1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập Truyện Kiều

22 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 227 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ : Mai cốt cách , tuyết tinh thần Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên nh

Trang 1

NGỮ VĂN 9 – ÔN TẠP TRUYỆN KIỀU

TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Đê: Hãy viết một bài văn thuyết minh ngắn giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Du và giá trị tác phẩm

“truyện Kiều”

I- Mở bài:

-Giới thiệu khái quát về

Nguyễn Du (thiên tài văn

học-“thi sĩ của các thi sĩ”

-Giới thiệu truyện Kiều (tác

phẩm lớn của Nguyễn Du,

đỉnh cao của nghệ thuật thi ca

tiếng Việt)

II-Thân bài :

a/ Thuyết minh về cuộc đời và

sự nghiệp văn học của Nguyễn

Du:

-Thân thế: sinh mất, bút hiệu,

quê quán, gia đình

-Thời đại: đầy biến động

-Về cảnh đời :+Năng khiếu

văn học bâm sinh

+Trải qua mười

năm gió bụi => có vốn sống

I- Nguyễn Du được coi là một thiên tài văn học, một tác gia văn

học tài hoa và lỗi lạc nhất của văn học Việt Nam “thi sĩ của các nhà thi sĩ” Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) là tác phẩm lớn

nhất của ông, là đỉnh cao chói lọi nhất của nghệ thuật thơ ca tiếng Việt

II-a/ Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Du:

-Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên;quê ở làng Tiên Điền , huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học

Quê hương ông vẫn lưu truyền câu ca:

Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Lam hết nước , họ này hết quan.

Cuộc đời của Nguyễn Du gắn bó với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu hế kỷ XIX Đây là giai đoạn lịch

sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật : chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng , bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm trên

đất Bắc (1786-1796) “Ông trải qua mười năm gió bụi”, có lúc ốm

đau không có thuốc, mái tóc sớm bạc Năm 1802, Gia Long triệu Nguyễn Du ra làm quan Ông được làm chánh sứ sang Trung Quốc (1913-1914) Năm 1820, ông được cử làm chánh sứ lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi, ông đã mất

Năng khiếu văn học bẩm sinh, vốn sống vô cùng phong phú, kết hợp với trái tim yêu thương vĩ đại đã tạo nên thiên tài Nguyễn Du

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du vô cùng rạng rỡ, để lại nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm:

Về chữ Hán có 3 tập thơ : Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Thanh Hiên thi tập

Về chữ Nôm có Truyện Kiều, Văn chiêu hồn

b/ Truyện Kiều:

Nguyễn Du đã lấy cốt truyện từ “Kim Vân Kiều truyện” của

Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) mà sáng tạo ra truyện Kiều bằng thơ lục bát dài 3254 câu, đậm đà màu sắc dân tộc

Giá trị nội dung và nghệ thuật:

Về nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện

thực và giá trị nhân đạo:

Giá trị hiện thực : Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một

xã hội bất công , tàn bạo

Giá trị nhân đạo: Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm

trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo

Trang 2

Về nghệ thuật :

Truyện Kiều là kết tinh hành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngơn ngữ, thể loại Với truyện Kiều, ngơn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ Với tryuện Kiều , nghệ thuật tự sự đã cĩ bước phát triển vượt bậc từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lý nhân vật

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, niềm tự hào của nhân dân ta, đất nước ta:

III-Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

(Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu) Truyện Kiều là tập đại thành của ngơn ngữ văn học dân tộc

Đoạn: CHỊ EM THÚY KIỀU (Trích truyện Kiều)

1 Qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” em có nhận xét gì về nghệ thuật tả người của Nguyễn

Du ?

-Đoạn thơ miêu tả nhân vật theo bút pháp nghệ thuật ước lệ quen thuộc trong văn học cổ Nghĩa là sử dụng những qui ước trong biểu hiện nghệ thuật như dùng hình tượng thiên nhiên

đẹp: trăng , hoa , ngọc, tuyết,….để nói về vẻ đẹp con người Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng,

thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ :

Mai cốt cách , tuyết tinh thần

Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên nhiên, với

những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc:

Vân xem trang trọng khác vời Khuơn trăng dầy dặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tĩc tuyết nhường màu da

Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ:

Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa

xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương mặt trẻ trung

Cái tài của Nguyễn Du là tuy sử dụng bút pháp ước lệ nhưng chân dung hai chị em Thúy

Vân, Thúy Kiều hiện lên thật sinh động, đa dạng , “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

Khi miêu tả chân dung nhân vật là chân dung mang tính cách số phận Vẻ đẹp của Thúy

Vân tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh, “mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc

đời bình lặng, suôn sẻ Còn vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, các vẻ đẹp

khác phải đố kị – “hoa ghen”, “liễu hờn” – nên số phận nang phải éo le đau khổ.

-Sự tinh tế của tác giả là khi miêu tả nhân vật Thúy Kiều, tác giả miêu tả chân dung Thúy Vân trước để làm nền nổi bật lên chân dung Thúy Kiều Có thể coi đây là thủ pháp nghệ thuậït đòn bẩy Nguyễn Du chỉ dành bốn câu để gợi tả Vân, trong khi đó dành tới mười hai câu

Trang 3

thơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình, còn vẻ đẹp của Kiều là nhan sắc , tài năng , tâm hồn.

