Cụ thể, thời gian qua, Thành phố đã thực hiện một số hoạt động có liên quan trực tiếp đến chỉ số PCI như: trong công văn số 1937/VP-THKH ngày 01/4/2011 của Văn phòng Ủy ban nhân dân Thàn
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ
-* -
BÁO CÁO TỔNG HỢP
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH THÔNG QUA NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Chủ nhiệm: TS Trần Anh Tuấn
Thành phố Hồ Chí Minh, 08/2017
.
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ
-* -
BÁO CÁO TỔNG HỢP
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH THÔNG QUA NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Chủ nhiệm: TS Trần Anh Tuấn
Thành viên tham gia:
Th.S Vũ Ngọc Anh Th.S Phan Thị Xuân Diệu
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤT ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
4 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4
4.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 4
4.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 7
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 11
CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH PCI 13
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 13 1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 13
1.1.2 Các chỉ số cấu thành PCI và những thay đổi, điều chỉnh trong các chỉ số cấu thành giai đoạn 2005-2016 13
1.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN XÂY DỰNG CHỈ SỐ PCI 18
1.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 19
1.2.2 Tách bạch năng lực điều hành kinh tế và điều kiện truyền thống của địa phương 24
1.2.3 Cách tính trọng số từng chỉ số thành phần phục vụ việc xây dựng chỉ số PCI tổng hợp có trọng số 27
1.3 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHỈ SỐ PCI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CẢI CÁCH ĐIỀU HÀNH Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG 33
1.3.1 Tác động của chỉ số PCI đối với công tác cải cách điều hành của các địa phương 33
1.3.2 Tác động của chỉ số PCI đối với công tác cải cách điều hành của Thành phố Hồ Chí Minh 35
.
Trang 41.4 MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CHỈ SỐ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006-2016 42 2.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ BỨC TRANH NỘI HÀM 6/10 CHỈ SỐ THÀNH PHẦN TƯƠNG ĐỐI YẾU KÉM CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2016 42
2.1.1 Chỉ số tiếp cận đất đai 42
2.1.2 Chỉ số tính minh bạch 52
2.1.3 Chỉ số chi phí không chính thức 61
2.1.4 Chỉ số tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh 70
2.1.5 Chỉ số cạnh tranh bình đẳng 78
2.1.6 Chỉ số thiết chế pháp lý 86
2.2 PHÂN TÍCH NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN, KHÁCH QUAN DẪN ĐẾN SỰ YẾU KÉM CỦA 6/10 CHỈ SỐ THÀNH PHẦN PCI 93
2.2.1 Chỉ số tiếp cận đất đai 93
2.2.2 Chỉ số tính minh bạch 95
2.2.3 Chỉ số chi phí không chính thức 98
2.2.4 Chỉ số tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh 103
2.2.5 Chỉ số cạnh tranh bình đẳng 106
2.2.6 Chỉ số thiết chế pháp lý 108
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT GÓP PHẦN CẢI THIỆN CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 112
3.1 KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT CHO VCCI & USAID 112
3.1.1 Các đề xuất chung về phương pháp luận xây dựng chỉ số PCI 112
3.1.2 Các đề xuất liên quan đến nội dung 06 chỉ số thành phần trong phiếu khảo sát PCI 114
3.2 KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT CHO CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ NHẰM CẢI THIỆN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 120
3.2.1 Các kiến nghị, đề xuất chung cho chính quyền Thành phố 120
.
Trang 53.2.2 Các kiến nghị, đề xuất nhằm cải thiện 06 chỉ số thành phần 1223.3 BẢNG KIẾN NGHỊ CHUNG CHO ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ 149
PHỤ LỤC 1: HỆ SỐ TƯƠNG QUAN CẶP GIỮA CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN PCI (NĂM 2005 VÀ NĂM 2006) 156 PHỤ LỤC 2: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ VỚI CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN BẰNG QUY TRÌNH ĐIỀU CHỈNH VARIMAX (NĂM 2005 VÀ NĂM 2006) 157 PHỤ LỤC 3: TÍNH TOÁN ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÂN TỐ TỪ HỒI QUY
ĐA BIẾN (NĂM 2005 VÀ NĂM 2006) 158 PHỤ LỤC 4: TÍNH TOÁN TRỌNG SỐ CỦA CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN PCI (NĂM 2005 VÀ NĂM 2006) 159 PHỤ LỤC 5: PHÂN TÍCH HỒI QUY ĐA BIẾN GIỮA ĐIỀU HÀNH KINH
TẾ VÀ CÁC BIẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KHỐI DÂN DOANH NĂM 2009 160 PHỤ LỤC 6: TRỌNG SỐ CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN TRONG NĂM 2009 161 PHỤ LỤC 7: CÁC VĂN BẢN CẢI THIỆN PCI CỦA ĐỊA PHƯƠNG TÍNH ĐẾN NĂM 2010 162 PHỤ LỤC 8: THỰC TRẠNG CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN PCI CỦA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006-2015 165 PHỤ LỤC 9: SO SÁNH ĐIỂM SỐ CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN TƯƠNG ỨNG CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG ĐỨNG ĐẦU CẢ NƯỚC VÀ CÁC THÀNH PHỐ LỚN TRÊN CẢ NƯỚC 174 PHỤ LỤC 10: SO SÁNH ĐIỂM SỐ CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN CỦA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỚI MỘT ĐỊA PHƯƠNG TRÊN CẢ NƯỚC 190 PHỤ LỤC 11: HỆ THỐNG CÁC CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN 6/10 CHỈ SỐ THÀNH PHẦN PCI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TƯƠNG ĐỐI YẾU KÉM 227 PHỤ LỤC 12: NGHIÊN CỨU VỀ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRÊN THẾ GIỚI 271
.
Trang 6PHỤ LỤC 13: BẢNG XẾP HẠN CÁC QUỐC GIA TRONG NHÓM 10
NƯỚC ĐỨNG ĐẦU VỀ CHỈ SỐ NHẬN THỨC THAM NHỮNG (CPI) GIAI ĐOẠN 2012-2015 272 PHỤ LỤC 14: CHI TIÊU BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI HÀNG THÁNG CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2004-2014 (tính theo giá thực tế
và phân theo các khoản chi) 273 TÀI LIỆU THAM KHẢO 274
.
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các chỉ số thành phần cấu thành chỉ số PCI giai đoạn 2005-2016 16
Bảng 1 2: Trọng số của các chỉ số thành phần PCI giai đoạn 2005-2016 32
Bảng 1 3: Quy mô mẫu tại một số địa phương giai đoạn 2009-2015 38
Bảng 2 1: Xếp hạng về chỉ số Tiếp cận đất đai của TP.HCM giai đoạn 2007-2016 44
Bảng 2 2: Danh sách xếp hạng chỉ số Tiếp cận đất đai 45
Bảng 2 3: Tỷ lệ diện tích đất khả dụng tại các vùng trên cả nước (%) 46
Bảng 2 4: Tỷ lệ tăng dân số phân theo khu vực 47
Bảng 2 5: Điểm số Tính minh bạch của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2007 -2016 53
Bảng 2 6: Địa phương có điểm số Tính minh bạch cao nhất và thấp nhất giai đoạn 2007 - 2016 53
Bảng 2 7: Điểm số Tính minh bạch của 5 Thành phố trực thuộc trung ương giai đoạn 2007-2016 54
Bảng 2 8: Tiếp cận tài liệu ngân sách địa phương của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013- 2016 57
Bảng 2 9: Tỷ lệ doanh nghiệp khảo sát cho biết mức độ công việc đạt được như mong đợi sau khi chi trả chi phí không chính thức 68
Bảng 2 10: Thứ hạng chỉ số tính năng động và tiên phong của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2016 73
Bảng 2 11: Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng của các địa phương giai đoạn 2013 - 2016 80
Bảng 2 12: Thống kê tỷ lệ Doanh nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh đồng ý/hoàn toàn đồng ý đối với các chỉ tiêu cấu thành chỉ số Cạnh tranh bình đẳng giai đoạn 2013-2016 81
Bảng 2 13: Xếp hạng chỉ số thiết chế pháp lý của TP.HCM so với cả nước trong giai đoạn 2007-2016 88
Bảng 2 14: Điểm số chỉ số thiết chế pháp lý của 05 thành phố trực thuộc trung ương giai đoạn 2007-2016 88
Bảng 2 15: Một số chỉ tiêu thành phần của chỉ số thiết chế pháp lý của TP.HCM giai đoạn 2007-2016 90
Bảng 2 16: Một số chỉ tiêu thành phần mới trong chỉ số thiết chế pháp lý của TP.HCM giai đoạn 2007-2016 91
Bảng 2 17: Phương án lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp của doanh nghiệp giai đoạn 2013-2016 92
.
