nhan sắc Thuý Kiều đã vượt ra ngoài khuôn khổ, ngoài tưởng tượng ,ngoài quiluật tự nhiên Thiên nhiên ,tạo hoá có sự ganh ghét , đố kị , báo hiệu một sự trả
thù sau này của trời đất (thiên nhiên) đối với số phậncủa Kiều Hai từ ghen hờn đã báo trước cuộc đời Kiều chắc sẽ trải qua nhiều tai ương , bất hạnh.
Trong miêu tả, Nguyễn Du đã dự cảm về thân phận mỗi người trong tương
lai : Thuý Vân thì êm đềm phẳng lặêng, còn tương lai Thuý Kiều đầy sóng gió bất trắc.
Thúy Kiều là một nhân vật tuyệt đẹp trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Kiềubằng những vần thơ lục bát đẹp nhất Ơng đã dành cho nhân vật bao tình cảm yêu mến, trân trọngsâu sắc Sự kết hợp tài tình bút pháp ước lệ tượng trưng, sử dụng các biện pháp tu từ, nhất là ẩn dụ ,
so sánh, một ngơn ngữ thơ tinh luyện, hàm súc, hình tượng và gợi cảm để vẽ nên bức chân dung mỹnhân bằng thơ sáng giá nhất trong nền văn học cổ nước nhà Thúy Kiều hiện lên với bao phẩm chấttốt đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc
c/ Đối với nhân vật phản diện :
+ Cách giới thiệu đầy khinh ghét :
Hỏi tên rằng:”Mã Giám Sinh”
Hỏi quê rằng :”Huyện Lâm Thanh cũng gần”
Nhà thơ cũng đã rất nhanh ghi lại cách nói năng cộc lốc của Mã ( cũng có thể
là của mụ mối).Câu trả lời nhát gừng, không có chủ ngữ, không thèm thưa gửi chỉcó thể là lời của kẻ vô học hoặc hợm của , cậy tiền, của kẻ sợ nói nhiều lộ cái bịpbợm giả dối
Với cách giới thiệu lai lịch , tông tích cũng như qua việc miêu tả ngoại hình ,cử chỉ , ngôn ngữ của Mã Giám Sinh, nhà thơ đã lột trần bộ mặt hợm hĩnh, khoecủa, bất lịch sự của một tên “buôn người” bịp bợm ,gian ngoa
+ Dùng bút pháp tả thực :
Khi miêu tả Mã giám Sinh tác giả dùng các từ : nhẵn nhụi, bảnh bao ,xơn xao, cị kè
Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi , áo quần bảnh bao
Hắn đã ngoài bốn mươi tuổi tuổi đứng đắn , tuổi làm cha , làm ông mà đi hỏi vợ làhơi lạ ( nhưng ở đây là vợ bé, vợ lẽ -thiếp hay nàng hầu) Cái điều khiến ta nghi
ngờ chính là cái “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” của hắn Có cái gì đó làm
dáng, làm đỏm quá đáng , kệch cỡm, khoe khoang lộ liễu không hợp với lứa tuổi
.Ngoài ra, “mày râu nhẵn nhụi”, phải chăng Nguyễn Du muốn nói hắn là đàn ông
mà không râu là kẻ “vô nghì” ( kẻ bất nhân , bất nghĩa :đàn ông không râu vô
nghì) Từ “nhẵn nhụi” gợi cảm giác về một sự trơ trẽn , phẳng lì Aùo quần “bảnh bao” là áo quần trưng diện cũng thiếu tự nhiên Phủ một lớp hào nhoáng lên vẻ bên
ngoài của nhân vật, tác giả đã chế giễu, mỉa mai tên buôn người họ Mã Sự đả kích
ấy càng sâu cay hơn khi một người “trạc ngoại tứ tuần” lại tỉa tót công phu, lại tô
vẽ cho mình ra dáng trẻ
-Nguyễn Du đã rất nhanh tay ghi lại cái hành động:
Trang 10Ghế trên ngồi tót sỗ sàng
“Ghế trên” là ghế ở vị trí quan trọng, dành cho bậc cao niên , bậc huynh trưởng , bậc đáng kính Thế mà, Mã vừa vào nhà đả nhảy “tót” lên ngồi , hắn đã quên rằng