Thúy Vân, Thúy Kiều là những nhân vật chính diện nên khi miêu tả tác giả chủ yếu tác giả dùng bút pháp ước lệ Vì vẻ đẹp của hai chị em Kiều là vẻ đẹp lí tưởng nên Nguyễn Du đã

dùng những khuôn mẫu, ước lệ để diễn tả vẻ đẹp vượt ra ngoài, vượt lên trên khuôn mẫu của tuyệt sắc giai nhân

2-Em có nhận xét gì về cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du trong việc miêu tả ngoại hình hai chị em Thuý Kiều ,cách miêu tả ấùy đã dự báo số phận của hai nhân vật như thế nào?

-“Chị em Thuý Kiều” là đoạn thơ miêu tả nhân vật vô cùng đặc sắc trong thơ trung đại, một trong những nét đặc sắc ấùy là việc sử dụng từ ngữ

+Miêu tả ngoại hình hai chị em Thuý Kiều , Nguyễn bút pháp ước lệ – truyền thống của văn học cổ điển, dùng hình tượng thiên nhiên đẹp : trăng, hoa, ngọc, tuyết, để nói về vẻ đẹp con người

+Cách sử dụng ngôn ngữ để miêu tả hai nhân vật có điểm khác Với Thuý Vân thì dùng “thua”,

“nhường”:

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Còn Thuý Kiều thì dùng “ghen”, “hờn”:

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

*Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, một vẻ đẹp mà thiên nhiên (mây,tuyết) cũng phải chịu thua, nhường! Nhưng chỉ đến mức ấy thôi, nghĩa là ở trong vòng trời đất , vẫn trong

qui luật tự nhiên Vẻ đẹp của Vân tạo sự hoà hợp, êm đềm với xung quanh Vẻ đẹp này báo

hiệu tính cách ,số phận cuộc đời sau này của Thuý Vân là một cuộc đời êm ả, bình lặng.

*Vẻ đẹp của Thuý Kiều là vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, khác nhiều với vẻ đẹp trang trọng hiền hoà

của Vân Một vẻ đẹp đếùn độ “hoa ghen”, “liễu hờn” Điều đó chứng tỏ nhan sắc Thuý Kiều đã

vượt ra ngoài khuôn khổ, ngoài tưởng tượng ,ngoài qui luật tự nhiên Thiên nhiên ,tạo hoá có sự ganh ghét , đố kị , báo hiệu một sự trả thù sau này của trời đất (thiên nhiên) đối với số phận của

Kiều Hai từ ghen hờn đã báo trước cuộc đời Kiều chắc sẽ trải qua nhiều tai ương , bất hạnh.

Trong miêu tả, Nguyễn Du đã dự cảm về thân phận mỗi người trong tương lai : Thuý Vân thì êm đềm phẳng lặêng, còn tương lai Thuý Kiều đầy sóng gió bất trắc.

CẢNH NGÀY XUÂN (Đoạn thơ tả cảnh thiên nhiên)

1- Phân tích bức tranh cảnh thiên nhiên ở bốn câu thơ đầu trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”?

“Cảnh ngày xuân” (Trích truyện Kiều - Nguyễn Du) là bức tranh thiên nhiên mùa xuân cùng với cảnh lễ hội xuân nhộn nhịp, tươi vui Trong dĩ, bốn câu đầu gợi tả khung cảnh mùa xuân :

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi.

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bơng hoa.

Hai câu đầu:

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi gợi tả mùa xuân theo cách riêng Trước hết hình ảnh “con én đưa thoi”là hình ảnh ẩn dụ nhân hĩa

vừa gợi thời gian vừa gợi khơng gian, Hình ảnh chim én bay liệng trong bầu trời xuân ất nhanh như chiếc thoi chạy đi chạy lại trên khung dệt khơng những nêu lên nét đặc trưng của mùa xuân (mùa xuân chim én về) mà cịn gợi thời gian trơi đi rất nhanh (như thoi đưa), ngày xuân , ngày vui trơi rất

nhanh Cảm giác nuối tiêc thời gian thống hiện ở câu thơ “Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi” khi tác giả tả ánh sáng đẹp của mùa xuân đã trải qua hơn sáu mươi ngày, đã hết tháng hai sang tháng ba Những số từ “chín chục, ngồi sáu mươi” cùng với từ “đã” nĩi lên điều ấy Trong

tháng cuối cùng của mùa xuân chim én vẫn rộn ràng bay liệng giữa bầu trời trong sáng

Trang 4

Hai câu thơ tiếp theo không hoàn toàn là sáng tạo của Nguyễn Du Ông đã tiếp thu và đổi mới từ hai câu thơ cổ Trung Quốc :

Phương thảo thiên liên bích

Lê chi sổ điểm hoa

( cỏ non liền với trời xanh, tên cành lê có mấy bông hoa)

So với hai câu thơ xưa, rõ ràng hai câu thơ của Nguyễn Du trở thành một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân:

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Gam màu làm nền cho bức tranh xuân là thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời Trên cái nền xanh dịu mát đó điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng Câu thơ cổ Trung Quốc chỉ nói cành lê điểm

vài bông hoa mà không nói tới màu sắc của hoa lê Nguyễn Du chỉ thêm một chữ “trắng” cho hoa

lê mà bức tranh xuân đã khác Trong câu thơ của Nguyễn Du , chữ trắng đã thành điểm nhấn, làm

nổi bậc thần sắc của hoa lê, của bức tranh Màu xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho

màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: “cỏ non” mới mẻ, tinh khiết, giàu sức sống; “xanh tận chân trời” khoáng đạt trong trẻo; “trắng điểm một vài bông hoa” thanh khiết Chữ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn chứ không tĩnh tại.