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2 1: Chỉ số Tiếp cận đất đai của TP.HCM giai đoạn 2007-2015 43
Hình 2 2: Biến động điểm số Tiếp cận đất đai của cả nước 44
Hình 2 3: Nội dung tiếp cận đất đai của TP.HCM giai đoạn 2007-2016 48
Hình 2 4: Đánh giá rủi ro bị thu hồi đất tại TP.HCM giai đoạn 2007-2016 49
Hình 2 5: Đánh giá mức độ thỏa đáng trong công tác bồi thường TP.HCM 2007 - 2016 50
Hình 2 6: Đánh giá mức độ phù hợp giữa thay đổi khung giá đất TP.HCM và thay đổi giá thị trường giai đoạn 2009-2016 50
Hình 2 7: Doanh nghiệp TP.HCM không gặp cản trở mặt bằng kinh doanh 2007 - 2016 51
Hình 2 8: Đánh giá thủ tục hành chính liên quan đến công tác đất đai TP.HCM giai đoạn 2013-2016 52
Hình 2 9 :Chỉ số Tính minh bạch của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 - 2016 52
Hình 2 10: Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch, quyết định, nghị định của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 – 2016 56
Hình 2 11: Kết quả khảo sát chỉ tiêu vai trò của mối quan hệ trong tiếp cận thông tin và việc thương lượng với cán bộ thuế giai đoạn 2007-2016 58
Hình 2 12: Khả năng dự đoán được trong thực thi pháp luật của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 - 2016 59
Hình 2 13: Độ mở của trang thông tin điện tử của chính quyền Thành phố giai đoạn 2007 - 2016 60
Hình 2 14: Vai trò của Hiệp hội doanh nghiệp trong tư vấn và phản biện chính sách 61
Hình 2 15: Chỉ số thành phần chi phí không chính thức của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2016 63
Hình 2 16: Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia khảo sát đồng ý, không đồng ý với nhận định các doanh nghiệp khác cùng ngành phải trả các chi phí không chính thức giai đoạn 2006-2016 64
Hình 2 17: Số lượng doanh nghiệp cùng ngành trên địa bàn Thành phố chi trả các khoản chi phí không chính thức giai đoạn 2006-2016 67
Hình 2 18: Tỷ lệ (%) doanh nghiệp tham gia khảo sát phản ánh việc Chính quyền tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương để trục lợi giai đoạn 2006-2011 70 Hình 2 19: Điểm số chỉ số thành phần tính năng động và tiên phong của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2016 72
.
Trang 9Hình 2 20: Nhận định “UBND tỉnh linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân” của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2015 74Hình 2 21: Nhận định “khi quy định của trung ương chưa rõ ràng, UBND tỉnh rất năng động và sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề mới phát sinh” của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2015 74Hình 2 22: Cảm nhận của doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân giai đoạn 2009-2015 75Hình 2 23: Nhận định “Có những sáng kiến hay ở cấp tỉnh nhưng chưa được thực thi tốt ở cấp Sở, ngành” của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2015 76Hình 2 24: Nhận định “Có những sáng kiến hay ở cấp tỉnh nhưng chưa được thực thi tốt ở cấp quận, huyện” của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012-2015 77Hình 2 25: Kết quả khảo sát câu hỏi “phản ứng của tỉnh khi có điểm chưa rõ trong chính sách/văn bản trung ương” của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2015 77Hình 2 26: Kết quả khảo sát nội hàm “ưu đãi đối với doanh nghiệp do Nhà nước quản lí” trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2013-2016 83Hình 2 27: Kết quả khảo sát nội hàm “ưu đãi đối với doanh nghiệp FDI” trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2013-2016 84Hình 2 28: Tỷ lệ % doanh nghiệp đồng ý với nhận định “Hợp đồng, đất đai,… và các nguồn lực kinh tế khác chủ yếu rơi vào tay các DN (nhà nước và tư nhân) có liên kết chặt chẽ với chính quyền tỉnh” 85Hình 2 29: Tỷ lệ % doanh nghiệp đồng ý với nhận định “Ưu đãi với các công ty lớn (nhà nước và tư nhân) là trở ngại cho hoạt động kinh doanh của bản thân DN” 85Hình 2 30: Điểm số chỉ số thiết chế pháp lý của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2016 87
.
Trang 10MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤT ĐỀ
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) hợp tác với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) xây dựng nhằm đánh giá môi trường kinh doanh, chất lượng điều hành kinh tế và nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền các tỉnh, thành phố của Việt Nam Sau hơn 11 năm triển khai, chỉ số PCI dần trở thành một trong những công cụ quan trọng phản ánh nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam; lãnh đạo các địa phương có xu hướng sử dụng chỉ số PCI làm thước đo thành công của các chương trình cải cách về điều hành kinh tế của địa phương
Không nằm ngoài xu hướng trên, chỉ số PCI đã dần thu hút được sự quan tâm của lãnh đạo Thành phố và đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống các cơ quan quản lý Thành phố Cụ thể, thời gian qua, Thành phố đã thực hiện một số hoạt động có liên quan trực tiếp đến chỉ số PCI như: trong công văn số 1937/VP-THKH ngày 01/4/2011 của Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố giao Viện Nghiên cứu phát triển phân tích
kỹ về các Chỉ số đo lường hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh và Chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; một số báo cáo tổng kết các năm có đề cập đến thứ hạng PCI của Thành phố; Quyết định 5246/QĐ-UBND ngày 24 tháng 09 năm 2013 ban hành Chương trình triển khai các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2015 Theo
đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan được giao nhiệm vụ đầu mối theo dõi, tổng hợp về PCI; Quyết định số 3301/QĐ-UBND về ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Theo đó, tiến hành rà soát, kiến nghị bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, tạo mọi thuận lợi, giảm thời gian giải quyết và chi phí thực hiện thủ tục hành chính của doanh nghiệp, người dân và các nội dung có liên quan đến các chỉ số xếp hạng, các chỉ số thành phần PCI còn thấp là một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu được đề cập; quan trọng hơn cả, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020 cũng đã đặt mục tiêu để Thành phố phấn đấu đứng trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước về xếp hạng chỉ số PCI
.
Trang 11Những dẫn chứng trên cho thấy, lãnh đạo Thành phố và các cơ quan quản
lý của Thành phố đã và đang quan tâm, mong muốn cải thiện năng lực điều hành kinh tế của chính quyền, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn, đồng thời, nâng cao vị trí xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Thành phố Tuy nhiên nhìn chung, các giải pháp được
đề ra trong thời gian qua vẫn còn rất chung chung và chủ quan, mang tính chạy theo thứ hạng, chưa cụ thể và thiết thực, chưa tạo động lực để những đơn vị có liên quan trực tiếp đến các chỉ số thành phần có trách nhiệm và động lực cải cách hơn
Qua tổng quan về vấn đề nghiên cứu, có thể thấy hiện nay các nghiên cứu
về chỉ số PCI (gồm cả báo cáo thường niên về chỉ số PCI do VCCI phối hợp với USAID thực hiện) vẫn còn đánh giá chung chung cho cả nước, chỉ dừng lại ở mức báo cáo, thống kê mô tả, đánh giá và so sánh điểm số giữa các địa phương theo từng năm… chưa có nghiên cứu nào phân tích chi tiết nội hàm của từng chỉ
số thành phần của địa phương (cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh), đánh giá những tác động trong công tác cải cách điều hành của Thành phố đối với các chỉ
số thành phần Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao năng lực
điều hành kinh tế của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó, góp phần cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Thành phố là vô cùng cần thiết
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực điều hành kinh tế của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó, góp phần cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Thành phố
2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu tổng quát trên được thể hiện qua 03 nhóm mục tiêu cụ thể sau:
Nghiên cứu đánh giá một số khía cạnh trong phương pháp xây dựng
chỉ số PCI của VCCI và USAID (ví dụ: cách chọn mẫu, thu thập số
liệu, cách thiết kế bảng hỏi…) Tóm tắt những thay đổi và điều chỉnh
trong các nội dung cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2005-2016 Từ đó, đưa ra một số nhận định về phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
.
Trang 12 Dựa trên kết quả của cuộc khảo sát PCI trong thời gian qua, tập trung thống kê mô tả và phân tích chi tiết những nội dung của 6/10 nhóm
chỉ số thành phần yếu kém của Thành phố Hồ Chí Minh (yếu kém khi
so sánh với các nhóm chỉ số thành phần còn lại và khi so sánh với các tỉnh thành trên cả nước) gồm: chỉ số tiếp cận đất đai, chỉ số tính
minh bạch, chỉ số chi phí không chính thức, chỉ số cạnh tranh bình đẳng, chỉ số tính năng động và chỉ số thiết chế pháp lý So sánh điểm
số của Thành phố tương ứng với 6 chỉ số thành phần còn yếu kém này qua các năm; so sánh với điểm số các chỉ số thành phần tương ứng của các địa phương đứng đầu cả nước và các thành phố lớn trên
cả nước Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém (gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, tuy nhiên, tập trung vào phân tích nguyên nhân chủ quan)
Đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm khắc phục các yếu kém của 06 nhóm chỉ số thành phần nêu trên Qua đó, góp phần cải thiện chỉ số PCI và năng lực cạnh tranh của Thành phố trong tương lai
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau đây:
Phân tích pháp lý: nghiên cứu các văn bản pháp lý có liên quan đến năng
lực điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; những cơ chế, chính sách có liên quan đến các chỉ số nội dung thành phần, những thay đổi trong cơ chế chính sách qua các năm; những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại của những cơ chế chính sách này
Nghiên cứu tại bàn: dựa vào các báo cáo PCI hàng năm và tài liệu thứ cấp
khác (các bài báo khoa học, những nghiên cứu trước đây, tập san chuyên đề, tạp chí, báo cáo khoa học, luận án ) trong và ngoài nước để phân tích, tổng hợp, so sánh các tài liệu, lý thuyết có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Phân tích số liệu thứ cấp: sử dụng số liệu từ các cuộc khảo sát PCI được
thực hiện trên địa bàn cả nước giai đoạn 2006-2016 (do nhóm nghiên cứu PCI công bố trên website http://www.pcivietnam.org/ và nguồn số liệu bổ sung do VCCI chia sẻ cho nhóm tác giả đề tài này) để thống kê mô tả và phân tích chi tiết những nội dung của các chỉ số thành phần cấu thành nên chỉ số PCI (sử dụng chủ yếu trong nhóm nội dung 2)
Lấy ý kiến chuyên gia: tổ chức hội thảo để tọa đàm, tập hợp và chọn lọc
những ý kiến của các lãnh đạo doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà quản lý trong
.
