1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)

70 485 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 654,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Bất hợp lý trong việc cho học sinh tiếp cận tác phẩm từ văn học trung đại đến văn học hiện đại mà không cung cấp cho các em những hiểu biết cần thiết về hoàn cảnh ra đời, vị trí tác ph

Trang 1

TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA

SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 11, TẬP

1 (CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO)

Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: TRẦN ĐÌNH THÍCH

Trang 2

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 3

Đề cương tổng quát luận văn

1 Vị trí và tầm quan trọng của chương trình, SGK

2 Mục tiêu môn Ngữ văn

3 Quan điểm xây dựng chương trình

4 Nguyên tắc xây dựng chương trình

Chương 2: Tương đồng và dị biệt giữa SGK Ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)

1 Giới thiêu chương trình hai bộ SGK Ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao) 1.1 Phân phối chương trình SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản

1.2 Phân phối chương trình SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ nâng cao

1.3 Cấu trúc SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao

2 Tương đồng và dị biệt các phân môn của SGK Ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)

2.1 Tương đồng và dị biệt phần Đọc văn

2.1.1 Mục tiêu

2.1.2 Nội dung và số lượng tác phẩm

2.1.3 Cấu trúc bài học

2.2 Tương đồng và dị biệt phần Tiếng việt

2.2.1 Nội dung và cấu trúc bài lý thuyết

2.2.2 Nội dung và cấu trúc bài thực hành

2.3 Tương đồng và dị biệt phần Làm văn

2.3.1 Nội dung và cấu trúc bài lý thuyết

2.3.2 Nội dung và cấu trúc bài thực hành

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

Mục lục

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, là nền tảng cho sự phát triển của đất nước Vì thế giáo dục được đầu tư mạnh mẽ và luôn đổi mới, thay đổi từ phương pháp dạy, học đến chương trình, sách giáo khoa, nhằm nâng cao chất lượng trong nhà trường Từ những yêu cầu ấy năm 2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa chương trình, SGK Ngữ văn lớp 11 (cơ bản và nâng cao) vào giảng dạy ở trường trung học phổ thông SGK là tài liệu quan trọng liên quan trực tiếp đến chất lượng dạy và học, muốn

có phương pháp dạy học tích cực và hiệu quả giáo viên cần phải nắm rõ chương trình SGK Vì thế chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu về SGK là rất cần thiết

Là giáo viên dạy Ngữ văn tương lai chúng tôi ý thức được trách nhiệm của mình,

vì thế nhiệm vụ trước mắt của chúng tôi là tìm hiểu và chiếm lĩnh kiến thức từ SGK Bên cạnh đó, học sinh hiện nay càng lúc càng trở nên năng động và chủ động trong việc tiếp thu kiến thức, các em tự tìm hiểu ở các kênh thông tin khác như: báo chí, thư viện, nhà sách, Internet… Để đuổi kịp tình hình phát triển ấy, bản thân giáo viên phải biết thay đổi phương pháp dạy, cách truyền tải kiến thức sao cho hiệu quả, nghiên cứu

về SGK là yếu tố quan trọng nhất để giúp chúng ta thực hiện thay đổi đó

Hiện nay phương pháp dạy của chúng ta là lấy học sinh làm trung tâm nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, SGK là người bạn đồng hành xuyên suốt trong quá trình thực hiện phương pháp đó Muốn đạt hiệu quả cao trong phương pháp dạy mới cũng như mục tiêu dạy học chúng ta phải nghiên cứu kĩ về SGK

Mặt khác, trường THPT hiện nay đã có sự thay đổi chương trình, cụ thể là chia ra thành các ban: Ban Khoa học Tự nhiên, Ban Khoa hoc Xã hội và Nhân văn và Ban cơ bản Chính vì thế mà SGK dành cho các ban cũng khác nhau để phù hợp với năng lực của học sinh theo từng ban Cụ thể các loại SGK trước đây chỉ có một bộ dùng trong giảng dạy, nhưng do việc phân ban này đã tác động đến sự hình thành SGK cơ bản và nâng cao Đây là vấn đề rất mới mẻ chúng ta chưa hiểu rõ hết về hai loại sách này, nên nghiên cứu về nó là rất quan trọng Từ những lí do trên đã tạo cho chúng tôi một động

lực rất lớn và cảm thấy hứng thú khi nghiên cứu đề tài “Tương đồng và dị biệt SGK

Ngữ văn lớp 11 tập 1 (bộ cơ bản và nâng cao)

2 Lịch sử vấn đề

Việc đổi mới chương trình SGK nói chung và SGK Ngữ Văn nói riêng ở bậc THPT là một sự kiện quan trọng, chương trình đã thu hút được nhiều ý kiến đóng góp, xây dựng Thế nhưng, đây là một vấn đề mới mẻ chưa có nhiều bài nghiên cứu và tài liệu tham khảo Tất cả các ý kiến xoay quanh vấn đề này chủ yếu ý kiến đóng góp ở tạp chí giáo dục hay trên mạng

Như ta nói ở trên, đây là vấn đề rất mới chưa có bài nghiên cứu hoàn chỉnh nào chỉ có một số ý kiến góp ý về vấn đề xây dựng chương trình, SGK Cụ thể có một số ý kiến như sau:

Trang 5

Mọi vấn đề đều tồn tại ở hai mặt tích cực và tiêu cực, sự thay đổi chương trình

SGK cũng thế Trong bài “Sự thay đổi sách và chương trình chóng mặt…” ông Trần

Hà Nam cho thấy những ưu điểm và nhược điểm của sự thay đổi sách Về ưu điểm ông cho rằng chương trình mới có sự phát triển mạnh mẽ so với chương trình cũ, cụ thể số

lượng tác phẩm đưa vào nhiều hơn, nội dung phong phú và đa dạng hơn “ Là một

người đã từng học môn Văn theo chương trình cũ, khi ra trường cũng là lúc chúng tôi chứng kiến sự chuyển động của bộ môn, bằng việc sinh viên khi ra trường được triệu tập để học chương trình cải cách Đó cũng là lần đầu tiên, sinh viên chúng tôi tiếp xúc văn học lãng mạn theo tinh thần cởi mở hơn, được sống say sưa với những cảm xúc trinh nguyên khi khám phá khu vườn thơ của Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Xuân Diệu để được biết một khuynh hướng văn học lãng mạn không "suy đồi và bạc nhược" như chúng tôi từng học 2 tiết trong trong trường phổ thông Đến khi đi dạy học, tôi cũng say sưa khám phá những vẻ đẹp khác lạ của văn học kháng chiến chống

Pháp với Bên kia sông Đuống, Tây Tiến gắn liền với các tên tuổi Hoàng Cầm, Quang Dũng, biết một Vợ nhặt của Kim Lân, văn học kháng chiến chống Mỹ với Những đứa

con trong gia đình của Nguyễn Thi, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, Sóng của Xuân Quỳnh, Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm, đoạn trích tiểu thuyết Cửa Biển của Nguyên Hồng Huệ Chi đêm tân hôn (sau đổi là Huệ Chi trước lễ cưới) ”

Bên cạnh đó ông cũng chỉ ra được một số nhược điểm như một số tác giả như Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư lại không được đưa vào học và ông còn cho rằng nhóm Tự lực

văn đoàn chỉ được học có Thạch Lam là quá ít “thế nhưng cũng cảm thấy hụt hẫng khi

có những điều chỉnh trong chương trình khi có một số tác giả không được học như Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư ở chương trình 11 Phần văn xuôi Tự lực Văn đoàn chỉ

có Thạch Lam đại diện là quá ít ỏi”

Ngoài ra ông còn đóng góp ý kiến ở bài khác như “ Những bất hợp lí trong

chương trình Ngữ văn hiện nay” ông có viết “Chương trình Ngữ Văn THPT được cấu tạo trên tinh thần tích hợp, bảo đảm sự liên thông từ cấp THCS đến THPT Thế nhưng bên cạnh cấu tạo được trình bày trong cấu trúc tương đối bảo đảm theo trình tự từng phân môn Tiếng Việt - Làm Văn thì phần Văn học bị xé lẻ nhiều và chưa thật sự có tính thuyết phục.”.ông đã chỉ ra một số bất hợp lí trong chương trình “Bất hợp lý trong việc cho học sinh tiếp cận tác phẩm từ văn học trung đại đến văn học hiện đại

mà không cung cấp cho các em những hiểu biết cần thiết về hoàn cảnh ra đời, vị trí tác phẩm trong tiến trình lịch sử văn học, Chương trình coi nhẹ văn học sử.” ông còn

cho rằng “Cả hai bộ sách giáo khoa cơ bản 10 và 11 đều hoàn toàn vứt bỏ tính hệ

thống, tính chỉnh thể, tính khoa học, tính lịch sử của văn chương, qua đó gián tiếp thủ tiêu sức mạnh nhân văn của tác phẩm trong thời đại.”

( www.ngoisaoblog.com/m.ph?u=tranhanam&p=133298 ) trong bài viết “Ý kiến về

Sách giáo khoa Ngữ Văn chương trình phân ban”

TS Phạm Thị Ly cũng có một số ý kiến góp ý như: “Thấy gì qua mục kết quả cần đạt” đã chỉ ra những khuyết điểm trong việc biên soạn mục này “các nhà biên soạn

Trang 6

vẫn tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu về nhận thức, về kiến thức hơn là yêu cầu về giáo dục cảm xúc, phát triển tâm hồn và cá tính, trong lúc chính cái thứ hai mới là bản chất và

là lý do tồn tại của môn ngữ văn trong nhà trường Với cách xác định mục tiêu như vậy, thầy và trò được đặt trong tư thế phải chấp nhận một “chân lý” đã được cài đặt sẵn Thêm vào đó, SGK Ngữ văn 11 còn bồi thêm một mục “ghi nhớ” được đóng khung ở cuối bài, nhắc nhở thầy và trò một cách hiển ngôn những gì cần phải thuộc lòng.” Và TS phạm Thi Ly còn đóng góp thêm “môn ngữ văn trong nhà trường có một vai trò hết sức quan trọng Học văn là học cách nhìn vào tâm hồn con người, đặt mình vào hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật để học cách thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ cảm xúc của người khác Học văn cũng là học cách diễn đạt tư tưởng và cảm xúc Nhìn vào những mục “kết quả cần đạt” trong SGK Ngữ văn 11, người ta không khỏi bâng khuâng tự vấn: khi đạt được những “kết quả cần đạt” đó thì mục tiêu của môn văn như đã nói trên liệu có đạt được?” (www.vietbao.vn/giaoduc /sachgiaokhoanguvan11/ 08/4/2008)