Màu trắng –xanh hài hòa gợi cảm giác mênh mông mà không quạnh vắng, trong sáng mà tẻ trung, nhẹ nhàng mà thanh khiết Đúng là một bức họa tuyệt tác về cảnh ngày xuân trong sáng

2- Hãy phân tích sáu câu cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”?

Sáu câu cuối trong đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” ghi lại cảnh chị em Thúy Kiều đi chơi xuân đang dần bước trở về nhà Mặt trời đã “tà tà” gác núi Ngày hội ngày vui đã trôi qua nhanh:

Tà tà bóng ngã về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nhịp thơ chậm rải.Nhịp sống như ngừng trôi Tâm tình thì “thơ thẩn”, cử chỉ thì “dan tay”, nhịp chân thì “bước dần” Một cái nhìn man mác, bâng khuâng: “lần xem” đối với cảnh vật Tất cả đều nhỏ bé: khe suối chỉ là “ngọn tiểu khê”, “dịp cầu nho nhỏ”; phong cảnh “thanh thanh”; dòng nước

“nao nao” Cả một không gian êm đềm , vắng lặng.Tâm tình chị em Kiều như dịu lại trong bóng tà dương Như đang đợi chờ một cái gì sẽ đến, sẽ nhìn thấy? Cặp mắt cứ “lần xem” gần xa:

Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang Tác giả đã sử dụng liên tiếp một loạt từ láy: “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”,

việc dùng từ của thi nhân vừa chính xác vừa tinh tế , vừa có tác dụng gợi nhiều cảm xúc cho người đọc Các từ láy vừa gợi tả được hình ảnh sự vật, vừa thể hiện tâm trạng con người.Cảnh vẫn mang cái thanh , cái dịu của mùa xuân : nắng nhạt, khe nước nhỏ, một dịp cầu nhỏ bắc ngang Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng : mặt trời từ từ ngã bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn

quanh; tất cả nhạt dần , lặng dần Cảnh ở đây được cảm nhận qua tâm trạng Những từ láy “tà tà”,

“thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người hai chữ “nao nao”(nao nao dòng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật Nỗi niềm

man mác bâng khuâng thấm sâu , lan tỏa trong tâm hồn giai nhân đa tình , đa cảm Cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đang còn mà sự linh cảm một điều xảy ra đã xuất hiện

Dòng nước “nao nao” uốn quanh như báo trước ngay lúc này thôi Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên :

Sè sè nắm đất bên đường Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Sẽ gặp chàng thư sinh “phong tư tài mạo tót vời” – Kim Trọng.

Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng tưng nhưng rất sống động,

gần gũi, thân quen đối với bất cứ người Việt Nam nào Không còn xa lạ vì “ngọn tiểu khê” ấy, “dịp

Trang 5

cầu nho nhỏ” ấy là màu sắc đồng quê, là cảnh quê hương đất nước mình Tính dân tộc là một nét

đẹp đậm đà trong thơ Nguyễn Du, nhất là những vần thơ tả cảnh

Đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều (Trích truyện Kiều – Nguyễn Du)

*Nét nội dung , nghệ thuật cơ bản của đoạn trích:

• Nộâi dung: Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du trên cả hai phương diện: vừa lên án những thế lực xấu xa tàn bạo , vừa thương cảm trước sắc đẹp, tài năng nhân phẩm bị chà đạp

• Nghệ thuật: miêu tả nhân vật phản diện bằng nét bút hiện thực, khắc họa tính cách qua diện mạo cử chỉ ( khác với miêu tả nhân vật chính diện bằng bút pháp nghệ thuật ước lệ có phần lí tưởng hóa nhân vật)

-Về lai lịch, tông tích không rõ ràng:ngườiø “viễn khách” mà quê “ cũng gần”; tên Mã

Giám Sinh nhưng Giám sinh đâu phải tên, mà chỉ chung chung người họ Mã, học trường Quốc tử

giám mà thôi! Không nói tên thật của mình.Cách giới thiêu như vậy phải chăng là có dụng ý lừa dối mẹ con Thúy Kiều (lấy chồng gần , người có học, dù là làm lẻ cũng an ủi được phần nào).Để chứng tỏ là giám sinh , hắn đến nha øKiều cũng có cả một đám tôi tớ theo sau, nhưng cái cảnh:

Trước thầy sau tớ xôn xao

Cho thấy “thầy” và “tớ” đều là lũ người ô hợp ; từ láy “xôn xao” đã tả được bộ dạng hàng tôm,

hàng cá của y

-Ngoại hình: Miêu tả ngoại hình Mã Giám Sinh, tác giả tác giả kết hợp giữa “chụp cận

cảnh” và “quay lướt” Nguyễn Du chụp cận cản làm rõ bộ mặt và trang phục của Mã:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi , áo quần bảnh bao