Trang 13các lĩnh vực liên quan đến nội dung đề tài, bổ sung nội dung phân tích và các kiến nghị, đề xuất được sử dụng
4 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
4.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Hoạt động nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện dưới sự hỗ trợ của Cơ
quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tại Việt Nam (USAID) Báo cáo Chỉ số năng
lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) thường niên được xuất bản lần đầu tiên vào năm
2005 và duy trì đến nay đã xuất bản được 12 ấn phẩm Trong năm 2005, báo cáo PCI tập trung giới thiệu phương pháp luận xây dựng chỉ số PCI, cách tính trọng
số cho từng chỉ số thành phần và phương pháp thu thập số liệu Theo chu kỳ bốn năm một lần, báo cáo đề cập đến những thay đổi, những điều chỉnh lớn trong phương pháp luận gồm việc thêm, bớt và cải thiện chỉ tiêu các chỉ số thành phần, hiệu chỉnh lại các trọng số nhằm phản ánh các thay đổi trong nền kinh
tế, để tạo ra một thước đo chính xác và nhất quán về điều hành kinh tế cấp tỉnh theo thời gian Ở các năm còn lại, báo cáo chủ yếu tập trung phân tích và mô tả các kết quả thu thập được từ cuộc điều tra PCI hằng năm Dù báo cáo PCI thường niên đã mô tả được sơ lược bức tranh về năng lực điều hành kinh tế của chính quyền các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước và dần trở thành một trong những kênh tham khảo quan trọng đo lường thành công của các chương trình cải cách điều hành kinh tế của địa phương, báo cáo PCI thường niên còn quá tổng quát để các địa phương có thể đưa ra được các giải pháp cụ thể, khả thi
và phù hợp cho mỗi địa phương
Ngoài các báo cáo về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được công
bố thường niên, từ năm 2005 đến nay, có nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu, sử dụng số liệu thu thập được từ khảo sát PCI để phân tích đánh giá thêm về chỉ số này Tuy nhiên, những nghiên cứu đánh giá này chỉ dừng lại
ở mức độ các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành (Nguyễn &
Lê, 2014) trong nghiên cứu “Các thành phần của Chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh và tác động của chúng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các địa phương của Việt Nam” đã xác định mối quan hệ tác động giữa các thành
phần của chỉ số năng lực cạnh tranh PCI với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại các địa phương của Việt Nam thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy kinh tế lượng với dữ liệu bảng thu thập từ 63 tỉnh, thành phố trên
cả nước giai đoạn 2009-2012 (biến phụ thuộc là vốn FDI đăng ký mới, biến độc lập là các chỉ số thành phần cấu thành chỉ số PCI và các biến kiểm soát gồm
.
Trang 14GDP, lao động, diện tích sân bay và cảng biển của địa phương) Nghiên cứu kết luận rằng không phải tất cả các thành phần cấu thành nên chỉ số PCI đều có tác động đến việc thu hút FDI vào các địa phương mà chỉ có 2 chỉ số thành phần là tiếp cận đất đai, sự ổn định trong sử dụng đất đai và thiết chế pháp lý là có ý nghĩa thống kê
Tác giả Vương Đức Hoàng Quân (Vương, 2014) trong nghiên cứu “Tương
quan giữa chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và sự phát triển các doanh nghiệp địa phương” sử dụng số liệu thu thập từ năm 2006-2011 để nghiên cứu
phân tích mối tương quan giữa xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
và sự phát triển của doanh nghiệp địa phương Nghiên cứu chỉ ra rằng chưa có
sự tương quan giữa thứ hạng PCI và các chỉ số phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp, do vậy, cần thận trọng khi diễn dịch kết quả thứ hạng PCI của một địa phương đặc biệt là khi xem PCI như một động lực thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
Trong bài viết “Phát huy giá trị của các chỉ số PCI và PAPI để phát triển
kinh tế hiệu quả, bền vững” (Ngô, 2015), tác giả Ngô Thúy Quỳnh khẳng định
chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) được đánh giá cao bởi nó vừa mang ý nghĩa cảnh báo về năng lực điều hành của chính quyền cấp tỉnh, lại vừa có ý nghĩa mang tính thông điệp gửi đến các nhà đầu tư đang tìm kiếm địa điểm để “chọn mặt – gửi vàng” Song, giá trị của hai chỉ số này chưa thực sự được coi trọng và ứng
xử đúng mực trong phát triển kinh tế hiệu quả, bền vững
Một nghiên cứu khác về “Đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh bằng
phương pháp phân tích bao dữ liệu” của tác giả Ngô Đăng Thành (Ngô T Đ.,
2011) đã sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis – DEA) để đánh giá lại năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2009 Nghiên cứu đã trình bày lại phương pháp tính toán năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hiện tại
và những hạn chế của nó, đồng thời, giới thiệu phương pháp tính phân tích bao
dữ liệu và lấy phương pháp này làm đề xuất gợi ý triển khai đánh giá chỉ số PCI trong những năm tới
Ngoài ra, đã có một số nghiên cứu – trao đổi về chỉ số năng lực cạnh tranh PCI của một số địa phương cụ thể được công bố rộng rãi trên các tạp chí khoa học Ví dụ, tác giả Võ Thị Thúy Anh và Bùi Ngọc Như Nguyệt (Võ & Bùi,
2011) trong bài viết “Thành công của PCI Đà Nẵng và kinh nghiệm cho các
chính quyền địa phương” đã hệ thống lại kết quả PCI của Đà Nẵng trong ba
năm 2008, 2009 và 2010, đánh giá, phân tích kết quả này và rút ra một số bài
.
Trang 15học kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực điều hành cho chính quyền địa phương
Bài viết “Cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của TP Hà Nội”
của tác giả Trần Diệu Linh (Trần, 2015) cũng đã hệ thống lại kết quả xếp hạng của chỉ số PCI Hà Nội trong các năm qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện chỉ số PCI của Hà Nội Một nghiên cứu khác cũng tiếp cận chỉ số PCI
của Hà Nội mang tên “Hoạt động marketing lãnh thổ nhằm thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài của Hà Nội theo tiếp cận chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh”
(Nguyễn H Đ., 2013) của tác giả Nguyễn Đức Hải đã tập trung phân tích các hoạt động marketing lãnh thổ nhằm thu hút FDI theo cách tiếp cận chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Hà Nội Tác giả kết luận mặc dù còn nhiều ý kiến tranh luận về cách xác định, ý nghĩa và độ tin cậy của chỉ số PCI nhưng đây
là một kênh thông tin hữu dụng giúp các doanh nghiệp lựa chọn địa điểm đầu tư hoặc cân nhắc khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh
Tác giả Nguyễn Châu Trinh và Hoàng Sỹ Nam với nghiên cứu “Môi
trường kinh doanh của Hà Tĩnh thông qua chỉ số PCI” (Nguyễn & Hoàng) đã
đánh giá phân tích về môi trường cạnh tranh thông qua chỉ số PCI theo phương pháp so sánh và kiểm định thống kê Cụ thể, nghiên cứu đã thực hiện các so sánh chỉ số thống kê theo thời gian và kiểm định thống kê cặp (paired sample t-test) nhằm trả lời cho câu hỏi “liệu rằng năng lực cạnh tranh của Hà Tĩnh có thực sự cao hơn so với mức trung bình của cả nước và liệu rằng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Hà Tĩnh đã thực sự được cải thiện trong hai năm liên tiếp gần đây hay không?” Từ đó, nghiên cứu đưa ra các giải pháp cho Hà Tĩnh gồm: tiếp tục thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, công khai hóa các thủ tục hành chính, tăng cường công tác thanh tra kiểm tra nhằm phòng chống tham nhũng, lãng phí
Bài viết “Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bình
Dương” (Đại học Thủ Dầu Một, 2013) của Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một phân
tích đánh giá PCI của Bình Dương năm 2012, đưa ra một số nhận định đánh giá
và một số giải pháp chung nhằm cải thiện của số PCI của Bình Dương gồm: cải cách, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế pháp lý, phát triển và
đạ dạng hóa các lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp, nâng cao khả năng tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, giảm thiểu chi phí thời gian thực hiện các quy định của nhà nước, thực hiện các biện pháp giảm thiểu chi phí gia nhập thị trường, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác đào tạo lao động, phát huy tính
.