Trần Quang Đại cũng có một vài nhận xét về SGK Ngữ văn 11 Trong bài “Sách

giáo khoa còn thiếu tính khoa học và chuẩn mực”, ông nhận địnhSGK mới có thêm mục “Kết quả cần đạt” ở trước mỗi bài học và phần “Ghi nhớ” sau mỗi bài học Đối với nhiều bài Đọc văn và Tiếng Việt, những nội dung ấy chính là câu trả lời cho những câu hỏi tìm hiểu bài trong SGK, chẳng khác gì hiện tượng cho đáp án trước khi

ra đề Đối với các bài Đọc văn, nội dung ý nghĩa của tác phẩm cần phải được phân tích, tìm hiểu theo một trình tự nhất định thì khi phát hiện ra mới thú vị, sâu sắc Đằng này, HS chỉ cần đọc phần “Ghi nhớ” hay “Kết quả cần đạt” là đã nắm được ngay, vô hình trung công việc của giáo viên và HS trên lớp là đi chứng minh một kết quả đã cho trước Mặt khác, ở nhiều bài, nội dung của hai phần này cũng na ná nhau, chỉ có khác biệt đôi chút về câu chữ, tạo nên cảm giác trùng lặp, thiếu lôgic Ví dụ như ở các bài

“Vào phủ chúa Trịnh”(Lê Hữu Trác), “Sa hành đoản ca” (Cao Bá Quát), “Chữ người

tử tù” (Nguyễn Tuân), “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam), “Hạnh phúc của một tang gia” (Vũ Trọng Phụng) …” và “các soạn giả SGK Ngữ văn 10, 11 vừa không chuẩn về mặt học thuật, vừa thiếu tôn trọng tác giả SGK là chuẩn mực về tính khoa học,” ( http://dantri.com.vn/c20/s202-224821/sach-giao-khoa-con-thieu-tinh-khoa-hoc-va- chuan-muc.htm )

Ông Văn Hiến cho rằng SGK Ngữ văn còn mắc nhiều sai lầm và lỗi trong quá

trình biên soạn “ Đọc Ngữ văn 11, ai cũng nhận ra phần Tiểu dẫn về tác giả, tác phẩm

thuộc thời trung đại, hiện đại đều quá dài: Lê Hữu Trác (trang 3); Hồ Xuân Hương (trang 18); Nguyễn Khuyến (trang 21); Trần Tế Xương (trang 29); Nguyễn Công Trứ (trang 37) Cao Bá Quát (trang 40); Lẽ ghét thương (trang 45); Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (trang 60); Ngô Thời Nhậm (trang 68); Nguyễn Trường Tộ (trang 71)… Không

ít tác giả đã được học kĩ ở lớp dưới Khó lòng nhận ra đâu là tác giả chính cần phải chú trọng Trước đây, chương trình văn THPT cũ chỉ nhấn mạnh 12 tác giả So sánh

ba bài giới thiệu Tú Xương trong Văn học 9 (NXB Giáo dục tái bản lần thứ 11), Ngữ

Trang 7

văn 9 và 11, ta sẽ thấy về nội dung cơ bản các bài viết không khác nhau là mấy nhưng sách Ngữ văn 11 (nâng cao) dành hơn một trang khổ 17x24 cm in chữ nhỏ để Tiểu dẫn

về Tú Xương và bài Thương vợ (trang 66, 67) Dài như vậy thì nên đổi Tiểu dẫn thành

“Đại dẫn” (Tiểu dẫn về Trần Tế Xương trong Văn học 9, tập một, trang 147 chỉ có

194 chữ, trong Văn học 11, tập một, sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000) gồm 420 chữ)”

Ngoài ra ông còn cho rằng SGK cần phải chỉnh sửa thêm một số lỗi: “nên bỏ bài Lẽ nghét thương ra khỏi chương trình” và

Ngữ văn 11, tập một (cơ bản)

Trang 37, 172 -Nếu viết hoa chữ “Nho” trong câu “Nguyễn Công Trứ… xuất thân trong trong một gia đình Nho học”, “Nguyễn Công Hoan xuất thân trong một gia

đình quan lại Nho học” thì chữ “nho” trong “Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890 trong

một gia đình nhà nho” (Ngữ văn 12, tập 1, trang 23) có nên viết hoa? Nho học và nhà nho rất khác nhau Tiền nhân của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Công Hoan có những ai xứng danh là nhà khoa học về đạo Nho?

Trang 138 – Nam Cao (1917 - 1951) là lệch với Ngữ văn 8, tập một trang 45 (Nam Cao sinh năm 1915, mất năm 1951)

“Nam Cao đã được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật…” phải đổi thành “Nam Cao đã được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật…”

Ngữ văn 11, tập một (nâng cao)

Trang 45- Nên viết Cao Bá Quát “được cử làm Huấn đạo ở phủ Quốc Oai, Hà Tây” thay cho làm giáo thụ

Trang 59 - “Nguyễn Khuyến thi Hương đỗ Giải nguyên… Năm 1871, thi Hội lần hai thứ hai đỗ Giải nguyên, thi Đình đỗ Đình nguyên” phải sửa thành “Nguyễn Khuyến thi Hương đỗ Giải nguyên… Năm 1871, thi Hội lần hai đỗ Hội nguyên, thi

Đình đỗ Đình nguyên (Hoàng giáp)”

Trang 60, 77 và các trang có lỗi tương tự - Có thể bỏ hoặc thay từ “hưu” trong các ngữ Nguyễn Khuyến “không nhận chức và năm sau lấy cớ đau mắt xin về hưu”; Nguyễn Khuyến “Từng ra làm quan và đã về hưu”, Nguyễn Công Trứ viết Bài ca ngất ngưởng khi… về hưu”… bằng nhiêu từ, ngữ khác “cáo quan”, từ quan, “an trí”,

“nghỉ tại quê nhà”… Tôi đã gặp khó khăn khi học sinh hỏi: “Nguyễn Khuyến có được nhận lương hưu không thầy?

Trang 77, 79 -“Thơ hát nói” nên thay bằng “thể thơ hát nói”

Trang 80 và các trang có lỗi tương tự: Chùa Hương nay thuộc Hà Nội; hạn chế các kiểu câu “đây là bài tiểu biểu nhất”, “hay nhất”, “độc đáo nhất”, “một trong những bài hay nhất” ở vị trí cuối cùng khi giới thiệu các văn bản thơ.( http://thpt- phanchautrinh.quangnam.edu.vn/DI%E1%BB%84N%C4%90%C3%80N/tabid/401/fo rumid/13/postid/37/scope/posts/Default.aspx )

Sau khi Ông Văn Hiến có những ý kiến nhận xét như thế, GS Trần Đình Sử Tổng

chủ biên SGK ngữ văn lớp 11 trả lời ý kiến của ông “nhan đề là phê bình sách Ngữ

Trang 8

văn 11 (nâng cao), nhưng thực tế ông phê bình cả hai bộ sách cơ bản và nâng cao, mà trong đó phê bình sách Ngữ văn 11 (cơ bản) gồm 26 điểm, phê bình Ngữ văn 11 (nâng cao) 16 điểm, tổng số là 42 điểm Tôi không đồng tình cách gọi các điểm này là “lỗi” hay “nội dung cần chỉnh sửa” như tiêu đề nhiều bài báo viết, bởi vì không phải cái gì ông Hiến nêu lên đều đúng là “lỗi” hay “nội dung cần chỉnh sửa” của SGK

Dù thái độ ông Văn Hiến như thế nào, trong 16 điểm ông phê bình sách Ngữ văn

11 (nâng cao), tôi vẫn nhận thấy có 02 điểm ông nói đúng Một chỗ viết nhầm là Giải nguyên (tr 59), lẽ ra phải là Hội nguyên Chỗ này là sơ suất khi in ấn, đã nói thi Hương đỗ Giải nguyên rồi thì thi Hội không thể lại Giải nguyên được Một chỗ nói về Lục Vân Tiên được thần phật cứu (tr 21), lẽ ra chỉ nói thần và người là đủ Đấy chỉ là

sơ suất nhỏ Tuy vậy, tôi vẫn chân thành cảm ơn và hoan nghênh ông Văn Hiến

Ngoài mấy điểm ấy, các điểm còn lại của ông nêu ra chưa đủ chứng cứ và chưa

có sức thuyết phục Dĩ nhiên, không thể đòi hỏi người phê bình chỗ nào cũng đúng; câu được câu chăng là chuyện bình thường Điều không bình thường ở đây là ông Hiến có khuynh hướng bịa đặt, gian lận, nhằm phủ định bộ SGK Ngữ văn 11 (nâng cao)( http://vietbao.vn/Giao-duc/Tong-chu-bien-SGK-Ngu-van-lop-11-len-

tieng/20840674/202/ )

Tóm lại, sau khi khảo sát các ý kiến đóng góp trên ta thấy SGK là vấn đề rất lớn, thu hút nhiều ý kiến đóng góp Tuy nhiên, mỗi người điều có quan điểm, lập trường tư tưởng riêng, nên các ý kiến đánh giá khác nhau về một vấn đề có khi còn trái ngược nhau, nhưng dù sao đó cũng là những ý kiến đóng góp quý báu rất đáng trân trọng, mỗi người đều có một lý lẽ riêng, cơ sở riêng tuy chưa thống nhất nhưng mang tính thuyết phục Ngoài ra có nhiều ý kiến đóng góp như thế sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn sâu hơn, rộng hơn về SGK Ngữ văn

Qua những ý kiến trên ta thấy chưa có công trình nghiên cứu nào về “Tương đồng và dị biệt SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 (bộ cơ bản và nâng cao)” do đó đề tài

của chúng tôi là mới mẻ Cũng chính vì nhiều kiến như thế sẽ gây khó khăn cho chúng tôi trong quá trình thực hiện công trình, khó tránh khỏi sự trùng ý, lập ý Nhưng chúng tôi hy vọng rằng công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ đóng góp một phần nhỏ vào vấn đề chương trình SGK Ngữ văn

3 Mục đích yêu cầu

Với đề tài này chúng tôi sẽ không nghiên cứu cụ thể từng loại SGK Ngữ văn lớp

11 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao mà chúng tôi tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai quyển SGK đó, cụ thể chúng tôi sẽ khảo sát ở các khía cạnh như: số lượng bài dạy đưa vào chương trình, phân phối chương trình, cấu trúc chương trình và cấu trúc bài học…ở cả ba bộ phận: Văn học, Tiếng viêt, Làm văn Qua đó chúng tôi chỉ ra được điểm tương đồng và dị biệt để giúp chúng ta nắm rõ hơn về chương trình SGK Ngữ văn này

Vì đây là chương trình mới, nội dung kiến thức đã thay đổi nhiều, nếu chỉ nghiên cứu về một bộ SGK sẽ không giúp cho ta có một cái nhìn tổng quát về chương trình,