Hắn đã ngoài bốn mươi tuổi tuổi đứng đắn , tuổi làm cha , làm ông mà đi hỏi vợ là hơi lạ ( nhưng ở đây là vợ bé, vợ lẽ -thiếp hay nàng hầu) Cái điều khiến ta nghi ngờ chính là cái

“mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” của hắn Có cái gì đó làm dáng, làm đỏm quá đáng , kệch cỡm, khoe khoang lộ liễu không hợp với lứa tuổi Ngoài ra, “mày râu nhẵn nhụi”, phải

chăng Nguyễn Du muốn nói hắn là đàn ông mà không râu là kẻ “vô nghì” ( kẻ bất nhân , bất

nghĩa :đàn ông không râu vô nghì) Từ “nhẵn nhụi” gợi cảm giác về một sự trơ trẽn , phẳng lì Aùo quần “bảnh bao” là áo quần trưng diện cũng thiếu tự nhiên Phủ một lớp hào nhoáng lên vẻ

bên ngoài của nhân vật, tác giả đã chế giễu, mỉa mai tên buôn người họ Mã Sự đả kích ấy càng

sâu cay hơn khi một người “trạc ngoại tứ tuần” lại tỉa tót công phu, lại tô vẽ cho mình ra dáng

trẻ

-Nguyễn Du đã rất nhanh tay ghi lại (quay lướt) cái hành động:

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

“Ghế trên” là ghế ở vị trí quan trọng, dành cho bậc cao niên , bậc huynh trưởng , bậc đáng kính Thế mà, Mã vừa vào nhà đả nhảy “tót” lên ngồi , hắn đã quên rằng mình là kẻ đi hỏi vợ,

bản chất con buôn của hắn đã bộc lộ, hắn cho rằng mình là kẻ bề trên , kẻ có tiền , muốn làm gì

chẳng đươc “Tót” là hành động rất nhanh nhẹn Khác với “tót vời” là tuyệt vời Ngồi tót là một

Trang 6

hành động hết sức bất nhã của Mã Giám Sinh Mã vô tình hay cố ý? Đó là bản chất thói quen hay do sơ suất? Theo dõi Mã từ đầu, biết nguồn gốc của Mã, chúng ta dễ đoán rằng đây là hành động theo thói quen của y, thói quen của kẻ hạ lưu, vô học, cậy mình có tiền chẳng coi ai

ra gì Hành động “ngồi tót” là quá bất ngờ, quá nhanh,”ống kính” không nhanh, không nhạy thì

làm sao có thể ghi lại được

-Nhàthơ cũng đã rất nhanh ghi lại cách nói năng cộc lốc của Mã ( cũng có thể là của mụ

- Về bản chất , Mã Giám Sinh là điển hình của bản chất con buôn lưu manh với đặc tính giả dối, bất nhân và vì tiền Bản chất bất nhân , vì tiền của Mã Giám Sinh bộc lộ qua cảnh mua bán Thúy Kiều

+Mã bất nhân trong tâm lí lạnh lùng vô cảm, xem Kiều như đồ vật:

Mối càng vén tóc bắt tay

……….

Đắn đo cân sắt cân tài Eùp cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ Nếu là lễ “vấn danh” thì làm gì có chuyện “vén tóc bắt tay” “đắn đo cân ép thử ” Cảnh trên là cảnh của kẻ đi mua hàng “người” cân nhắc để tính lời lãi Dưới con mắt của Mã Giám Sinh,

Kiều tài sắc lúc này chỉ là một món hàng không hơn không kém để hắn kiếm chác Mã đã gật

gù tán thưởng món lời:”Mặn nồng một vẻ một ưa”, chẳng khác gì cử chỉ đê tiện “lẩm nhẩm gật đầu” của Sở Khanh sau này Khi đã ưa, đã vừa ý món hàng, Mã mới tùy cơ dặt dìu, lựa lời nói

khách sáo văn hoa Y trở về giọng điệu của chàng trai đi hỏi vợ:

Rằng:”Mua ngọc đến Lam Kiềup Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường

Vì sao Mã lại nói như vậy? Hẳn vì Mã đã khoe y là Giám sinh mà! Người có học phải nói văn hoa khác người thường chứ! Tuy nhiên, cách nói hoàn toàn mâu thuẫn với chuỗi hành động trên của Mã Rồi ngay tiếp sau, khi nghe mụ mối phát giá, y bắt đầu mặêc cả, cò kè thêm bớt chi li hồi lâu.Bản chất vì tiền của tên họ Mã thể hiện trong hành động mặc cả keo kiệt, đê tiện:

Cò kè bớt một thêm hai Nếu trước đó, khi giành “ghế trên”, Mã vộ vàng “ngồi tót” thì lúc mua Kiều, hắn lại hết sức chậm rãi, tính toán chi li, hết “đắn đo”, hết “thử tài” lại “cò kè”, “thêm”,”bớt” Từ láy “cò kè”

đã lột tả chân dung và bản chất con buôn keo kiệt, dìm giá, đầy mánh lới của Mã Y mặc cả mãi , lâu lắm mới ngã giá chỉ còn non một nửa theo giá phát ban đầu của mụ mối Mã xứng là

tay mua hàng sành sỏi Cuối cùng, Mã nói vài câu hẹn ước các nghi lễ tiếp theo: nạp thái, vu qui… nhưng thực chất là định ngày đưa người đi (lấy hàng)

Với bút pháp kết hợp giữa kể và tả, bằng một số nét phác họa về mối quan hệ mờ ám, vẻ ngoài chải chuốt, nói năng vô lễ, cử chỉ vô học,hành động vô lương, Nguyễn Du đã khắc họa sắc nét hình tượng Mã Giám Sinh, kẻ buôn ngươiø từ ngoại hình, đến tính cách, Mã giám Sinh đã trở thành một điển hình bất hủ cho sự đê tiện, tàn ác

Trang 7

2- Cảm nhận của em về hình ảnh Thúy Kiều qua đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”? (xem SBT trang 44-45)

3-Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”?