Trang 16minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí không chính thức và năng động tiên phong của lãnh đạo tỉnh…
Hội thảo “Giải pháp nâng cao chỉ số PAPI và PCI của Thành phố Hồ Chí
Minh” được tổ chức vào ngày 12/5/2016 tại Viện Nghiên cứu Phát triển Thành
phố Hồ Chí Minh đã thu hút được sự quan tâm và gửi bài tham luận của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đến từ các sở, ban ngành, các trường đại học và các
cơ quan nghiên cứu của Thành phố Các thảo luận trong hội thảo một lần nữa khẳng định cần phải có các nghiên cứu chuyên sâu về các chỉ số nói chung và chỉ số PCI nói riêng, nhằm đưa ra các giải pháp thực chất cải thiện năng lực điều hành kinh tế của chính quyền Thành phố, đáp ứng tốt hơn nhu cầu và nguyện vọng của doanh nghiệp, hạn chế tình trạng chạy theo thứ hạng xếp hạng như hiện tại
Tóm lại, những phân tích tổng quan các nghiên cứu trong nước trên cho thấy đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý và nhà làm chính sách quan tâm nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức độ tổng quát, chủ yếu dựa trên kết quả của Báo cáo Chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) thường niên và đưa ra các giải pháp, đề xuất chung chung, thiếu các giải pháp cụ thể nên gặp khó khăn trong quá trình triển khai trong thực tế Chưa có một nghiên cứu (đề tài khoa học) nào tập trung phân tích sâu vào chi tiết nội hàm từng chỉ số thành phần của địa phương (cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh), đặt trong mối quan hệ với các cơ chế, chính sách tại địa phương từ đó đề ra các giải pháp chi tiết và khả thi cho từng chỉ số thành phần cụ thể của địa phương
4.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
+ Nghiên cứu tổng quan về năng lực cạnh tranh
Diễn đàn Kinh tế thế giới đã có hơn 3 thập kỷ nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh (từ năm 1979) Tuy nhiên, công trình này không nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của riêng 1 quốc gia nào Thay vào đó, Diễn đàn Kinh tế Thế giới nghiên cứu năng lực cạnh tranh ở tầm quốc gia trên phạm
vi toàn cầu Trong quá trình xây dựng phương pháp luận trong bộ chỉ số PCI,
VCCI và USAID đã tham khảo và học hỏi khá nhiều từ Báo cáo năng lực cạnh
tranh toàn cầu (Global Competitiveness Report) Báo cáo năng lực cạnh tranh
toàn cầu là một nghiên cứu xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia được thực hiện qua nhiều thập kỷ và là công cụ để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của mỗi quốc gia Báo cáo này được thực hiện thông qua việc sử dụng các dữ liệu cứng
có sẵn được công khai của mỗi quốc gia, kết hợp với thông tin thu thập được từ
.
Trang 17Cuộc khảo sát ý kiến nhà quản lý (Executive Opinion Survey) Cuộc khảo sát ý kiến nhà quản lý được Diễn đàn Kinh tế Thế giới thực hiện hằng năm trên phạm
vi toàn cầu Qua khảo sát này, các lãnh đạo điều hành doanh nghiệp ở các quốc gia đánh giá tầm quan trọng của một loạt những yếu tố trung tâm tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh thành công và hiệu quả tại các doanh nghiệp: thuế và môi trường pháp lý, luật lao động, tổng quan môi trường kinh tế vĩ mô, sự phổ biến của tham nhũng, chất lượng của cơ
sở hạ tầng của quốc gia và những quy định khác trong nền kinh tế nói chung Phương pháp được sử dụng để đánh giá môi trường cạnh tranh quốc gia của Diễn đàn Kinh tế Thế giới được điều chỉnh theo thời gian, có tính đến những thay đổi mới có tác động đến năng lực cạnh tranh và phát triển
Một cột mốc quan trọng trong phương pháp đánh giá môi trường cạnh tranh quốc gia đạt được vào năm 2000 Dưới sự hợp tác với giáo sư Jeffrey Sachs và
John McArthur trong nghiên cứu “The Growth Competitiveness Index:
Measuring Technoligical Advancement and the Stages of Development”, năm
2000, Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã giới thiệu chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index – GCI) với 3 “trụ cột” chính được thừa nhận rộng rãi là có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế gồm: chất lượng của môi trường kinh tế vĩ mô, tình trạng của các cơ quan hành chính công của quốc gia và sự tiến bộ trong công nghệ của một quốc gia Cũng trong năm
2000, với “The Microeconomic Foundations of Prosperity: Findings from the
Business Competitiveness Index”, chỉ số năng lực cạnh tranh kinh doanh (BCI)
của giáo sư Michael Porter được giới thiệu là một sự bổ sung đặc biệt hữu ích cho Chỉ số GCI, chỉ số này đặc biệt nhấn mạnh đến một loạt các yếu tố tác động
cụ thể lên các công ty và tạo thuận lợi để cải thiện hiệu quả năng suất lao động ở cấp độ vi mô Cụ thể, BCI đánh giá những điều kiện vi mô cơ bản trong 02 lĩnh vực cụ thể xác định mức độ bền vững hiện tại của năng suất trong mỗi quốc gia: thực tiễn điều hành, chiến lược của mỗi công ty và chất lượng của môi trường kinh doanh vi mô
Đến năm 2004, trong nghiên cứu “The Growth Competitiveness Index:
Analyzing Key Underpinnings of Sustained Economic Growth”, giáo sư Xavier
Sala-i-Martin đã tạo ra Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (Golbal
Competitiveness Index - GCI), chỉ số này bao gồm cả các yếu tố cạnh tranh của
môi trường vĩ mô và môi trường vi mô Từ đó, trong các báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu, chỉ số GCI được phân tích và mô tả cùng với chỉ số BCI Đến năm 2008, dưới sự dẫn dắt của giáo sư Porter, Diễn đàn Kinh tế Thế giới giới
thiệu chỉ số cạnh tranh toàn cầu mới (New GCI) với mong muốn bước một bước
.
Trang 18tiến mới trong cả phương pháp đánh giá chỉ số và chất lượng của Cuộc khảo sát
ý kiến nhà quản lý Chỉ số cạnh tranh toàn cầu mới sẽ tập trung vào các yếu tố quyết định mức năng suất mà một quốc gia có thể duy trì Dữ liệu sẽ được lấy từ các nguồn dữ liệu được công bố và từ cuộc khảo sát hàng nghìn nhà điều hành doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu hàng năm Để nắm bắt được những sự phát triển và thay đổi mới, Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã bắt tay vào quá trình xem xét và hiệu chỉnh chỉ số GCI mỗi 2 năm một lần Bằng cách làm này, chỉ số GCI được cập nhật sẽ cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp cũng như người dân một đánh giá hiệu quả kinh tế của quốc gia tốt nhất
có thể
+ Nghiên cứu liên quan đến các chỉ số thành phần cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Nghiên cứu nghiên cứu cộng tác với Ngân hàng Thế giới “Land Rights and
Economic Development: Evidence from Vietnam” (năm 2003) của tác giả Đỗ
Quý Toàn và Lakshmilyer đánh giá tác động của cải cách ruộng đất ở Việt Nam
đã mang đến cho các hộ gia đình quyền trao đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa
kế và thế chấp quyền sử dụng đất của họ Mô hình dự đoán khác-biệt của nhóm tác giả tận dụng thực tế những quy trình thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác nhau giữa các tỉnh thành, nghiên cứu chỉ ra rằng việc gia tăng các quyền trên thửa đất sẽ dẫn đến sự gia tăng đáng kể diện tích đầu tư cho các giống cây trồng lâu năm, cũng như gia tăng đầu tư cho thủy lợi Những tác động này sẽ mạnh mẽ hơn ở những địa phương mà người dân cảm nhận được tác động của cuộc cải cách ruộng đất sớm hơn
sự-khác-biệt-trong-Báo cáo “Best practices: Enhancing Transparency for the Business
Environment in Cities and Provinces in Vietnam” (Các thực hành tốt: Tăng
cường minh bạch cho môi trường kinh doanh tại các thành phố và các tỉnh thành
ở Việt Nam) (Vietnam Chamber of Commerce and Industry, 2011) được Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện dưới sự hỗ trợ của Quỹ Châu Á (TAF) đã nghiên cứu phân tích những thực hành tốt nhất để tăng cường tính minh bạch tại các địa phương của Việt nam Báo cáo giới thiệu một vài thực hành tốt quan trọng đang áp dụng tại một số địa phương và sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam ngày càng phát triển nếu như các thực hành tốt này được chia sẻ và áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước Báo cáo đã góp phần vào việc thúc đẩy hơn nữa sự trao đổi kinh nghiệm về biện pháp làm tăng cường tính minh bạch cho môi trường kinh doanh giữa các địa phương trên cả nước
.
Trang 19Nghiên cứu “Does the Invisible Hand Need a Transparent Glove? The
Politics of Transparency” của Kaufman, Diniel và cộng sự (2002) nhận định
minh bạch như là một lời giải cho các vấn đề khác nhau của xã hội: biến động tài chính, suy thoái môi trường, tham nhũng, rửa tiền… Tuy nhiên, công tác minh bạch đối mặt với nhiều phản đối, đặc biệt là phản đối từ những người đang chịu sự giám sát (những người này thường có động lực mạnh mẽ để từ chối cung cấp thông tin) Nhằm giải thích sự gia tăng nhu cầu minh bạch và đánh giá triển vọng thành công của nó đòi hỏi phải chú ý đến các vấn đề chính trị - đó là, quyền lực Bài báo này nghiên cứu minh bạch chính trị - tại sao vấn đề này ngày càng nổi cộm, những thuận lợi và khó khăn vốn có của việc dựa vào minh bạch
để giải quyết các vấn đề toàn cầu
Nghiên cứu “Informality and the Playing Field in Vietnam’s Business
Sector” của nhóm tác giả Tenev, Stoyan, Amanda Carlier, Ormar Chaudry và
Nguyễn Phương Quỳnh Trang (2003) tìm hiểu về môi trường kinh doanh của Việt Nam từ góc độ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tập trung vào sự không chính thức và sự bình đẳng của sân chơi kinh doanh của Việt Nam Nghiên cứu dựa vào những phát hiện từ một cuộc khảo sát doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư như ở 11 thành phố của Việt Nam Nghiên cứu phản ánh quan điểm của các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh và tích hợp những thông tin phản hồi từ các thảo luận với các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia tài chính, và đại diện của các tổ chức quốc tế Nghiên cứu chỉ ra rằng có những cải tiến quan trọng đã diễn ra trong môi trường kinh doanh Việt Nam Nó cũng xác định những khu vực nơi các quy định chính sách có thể giúp tạo ra một khuôn khổ minh bạch hơn và thậm chí là những sân chơi bình đẳng cho khu vực tư nhân, khu vực nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Bài báo “Towards Transparency in Finance and Governance” của 2 tác
giả Tara Wishwanath, Tara và Daniel Kaufmann (WorldBank, 1999) phác thảo một khung lý thuyết để xác định và đo lường tính minh bạch từ đó nêu lên vai trò của minh bạch trong việc thúc đẩy một nền tài chính ổn định hơn Bài báo cũng đã làm rõ những mối liên kết song hành giữa thị trường tài chính và quản
lý nhà nước qua minh họa bằng tình huống của Indonesia
“Measuring Governance Corruption, and State Capture: How Firms and Bureaucrats Shape the Business Environment in Transition Economies” là một
báo cáo chính sách do Hellman, Joel và cộng sự thực hiện vào năm 2002 dựa vào số liệu của cuộc khảo sát Môi trường kinh doanh và hiệu suất doanh nghiệp (BEEPS) được thực hiện vào năm 1999 trên khoảng 3000 công ty tại 20 quốc
.