Trang 9

không phát hiện ra những đặc điểm riêng của từng loại SGK Nhưng khi so sánh về hai

bộ SGK đó sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về chương trình, thấy được ưu, nhược điểm của từng loại sách, từ đó giúp ta nắm vững hơn về SGK

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: với yêu cầu của đề tài này chúng tôi tập trung đi vào khai thác điểm tương đồng và dị biệt SGK ngữ văn lớp 11 tập 1 (bộ cơ bản và nâng cao) ở

cả ba bộ phận: Văn học, Tiếng việt và Làm văn

5 Phương hướng và phương pháp nghiên cứu

•Hoàn thành luận văn

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thống kê: trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành sưu tầm các tài liệu có liên quan đến SGK, đặc biệt là SGK Ngữ văn lớp 11, cụ thể ở những nơi như nhà sách, thư viện, Internet…sau đó sắp xếp lại thành hệ thống Tài liệu chủ yếu của chúng tôi là hai bộ SGK ngữ văn lớp 11, tập 1 (bộ cơ bản và nâng cao)

Phương pháp so sánh đối chiếu: do nội dung của đề tài này là tìm ra điểm tương đồng và dị biêt của hai bộ SGK trên nên phương pháp này đóng vai trò chủ đạo trong suốt quá trình thực hiện

Ngoài các phương pháp trên chúng tôi còn sử dụng phương pháp lập luận phân tích nhằm làm nổi bât vấn đề, mang tính thuyết phục cao

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH, SGK NGỮ VĂN LỚP 11, TẬP 1 (CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO)

1 Vị trí và tầm quan trọng của chương trình, SGK

Chương trình, SGK nói chung và chương trình, SGK Ngữ văn nói riêng là vấn đề cực kì quan trọng trong giáo dục, bởi nó liên quan trực tiếp đến các vấn đề quan trọng khác như mục tiêu dạy và học, nội dung, phương pháp và đối tượng giáo dục

Chương trình là văn bản quy định nội dung, kế hoạch giảng dạy, học tâp của một môn học, là tài liệu có tính chất pháp lệnh của nhà nước buộc phải thực hiện nghiêm túc

SGK là nơi cụ thể hóa chương trình về mặt nội dung, nó thể hiện đầy đủ ý đồ của chương trình SGK phải thể hiện được mục tiêu giáo dục, nguyên lí giáo dục cụ thể hóa nội dung, phương pháp giáo dục được quy định trong chương trình giáo dục của bậc học, cấp học, lớp học…Bên cạnh đó, SGK là tài liệu chủ yếu đối với giáo viên và học sinh SGK chứa đựng những nội dung cơ bản nhất, là tài liệu có tính chất công cụ cung cấp cho giáo viên những kiến thức cần thiết khi triển khai dạy học Kiến thức trong SGK là một hệ thống kiến thức khoa học chính xác theo một trình tự logic chặt chẽ được gia công về mặt sư phạm cho phù hợp với trình độ học sinh và thời gian học tập

SGK là nguồn tài liệu chứa đựng rất nhiều chức năng như: truyền đạt kiến thức, phát triển khả năng nhận thức, tìm hiểu, khai thác, kỉ năng; củng cố đánh giá những hiểu biết; tổng hợp hiểu biết, tra cứu tham khảo và giáo dục về mặt xã hội, văn hóa Chính vì thế SGK đóng vai trò chủ yếu trong việc thực hiện mục tiêu của môn học SGK do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn và duyệt trên cơ sơ thẩm định của Hội đồng Quốc gia thẩm định SGK để sử dụng chính thức, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các cơ sở giáo dục khác Nhà nước quản lí việc in ấn, xuất bản và phát hành SGK

Ví dụ học sinh có khả năng, nhu cầu, sở trường về lĩnh vực khoa học xã hội, các em có thể tham gia học ở ban KHXH & NV

Nói cách khác phân ban là chia THPT thành các ban, trong đó có một số môn học nhiều hơn, sâu hơn ở từng ban Ở nước ta phân ban được thực hiện bắt đầu từ các khối

Trang 11

lớp 10, các em học sinh được chia thành các ban: ban khoa học tự nhiên, ban khoa học

xã hội và nhân văn và ban khoa học cơ bản Chương trình ở mỗi ban có sự khác biệt bao gồm: môn chung và môn phân hóa Môn chung là các môn mà các ban đều học như nhau như: giáo dục công dân, tin học, thể dục, quốc phòng… môn phân hóa là các môn được học nhiều hơn, sâu hơn ở các ban khác

Mục đích phân ban: nhằm tối ưu hóa quá trình giáo dục và đào tạo theo năng lực,

sở trường, nguyện vọng của học sinh Bởi phân ban là phù hợp với quy luật phát triển của nhận thức, tâm sinh lí học sinh, thể hiện được quan điểm nhân văn trong giáo dục Đáp ứng được yêu cầu chuẩn bị phân luồng đào tạo ngày càng phù hợp với sự đòi hỏi phân công lao động xã hội hiện nay và tương lai Chuẩn bị tốt cho việc học lên các nghành nghề ở Cao đẳng và Đại học Giảm tải những chổ chưa thật cần thiết và hiện đại hóa nội dung, từng bước thực hiện chất lượng giáo dục

Phân ban đã và đang thực hiện ở trường THPT, hiện nay ở THPT chia thành ba ban: Ban KHTN là ban mà học sinh học chuyên sâu về các môn như: Toán, Lí, Hóa, Sinh ; Ban KHXH&NV là ban học sinh học chuyên sâu về các môn như: Văn, Sử, Địa, Ngoại Ngữ và Ban cơ bản là ban học sinh học tất cả các môn ở mức độ bình thường,

cơ bản

Chương trình này được thực hiện như sau: khi học sinh bước vào lớp 10, các em

có quyền lựa chọn ban học cho mình tùy vào nhu cầu nguyện vọng cũng như sở trường của bản thân Từ những yếu tố trên chương trình phân ban giúp phát huy được hết năng lực của học sinh

Ví dụ: Học sinh có sở thích học Văn và hoc tốt các môn xã hội, có thể chọn vào ban KHXH & NV

Tóm lại, phân ban ở THPT đã tác động mạnh mẽ đến việc biên soạn SGK, do mỗi ban có mục tiêu dạy học riêng nên SGK dành cho việc giảng dạy của các ban cũng khác nhau, SGK là người bạn đồng hành suốt trong quá trình dạy, học của giáo viên và học sinh Việc vận dụng SGK hợp lí với từng ban là rất cần thiết Chính vì thế đã dẫn đến sự hình thành SGK Ngữ văn ở hai bộ cơ bản và nâng cao, cụ thể là SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 (cơ bản và nâng cao) mà chúng tôi nghiên cứu trong công trình này

3 Mục tiêu môn Ngữ Văn

3.1 Mục tiêu chung

Ngữ Văn được tổng hợp từ ba bộ phận: Văn học, Tiếng việt và Làm văn, là môn học có tính chất nền tảng, có tác dụng quan trọng tạo nên trình độ văn hóa cho con người Dạy và học tốt môn Ngữ văn chẳng những tạo cơ sở cho học sinh học tốt các môn học khác mà còn giáo dục học sinh tiếp thu được truyền thống văn hóa dân tộc, rèn luyện đạo đức, tư tưởng tình cảm và tư duy thẩm mỹ

Mục tiêu của môn Ngữ văn THPT là trên cơ sở đã đạt được của chương trình Ngữ Văn THCS, bồi dưỡng thêm một bước năng lực mới cho học sinh như: Đọc hiểu văn bản (văn, thơ, truyện…) năng lực viết một số văn bản thông dụng và giao tiếp bằng lời nói trước công chúng Đồng thời cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông về

Trang 12

văn học dân tộc và văn học thế giới, về ngôn ngữ và tiếng việt, về lí luận văn học, lịch

sử văn học và văn hóa, tạo một phần tích lũy ban đầu để hình thành các năng lực đọc, viết, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, phát triển tư duy, nắm được phương pháp học tập bộ môn, tạo thành tập quán học tập Ngữ văn, biết tìm tòi, phát hiện, suy nghĩ, giải quyết vấn đề, làm cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách suốt đời

Trong quá trình dạy học, với đặc trưng riêng của mình, môn Ngữ văn hướng tới bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu tiếng Việt, yêu văn hóa yêu văn học nước nhà Giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc, tinh thần nhân văn, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cao thượng, thị hiếu thẩm mĩ tốt, đa dạng Hướng dẫn học sinh quan tâm tu dưỡng phẩm chất văn hóa cá nhân hình thành cá tính lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách người lao động mới trong xã hội mới và thời đại mới

3.2 Mục tiêu riêng của môn Ngữ văn theo từng ban

Chương trình, SGK Ngữ văn nói chung và chương trình, SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 ( cơ bản và nâng cao) nói riêng là tài liệu quan trọng bám sát vào chuẩn chương trình của từng lớp học, bậc học Mục tiêu môn học Ngữ văn lớp 11 tập 1 (cơ bản và nâng cao) cùng thưc hiện mục tiêu chung với mục tiêu của bộ môn Tuy nhiên đối tượng học sinh khác nhau nên SGK dùng trong giảng dạy và mục tiêu môn học cũng

có sự khác nhau, do vấn đề phân ban THPT nên ta có hai bộ SGK Ngữ văn lớp 11 tập

1 bộ cơ bản và bộ nâng cao SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản (SGK cơ bản) dùng

để dạy học sinh lớp 11 thuộc ban KHTN và ban Cơ bản, còn SGK Ngữ văn lớp 11 tập

1 bộ nâng cao (SGK nâng cao) dành cho học sinh thuộc ban KHXH & NV, các ban sử dụng SGK khác nhau nên mục tiêu môn học cũng khác nhau, Cụ thể:

Đối với ban KHTN và ban khoa học cơ bản: Cung cấp một khối lượng tri thức

văn học phổ thông tương đối có hệ thống bao gồm tác phẩm văn học, tác giả, thể loại (của văn học Việt Nam và văn học nước ngoài), ngôn ngữ văn học, văn học sử, lí luận văn học và một số tác phẩm thuộc các loại khác như sử kí, các loại nghị luận Thông qua chúng mà mở rộng cho học sinh khả năng đọc hiểu và tiếp xúc với đời sống xã hội

ở nhiều mặt

Rèn luyện cho học sinh năng lực đọc độc lập, bắt đầu từ đọc đúng, hiểu đúng văn bản tiếng Việt, tiến tới hiểu đúng nội dung, tư tưởng, tình cảm của tác phẩm, biết cảm thụ giá trị thẩm mĩ của văn học, biết phân tích, đánh giá tác phẩm theo trình độ phổ thông một cách có phương pháp và tinh thần sáng tạo