mình là kẻ đi hỏi vợ, bản chất con buôn của hắn đã bộc lộ, hắn cho rằng mình làkẻ bề trên , kẻ có tiền , muốn làm gì chẳng đươc “Tót” là hành động rất nhanh
nhẹn Khác với “tót vời” là tuyệt vời Ngồi tót là một hành động hết sức bất nhã
của Mã Giám Sinh Mã vô tình hay cố ý? Đó là bản chất thói quen hay do sơ suất?Theo dõi Mã từ đầu, biết nguồn gốc của Mã, chúng ta dễ đoán rằng đây là hànhđộng theo thói quen của y, thói quen của kẻ hạ lưu, vô học, cậy mình có tiền chẳng
coi ai ra gì Hành động “ngồi tót” là quá bất ngờ, quá nhanh, khơng tinh làm sao ghi
lại được cái cảnh , hành động ấy của tên họ Mã
Trong cảnh mua bán :
Về bản chất , Mã Giám Sinh là điển hình của bản chất con buôn lưu manh với đặctính giả dối, bất nhân và vì tiền Bản chất bất nhân , vì tiền của Mã Giám Sinhbộc lộ qua cảnh mua bán Thúy Kiều
+Mã bất nhân trong tâm lí lạnh lùng vô cảm, xem Kiều như đồ vật hắn “đắn đo” ,
“cân” ,”thử’, “ép” đủ điều.Bản chất vì tiền của tên họ Mã thẻ hiện trong hành độngmặc cả keo kiệt, đê tiện:
Cò kè bớt một thêm hai Nếu trước đó, khi giành “ghế trên”, Mã vộ vàng “ngồi tót” thì lúc mua Kiều, hắn lại hết sức chậm rãi, tính toán chi li, hết “đắn đo”, hết “thử tài” lại “cò kè”,
“thêm”,”bớt” Từ láy “cò kè” đã lột tả chân dung và bản chất con buôn keo kiệt, dìm
giá, đầy mánh lới của Mã Y mặc cả mãi , lâu lắm mới ngã giá chỉ còn non một nửatheo giá phát ban đầu của mụ mối Mã xứng là tay mua hàng sành sỏi Cuối cùng,
Mã nói vài câu hẹn ước các nghi lễ tiếp theo: nạp thái, vu qui… nhưng thực chất là
định ngày đưa người đi (lấy hàng)
Với bút pháp kết hợp giữa kể và tả, bằng một số nét phác họa về mối quanhệ mờ ám, vẻ ngoài chải chuốt, nói năng vô lễ, cử chỉ vô học,hành động vô lương,Nguyễn Du đã khắc họa sắc nét hình tượng Mã Giám Sinh, kẻ buôn ngươiø từ ngoạihình, đến tính cách, Mã giám Sinh đã trở thành một điển hình bất hủ cho sự đêtiện, tàn ác
Qua nhân vật Mã Giám Sinh ,ta càng thấy rõ bút pháp tả thực trong nghệ thuật tả người củaNguyễn Du Nét nào cũng sắc sảo tạo nên tính cách xấu xa, đồi bại của nhân vật Mã Giám Sinh Chitiết nghệ thuật nào cũng sống , đằng sau nét vẽ là thái độ khinh bi của nhà thơ đối với con người bạc
ác tinh ma này! Bức chân dung phản diện Mã Giám Sinh cĩ giá trị tố cáo hiện thực đặc sắc, lên ánbọn buơn thịt bán người vơ nhân đạo, đạo dức giả trong xã hội phong kiến suy tàn
Miêu tả nội tâm: Nguyễn Du lấy bản chất nhân vật làm yếu tố trung tâm khi xây dựng nhân vật.Ngoại hình của nhân vật bao giờ cũng dựa trên bản chất con người Nàng Kiều xinh đẹp, duyêndáng cũng là nàng Kiều thơng minh, trong trắng giàu tình cảm Mã Giám Sinh một tên buơn người
Trang 11bịp bợm, tàn nhẫn thỡ lời lẽ cộc lốc , dối trỏ, cử chỉ thụ lỗ ỷ mỡnh cú tiền, trả giỏ thỡ “cũ kố” Khỏc