Trang 20gia Cuộc khảo sát tập trung vào quản trị, tham nhũng, và mô hình nhà nước Khảo sát BEEPS được thiết kế để mở rộng những giới hạn thực nghiệm trong việc phân tích quản trị và tham nhũng tại các quốc gia và ở tầm công ty
Nghiên cứu “Firm growth and corruption: empirical Evidence from
Vietnam” do nhóm tác giả Jie Bai, Seema Jayachandran, Edmund J Malesky, và
Bejamin A.Olken thực hiện (2016) đã kiểm định liệu sự tăng trưởng vững chắc
có làm giảm tham nhũng, sử dụng số liệu từ hơn 13.000 doanh nghiệp Việt Nam Nghiên cứu phát hiện rằng sự tăng trưởng vững vàng sẽ làm giảm hối lộ Nhóm tác giả tiếp tục lập một mô hình về cơ chế mà theo đó, các quyết định của các quan chức chính phủ về việc nhận hối lộ được điều chế bởi sự cạnh tranh giữa các thẩm quyền Mô hình dự báo rằng tác động ngược chiều giữa tăng trưởng và hối lộ sẽ càng lớn nếu các doanh nghiệp chuyển dời địa điểm nhiều hơn Phù hợp với dự báo này, số liệu thống kê chỉ ra rằng có các tác động lớn hơn đối với những doanh nghiệp có quyền sử dụng và chuyển nhượng đất đai của họ và đối với những doanh nghiệp có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh cùng lúc
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của các địa phương (cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh) giai đoạn 2006-2016
6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được mục tiêu đề ra, nhóm nghiên cứu triển khai 03 nhóm nội dung sau:
Nhóm 1: Đánh giá phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh (PCI) Trước khi đi vào đánh giá phương pháp xây dựng chỉ số PCI của VCCI và USAID, nhóm nghiên cứu mô tả tổng quan về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (khái niệm, ý nghĩa và các chỉ số cấu thành, những điều chỉnh trong các chỉ số cấu thành PCI giai đoạn 2005-2016); trình bày phương pháp luận xây dựng chỉ số PCI (thiết kế bảng hỏi, chọn mẫu, thu thập số liệu, các tính trọng số và xây dựng chỉ số tổng hợp có trọng số) Sau đó, nhóm nghiên cứu đánh giá những tác động của chỉ số PCI đối với công tác cải cách điều hành ở các địa phương và rút ra một số nhận định về phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hiện tại
Nhóm 2: Nghiên cứu thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2016 Ở nhóm nội dung này, trước tiên, nhóm nghiên cứu mô tả sơ lược bức tranh tất cả các chỉ số thành phần cấu
.
Trang 21thành nên chỉ số PCI giai đoạn 2006-2016 Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu chọn ra 6/10 chỉ số thành phần của Thành phố Hồ Chí Minh tương đối yếu kém hơn khi so sánh với các chỉ số thành phần còn lại và khi so sánh với các tỉnh thành trên cả nước Sau khi đã chọn được 6/10 chỉ số thành phần tương đối yếu kém này, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích chi tiết nội hàm từng chỉ số Cụ thể, nhóm nghiên cứu: thống kê mô tả và phân tích nội hàm từng chỉ số qua các năm, so sánh điểm số chỉ số qua các năm và so sánh với các thành phố lớn trên
cả nước; hệ thống những cơ chế, chính sách liên quan đến từng chỉ số trong giai đoạn 2006-2016; từ đó, phân tích những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến sự yếu kém của từng chỉ số này
Nhóm 3: Trên cơ sở những phân tích, nghiên cứu của 2 nhóm nội dung
trên, nhóm nghiên cứu đề ra những kiến nghị và đề xuất nhằm cải thiện điểm số của 6/10 chỉ số thành phần được lựa chọn để phân tích ở nhóm nôi dung thứ 2, góp phần cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI của Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn tổng hợp một bản kiến nghị chung gửi Ủy bản nhân dân Thành phố nhằm góp phần cải thiện chất lượng, điểm số và thứ hạng của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI của Thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai
.
Trang 22CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CHỈ SỐ NĂNG
1.1.1.2 Ý nghĩa
Dự án chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI là dự án hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), được thực hiện thí điểm lần đầu tiên vào năm
2005 (nghiên cứu 42 tỉnh thành) Từ năm 2006 đến nay, dự án nghiên cứu đánh giá và xếp hạng chỉ số PCI trên tất cả các tỉnh thành của Việt Nam, báo cáo Chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được công bố đều đặn hằng năm Dự án này nhằm mục tiêu xây dựng một chỉ số phản ánh được tiếng nói chung của cộng đồng doanh nghiệp dân doanh về môi trường kinh doanh của địa phương (dựa trên kết quả của các khảo sát đảm bảo mang tính đại diện của cộng đồng doanh nghiệp dân doanh của các địa phương) Từ đó, PCI trở thành kênh thông tin tốt đối với chính quyền các cấp trong việc xác định môi trường kinh doanh của địa phương, giúp lãnh đạo địa phương có những định hướng phù hợp trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương Trên thực tế, sau hơn 01 thập kỷ triển khai, chỉ số PCI đã dần trở thành một trong những công cụ quan trọng phản ánh nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam; lãnh đạo các địa phương có xu hướng sử dụng chỉ
số PCI làm thước đo thành công của các chương trình cải cách về điều hành kinh tế của địa phương
1.1.2 Các chỉ số cấu thành PCI và những thay đổi, điều chỉnh trong các chỉ
số cấu thành giai đoạn 2005-2016
.
Trang 23Khi thực hiện thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005, chỉ số PCI được cấu
thành từ 09 chỉ số thành phần, gồm: chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước, chi phí không chính thức, thực hiện chính sách của trung ương,
ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, và chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Từ năm 2006, nghiên cứu PCI được thực hiện trên phạm vi tất cả các
tỉnh/thành phố của cả nước Trong năm 2006, nhóm nghiên cứu loại bỏ chỉ số
thành phần - thực hiện chính sách của trung ương (năm 2005) và thêm vào hai chỉ số thành phần đánh giá hai lĩnh vực quan trọng của môi trường kinh doanh: đào tạo lao động và thiết chế pháp lý Như vậy, từ năm 2006, chỉ số PCI được cấu thành từ 10 chỉ số thành phần, gồm: chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước, chi phí không chính thức, ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước và môi trường cạnh tranh, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, chính sách phát triển khu vực kinh tế
tư nhân, đào tạo lao động, và thiết chế pháp lý Mười chỉ số thành phần cấu
thành chỉ số PCI này được giữ nguyên trong năm 2007 và năm 2008
Đến năm 2009, có nhiều thay đổi trong các chỉ số thành phần cấu thành
PCI Thay đổi lớn nhất của năm 2009 là việc lược bỏ chỉ số thành phần “Ưu đãi
đối với doanh nghiệp nhà nước” (chỉ còn lại 09 chỉ số thành phần) Bên cạnh
thay đổi lớn này, nhóm nghiên cứu PCI cũng tiến hành một số thay đổi nhỏ đối với các chỉ tiêu cấu thành PCI nhằm phản ánh kịp thời những thay đổi của môi trường kinh doanh Việt Nam Một số thay đổi nhỏ có thể kể đến như: trong chỉ
số thành phần “chi phí gia nhập thị trường”, nhóm nghiên cứu PCI xây dựng được thước đo cho phép đánh giá trực tiếp chi phí tài chính và thời gian khi thực hiện các thủ tục hành chính trong việc xin các giấy phép cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp; chỉ số thành phần “tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất” được cập nhật để phản ánh những vấn đề hiện tại; trong chỉ số “tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin”, một số chỉ tiêu đã được lược bỏ do không còn phù hợp; thay đổi quan trọng nhất đối với chỉ số thành phần “chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước” là việc bổ sung tập hợp các câu hỏi đánh giá những tiến bộ trong việc thực hiện các cam kết về cải cách thủ tục hành chính; đối với chỉ số thành phần “chi phí không chính thức”, một tiêu chí mới được bổ sung để xác định liệu các doanh nghiệp đấu thầu các hợp đồng của chính phủ có phải chi hoa hồng theo tỷ lệ giá trị hợp đồng hay không; chỉ số thành phần “tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh” bổ sung một chỉ
.