Học sinh biết quan sát đời sống, xã hội và tự nhiên, biết nhận xét ý kiến và có chủ kiến riêng của mình, biết viết các văn bản thông dụng như tự sự, thuyết minh, hành chính công vụ, đặc biệt là văn bản nghị luận xã hội và nghị luận văn học với tư duy sáng rõ, biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, có luận cứ thuyết phục, biết diễn đạt mạch lạc, lưu loát và phần nào có cá tính riêng, biết thuyết trình theo chủ đề được đặt hoặc tự lựa chọn một cách mạnh dạn, lưu loát có nội dung

Học sinh biết khai thác vận dụng các tri thức tiếng Việt để đọc văn, làm văn trao dồi tiếng Việt, đồng thời có thêm tri thức bước đầu về lịch sử tiếng Việt, loại hình

Trang 13

tiếng Việt, về văn bản và giao tiếp, về các phong cách biểu đạt và biết sửa lỗi về từ, câu, liên kết mạch lạc trong bài làm văn Ngoài ra SGK Ngữ Văn còn có tác dụng hướng các em học sinh đến tình yêu tiếng Việt và có ý thức giữ gìn trong sáng tiếng Việt

Nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết, phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo về ngôn ngữ và văn học của những học sinh có thiên hướng về Ngữ Văn Qua đó đóng góp phần phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu tạo nguồn cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn

Đối với ban KHXH & NV: ngoài phần thống nhất với ban KHTN và ban

KHCB, có thêm một số điểm khác:

Về tri thức đưa thêm một số thể loại tác phẩm văn học việt nam và nước ngoài, cho học sinh học có hệ thống hơn về tác giả, tác phẩm lớn của văn học dân tộc, trang

bị tri thức lí luận văn học và văn hóa tương đối hoàn chỉnh hơn

Về kĩ năng, chú trọng về định hướng nghiên cứu trong đọc văn, bao quát các hiện tượng trong tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lưu, văn học, khơi gợi năng lực phát hiện, sáng tạo, biết sử dụng sách công cụ, biết sưu tầm tài liệu để giải quyết vấn đề, chú trọng phát huy năng khiếu, khuyến khích suy nghĩ riêng, tìm tòi riêng về ngôn ngữ và văn học

4 Quan điểm xây dựng chương trình

Để có một chương trình đạt chất lượng cao, cần phải có quan điểm tổng hợp, chương trình phải thực hiện một cách có ý thức toàn diện và có kế hoạch mục tiêu đào tạo từng lớp, từng ban, từng cấp về phương hướng đào tạo, quan điểm, phương pháp đặc trưng của cả quá trình đào tạo người học sinh bằng công cụ Văn học và tiếng Việt Chương trình SGK nói chung và chương trình SGK Ngữ Văn lớp 11, tập 1 ( cơ bản và nâng cao) nói riêng phải coi trọng tính thực hành, vận dụng, các kiến thức được học phải gắn liền với thực tế, không phải là những tri thức mang tính hàn lâm, kinh viện, nặng về thi cử mà phải hết sức chú trọng đến tính sáng tạo, thực hành và hướng nghiệp, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội cũng như nhu cầu hiểu biết của học sinh Phải xác định được mục tiêu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, tư tưởng tình cảm một cách rõ ràng

Chương trình phải xuất phát từ những hiểu biết có căn cứ, liên quan, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình đào tạo môn Ngữ văn như: thực trạng của dạy và học Ngữ Văn, những thuận lợi, khó khăn về mọi mặt trong quá trình dạy học, đời sống

xã hội, chế độ chính trị của đất nước, từ những dự đoán có căn cứ về bước tiến của xã hội, từ những hiểu biết về các thành tựu khoa học có liên quan…Tất cả đều phải được nghiên cứu một cách đầy đủ, kĩ lưỡng

5 Nguyên tắc xây dựng chương trình

5.1 Nguyên tắc kế thừa và phát triển

Nguyên tắc này đòi hỏi SGK Ngữ văn nói chung và SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 (cơ bản và nâng cao) nói riêng phải kế thừa những thành quả đã đạt được cũng như

Trang 14

khắc phục những hạn chế của các bộ SGK trước đây (SGK trước và trong cải cách, SGK chỉnh lí hợp nhất năm 2000)

Tuy nhiên, SGK Ngữ văn mới không chỉ có kế thừa mà còn phát triển Trên cơ sở

kế thừa ấy SGK sẽ phát triển theo hướng mới phù hợp với xu thế của thời đại nhằm củng cố và nâng cao chất lượng giảng dạy

5.2 Nguyên tắc tích hợp

Tích hợp có nghĩa là sự kết hợp, liên kết các môn học có liên quan nhau thành một hệ thống, nhất thể hóa, tránh tạo sự phân tán rời rạc nhằm tạo một hợp lực để hoạt động dạy học đạt kết quả cao nhất

Tinh thần tích hợp được thể hiện ngay từ tên môn học: môn Ngữ Văn, đó là sự tích hợp của ba môn là Văn học, Tiếng việt và Làm văn Tích hợp ở đây là tích hợp tự nhiên, đa chiều chứ không phải là sự lắp ghép cơ học, hay là phép cộng số học đơn thuần Trước đây ba bộ phận này nằm riêng lẽ trong ba SGK khác nhau nhưng hiện nay kết hợp lại với nhau theo hệ thống tạo thành môn Ngữ Văn Ba bộ phận này kết hợp đan xen lẫn nhau giữa các bộ phận, các bộ phận hỗ trợ và bổ sung cho nhau Ví dụ như: Văn học giúp học sinh cảm thụ tác phẩm văn chương, tư tưởng tình cảm trong tác phẩm… Học sinh muốn thể hiện cảm xúc của mình trước những tác phẩm như thế phải cần đến Tiếng việt để lựa chọn từ ngữ hợp lí để diễn tả, học sinh muốn viết cảm xúc mình ra để chia sẽ với người khác cần đến làm văn để có được cách diễn đạt mạch lac đầy sức thuyết phục Như vây, ta thấy sự tích hợp trên là động lực rất lớn để giáo dục học sinh đạt được hiểu quả cao, sự tích hợp này nhằm rèn luyện tư duy tổng hợp cũng như rèn luyện các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh

5.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học sư phạm và thực tiễn

Trước đây có một số ý kiến cho rằng SGK phổ thông không được công nhận là công trình khoa học Ý kiến trên không hợp lí bởi lẽ SGK được biên soạn và duyệt trên

cơ sở thẩm định của hội đồng quốc gia thẩm định SGK Trong quyển sách “Đổi mới

phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa”, mục “ sách giáo khoa phổ thông có phải là công trình khoa học hay không? (Trang 193)” Trần Bá Hoành có viết

“Bộ SGK cải cách giáo dục của ta, tuy chưa đạt chất lượng cao và đồng đều như mong muốn, nhưng đã được biên soạn theo quy trình chặt chẽ từ khâu bảo vệ đề cương, biên soạn, biên tập, thực nghiệm, đến khâu xét duyệt bản thảo trước hội đồng theo quyết định của Bộ cũng có những cuốn sách không được hội đồng thẩm định chấp nhận thực tế đó chứng tỏ SGK phổ thông phải là những sản phẩm lao động khoa học nghiêm túc ở trình độ cao.” Vì những lẽ trên, chúng tôi tán đồng ý kiến SGK phổ

thông là một công trình khoa học sư phạm, cho nên SGK luôn đảm bảo tính khoa học Trước hết về nội dung những tri thức trong chương trình, SGK phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, hiện đại phải phù hợp với năng lực trình độ của học sinh Chương trình, SGK phải đáp ứng kiến thức khái quát, kiến thức cụ thể cho từng cấp học, bậc học

Trang 15

Về mặt cấu trúc, cách sắp xếp bố trí chương trình phải thể hiện được tính khoa học, phù hợp với quy luật và tâm lí tiếp nhận của học sinh

Bên cạnh đó, Chương trình SGK phải đảm bảo tính thực tiễn Đất nước đổi mới, giáo dục càng phải đổi mới, do vậy nội dung chương trình đào tạo phải phù hợp và gắn liền với thực tiễn hoàn cảnh đất nước trước mắt và lâu dài

5.4 Đảm bảo tính thẩm mĩ và nhân văn

Môn Ngữ văn là môn học rất đề cao giá trị thẩm mĩ và nhân văn, tác phẩm văn chương đưa vào chương trình SGK phải lựa chọn kĩ sao cho tác phẩm vừa mang hơi thở thời đại vừa có giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn sâu sắc, hai tính chất này cần được chú ý theo đúng đặc trưng của bộ môn, góp phần phát huy sức mạnh đặc thù của văn chương, chống lối dạy, học xã hội một cách thô thiển và tầm thường

Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển theo hướng kinh tế thị trường, cuộc sống của con người cũng thay đổi theo xã hội, nhiều giá trị văn hóa ngày càng mai một theo thời gian vì vậy việc giáo dục tính nhân văn và giá trị thẩm mĩ cho học sinh qua những bài học Ngữ văn là rất cần thiết

5.5 Nguyên tắc khắc phục tính hàn lâm và giảm tải

Vấn đề quá tải hiện đang là vấn đề cấp bách trong giáo dục, bởi vì ở THPT các

em học sinh học rất nhiều môn, nếu vấn đề quá tải không được giải quyết sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tình hình học tập của các em Vì vậy, chương trình SGK Ngữ văn mới của chúng ta rất chú trọng đến vấn đề này, giảm tải bớt những bài học mang tính chất lý thuyết nhiều, sử dụng những khái niệm mơ hồ, khó hiểu, chỉ đưa vào chương trình những vấn đề cơ bản, cần thiết, hữu dụng gắn liền với thực tiễn

Chương trình trước đây mang ít nhiều có tính hàn lâm ở một số bộ phận như Tiếng việt, có khá nhiều khái niệm mới lại, khó hiểu ít ích dụng Vì vậy, chương trình mới đã loại bỏ những lí thuyết nặng nề, tăng cường khâu thực hành luyện tập, ứng dụng thực tế

Giảm tải không có nghĩa là bỏ bớt kiến thức, không đưa thêm kiến thức mới vấn

đề là giảm cái gì, nên đưa cái gì và cách đưa như thế nào để đáp ứng được với chuẩn chương trình