-Tác giả tỏ thái độ khinh bỉ và căm phẫn sâu sắc bọn buôn người, đồng thời tố cáo thế lực đồng tiền chà đạp lên con người:

+Qua cách miêu tả Mã Giám Sinh với cái nhìn mỉa mai châm biếm, lên án :bộ mặêt nhẵn nhụi, quần áo bảnh bao không hợp với tuổi tứ tuần Hành động “ghế trên ngồi tót”, gật gù tán thưởng món hàng “ mặn nồng một vẻ một ưa”.

+Tố cáo thế lực đồng tiền đã biến con người tài sắc trở thành món hàng , để bọn buôn người

mua bán , kiếm chác Thái độ ấy còn thể hiện qua lời nhận xét: “Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong” Lời nhận xét có vẻ khách quan nhưng chứa đựng trong đó cả sự chua xót, căm phẫn

Đồng tiền biến nhan sắc thành món hàng tủi nhục , biến kẻ tán tận lương tâm thành kẻ mãn nguyện tự đắc Thế lực đồng tiền với thế lực lưu manh, thế lực quan laiï đã hùa vào nhau tàn phá gia đình Kiều, tàn phá cuộc đời Kiều

-Nguyễn Du còn thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước thực trạng con người bị hạthấp, bị chà đạp Nhà thơ như hóa thân vào nhân vật để noiù lên nỗi đau đớn, tủi hổ của Thúy Kiều

Đề: Nhận xét nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua hai đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” và

“Mã Giám Sinh mua Kiều” (Trích truyện Kiều)

Gợi ý bài làmI- Giới thiệu truyện Kiều ,nêu nét đặc sắc nghệ thuật tả người (Truyện Kiều là kiệt tác của Nguyễn

Du , khơng những cĩ giá trị về nội dung ,Truyện Kiều cịn là kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngơn ngữ, thể loại Đặc biệt là nghệ thuật tả người , nhất là miêu tả và

Thúy Kiều” và Mã Giám Sinh mua Kiều” ta cũng cảm nhận được tài năng tả người cua Nguyễn Du)II-

a/ Nhân vật trong truyện Kiều được chia làm hai tuyến : -Chính diện ( Thúy Kiều , Thúy Vân , Kim Trọng, Từ Hải )- phản diện (Mã Giám Sinh, Tú bà, Hoạn Thư, Sơ Khanh )

b/ Cách miêu tả đối với nhân vật chính diện ( Trong đoạn “Chị em Thúy Kiều” ):

+Cách giới thiệu của tác giả đầy trân trọng và ưu ái Khi giới thiệu chị em Thúy Kiều:

Đầu lịng hai ả Tố nga Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

+Khi miêu tả nhân vật chính diện thường là những con người lý tưởng , nên tác giả dùng bút pháp ước lệ , tượng trưng:Nghĩa là sử dụng những qui ước trong biểu hiện nghệ thuật như

dùng hình tượng thiên nhiên đẹp: trăng , hoa , ngọc, tuyết,….để nói về vẻ đẹp con

người Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ :

Mai cốt cách , tuyết tinh thần

Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên

nhiên, với những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc:

Vân xem trang trọng khác vời Khuơn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tĩc tuyết nhường màu da

Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ:

Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh

Trang 8

Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương mặt trẻ trung.

Cái tài của Nguyễn Du là tuy sử dụng bút pháp ước lệ nhưng chân dung hai chị

em Thúy Vân, Thúy Kiều hiện lên thật sinh động, đa dạng , “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

Khi miêu tả chân dung nhân vật là chân dung mang tính cách số phận Vẻ

đẹp của Thúy Vân tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh, “mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ Còn vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị – “hoa ghen”, “liễu hờn” – nên số phận nang phải éo le đau khổ.

-Sự tinh tế của tác giả là khi miêu tả nhân vật Thúy Kiều, tác giả miêu tả chân dung Thúy Vân trước để làm nền nổi bật lên chân dung Thúy Kiều Có thể coi đây là thủ pháp nghệ thuậtï đòn bẩy Nguyễn Du chỉ dành bốn câu để gợi tả Vân, trong khi đó dành tới mười hai câu thơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình, còn vẻ đẹp của Kiều là nhan sắc , tài năng , tâm hồn

Thúy Vân, Thúy Kiều là những nhân vật chính diện nên khi miêu tả tác giả chủ yếu tác giả dùng bút pháp ước lệ Vì vẻ đẹp của hai chị em Kiều là vẻ đẹp lí tưởng nên Nguyễn Du đã dùng những khuôn mẫu, ước lệ để diễn tả vẻ đẹp vượt ra ngoài, vượt lên trên khuôn mẫu của tuyệt sắc giai nhân