Trang 24tiêu mới về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân… Bên cạnh những thay đổi trong chỉ số cấu thành, phương pháp tính trọng số trong nghiên cứu PCI cũng được thay đổi nhằm giúp đọc giả dễ tiếp cận hơn với kết quả của nghiên cứu PCI (sẽ phân tích thêm ở các nội dung phía sau) (VCCI & USAID, 2009) Như vậy, trong năm 2009, nhằm phản ánh kịp thời những thay đổi của môi trường kinh doanh Việt Nam, nhóm nghiên cứu PCI đã có nhiều thay đổi và điều chỉnh trong phương pháp luận của chỉ số PCI
Trong năm 2010, lần đầu tiên dự án PCI thực hiện điều tra các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) Điều tra PCI 2010 thu thập ý kiến của 1.155 doanh nghiệp mang tính đại diện cao đến từ khắp 63 tỉnh,
thành của cả nước Từ năm 2010 trở đi, khảo sát doanh nghiệp dân doanh và
doanh nghiệp FDI vẫn được tiến hành song song trong các nghiên cứu PCI Trong năm 2010, năm 2011, năm 2012, chín chỉ số thành phần cấu thành nên chỉ
số PCI vẫn không có gì thay đổi so với năm 2009
Theo dự kiến của nhóm nghiên cứu Đề án PCI, chỉ số PCI sẽ phải được
hiệu chỉnh 04 năm một lần để cập nhật các thay đổi trong nền kinh tế Đến năm
2013, dự án chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI đã có một số thay đổi lớn
nhằm cập nhật các thay đổi trong nền kinh tế Cụ thể, báo cáo PCI 2013 đã sử dụng lại và cải thiện chỉ số thành phần “ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước” (đã bị loại bỏ từ năm 2009) thành chỉ số thành phần mới về “cạnh tranh bình đẳng” Chỉ số “cạnh tranh bình đẳng” được xây dựng gồm 03 khía cạnh: 1) ưu đãi đối với DNNN do Nhà nước quản lý; 2) ưu đãi đối với doanh nghiệp FDI; và 3) ưu đãi đối với các công ty lớn và thân quen Chỉ số này gồm các chỉ tiêu đo lường cụ thể các hình thức ưu đãi làm mất bình đẳng sân chơi dành cho các doanh nghiệp trong nước thuộc khu vực tư nhân Trong năm 2013, nhóm nghiên cứu Đề án PCI cũng thêm, bớt và cải thiện chỉ tiêu của các chỉ số thành phần
còn lại Như vậy, từ năm 2013, chỉ số PCI được cấu thành từ 10 chỉ số thành
phần Ngoài ra, trong năm 2013, nhóm nghiên cứu cũng đã hiệu chỉnh lại các
trọng số nhằm phản ánh các thay đổi trong nền kinh tế
Trong năm 2014, năm 2015 và năm 2016, các chỉ số thành phần cấu thành
chỉ số PCI và cách tính trọng số cho từng chỉ số thành phần không có thay đổi so với năm 2013 Tuy nhiên, khảo sát PCI trong năm 2014 và năm 2015 đã tích hợp thêm nội dung đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp đối với đàm phán gia nhập TPP của Việt Nam Nghiên cứu PCI trong 02 năm này đã thăm dò mức độ hiểu biết, mức độ ủng hộ hiệp định nói chung hay đối với các lĩnh vực cụ thể, dự đoán về tác động của hiệp định đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
.
Trang 25Khảo sát PCI đã so sánh cụ thể quan điểm khác nhau của doanh nghiệp dân
doanh trong nước, doanh nghiệp FDI tới từ nước là thành viên TPP, và doanh
nghiệp FDI tới từ nước không đàm phán hiệp định này Khảo sát PCI năm 2016
bổ sung thêm nội dung đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp về các vấn đề môi
trường (tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của sự cố Formosa đến vấn đề nhận
thức và tuân thủ các quy định về môi trường của doanh nghiệp)
Bảng 1.1: Các chỉ số thành phần cấu thành chỉ số PCI giai đoạn 2005-2016
2005
+ Chi phí gia nhập thị trường
+ Tiếp cận đất đai
+ Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
+ Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà
nước
+ Chi phí không chính thức
+ Thực hiện chính sách của trung ương
+ Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước
+ Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
+ Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Khảo sát thí điểm tại 42 tỉnh/ thành phố
2006
2007
2008
+ Chi phí gia nhập thị trường
+ Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
+ Tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin
+ Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà
nước
+ Chi phí không chính thức
+ Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước và môi trường
cạnh tranh
+ Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
+ Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân
+ Đào tạo lao động
Từ năm 2006 trở đi, khảo sát được thực hiện trên phạm vi tất cả các tỉnh/thành phố của Việt Nam
.
Trang 26+ Thiết chế pháp lý
2009
+ Chi phí gia nhập thị trường
+ Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
+ Tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin
+ Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà
Phương pháp tính trọng
số trong nghiên cứu PCI được thay đổi nhằm giúp đọc giả dễ tiếp cận hơn với kết quả của nghiên cứu PCI
2010
2011
2012
+ Chi phí gia nhập thị trường
+ Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
+ Tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin
+ Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà
2013
+ Chi phí gia nhập thị trường
+ Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
+ Tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin
+ Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà
nước
+ Chi phí không chính thức
+ Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Thêm, bớt và cải thiện chỉ tiêu của các chỉ số thành phần
Hiệu chỉnh lại các trọng
số nhằm phản ánh các thay đổi trong nền kinh
tế
.
Trang 27+ Chi phí gia nhập thị trường
+ Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
+ Tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin
+ Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà
Trong năm 2016, khảo sát PCI bổ sung thêm nội dung đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp về các vấn đề môi trường
Nguồn: (VCCI & USAID, Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt
Nam 2005-2016)
1.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN XÂY DỰNG CHỈ SỐ PCI
Phương pháp luận của nghiên cứu PCI được mô tả rất đầy đủ và chi tiết
trong các báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam những năm
đầu (gồm báo cáo PCI năm 2005, năm 2006, năm 2007) Từ năm 2008 trở đi,
báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chỉ tập trung nhiều vào việc phân
tích kết quả khảo sát và nghiên cứu thêm một số nội dung bổ sung có tính thời
sự trong năm, ví dụ: tác động của chỉ số PCI và các hàm ý chính sách (năm
2008), tác động của việc mở rộng Hà Nội (năm 2009), chi phí không chính thức
(năm 2010)…; báo cáo PCI từ năm 2008 trở đi chỉ đề cập các nội dung thay đổi,
điều chỉnh, bổ sung liên quan đến phương pháp luận trong nghiên cứu thường
niên (nếu có) Dựa vào nội dung các báo cáo PCI giai đoạn 2005-2016, chúng
tôi sẽ hệ thống lại những nội dung cơ bản liên quan đến phương pháp thu thập số
liệu khách quan, ý nghĩa của việc thu thập các số liệu này; phương pháp triển
khai thu thập số liệu chủ quan (gồm phương pháp thiết kế bảng hỏi, phương
.
Trang 28pháp chọn mẫu và cách thức tiến hành điều tra trong nghiên cứu PCI); những điều chỉnh, bổ sung (nếu có) trong các nghiên cứu PCI thường niên
Từ khi bắt đầu triển khai vào năm 2005 đến nay, nghiên cứu PCI tiếp cận
số liệu thông qua 02 kênh chính: số liệu khách quan và số liệu chủ quan Theo
quan điểm của nhóm nghiên cứu PCI, số liệu chủ quan là những số liệu thể hiện
đánh giá, cảm nhận của doanh nghiệp về năng lực cạnh tranh của tỉnh Đây đều
là những số liệu sơ cấp, được nhóm nghiên cứu PCI thu thập thông qua các cuộc điều tra PCI thường niên Bệnh cạnh đó, PCI còn tiến hành thu thập số liệu từ
các nguồn khác (được nhóm nghiên cứu gọi là nguồn số liệu khách quan) Các
số liệu khách quan này chủ yếu lấy nguồn từ các số liệu thứ cấp đã được các tổ chức khác công bố Ngoài ra, PCI cũng tiến hành phỏng vấn sâu bên thứ ba, đo lường độ rõ ràng của các website tỉnh… và xem đây là các nguồn số liệu khách
quan (vì không phải do doanh nghiệp đánh giá) Nguồn số liệu khách quan được
nhóm nghiên cứu PCI kết hợp với nguồn số liệu chủ quan để tính toán ra chỉ số tổng hợp cuối cùng trong các báo cáo PCI
1.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
1.2.1.1 Thu thập số liệu khách quan
+ Lý do cần thu thập số liệu khách quan
Trong nghiên cứu PCI, những số liệu không được thu thập từ việc khảo sát doanh nghiệp được nhóm nghiên cứu gọi là số liệu khách quan Số liệu khách quan được sử dụng như là một nguồn kết hợp với số liệu chủ quan để phục vụ cho việc tính toán chỉ số tổng hợp cuối cùng trong các báo cáo PCI Vậy, tại sao phải thu thập số liệu khách quan? Nhóm nghiên cứu đưa ra 03 lý do cần thu thập
số liệu khách quan như sau:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu sử dụng số liệu khách quan để hạn chế vấn đề
“chuẩn so sánh”, nghĩa là, hạn chế được hiện tượng các doanh nghiệp ở các tỉnh khác nhau có mốc so sánh khác nhau Nhóm nghiên cứu cho rằng vấn đề “chuẩn
so sánh” này có thể có tác động đáng kể đến kết quả nghiên cứu PCI Theo cách
lý giải của nhóm nghiên cứu, các doanh nghiệp (thường với quy mô vừa và nhỏ) chỉ hoạt động giới hạn trong một địa phương thường không biết nhiều về chất lượng quản lý hành chính của các tỉnh lân cận (đặc biệt là các tỉnh ở xa địa phương của họ) Vì vậy, trong các câu hỏi yêu cầu các doanh nghiệp phải xếp hạng chất lượng của chính sách ở tỉnh theo thang điểm cho trước, họ có thể đưa
ra các xếp hạng thấp hơn hay cao hơn so với đánh giá của một nhà quan sát độc lập có hiểu biết về môi trường quản lý điều hành của các tỉnh Không có một mô
.