5.6 Nguyên tắc tích cực hóa việc học tập của học sinh

Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, Giáo dục nước ta không ngừng đổi mới phương pháp dạy và chương trình dạy, với chương trình có sự thay đổi SGK, phương pháp dạy cũng được thay đổi từ quan niệm truyền thống sang quan niệm hiện đại Nếu trước đây lấy giáo viên làm trung tâm bây giờ thay đổi ngược lại học sinh đóng vai trò

là trung tâm, nếu lúc trước học sinh là người lệ thuộc hoàn toàn vào kiến thức bài dạy của thầy giờ đây các em là người làm chủ trong việc tìm ra kiến thức, người thầy chỉ đóng vai trò là người gợi mở, dẫn dắt các em trên con đường lĩnh hội tri thức Chương trình, SGK và phương pháp dạy là hai vấn đề quan trọng trong giáo dục, hai vấn đề này tồn tại song song và bổ sung, hổ trợ cho nhau Vì phương pháp thay đổi dẫn đến

Trang 16

Chương trình SGK cũng thay đỗi, nên việc biên soạn SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 (bộ

cơ bản và nâng cao) phải gắn liền với sự thay đổi đó

SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 (bộ cơ bản và nâng cao) được biên soạn nhằm phục

vụ cho phương pháp giảng dạy tích cực đó SGK có sự thay đổi cấu trúc chương trình, nội dung bài học…Trong mỗi bài học, các em không chỉ học những bài lý thuyết khô khan mà đưa vào đó những giờ thực hành, thảo luận, các em trở nên chủ động và tích cực hơn trong học tập, giờ đây các em chính là người tự tìm cho mình kiến thức, giáo viên chỉ là người chỉ đạo hướng dẫn học sinh

Trang 17

CHƯƠNG 2 TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA SGK NGỮ VĂN 11,

TẬP 1 (CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO)

1 Giới thiệu chương trình hai bộ SGK Ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)

1.1 Phân phối chương trình SGK Ngữ văn lớp 11, tập 1 bộ cơ bản

PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH (CB)

HỌC KÌ I

19 tuần

15 tuần x 4 tiết + 4 tuần x 3 tiết = 72 tiết

1,2 Đọc văn Vào phủ chúa trịnh ( Lê Hữu Trác)

3 Tiếng việt Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

Tuần 1

4 Làm văn Viết bài viết số 1

5 Tự tình (Hồ Xuân Hương)

6 Đọc văn

Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến)

7 Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận

Tuần 2

8 Làm văn Thao tác lập luận phân tích

9 Đọc văn Thương vợ (Trần Tế Xương)

10 Đọc thêm: Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến)

11 Đọc thêm: Vịnh khoa thi hương (Trần Tế Xương)

Tuần 3

12 Tiếng việt Từ ngôn ngữ đến lời nói cá nhân (tiếp theo)

13,14,15 Đọc văn Bài ca ngất ngưỡng (Nguyễn Công Trứ)

Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

Tuần 4

16 Làm văn Luyện tập thao tác lập luận phân tích

17 Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

18 Đọc thêm: Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

19 Đọc văn

Đọc thêm: Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh

Trinh)

Tuần 5

20 Làm văn Trả bài viết số 1 và làm bài viết số 2 ( tại nhà)

21,22,23 Đọc văn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

Tuần 6

24 Tiếng Việt Thực hành về thành ngữ, điển cố

25,26 Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm)

Tuần 7

27 Đọc văn

Đọc thêm: Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ)

Trang 18

28 Tiếng việt Thực hành nghĩa của từ trong sử dụng

29,30 Đọc văn Ôn tập văn học trung đại Việt Nam

31 Trả bài làm văn số 2

Tuần 8

32 Làm văn Thao tác lập luận so sánh

33,34 Đọc văn Khái quát VHVN từ đầu TK XX đến CMT8/ 1945 Tuần 9

35,36 Làm văn Viết bài viết số 3 ( nghị luận văn học)

37,38 Đọc văn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

Tuần 10

39,40 Tiếng việt Ngữ cảnh

41,42 Đọc văn Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

43 Luyện tập thao tác lập luận so sánh

Tuần 11

44 Làm văn Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân

tích và so sánh 45,46

Đọc văn Hạnh phúc một tang gia (trích “số đỏ” của Vũ Trọng

Phụng)

47 Tiếng việt Phong cách ngôn ngữ báo chí

Tuần 12

48 Làm văn Trả bài viết số 3

49,50 Một số thể loại văn học: Thơ, Truyện

51 Đọc văn

Chí Phèo (Nam Cao)

Tuần 13

52 Tiếng việt Phong cách ngôn ngữ báo chí (tiếp theo)

53,54 Đọc văn Chí Phèo (tiếp theo)

55 Tiếng việt Thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu

Tuần 14

56 Làm văn Bản tin

57,58 Đọc thêm: Cha con nghĩa năng (Hồ Biểu Chánh)

Đọc thêm: Vi hành (Nguyễn Ái Quốc)

Đọc văn

Đọc thêm: Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan)

59 Luyện tập viết bản tin

66 Tiếng việt Thực hành một số kiểu câu trong văn bản

67 Đọc văn Ôn tập văn học

Trang 19

1.2 Phân phối chương trình SGK Ngữ văn lớp 11, tập 1 bộ nâng cao

PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH (NC)

HỌC KÌ I

19 tuần

15 tuần x 4 tuần + 4 tuần x 3 tiết = 72 tiết

Tuần Tiết Phân môn Nội dung chương trình

Vào phủ chúa trịnh ( Lê Hữu Trác)

1,2

Đọc văn

Đọc thêm: Cha tôi

3 Tiếng việt Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

Đọc thêm: Chạy giặc

7 Tiếng việt Luyện tập về ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân Tuần 2

8 Làm văn Bài viết số 1

9,10 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

20 Tiếng việt Luyện tập về trường từ vựng và từ trái nghĩa

Tác gia Nguyễn Khuyến Thương vợ

21,22

Đọc văn

Đọc thêm: Vịnh khoa thi hương (Nguyễn Khuyến)

23,24 Làm văn Thao tác lập luận phân tích

Tuần 6

Luyện tập thao tác lập luận phân tích (về xã hội)

Bài ca ngất ngưỡng (Nguyễn Công Trứ)

Trang 20

35,36 Làm văn Viết bài viết số 3 ( nghị luận văn học)

37,38 Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

Đọc văn

Đọc thêm: cha con nghĩa nặng (Hồ Biểu Chánh)

39 Tiếng việt Ngữ cảnh (tiếp theo)

Đọc thêm: Vi hành (Nguyễn Ái Quốc)

43 Làm văn thao tác lập luận so sánh

Tuần 11

44 Luyện tập thao tác lập luận so sánh

Hạnh phúc một tang gia (trích “số đỏ” của Vũ Trọng

48 Tiếng việt Luyện tập các thao tác lập luận

Chí Phèo (Nam Cao)

56 Tiếng việt Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí

57,58 Đọc văn Vĩnh biệt cữu trùng đài (Nguyễn Huy Tưởng)

59 Tiếng việt Luyện tập tách câu

64 Làm văn Ôn tập làm văn

65 Đọc văn Ôn tập văn học

Tuần 17

66 Làm văn Luyện tập phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

Tuần 18 67,68 Làm văn Bài viết số 4

Trang 21

69 Tiếng việt Luyện tập từ Hán việt

về quan điểm xây dựng chương trình, kiến thức của hai bộ sách chênh lệnh nhau khoảng 20% Vì thế, hai bộ sách này có nhiều điểm tương đồng và dị biệt với nhau ở nhiều khía cạnh Về phân phối chương trình ở cả hai bộ sách phân ra 18 tuần do 4 tuần cuối kết hợp lại thành 3 tuần Nhưng phân theo 18 tuần số tiết ở các tuần cuối sẽ không

rõ ràng Theo Thầy Trần Đình Thích trong “Phân tích chương trình Ngữ văn Trung

học phổ thông” có lập bảng phân phối chương trình Ngữ văn lớp 11 tập 1 là 19 tuần,

chúng tôi nhận thấy phân phối chương trình theo 19 tuần sẽ giúp chúng ta dễ dàng so sánh đối chiếu hơn

Qua bảng phân phối chương trình ta thấy được những điểm tương đồng và dị biệt sau:

Bên cạnh đó, hai bộ sách còn thống nhất với nhau về số tiết của các phân môn trong phân phối chương trình, để khảo sát kĩ hơn về vấn đề này chúng tôi lập bảng so sánh về số tiết của ba phân môn ở cả hai bộ SGK

Bảng so sánh sự phân bố số tiết trong phân phối chương trình

Phân môn

SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ

cơ bản (72 tiết)

SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ

nâng cao (72 tiết) Đọc văn 42 tiết trong đó phần đọc thêm

chiếm 7 bài

40 tiết trong đó phần đọc thêm chiếm 9 bài

Tiếng việt 10 tiết trong đó 6 tiết lí thuyết

Trang 22

5 tiết làm bài viết và trả bài viết

Qua bảng so sánh ta thấy số tiết của ba phân môn: Đọc văn, Tiếng việt và Làm văn là tương đương nhau ở cả hai bộ sách Cụ thể phần đọc văn chiếm khoảng 57% , phần Tiếng việt chiếm khoảng 14% và Làm văn chiếm khoảng 29% trên tổng số 72 tiết

 Dị biệt:

Có sự chênh lệch nhau về số tiết giảng dạy của ba bộ phận: Đọc văn, Tiếng việt, Làm văn Cũng dựa vào bảng so sánh trên, ta nhận thấy số tiết đọc văn của bộ SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ nâng cao giảm đi 2 tiết so với SGK Ngữ văn 11 tập 1 bộ cơ bản, chỉ còn 40 tiết Trong phần đọc văn chia thành 2 bộ phận đó là phần học chính thức và phần đọc thêm, SGK Ngữ văn bộ cơ bản bao gồm 42 tiết trong đó phần học chính thức là 35 tiết và phần đọc thêm là 7 bài, SGK Ngữ văn bộ nâng cao là 40 tiết trong đó phần học chính thức chiếm 31 tiết và phần đọc thêm chiếm 9 bài Ta thấy phần học chính thức của SGK Ngữ văn bộ nâng cao ít hơn SGK bộ cơ bản là 4 tiết nhưng bù lại phần đọc thêm của SGK Ngữ văn nâng cao lại nhiều hơn SGK Ngữ văn

bộ cơ bản 2 bài

Phần tiếng việt cũng có sự chênh lệch số tiết nhưng không đáng kể chỉ 1 tiết, phần Tiếng việt của SGK Ngữ văn bộ cơ bản là 10 tiết, trong đó bao gồm 6 tiết lí thuyết và 4 tiết thực hành, SGK bộ nâng cao là 11 tiết trong đó phần lí thuyết chiếm 4 tiết ít hơn so với phần lí thuyết bộ cơ bản 2 tiết ngược lại phần thực hành của bộ SGK nâng cao chiếm 7 tiết