-“Chị em Thuý Kiều” là đoạn thơ miêu tả nhân vật vô cùng đặc sắc trong thơ trung đại, một trong những nét đặc sắc ấy là việc sử dụng từ ngữ:

+Cách sử dụng ngôn ngữ để miêu tả hai nhân vật có điểm khác Với Thuý

Vân thì dùng “thua”, “nhường”:

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Còn Thuý Kiều thì dùng “ghen”, “hờn”:

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

*Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, một vẻ đẹp mà thiên nhiên

(mây,tuyết) cũng phải chịu thua, nhường! Nhưng chỉ đến mức ấy thôi, nghĩa là ở

trong vòng trời đất , vẫn trong qui luật tự nhiên Vẻ đẹp của Vân tạo sự hoà hợp, êm đềm với xung quanh Vẻ đẹp này báo hiệu tính cách ,số phận cuộc đời sau này

của Thuý Vân là một cuộc đời êm ả, bình lặng.

*Vẻ đẹp của Thuý Kiều là vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, khác nhiều với vẻ đẹp trang

trọng hiền hoà của Vân Một vể đẹp đến độ “hoa ghen”, “liễu hờn” Điều đó chứng

tỏ nhan sắc Thuý Kiều đã vượt ra ngoài khuôn khổ, ngoài tưởng tượng ,ngoài qui luật tự nhiên Thiên nhiên ,tạo hoá có sự ganh ghét , đố kị , báo hiệu một sự trả

thù sau này của trời đất (thiên nhiên) đối với số phậncủa Kiều Hai từ ghen hờn đã báo trước cuộc đời Kiều chắc sẽ trải qua nhiều tai ương , bất hạnh.

Trong miêu tả, Nguyễn Du đã dự cảm về thân phận mỗi người trong tương

lai : Thuý Vân thì êm đềm phẳng lặêng, còn tương lai Thuý Kiều đầy sóng gió bất trắc.

Thúy Kiều là một nhân vật tuyệt đẹp trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Kiều bằng những vần thơ lục bát đẹp nhất Ơng đã dành cho nhân vật bao tình cảm yêu mến, trân trọng sâu sắc Sự kết hợp tài tình bút pháp ước lệ tượng trưng, sử dụng các biện pháp tu từ, nhất là ẩn dụ ,

so sánh, một ngơn ngữ thơ tinh luyện, hàm súc, hình tượng và gợi cảm để vẽ nên bức chân dung mỹ

Trang 9

nhân bằng thơ sáng giá nhất trong nền văn học cổ nước nhà Thúy Kiều hiện lên với bao phẩm chất tốt đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc.

c/ Đối với nhân vật phản diện :

+ Cách giới thiệu đầy khinh ghét :

Hỏi tên rằng:”Mã Giám Sinh”

Hỏi quê rằng :”Huyện Lâm Thanh cũng gần”

Nhà thơ cũng đã rất nhanh ghi lại cách nói năng cộc lốc của Mã ( cũng có thể

là của mụ mối).Câu trả lời nhát gừng, không có chủ ngữ, không thèm thưa gửi chỉ có thể là lời của kẻ vô học hoặc hợm của , cậy tiền, của kẻ sợ nói nhiều lộ cái bịp bợm giả dối

Với cách giới thiệu lai lịch , tông tích cũng như qua việc miêu tả ngoại hình , cử chỉ , ngôn ngữ của Mã Giám Sinh, nhà thơ đã lột trần bộ mặt hợm hĩnh, khoe của, bất lịch sự của một tên “buôn người” bịp bợm ,gian ngoa

+ Dùng bút pháp tả thực :

Khi miêu tả Mã giám Sinh tác giả dùng các từ : nhẵn nhụi, bảnh bao ,xơn xao, cị kè

Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi , áo quần bảnh bao

Hắn đã ngoài bốn mươi tuổi tuổi đứng đắn , tuổi làm cha , làm ông mà đi hỏi vợ là hơi lạ ( nhưng ở đây là vợ bé, vợ lẽ -thiếp hay nàng hầu) Cái điều khiến ta nghi

ngờ chính là cái “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” của hắn Có cái gì đó làm

dáng, làm đỏm quá đáng , kệch cỡm, khoe khoang lộ liễu không hợp với lứa tuổi

.Ngoài ra, “mày râu nhẵn nhụi”, phải chăng Nguyễn Du muốn nói hắn là đàn ông

mà không râu là kẻ “vô nghì” ( kẻ bất nhân , bất nghĩa :đàn ông không râu vô

nghì) Từ “nhẵn nhụi” gợi cảm giác về một sự trơ trẽn , phẳng lì Aùo quần “bảnh bao” là áo quần trưng diện cũng thiếu tự nhiên Phủ một lớp hào nhoáng lên vẻ bên

ngoài của nhân vật, tác giả đã chế giễu, mỉa mai tên buôn người họ Mã Sự đả kích

ấy càng sâu cay hơn khi một người “trạc ngoại tứ tuần” lại tỉa tót công phu, lại tô

vẽ cho mình ra dáng trẻ

-Nguyễn Du đã rất nhanh tay ghi lại cái hành động:

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

“Ghế trên” là ghế ở vị trí quan trọng, dành cho bậc cao niên , bậc huynh trưởng , bậc đáng kính Thế mà, Mã vừa vào nhà đả nhảy “tót” lên ngồi , hắn đã quên rằng

mình là kẻ đi hỏi vợ, bản chất con buôn của hắn đã bộc lộ, hắn cho rằng mình là kẻ bề trên , kẻ có tiền , muốn làm gì chẳng đươc “Tót” là hành động rất nhanh

nhẹn Khác với “tót vời” là tuyệt vời Ngồi tót là một hành động hết sức bất nhã

của Mã Giám Sinh Mã vô tình hay cố ý? Đó là bản chất thói quen hay do sơ suất? Theo dõi Mã từ đầu, biết nguồn gốc của Mã, chúng ta dễ đoán rằng đây là hành động theo thói quen của y, thói quen của kẻ hạ lưu, vô học, cậy mình có tiền chẳng

coi ai ra gì Hành động “ngồi tót” là quá bất ngờ, quá nhanh, khơng tinh làm sao ghi

lại được cái cảnh , hành động ấy của tên họ Mã

Trong cảnh mua bán :

Về bản chất , Mã Giám Sinh là điển hình của bản chất con buôn lưu manh với đặc tính giả dối, bất nhân và vì tiền Bản chất bất nhân , vì tiền của Mã Giám Sinh bộc lộ qua cảnh mua bán Thúy Kiều

Trang 10

+Maừ baỏt nhaõn trong taõm lớ laùnh luứng voõ caỷm, xem Kieàu nhử ủoà vaọt hắn “đắn đo” ,

“cõn” ,”thử’, “ộp” đủ điều.Baỷn chaỏt vỡ tieàn cuỷa teõn hoù Maừ theỷ hieọn trong haứnh ủoọng maởc caỷ keo kieọt, ủeõ tieọn:

Coứ keứ bụựt moọt theõm hai Neỏu trửụực ủoự, khi giaứnh “gheỏ treõn”, Maừ voọ vaứng “ngoài toựt” thỡ luực mua Kieàu, haộn laùi heỏt sửực chaọm raừi, tớnh toaựn chi li, heỏt “ủaộn ủo”, heỏt “thửỷ taứi” laùi “coứ keứ”,

“theõm”,”bụựt” Tửứ laựy “coứ keứ” ủaừ loọt taỷ chaõn dung vaứ baỷn chaỏt con buoõn keo kieọt, dỡm

giaự, ủaày maựnh lụựi cuỷa Maừ Y maởc caỷ maừi , laõu laộm mụựi ngaừ giaự chổ coứn non moọt nửỷa theo giaự phaựt ban ủaàu cuỷa muù moỏi Maừ xửựng laứ tay mua haứng saứnh soỷi Cuoỏi cuứng,

Maừ noựi vaứi caõu heùn ửụực caực nghi leó tieỏp theo: naùp thaựi, vu qui… nhửng thửùc chaỏt laứ

ủũnh ngaứy ủửa ngửụứi ủi (laỏy haứng)

Vụựi buựt phaựp keỏt hụùp giửừa keồ vaứ taỷ, baống moọt soỏ neựt phaực hoùa veà moỏi quan heọ mụứ aựm, veỷ ngoaứi chaỷi chuoỏt, noựi naờng voõ leó, cửỷ chổ voõ hoùc,haứnh ủoọng voõ lửụng, Nguyeón Du ủaừ khaộc hoùa saộc neựt hỡnh tửụùng Maừ Giaựm Sinh, keỷ buoõn ngửụiứ tửứ ngoaùi hỡnh, ủeỏn tớnh caựch, Maừ giaựm Sinh ủaừ trụỷ thaứnh moọt ủieồn hỡnh baỏt huỷ cho sửù ủeõ tieọn, taứn aực

Qua nhõn vật Mó Giỏm Sinh ,ta càng thấy rừ bỳt phỏp tả thực trong nghệ thuật tả người của Nguyễn Du Nột nào cũng sắc sảo tạo nờn tớnh cỏch xấu xa, đồi bại của nhõn vật Mó Giỏm Sinh Chi tiết nghệ thuật nào cũng sống , đằng sau nột vẽ là thỏi độ khinh bi của nhà thơ đối với con người bạc

ỏc tinh ma này! Bức chõn dung phản diện Mó Giỏm Sinh cú giỏ trị tố cỏo hiện thực đặc sắc, lờn ỏn bọn buụn thịt bỏn người vụ nhõn đạo, đạo dức giả trong xó hội phong kiến suy tàn

Miờu tả nội tõm: Nguyễn Du lấy bản chất nhõn vật làm yếu tố trung tõm khi xõy dựng nhõn vật Ngoại hỡnh của nhõn vật bao giờ cũng dựa trờn bản chất con người Nàng Kiều xinh đẹp, duyờn dỏng cũng là nàng Kiều thụng minh, trong trắng giàu tỡnh cảm Mó Giỏm Sinh một tờn buụn người

bịp bợm, tàn nhẫn thỡ lời lẽ cộc lốc , dối trỏ, cử chỉ thụ lỗ ỷ mỡnh cú tiền, trả giỏ thỡ “cũ kố” Khỏc

với một số truyện Nụm khỏc (như Lục Võn Tiờn ) thường thiờn về miờu tả hành động và sự việc, Nguyễn Du rất quan tõm đến việc tả tỡnh khi xõy dựng nhõn vật Với cỏi nhỡn sắc sảo và ngũi bỳt tài tỡnh, Nguyễn Du đó khắc họa được những nột tõm lý, những tớnh cỏch rất chõn thực và sinh động