Trang 29hình lý tưởng nào để các doanh nghiệp sử dụng tham chiếu để đánh giá điểm số của tỉnh mình Vì vậy, nếu chỉ sử dụng duy nhất nguồn số liệu chủ quan (thu thập từ các cuộc khảo sát doanh nghiệp thường niên) để phục vụ cho việc tính toán chỉ số tổng hợp cuối cùng thì vấn đề “chuẩn so sánh” là không tránh khỏi
Thứ hai, việc thu thập số liệu khách quan còn nhằm mục tiêu tính toán các
điều kiện truyền thống (chất lượng cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận thị trường, nguồn vốn con người) – được sử dụng trong tính toán trọng số của các chỉ số cấu thành Mục tiêu của nhóm nghiên cứu là loại bỏ ảnh hưởng của điều kiện truyền thống tới kết quả phát triển kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân Nói cách khác, nghiên cứu PCI chỉ giữ lại những ảnh hưởng đến kết quả phát triển kinh tế của khu vực tư nhân có được từ công tác quản lý và điều hành của chính quyền tỉnh
Thứ ba, việc thu thập số liệu khách quan nhằm phục vụ cho việc đo lường
đóng góp tương đối của các chỉ số thành phần để tính toán trọng số tương ứng Mục tiêu của việc đo lường này là để gán trọng số cho các chỉ số cấu thành trong tính toán chỉ số PCI cuối cùng
+ Các phương pháp thu thập số liệu khách quan
Số liệu khách quan được nhóm nghiên cứu PCI thu thập khá công phu Đầu tiên, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập càng nhiều càng tốt các số liệu cứng đã được công bố từ nhiều nguồn khác nhau: từ những ấn phẩm thống kê lớn như Niên giám thống kê, Thống kê lao động của Bộ LĐTBXH, Cuộc tổng điều tra doanh nghiệp của GSO, những ấn phẩm của Ngân hàng Thế giới, Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Chương trình phát triển Liên hợp quốc, số liệu và mục tiêu phân bổ ngân sách ở cấp tỉnh do Bộ Tài chính xây dựng (được lấy từ website của Bộ)
Bên cạnh các số liệu cứng sẵn có này, nhóm nghiên cứu còn tiến hành phỏng vấn sâu bên thứ ba Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn các công ty cung cấp dịch vụ hậu cần và vận tải hàng hóa để thu thập số liệu về chi phí vận chuyển bằng đường biển; phỏng vấn các công ty kinh doanh bất động sản và các hiệp hội doanh nghiệp ở địa phương nhằm thu thập thông tin về giá đất ở một số trục đường chính của tỉnh và giá cả trung bình của các dịch vụ thiết yếu như điện, nước; phỏng vấn các ngân hàng thương mại nhà nước về thông tin liên quan đến các khoản vay họ dành cho các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân ở địa phương
.
Trang 30Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn đo lường về tính mở của các website tỉnh, thực hiện các phân tích riêng của nhóm nghiên cứu về nguồn thông tin được các tỉnh đăng tải trên các website chính thức của họ (www.tentinh.gov.vn)
1.2.1.2 Thu thập số liệu chủ quan
+ Thiết kế phiếu điều tra
Phiếu điều tra của nghiên cứu PCI trong năm 2005 được thiết kế dựa trên bảng hỏi của nghiên cứu điều hành kinh tế cấp tỉnh mà VCCI và Quỹ Châu Á tiến hành vào đầu năm 2003 (có điều chỉnh lại cho phù hợp với nội dung nghiên cứu PCI) Cụ thể, phiếu điều tra PCI 2005 dài 22 trang, gồm 71 câu hỏi về các thông tin cơ bản trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và mười hai lĩnh vực khác nhau trong hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền tỉnh Trong phiếu điều tra PCI 2005, một số câu hỏi được kế thừa (có điều chỉnh) từ Cuộc điều tra về kết quả hoạt động của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới; tuy nhiên, phần lớn các câu hỏi được thiết kế riêng, đặt trong bối cảnh của Việt Nam Phiếu điều tra của các năm
2006, năm 2007, năm 2008 được cập nhật từ phiếu điều tra năm 2005
Trong năm 2009, nghiên cứu PCI đã tiến hành một số thay đổi trong các chỉ số cấu thành PCI (ví dụ: lược bỏ chỉ số thành phần ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước, thực hiện một số điều chỉnh trong các chỉ số thành phần: chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin ) Theo đó, phiếu điều tra của năm
2009 cũng được cập nhật lại cho phù hợp với những thay đổi trong phương pháp luận nhằm phản ánh kịp thời những thay đổi của môi trường kinh doanh Việt Nam Từ năm 2010 trở đi, khảo sát doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp FDI được tiến hành song song trong các nghiên cứu PCI Vì vậy, từ năm 2010, phiếu điều tra trong nghiên cứu PCI chia ra 2 loại: phiếu điều tra doanh nghiệp dân doanh và phiếu điều tra doanh nghiệp FDI
Nhằm cập nhật các thay đổi trong nền kinh tế, chỉ số PCI được hiệu chỉnh
04 năm một lần Đến năm 2013, dự án chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
đã có một số thay đổi lớn nhằm cập nhật các thay đổi trong nền kinh tế Dự kiến, phương pháp luận của nghiên cứu PCI sẽ tiếp tục có điều chỉnh lớn trong năm
2017 Ngoài ra, khảo sát PCI trong năm 2014 và năm 2015 đã tích hợp thêm nội dung đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp đối với đàm phán gia nhập TPP của Việt Nam; khảo sát PCI trong năm 2016 đã bổ sung thêm nội dung đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp về các vấn đề môi trường Như vậy, phiếu điều tra của những năm có sự thay đổi này cũng được cập nhật lại cho phù hợp
.
Trang 31Trong các năm đầu thực hiện nghiên cứu PCI, các câu hỏi được dịch cẩn thận sang tiếng Việt, sau đó dịch một lần nữa sang tiếng Anh để đảm bảo tính chính xác trong ngữ nghĩa Số lượng câu hỏi và số lượng trang của phiếu điều tra qua các năm có điều chỉnh nhằm phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của năm
và tình hình thực tế của Việt Nam Tuy nhiên nhìn chung, cấu trúc của phiếu điều tra vẫn gồm 2 phần: phần điều tra các thông tin cơ bản về doanh nghiệp và phần điều tra đánh giá của doanh nghiệp về các lĩnh vực khác nhau trong hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền tỉnh Tóm lại, phiếu điều tra của nghiên cứu PCI được nhóm nghiên cứu thiết kế khá kỹ và bài bản, được cập nhật kịp thời nhằm phản ánh được tình hình thực tế của Việt Nam
+ Phương pháp chọn mẫu
Nhóm nghiên cứu PCI sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng cho cuộc khảo sát doanh nghiệp PCI thường niên Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng là một trong những phương pháp chọn mẫu phổ biến trong các nghiên cứu khoa học Trước tiên, phân chia tổng thể thành các tổ theo
1 hoặc nhiều tiêu thức (tùy mục đích nghiên cứu mà lựa chọn tiêu thức nào để phân tổ) Sau đó, trong từng tổ, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản hoặc phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống để chọn ra các đơn vị mẫu Đối với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, số đơn vị mẫu chọn
ra trong mỗi tổ có thể tuân thủ tỷ lệ số đơn vị tổ đó chiếm trong tổng thể, tuy nhiên, tùy vào mục tiêu nghiên cứu, việc chọn các đơn vị mẫu trong mỗi tổ
không nhất thiết phải tuân theo tỷ lệ này Invalid source specified
Nghiên cứu PCI tuân thủ rất chặt chẽ phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng Đầu tiên, nhóm nghiên cứu lấy danh sách các doanh nghiệp đang nộp thuế ở mỗi địa phương từ Tổng cục thuế Nhóm nghiên cứu cho rằng danh sách các doanh nghiệp nộp thuế từ Tổng cục thuế sẽ đáng tin cậy hơn danh sách của
Sở Kế hoạch Đầu tư ở các địa phương là do danh sách các doanh nghiệp của Sở
Kế hoạch Đầu tư địa phương không phản ánh thực chất số doanh nghiệp đang hoạt động Ngoài ra, địa chỉ và số điện thoại từ cơ quan thuế sẽ chính xác hơn,
do đó, phục vụ cho cuộc khảo sát tốt hơn
Với mục tiêu đánh giá môi trường kinh doanh ở các tỉnh và so sánh giữa các tỉnh với nhau, đơn vị mẫu trong nghiên cứu PCI không thể chọn ở cấp độ quốc gia mà phải chọn theo tỷ lệ các doanh nghiệp ở các tỉnh Nói cách khác, mẫu điều tra phần lớn sẽ tập trung ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Để tiến hành chọn mẫu tỷ lệ theo tỉnh, trên cơ sở danh sách được cung cấp từ Tổng cục thuế, nhóm nghiên cứu tiến hành nhóm các doanh nghiệp theo loại hình (các hộ
.