Đối với phần Làm văn tổng số tiết của hai bộ sách chênh lệch nhau 1 tiết cụ thể SGK bộ cơ bản tổng số là 20 tiết, SGK bộ nâng cao là 21 tiết Phần này hai bộ sách giống nhau ở chổ có 3 tiết thi và trả bài thi, 7 tiết thực hành Khác nhau là số tiết làm bài viết và trả bài viết của SGK bộ cơ bản là 5 tiết, phần lí thuyết là 5 tiết còn SGK bộ nâng cao số tiết làm bài viết và trả bài viết là 6 tiết, phần lí thuyết là 4 tiết, riêng bộ sách này có dành 1 tiết ôn tập làm văn Đây là điểm khác nhau cơ bản của phân phối chương trình SGK Ngữ văn 11 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao

1.3 Cấu trúc chương trình SGK ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao

Cấu trúc chương trình, SGK là cách sắp xếp các bài học trong sách thành một hệ thống nhất định, sự sắp xếp đó sao cho phù hợp với mục tiêu cũng như nội dung của môn học Cấu trúc SGK Ngữ văn là sự tích hợp của ba bộ phận bao gồm: Đọc văn, Tiếng việt và Làm văn, sự tích hợp đó không đơn thuần là sự kết hợp một chiều, cứng

Trang 23

nhắc mà đó là sự kết hợp linh hoạt, đa chiều giữa các bộ phận với nhau Ba bộ phận này kết hợp đan xen với nhau, có khi trong một tuần các em học đầy đủ cả ba phân môn, Các bộ phận trong cấu trúc có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, bộ phận này là nền tảng để tiếp cận bộ phận khác và ngược lại Cấu trúc SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao cũng dựa vào kết cấu chung đó, tuy nhiên do mục tiêu của từng loại sách khác nhau dẫn đến cấu trúc SGK cũng có sự khác nhau nhưng không đáng kể Sau đây là bảng so sánh cấu trúc SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản

và nâng cao, nhằm giúp chúng ta thấy rõ về điểm tương đồng và dị biệt của hai bộ sách này

Đọc văn

Phần đọc văn đưa vào học chính

thức đi theo trình tự từ văn học

trong nước đến văn học nước ngoài

Văn học trong nước bao gồm văn

học trung đại và hiện đại

Văn học trung đại, chủ yếu là văn

học nữa cuối thế kỉ XIX Bao gồm

- Chiếu cầu hiền –Ngô Thì Nhậm

Phần đọc văn đưa vào học chính thức đi theo trình tự từ văn học trong nước đến văn học nước ngoài Văn học trong nước bao gồm văn học trung đại và hiện đại

Văn học trung đại, chủ yếu là văn

học nữa cuối thế kỉ XIX Bao gồm một số tác phẩm như:

- Vào phủ chúa Trịnh -Lê Hữu

- Tiến sĩ giấy –Nguyễn Khuyến

- Tác gia Nguyễn Khuyến

Trang 24

Văn học hiện đại

Chủ yếu là văn học đầu thế kỉ XX

đến Cách mạng tháng tám năm

1945 Thể loại chủ yếu là truyện

ngắn, tiểu thuyết và kịch Với một

số tác phẩm tiêu biểu như:

- Hai đứa trẻ - Thạch Lam

- Chữ người tử tù –Nguyễn Tuân

- Hạnh phúc một tang gia –(trích

tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng

Phụng)

- Chí Phèo –Nam Cao

- Vĩnh biệt cửu trùng đài –

Nguyễn Huy Tưởng

Văn học nước ngoài

SGK đưa vào văn học nước Anh

với tác giả nổi tiếng Sếch-xpia

SGK đưa vào một số bài đọc thêm

tương ứng với cụm thể loại và giai

đoạn văn học của phần đọc văn đưa

- Xin lập khoa luật –Nguyễn

Văn học hiện đại

Chủ yếu là văn học đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng tám năm

1945 Thể loại chủ yếu là truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch Với một

số tác phẩm tiêu biểu như:

- Hai đứa trẻ - Thạch Lam

- Chữ người tử tù –Nguyễn Tuân

- Hạnh phúc một tang gia –(trích

tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng

Phụng)

- Chí Phèo –Nam Cao

- Đời thừa –Nam Cao

- Tác gia Nam Cao

- Vĩnh biệt cửu trùng đài –

Nguyễn Huy Tưởng

Văn học nước ngoài

SGK đưa vào văn học nước Anh với tác giả nổi tiếng Sếch-xpia

- Cha tôi –Đặng Huy Trứ

- Chạy giặc –Nguyễn Đình

Trang 25

- Vi hành –Nguyễn Ái Quốc

- Nghệ thuật băm thịt gà – Ngô

Tất Tố

- Tinh thần thể dục –Nguyễn

Công Hoan Sau mỗi giai đoạn văn học có phần

- Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu

- Thực hành một số kiểu câu trong văn bản

Phần lí thuyết

SGK đưa vào một số phong cách ngôn ngữ và ngữ cảnh giao tiếp như

- Ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

- Thao tác lập luận phân tích

- Thao tác lập luận so sánh

- Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

Trang 26

- Luyện tập thao tác lập luận

- Luyện tập cách viết bản tin

hội, nghị luận văn học

Bài viết số 4 là phần viết văn bản một cách tổng hợp nhằm kiểm tra

lại kiến thức của học sinh ở ba bộ

phận: Đọc văn, Tiếng việt và làm

văn

Phần trả bài kiểm tra

Đây là những giờ nhận xét kiến thức cũng như kĩ năng viết văn bản

của học sinh qua các bài viết từ đó

giúp học sinh khắc phục những

khuyết điểm khi làm bài và củng cố

kiến thức lại cho các em

- Bản tin

Phần thực hành

Thực hành về các thao tác lập luận như:

- Luyện tập phân tích đề, lập dàn

ý bài văn nghị luận

- Luyện tập thao tác lập luận phân tích về xã hội

- Luyện tập thao tác lập luận phân tích về tác phẩm thơ

- Luyện tập thao tác lập luận phân tích về tác phẩm văn xuôi

- Luyện tập thao tác lập luận so sánh

- Luyện tập kết hợp cả hai thao tác lập luận so sánh và phân tích

- Luyện tập phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

- Luyện tập cách viết bản tin

Phần kiểm tra

Viết các bài viết số 1, 2, 3 xoay quanh các vấn đề như: nghị luân xã hội, nghị luận văn học

Bài viết số 4 là phần viết văn bản một cách tổng hợp nhằm kiểm tra lại kiến thức của học sinh ở ba bộ phận: Đọc văn, Tiếng việt và làm văn

Phần trả bài kiểm tra

Đây là những giờ nhận xét kiến thức cũng như kĩ năng viết văn bản của học sinh qua các bài viết từ đó giúp học sinh khắc phục những khuyết điểm khi làm bài và củng cố kiến thức lại cho các em

Trang 27

tế, chiếu, truyện ngắn, kịch…và mốc thời gian các tác phẩm của SGK bắt đầu từ nửa cuối thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong đó chia thành 2 giai đoạn: nửa cuối thế XIX – đầu thế kỉ XX và từ đầu thế kỉ XX – Cách mạng tháng Tám năm

1945 Sau mỗi giai đoạn văn học như thế SGK có phần ôn tập củng cố kiến thức cho học sinh

Thứ ba các tác phẩm đưa vào SGK được sắp xếp thành một hệ thống theo cụm thể loại Truyện kí, Thơ trữ tình (thơ đường luật, thất ngôn bát cú, ca hành…), chiếu,

tế Xoay quanh các thể loại đó học sinh được học một số tác giả tiêu biểu cho thể loại cũng như giai đoạn văn học, cả hai bộ sách đều đưa vào các tác giả như: Lê Hữu Trác,

Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Ngô Thì Nhậm, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng…

Thứ tư các bài đọc thêm cũng được sắp xếp theo cụm thể loại, thường bài đọc thêm đặt sau bài học chính thức nhưng cùng chung thể loại nhằm làm đa dạng, phong phú thêm thể loại mà các em học Cả hai SGK đều thống nhất nhau về các thể loại đọc thêm như: thơ trữ tình, hát nói, văn nghị luận, truyện ngắn…và các tác giả như:

Đọc thêm

Văn học

trung đại

Đọc văn học chính thức

Văn học

trong nước

Văn học hiện đại

Văn học nước ngoài

Lí luận văn học Đọc văn

Trang 28

Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương, Nguyễn Trường Tộ, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Công Hoan Ngoài ra SGK còn đưa thêm phần lí luận văn học nhằm mở rộng kiến thức văn học cho học sinh, giúp cho các em biết thêm tri thức và cách tiếp cận văn học, phần này hai chương trình đều tương đồng nhau

Thứ năm, phần văn học nước ngoài cả hai SGK thống nhất nhau hoàn toàn về số lượng bài cũng như số tiết học, ở phần này SGK chỉ đưa vào một nền văn học nước

ngoài đó là văn học Anh và tác giả nổi tiếng Sếch - xpia Bài học trong SGK là Tình

yêu và thù hận (trích trong Rô-mê-ô và Giu-li-et)

 Dị biệt:

Tuy nhiên, việc phân bố các tác phẩm theo thể loại không giống nhau giữa hai sách Chủ yếu ở phần văn học trung đại, cụ thể đối với SGK Ngữ văn 11 tập 1 bộ cơ bản các tác phẩm sắp xếp theo trình tự như sau: truyện kí, thơ trữ tình, ca hành, hát nói, truyện thơ, văn tế, chiếu, còn đối với sách nâng cao việc sắp xếp tác phẩm có phần khác hơn về vị trí tác phẩm Ví dụ bài đọc văn của tác giả Nguyễn Đình Chiểu được xếp vào tuần 5,6 của SGK bộ cơ bản và tuần 2, 3 của bộ sách nâng cao, cách sắp xếp này rõ ràng theo trình tự cụm thể loại, cụ thể truyện kí, truyện thơ (Nguyễn Đình Chiểu), văn tế (Nguyễn Đình Chiểu), thơ (Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương), ca hành, hát nói (Nguyễn Công Trứ), hai bộ sách tuy thống nhất quan điểm về thể loại nhưng lại khác nhau vị trí của các thể loại trong phân phối chương trình

Hai bộ sách này không thống nhất nhau về nội dung bài lí luận văn học, cụ thể

SGK bộ cơ bản đưa vào bài Một số thể loại văn học: Thơ, truyện SGK bộ nâng cao đưa vào bài Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn và Đọc kịch bản văn học

Phần đọc thêm của chương trình nâng cao nhiều hơn về thể loại và tác giả so với chương trình cơ bản cụ thể về thể loại có thêm phần tự sự, về tác giả có thêm tác giả Đặng Huy Trứ và Ngô Tất Tố

Cấu trúc phần Tiếng việt

 Tương đồng:

Qua bảng so sánh trên ta thấy phần Tiếng việt được cấu trúc theo hai phần: nội dung lí thuyết và phần thực hành Nội dung của hai sách tương đối giống nhau, cụ thể SGK đưa vào một số nội dung như: phong cách ngôn ngữ báo chí, ngữ cảnh, từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

 Dị biệt:

Hai bộ SGK này đưa vào những bài thực hành hoàn toàn khác nhau Để thấy rõ đều này chúng dựa vào bảng so sánh sau:

Bảng so sánh phần thực hành Tiếng việt của hai bộ SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ

cơ bản và bộ nâng cao

Trang 29

SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ nâng cao

Thực hành về phong cách ngôn ngữ báo chí

Thực hành về tách câu Luyện tập về từ Hán Việt

Tóm lại phần Tiêng việt cả hai bộ sách thống nhất hầu như hoàn toàn quan điểm xây dụng chương trình về nội dung và cấu trúc, tuy nhiên giữa chúng vẫn có sự không thống nhất về nội dung thực hành, mỗi bộ sách có mục tiêu dạy học riêng do đó phần lựa chọn bài thực hành cũng phụ thuộc vào mục tiêu đó

Ngoài ra, phần làm văn của hai bộ sách còn bao gồm các bài viết làm văn, kiểm tra và trả bài kiểm tra Đối với các vấn đề này hầu như cả hai sách đều giống nhau, các bài viết như bài viết số 1,2,3 xoay quanh các vấn đề nghị luận xã hội, nghị luận văn học Riêng bài viết số 4 là bài kiểm tra tổng hợp cả ba bộ phận Đọc văn, Tiếng việt và Làm văn Trả bài kiểm tra là thời điểm mà thầy và trò nhận xét, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế qua bài kiểm tra

 Dị biệt:

Tuy nhiên, nội dung và vị trí bài học của hai bộ SGK trong hệ thống chương trình

có sự khác nhau Cụ thể bài dạy các thao tác lập luận phân tích SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản dạy những kiến thức chung, còn SGK bộ nâng cao đi vào cụ thể từng phần, thao tác lập luận phân tích về xã hội, về tác phẩm thơ, về tác phẩm văn xuôi Vị

trí của bài học cũng có sự khác nhau đối với SGK bộ cơ bản chương trình dạy bài bản

tin trước rồi mới dạy bài phỏng vấn và trả lời phỏng vấn còn bộ SGK nâng cao dạy

ngược lại

Trang 30

Ngoài ra, bộ SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ nâng cao có thêm bài thực hành luyện

tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận xã hội

Tóm lại, cấu trúc chương trình của hai bộ SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản

và bộ nâng cao tương đối giống nhau, do hai bộ sách này thống nhất với nhau về quan điểm xây dụng chương trình, cấu trúc bài học Qua bảng so sánh đối chiếu trên chúng

ta thấy rõ những điểm tương đồng và dị biệt về cấu trúc của hai bộ SGK này ở nhiều

bộ phận khác nhau Nhưng đây chỉ là phần so sánh mang tính chất khái quát, ở phần sau chúng tôi sẽ đi sâu hơn về từng vấn đề để chúng ta thấy rõ hơn về bản chất SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao cũng như những điểm tương đồng và dị biệt của hai bộ sách này Từ đó giúp chúng ta hiểu hơn về sách giáo khoa Ngữ văn và

có phương pháp dạy tích cực, hợp lí đối với hai bộ sách này

2 Tương đồng và dị biệt các phân môn của SGK Ngữ văn 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)

2.1 Tương đồng và dị biệt phần Đọc văn

2.1.1 Mục tiêu

 Tương đồng:

Cung cấp hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản và hiện đại về văn học dân tộc và văn học thế giới SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao chủ yếu là văn học dân tộc, văn học nước ngoài (trọng tâm là tri thức về tác phẩm, về thể loại văn học)

Rèn luyện năng lực đọc hiểu cho học sinh bao gồm năng lực cảm nhận, lí giải, thưởng thức, ghi nhớ những vấn đề đặt ra từ văn bản Bồi dưỡng năng lực đọc hiểu là giúp học sinh hiểu biết cách đọc đúng, hiểu đúng để tích lũy kiến thức, đọc để lí giải, đọc để đánh giá, đọc để sáng tạo và phát hiện

Thông qua quá trình quá trình đọc hiểu văn bản, góp phần quan trọng bồi dưỡng

tư tưởng, tình cảm cho học sinh Từ những văn bản đã đọc hiểu học sinh được giáo dục tinh thần nhân văn, thị hiếu thẩm mĩ, có phẩm chất văn hóa và cá tính lành mạnh Rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh bởi kĩ năng đọc là hoạt động cơ bản, thường xuyên trong bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết, từ kĩ năng đọc rèn luyện các kĩ năng khác Kĩ năng đọc hiểu văn bản được đặt ra với yêu cầu trình độ cao cụ thể:

+ Đọc nhanh, đọc chính xác văn bản: hiểu được nghĩa tường minh và nghĩa hàm

ẩn

+ Đọc thẩm mĩ thấy được cái hay, cái đẹp trong tác phẩm văn chương qua hệ thống ngôn từ, hình tượng nhân vật, tư tưởng nhà văn gửi gắm qua tác phẩm

Trang 31

+ Đọc sáng tạo là biết lí giải văn bản theo suy nghĩ riêng một cách logic và hợp lí,

có khả năng vận dụng sáng tạo văn bản

2.1.2 Nội dung và số lượng tác phẩm

Cả hai SGK đều thống nhất với nhau về nội dung đưa vào trong sách Phần đọc văn bao gồm văn học trung đai, văn học hiện đại, lí luận văn học, văn học nước ngoài

và phần đọc thêm Đối với phần này không tách riêng phần đọc thêm với phần học chính thức mà chúng tôi gộp chung lại bởi vì các bài đọc thêm đặt sau các bài học chính thức cùng thể loại, kết hợp cả hai vấn đề đó sẽ tiện lợi trong việc đối chiếu so sánh của hai bộ SGK

2.1.2.1 Phần Văn học trung đại

Bảng so sánh số lượng tác phẩm và số tiết phần Văn học trung đại

Tuần SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ

cơ bản

Số tiết

(Cao Bá Quát) 3

5 Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình 3 Câu cá mùa thu (Nguyễn 3

Trang 32

Đổng Mẫu (trích Sơn Hậu)

Ôn tập văn học trung đại

2

Tương đồng

Ta thấy phần văn học trung đại của hai sách được thực hiện trong cùng một thời gian bắt đầu từ tuần 1 đến tuần 8, mỗi tuần được phân bố số tiết tương đối giống nhau, tuần 1, 2 mỗi tuần 2 tiết, tuần 3, 4, 5 mỗi tuần là 3 tiết, tuần 8 là 2 tiết Riêng tuần 6,7

số tiết của SGK bộ cơ bản là mỗi tuần 3 tiết nhưng đối với SGK bộ nâng cao chỉ có 2 tiết tổng số tiết dành cho văn học trung đại của SGK cơ bản là 18/42 tiết đọc văn, bộ nâng cao là 16/ 40 tiết đọc văn, ta thấy thời lượng dành cho phần này là như nhau ở cả hai bộ SGK

Nội dung bài học của cả hai sách tương đối như nhau Các tác phẩm đưa vào SGK chủ yếu thuộc giai đoạn văn học từ nửa cuối thế kỉ XIX Mở đầu sách là tác

phẩm Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác và cuối phần văn học trung đại là tác phẩm Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm Nội dung tác phẩm xoay quanh các vấn đề

như:

Nội dung nhân đạo

Bên cạnh những nội dung đã học ở lớp 10, cần lưu ý một biểu hiện khá rõ là sự thể hiện con người cá nhân, con người trần thế trong văn học Đó là con người ý thức

về bi kịch duyên phận, về khát vọng hạnh phúc mang dấu ấn cá nhân trong Tự tình II

Trang 33

của Hồ Xuân Hương Đó là con người ý thức về tài năng cá nhân, bản lĩnh cá nhân, sở

thích cá nhân trong “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ Đó là con người với tình bạn cá nhân rất đời thường trong “Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến

Nội dung yêu nước

Do hoàn cảnh lịch sử đất nước bị rơi vào tay kẻ thù xâm lược, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã diễn ra nhưng cuối cùng bị thất bại, tuy không thành công nhưng nó thể hiện tinh thần yêu nước của dân tộc là rất lớn Nên nội dung yêu nước trong văn học của cuối thế kỉ XIX thể hiện rất mạnh mẽ và mang cảm hứng bi tráng

Tiêu biểu cho nội dung này là thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu (Văn tế nghĩa

sĩ Cần Giuộc, Chạy Giặc)

Bên cạnh đó, hoàn cảnh lịch sử đất nước tiếp xúc với phương tây mà ý thức hệ phong kiến có những biểu hiện rạn nứt Tư tưởng yêu nước theo ý thức hệ phong kiến còn bộc lộ những bảo thủ, hạn chế Một số tri thức phong kiến, mặc dù xuất thân từ cửa Khổng, sân Trình nhưng do tiếp xúc với phương Tây lại sẵn có tinh thần chấn hưng dân tộc, họ mang tư tưởng canh tân đất nước Tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ

với Tế cấp bát điều (SGK Ngữ văn lớp 11 trích đoạn bàn về luật pháp với nhan đề của người biên soạn Xin lập khoa luật)

Nội dung phản ánh hiện thực

Một trong những biểu hiện mới trong quan điểm văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII trở về sau là văn học viết từ “những điều trông thấy” Chính vì vậy, nhiều tác giả đã hướng tới việc nghi chép lại hiện thực xã hội của chính thời đại mình Đó là các

tác giả của Ngô gia văn phái với Hoàng Lê nhất thống chí, Phạm Đình Hổ với Vũ

trung tùy bút, Lê Hữu Trác với Thượng kinh kí sự Điều đáng lưu ý là trong các tác

phẩm của các tác giả nói trên, hiện thực được phản ánh không phải qua ngôn chí hay

tự thuật, của cái tôi tác giả như trong thơ trữ tình, hoặc qua con đường “mượn xưa nói nay”, “lấy kì nói thật” như trong truyện truyền kì Ở các tác phẩm trên, hiện thực được phản ánh trực tiếp và chân thực Tiêu biểu là ngòi bút chân thực và sắc xảo của Lê

Hữu Trác với Thượng kinh kí sự

Ngoài ra, hai SGK này còn tương đồng nhau về lực lượng sáng tác cũng như các

tác phẩm đưa vào chương trình Lê Hữu Trác (Vào phủ chúa Trịnh trích thượng kinh kí

sự), Hồ Xuân Hương (Tự tình II), Nguyễn Khuyến (Câu cá mùa thu), Nguyễn Công

Trứ (Bài ca ngất ngưởng), Cao Bá Quát (Bài ca ngắn đi trên bãi cát), Nguyễn Đình Chiểu (Lẽ ghét thương trích truyện Lục Vân Tiên và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc), Ngô Thì Nhậm (Chiếu cầu hiền)