III- Kết hợp đỳng mức những yếu tố nghệ thuật cổ truyền và tài năng sỏng tạo của một nghệ sĩ thiờn tài khi miờu tả nhõn vật, Nguyễn Du đó tạo ra những nhõn vật sống , đó trở thành những điển hỡnh bất hủ của cuộc sống xó hội Việt Nam

- Chủ yếu sử dụng kiến thức trong các đoạn trích học, có thể vận dụng thêm một số hiểu biết về các nhân vật trong truyện thông qua một vài câu miêu tả mỗi nhân vật

- Căn cứ vào từng đoạn trích đ học mà khái quát lên đặc điểm bút pháp xây dựng nhân vật của Nguyễn Du,ã

để bố cục bài viết Không nên phân tích cách viết từng nhân vật, sẽ trùng lặp và thiếu sâu sắc

Trang 11

II/ Dàn bài chi tiết

1 Miêu tả ngoại hình rất độc đáo

Nguyễn Du khắc hoạ ngoại hình mỗi nhân vật hết sức cô đọng mà vẫn in dấu nét mặt, bộ dạng của từng nhân vật, không ai giống ai

- Thuý Vân, Thuý Kiều đều đẹp, nhng Vân thì:

Hoa cời ngọc thốt đoan trang, Mây thua nớc tóc tuyết nhừng màu da.

Còn Kiều thì :

Làn thu thuỷ nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

- Cũng là trang nam nhi, Từ Hải là anh hùng cho nên chàng hiện ra oai phong lẫm liệt:

Râu hùm hàm én mày ngài Vai năm tấc rộng thân mời thớc cao.

Kim Trọng là văn nhân, hiện ra thật nho nh , hào hoa:ã

Tuyết in sắc ngựa câu giòn,

Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.

- Cùng là những kẻ xấu xa, bỉ ổi, nhng M Giám Sinh thìã : Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao ; còn Sở Khanh thì : Hình dung trải chuốt áo khăn dịu dàng.

Nhìn chung, Nguyễn Du miêu tả nhân vật chính diện theo bút pháp ớc lệ nhng có sự sáng tạo nên vẫn sinh

động ; tả nhân vật phản diện bằng bút pháp hiện thực nh ngôn ngữ đời thờng cũng rất sinh động

2 Miêu tả nội tâm tinh tế và sâu sắc

- Nguyễn Du thờng đặt nhân vật vào những cảnh ngộ có kịch tính để nhân vật bộc lộ tâm trạng : Bị đẩy vào lầu xanh, định thoát chết để thoát nhục lại không chết ; bị giam lỏng ở Lầu Ngng Bích, cha biết tơng lai lành dữ

ra sao

- Ông đặc biệt thành công trong miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ tự sự của tác giả, qua độc thoại nội tâm và qua tả cảnh ngụ tình :

+ Tâm trạng của Kim Trọng và Thuý Kiều lần đầu tiên gặp nhau đợc miêu tả qua lời kể của tác giả :

Ngời quốc sắc kẻ thiên tài, Tình trong nh đã mặt ngoài còn e.

Chập chờn cơn tỉnh cơn mê, Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn.

+ Tâm trạng nhớ ngời yêu của Thuý Kiều khi ở lầu Ngng Bích đợc bộc lộ qua tiếng nói nội tâm của nàng + Tâm trạng cô đơn, lo lắng của Kiều khi một mình ở lầu Ngng Bích đợc miêu tả qua cảnh thiên nhiên

3 Nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật sắc sảo

a) Khắc hoạ tính cách qua diện mạo, cử chỉ

- Thuý Vân: Với vẻ khuôn trăng đầy đặn, hoa cời ngọc thốt cho thấy tín cách đoan trang, phúc hậu

- Thuý Kiều : với đôi mắt nh làn thu thuỷ, nét xuan sơn toát lên tính cách thông minh, đa cảm,…

- Mã Giám Sinh : vẻ mặt mày râu nhẵn nhụi, trang phục quần áo bảnh bao, cử chỉ ngồi tót sỗ sàng, cho thấy

đó là kẻ trai lơ, thô lỗ

- Hồ Tôn Hiến : cái vẻ mặt sắt cũng ngây vì tình tố cáo bản chất độc ác và dâm ô của viên “trọng thần”

b) Khắc hoạ tính cách qua ngôn ngữ đối thoại

- Lời lẽ Từ Hải thờng có tính khẳng định thể hiện rõ tích cách khẳng khái, tự tin:

Một lời đã biết đến ta, Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau

- Thuý Kiều nói với Thúc Sinh : nghĩa nặng nghìn non, Tại ai há dám phụ lòng cố nhân, tỏ rõ nàng là con

ng-ời trọng ân nghĩa

Ngày đăng: 01/11/2015, 17:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của  đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa  xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương mặt trẻ trung. - Ôn tập Truyện Kiều
nh ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương mặt trẻ trung (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w