với một số truyện Nụm khỏc (như Lục Võn Tiờn ) thường thiờn về miờu tả hành động và sự việc,Nguyễn Du rất quan tõm đến việc tả tỡnh khi xõy dựng nhõn vật Với cỏi nhỡn sắc sảo và ngũi bỳttài tỡnh, Nguyễn Du đó khắc họa được những nột tõm lý, những tớnh cỏch rất chõn thực và sinhđộng
III- Kết hợp đỳng mức những yếu tố nghệ thuật cổ truyền và tài năng sỏng tạo của một nghệ sĩ thiờntài khi miờu tả nhõn vật, Nguyễn Du đó tạo ra những nhõn vật sống , đó trở thành những điển hỡnhbất hủ của cuộc sống xó hội Việt Nam
- Chủ yếu sử dụng kiến thức trong các đoạn trích học, có thể vận dụng thêm một số hiểu biết về các nhânvật trong truyện thông qua một vài câu miêu tả mỗi nhân vật
- Căn cứ vào từng đoạn trích đã học mà khái quát lên đặc điểm bút pháp xây dựng nhân vật của Nguyễn
Du, để bố cục bài viết Không nên phân tích cách viết từng nhân vật, sẽ trùng lặp và thiếu sâu sắc
II/ Dàn bài chi tiết
1 Miêu tả ngoại hình rất độc đáo
Nguyễn Du khắc hoạ ngoại hình mỗi nhân vật hết sức cô đọng mà vẫn in dấu nét mặt, bộ dạng của từngnhân vật, không ai giống ai
- Thuý Vân, Thuý Kiều đều đẹp, nhng Vân thì:
Hoa cời ngọc thốt đoan trang, Mây thua nớc tóc tuyết nhừng màu da.
Còn Kiều thì :
Làn thu thuỷ nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
- Cũng là trang nam nhi, Từ Hải là anh hùng cho nên chàng hiện ra oai phong lẫm liệt:
Râu hùm hàm én mày ngài Vai năm tấc rộng thân mời thớc cao.
Kim Trọng là văn nhân, hiện ra thật nho nhã, hào hoa:
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
- Cùng là những kẻ xấu xa, bỉ ổi, nhng Mã Giám Sinh thì : Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao ; còn Sở Khanh thì : Hình dung trải chuốt áo khăn dịu dàng.
Nhìn chung, Nguyễn Du miêu tả nhân vật chính diện theo bút pháp ớc lệ nhng có sự sáng tạo nên vẫn sinh
động ; tả nhân vật phản diện bằng bút pháp hiện thực nh ngôn ngữ đời thờng cũng rất sinh động
2 Miêu tả nội tâm tinh tế và sâu sắc
- Nguyễn Du thờng đặt nhân vật vào những cảnh ngộ có kịch tính để nhân vật bộc lộ tâm trạng : Bị đẩy vàolầu xanh, định thoát chết để thoát nhục lại không chết ; bị giam lỏng ở Lầu Ngng Bích, cha biết tơng lai lành dữ
ra sao
- Ông đặc biệt thành công trong miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ tự sự của tác giả, qua độc thoại nộitâm và qua tả cảnh ngụ tình :
+ Tâm trạng của Kim Trọng và Thuý Kiều lần đầu tiên gặp nhau đợc miêu tả qua lời kể của tác giả :
Ngời quốc sắc kẻ thiên tài, Tình trong nh đã mặt ngoài còn e.
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê, Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn.
+ Tâm trạng nhớ ngời yêu của Thuý Kiều khi ở lầu Ngng Bích đợc bộc lộ qua tiếng nói nội tâm của nàng + Tâm trạng cô đơn, lo lắng của Kiều khi một mình ở lầu Ngng Bích đợc miêu tả qua cảnh thiên nhiên
3 Nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật sắc sảo