Về bài đọc thêm hai SGK này cũng thống nhất nhau về tác phẩm và tác giả Cụ

thể như: Nguyễn Khuyến (Khóc Dương Khuê), Trần Tế Xương (Vịnh khoa thi hương), Nguyễn Đình Chiểu (Chạy giặc), Chu Mạnh Trinh (Bài ca phong cảnh Hương Sơn), Nguyễn Trường Tộ (Xin lập khoa luật)

Các bài đọc thêm tương ứng với những thể loại của tác phẩm học chính thức và

tác giả, ví dụ: Sau khi dạy tác phẩm thuộc thể loại tự sự như Vào phủ chúa Trịnh là

Trang 34

bài đọc thêm Cha tôi cũng thuộc thể loại tự sự, sau các bài thơ trữ tình là phần đọc

thêm về thể loại trữ tình, chẳng hạn như sau các bài thơ của Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ là các bài đọc thêm thuộc thể loại trữ tình, sau khi dạy các bài thơ thuộc thể ca hành, hát nói có bài đọc thêm tương ứng với thể loại này, như sau bài

Bài ca ngất ngưởng và Bài ca ngắn đi trên bãi cát có bài đọc thêm Bài ca phong cảnh Hương Sơn, sau các bài nghị luận như Chiếu cầu hiền có bài đọc thêm Xin lập khoa luật Hay sau khi học các tác phẩm của một tác giả theo sau nó là bài đọc thêm của tác

giả đó, cụ thể như sau các bài Câu cá mùa thu là bài đọc thêm Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến), sau bài Thương vợ là bài đọc thêm Vịnh khoa thi hương (Trần Tế Xương), sau bài Lẽ ghét thương và bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là bài đọc thêm

Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu) Việc đưa vào các bài đọc thêm theo sau các bài đọc

chính thức theo thể loại và tác giả nhằm mở rộng kiến thức cho học sinh về nội dung, khối lượng tác phẩm của giai đoạn văn học trung đại nửa cuối thế kỉ XIX, nhìn chung phần đọc thêm của hai SGK tương đối giống nhau về mặt này

 Dị biệt:

Ta thấy hai bộ sách này tương đối giống nhau về tác giả và tác phẩm, bên cạnh đó

có một số điểm khác nhau, SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ nâng cao tác phẩm đưa vào nhiều hơn và chi tiết hơn về tác gia, ở sách này các tác gia như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu có những tiết học riêng, ngoài các tác phẩm trên SGK nâng cao

còn đưa thêm tác phẩm Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến Phần tác gia này đối với

SGK bộ cơ bản không tách ra riêng từng bài mà kết hợp chung lại với tác phẩm của cùng tác giả đó Ví dụ tác gia Nguyễn Khuyến, SGK cơ bản đưa vào mục tiểu dẫn của

bài Câu cá mùa thu, còn tác gia Nguyễn Đình Chiểu, SGK cơ bản đưa vào phần tiểu dẫn của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Nhìn chung cả hai SGK đều xây dựng hệ

thống kiến thức như nhau nhưng đối với sách nâng cao mức độ đòi hỏi cao hơn, đi sâu

và khai thác kĩ hơn vào hệ thống kiến thức

SGK nâng cao phần đọc thêm nhiều hơn về tác phẩm cũng như thể loại, cụ thể

sách đưa thêm tác phẩm Cha tôi (trích Đặng Dịch trai ngôn hành lục –Đặng Huy Trứ)

và thể loại tuồng cổ tiêu biểu là Đổng Mẫu trích Sơn Hậu Các bài đọc thêm trong

SGK nâng cao được sắp xếp rõ ràng theo cum thể loại, tác giả tương ứng với bài học chính thức thức, sau mỗi bài học chính thức là bài đọc thêm SGK cơ bản sau khi dạy vài bài học chính thức mới đưa bài đọc thêm vào

Như chúng tôi đã nói ở phần trên hai bộ sách này thống nhất nhau về tác phẩm và tác giả đưa vào chương trình, tuy nhiên đơn vị kiến thức trong bài và trật tự sắp xếp các bài học có sự khác nhau ở hai sách Cụ thể:

SGK Ngữ Văn cơ bản dạy các tác giả Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ… trước tác giả Nguyễn Đình Chiểu còn SGK nâng cao thì ngược lại Ngoài

ra các tác phẩm phân bố theo từng tuần cũng khác nhau

Bài Vào phủ chúa Trịnh trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu trác cả hai SGK đều

dạy vào tuần 1, với số tiết là 2, tuy nhiên số tiết là như nhau nhưng đơn vị kiến thức

Trang 35

được học khác nhau, SGK nâng cao trong 2 tiết học bài này SGK còn có bài đọc thêm

Cha tôi (Đăng Huy Trứ) Tự tình II và Câu cá mùa thu vào tuần 2 của SGK cơ bản

nhưng với SGK nâng cao 2 bài này tách ra dạy vào 2 tuần riêng lẽ là tuần 4, 5 hay Văn

tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của SGK cơ bản dạy vào tuần 6, SGK nâng cao dạy vào tuần 3

số tiết là như nhau 3 tiết, kiến thức giống nhau nhưng hình thức trình bày khác nhau, SGK này tách phần tác gia thành 1 tiết riêng lẽ

Cuối phần văn học trung đại ở cả hai SGK có phần ôn tập củng cố kiến thức, phần ôn tập được thực hiện trong tuần 8, tuy nhiên SGK nâng cao dành 2 tiết để ôn tập trong khi đó phần ôn tâp của SGK nâng cao chiếm thời gian ít hơn cũng là 2 tiết nhưng bao gồm 1 bài học chính thức, 2 bài đọc thêm và phần ôn tập

2.1.2.2 Phần văn học hiện đại

Bảng so sánh số lượng tác phẩm và số tiết phần Văn học hiện đại

Tuần SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ

cơ bản

Số tiết

Hai đứa trẻ (Thạch lam)

Đọc thêm: Cha con nghĩa

14 Chí Phèo (Nam Cao) tiếp theo 2 Đời thừa (Nam Cao)

Vĩnh biệt cửu trùng đài

(Nguyễn Huy Tưởng) 2

Ngày đăng: 15/12/2015, 18:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. SGK Ngữ Văn 11 tập 1 bộ cơ bản –Nhà xuất bản giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ng"ữ" V"ă"n 11 t"ậ"p 1 b"ộ" c"ơ" b"ả"n
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
2. SGK Ngữ Văn 11 tập 1 bộ nâng cao –Nhà xuất bản giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ng"ữ" V"ă"n 11 t"ậ"p 1 b"ộ" nâng cao
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
3. Trần Quang Đại: “Sách giáo khoa còn thiếu tính khoa học và chuẩn mực” theo (http://dantri.com.vn/c20/s202-224821/sach-giao-khoa-con-thieu-tinh-khoa-hoc-va-chuan-muc.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sách giáo khoa còn thi"ế"u tính khoa h"ọ"c và chu"ẩ"n m"ự"c”" theo
4. Trần Bá Hoành: “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổ"i m"ớ"i ph"ươ"ng pháp d"ạ"y h"ọ"c, ch"ươ"ng trình và sách giáo khoa
5. Phạm Thị Ly: “Thấy gì qua mục kết quả cần đạt”, theo (www.vietbao.vn/giaoduc /sachgiaokhoanguvan11/ 08/4/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Th"ấ"y gì qua m"ụ"c k"ế"t qu"ả" c"ầ"n "đạ"t”
6. Trần Hà Nam: “Sự thay đổi sách và chương trình chóng mặt” theo (www.ngoisaoblog.com/m.ph?u=tranhanam&p=133298) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Hà Nam: "“S"ự" thay " đổ"i sách và ch"ươ"ng trình chóng m"ặ"t”" theo
7. Trần Đình Thích: “Phân tích chương trình Ngữ Văn trung học phổ thông”. Đại học Cần Thơ, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Thích: "“Phân tích ch"ươ"ng trình Ng"ữ" V"ă"n trung h"ọ"c ph"ổ" thông”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh sự phân bố số tiết trong phân phối chương trình. - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh sự phân bố số tiết trong phân phối chương trình (Trang 21)
Bảng so sánh cấu trúc SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh cấu trúc SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao (Trang 23)
Bảng so sánh số lượng tác phẩm và số tiết phần Văn học trung đại - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh số lượng tác phẩm và số tiết phần Văn học trung đại (Trang 31)
Bảng so sánh số lượng tác phẩm và số tiết phần Văn học hiện đại - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh số lượng tác phẩm và số tiết phần Văn học hiện đại (Trang 35)
Bảng so sánh cấu trúc bài đọc văn học chính thức. - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh cấu trúc bài đọc văn học chính thức (Trang 39)
Bảng so sánh kết quả cần đạt của một số tác phẩm - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh kết quả cần đạt của một số tác phẩm (Trang 40)
Bảng so sánh hình ảnh đưa vào trong bài học của hai SGK. - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh hình ảnh đưa vào trong bài học của hai SGK (Trang 43)
Bảng so sánh phần chú thích bài Hai đứa trẻ (Thạch Lam ) của hai bộ SGK. - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh phần chú thích bài Hai đứa trẻ (Thạch Lam ) của hai bộ SGK (Trang 45)
Bảng so sánh phần hướng dẫn học bài của hai SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 cơ bản - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh phần hướng dẫn học bài của hai SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 cơ bản (Trang 47)
Bảng so sánh cấu trúc bài đọc thêm - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh cấu trúc bài đọc thêm (Trang 52)
Bảng Điều trần của Nguyễn Trường Tộ mang tên tám việc cần làm gấp đó là: - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
ng Điều trần của Nguyễn Trường Tộ mang tên tám việc cần làm gấp đó là: (Trang 55)
Bảng so sánh kết quả cần đạt phần Tiếng việt của hai bộ sách - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh kết quả cần đạt phần Tiếng việt của hai bộ sách (Trang 56)
Bảng so sánh phần thực hành Tiếng việt của hai bộ SGK - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh phần thực hành Tiếng việt của hai bộ SGK (Trang 58)
Bảng so sánh cấu trúc bài Tiếng việt phần thực hành - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh cấu trúc bài Tiếng việt phần thực hành (Trang 59)
Bảng so sánh số lượng bài thực hành phần Làm văn của hai bộ SGK. - Tính tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa ngữ văn lớp 11, tập 1 (cơ bản và nâng cao)
Bảng so sánh số lượng bài thực hành phần Làm văn của hai bộ SGK (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w