Trang 32kinh doanh cá thể, công ty TNHH, công ty cổ phần), theo ngành kinh tế (sản xuất công nghiệp, khai thác tài nguyên thiên nhiên, dịch vụ và thương mại, nông nghiệp), theo tuổi của doanh nghiệp (doanh nghiệp được thành lập trước hay sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực) Quy mô của doanh nghiệp không được sử dụng là tiêu thức để phân tổ vì nhóm nghiên cứu cho rằng quy mô sẽ có mối tương quan cao với loại hình doanh nghiệp Như vậy, doanh nghiệp của mỗi tỉnh
sẽ được phân ra thành 24 tổ Sau đó, các doanh nghiệp mới được lựa chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ của từng tổ
Hình 1.1: Tiêu thức phân tổ để chọn mẫu trong khảo sát PCI
Nguồn: (VCCI & USAID, 2006)
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được nhóm nghiên cứu áp dụng rất bài bản trong bước chọn mẫu cho khảo sát PCI thường niên Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu đã không sử dụng phương thức điều tra trực tiếp để thu thập
số liệu Nhóm nghiên cứu thừa nhận ưu điểm của phương pháp điều tra trực tiếp
là tỷ lệ trả lời cao; tuy nhiên, lại cho rằng việc thu thập dữ liệu khảo sát PCI bằng phương pháp này có thể sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu chung của dự án nghiên cứu bởi một số lý do sau: thứ nhất, việc cử điều tra viên đến 63 tỉnh/thành phố để thực hiện khảo sát sẽ rất tốn kém, điều này làm hạn chế qui
mô điều tra và nhiều doanh nghiệp có qui mô nhỏ ở nông thôn sẽ không được đề cập đến; thứ hai, phương thức điều tra trực tiếp không đảm bảo tính bảo mật thông tin và làm giảm tính cởi mở của đối tượng điều tra; thứ ba, các điều tra viên trong quá trình điều tra trực tiếp có thể tạo ra các “ảnh hưởng hành vi” do
kỹ năng phỏng vấn và tính cách cá nhân của họ… Vì các lý do nêu trên, nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn hình thức điều tra qua thư là phương pháp thu thập số liệu của khảo sát PCI thường niên
+ Phương pháp thực hiện điều tra
Như được đề cập ở trên, theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, vì một số hạn chế của phương pháp điều tra trực tiếp, đồng thời với nhận định tỷ lệ trả lời của hai phương thức điều tra (trực tiếp và qua thư) chưa hẳn là khác nhau nhiều,
.
Trang 33nhóm nghiên cứu đã lựa chọn phương pháp điều tra qua thư để thực hiện việc thu thập số liệu của các khảo sát PCI thường niên Để thực hiện phương thức điều tra này, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số kỹ thuật nhằm giảm thiểu sai số
gây ra bởi tỷ lệ không phản hồi của khảo sát qua thư cao Trước hết, số phiếu
điều tra gửi đi hằng năm ở mỗi địa phương là rất lớn vì nhóm nghiên cứu cho
rằng tỷ lệ trả lời thường là thấp Đồng thời, có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao tỷ lệ
phản hồi từ các tỉnh được áp dụng: phiếu điều tra được trình bày trên giấy in đẹp, phong bì dễ nhận thấy, được gửi đi 01 tuần sau Tết (là thời điểm doanh nghiệp thường có mặt ở địa phương); VCCI gửi kèm một lá thư giải thích cụ thể
về tầm quan trọng của cuộc điều tra này trong việc cải thiện môi trường kinh
doanh; đối tượng điều tra được tặng miễn phí một ấn phẩm của VCCI Cuối
cùng, nhóm nghiên cứu tiến hành gọi điện thoại đối với một mẫu ngẫu nhiên
gồm các doanh nghiệp ở từng tỉnh đã nhận được phiếu điều tra qua thư nhưng vẫn chưa phản hồi Nhóm nghiên cứu giải thích tầm quan trọng của cuộc điều tra, động viên các doanh nghiệp hoàn thành phiếu khảo sát và gửi lại cho văn phòng VCCI ở Hà Nội, đồng thời, giải đáp một số câu hỏi trong phiếu điều tra
mà doanh nghiệp gặp khó khăn khi trả lời (nếu có) Trong năm 2005 (năm đầu tiến tiến hành thử nghiệm khảo sát PCI), nhằm kiểm định liệu việc điều tra qua thư với tỷ lệ phản hồi thấp có khác biệt với kết quả khảo sát khi tiến hành điều tra theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp hay không, một nhóm nghiên cứu được cử tới 06 tỉnh để tiến hành phỏng vấn một mẫu ngẫu nhiên gồm 100 doanh nghiệp không nằm trong mẫu điều tra qua thư năm 2005 Áp dụng các phép kiểm định lên số liệu thu thập được, kết quả cho thấy điểm số và xếp hạng theo phương pháp điều tra trực tiếp chỉ có sự khác biệt nhỏ so với kết quả từ điều tra gửi thư Từ đó, nhóm nghiên cứu kết luận phương thức điều tra qua thư có thể là một phương thức phù hợp trong đo lường kết quả điều tra của doanh nghiệp Do vậy, nhóm nghiên cứu sử dụng điều tra qua thư làm phương pháp thực hiện điều tra của các khảo sát PCI thường niên
1.2.2 Tách bạch năng lực điều hành kinh tế và điều kiện truyền thống của
.
Trang 34xây dựng một chỉ số đo lường năng lực cạnh tranh của các tỉnh độc lập với những điều kiện sẵn có của địa phương Nói cách khác, để đánh giá một cách hợp lý tác động của quản lý điều hành tốt, nhóm nghiên cứu phải bóc tách tác động của điều kiện truyền thống tới sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân để phân tích tác động của môi trường chính sách tới sự phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân một cách độc lập
Nhằm thực hiện việc bóc tách này, trong năm 2005, nhóm nghiên cứu thu thập số liệu về những thước đo các điều kiện truyền thống được sử dụng rộng rãi tại thời điểm nghiên cứu Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng có một sự tương quan rất lớn giữa các thước đo các điều kiện truyền thống này Vì vậy, không thể đơn thuần sử dụng phương pháp trung bình đơn giản để tính toán thước đo các điều kiện truyền thống nhằm tránh việc tính toán bị trùng lặp Thay vào đó, nhóm nghiên cứu chọn kỹ thuật phân tích nhân tố (factor analysis) nhằm tích hợp thước đo các điều kiện truyền thống hiện tại thành một số ít các biến không tương quan với nhau Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố để tạo ra ba nhân tố mới gồm: mức độ phát triển, chất lượng cơ sở hạ tầng/ mức độ đô thị hóa, và khoảng cách tới các thị trường lớn Trong đó, nhân
tố mức độ phát triển chủ yếu gồm các chỉ tiêu về nguồn nhân lực như chất lượng lao động, kết quả học tập phổ thông cơ sở, các chỉ tiêu về chất lượng đường sá
và tỷ lệ phần trăm số đường được rải nhựa ở khu vực nông thôn Nhân tố chất lượng cơ sở hạ tầng/ mức độ đô thị hóa gồm chỉ tiêu tỷ lệ phần trăm dân số sống
ở các khu vực thành thị, số máy điện thoại tính bình quân đầu người, chất lượng vận chuyển (đơn vị đo lường là triệu tấn hàng hóa chuyên chở trên một ki-lô-mét), tỷ lệ phần trăm đóng góp của nông nghiệp và GDP của tỉnh, tỉnh có phải là một trong năm thành phố cấp quốc gia hoặc giáp ranh với một trong năm thành phố cấp quốc gia nêu trên hay không Cuối cùng, nhân tố khoảng cách tới thị trường phản ánh khoảng cách một doanh nghiệp tư nhân phải vượt qua để tiêu thụ sản phẩm của mình gồm tỷ trọng doanh số bán lẻ bình quân chia cho GDP phản ánh quy mô thị trường nội tỉnh, khoảng cách tới Hà Nội hoặc TP.HCM là một thước đo đơn giản dùng để phản ánh thời gian cần thiết để một công ty có thể đến được thị trường tiêu thụ hấp dẫn ở 2 thành phố lớn này, chi phí vận chuyển một container 40 feet đến Tokyo tượng trưng cho chi phí tiếp cận các thị trường xuất khẩu Ba nhân tố này được chuẩn hóa theo thước đo từ 1-10 điểm nhằm dễ dàng nhận ra tỉnh nào có điều kiện truyền thống thuận lợi cho sự phát triển kinh tế hơn các tỉnh khác
Đến năm 2006, nhóm nghiên cứu sử dụng các biến đại diện để bóc tách các điều kiện truyền thống vì các biến này phản ánh cụ thể hơn các điều kiện truyền
.
Trang 35thống Cụ thể, nhóm nghiên cứu sử dụng ba biến đại diện sau: khoảng cách tới
thị trường được đại diện bằng khoảng cách (đo bằng km) từ thủ phủ của tỉnh tới
Hà Nội hay TP.HCM; chất lượng nguồn nhân lực được đo bằng phần trăm số
học sinh tốt nghiệp PTTH so với số dân năm 2000, để đại diện cho lực lượng lao
động doanh nghiệp sử dụng; và các điều kiện cơ sở hạ tầng đo bằng số điện
thoại trên đầu người năm 1995 Ba nhân tố này cũng được chuẩn hóa theo thước
đo từ 1-10 điểm nhằm dễ dàng nhận ra tỉnh nào có điều kiện truyền thống thuận lợi cho sự phát triển kinh tế hơn các tỉnh khác Dựa vào các điều kiện truyền thống này, nhóm nghiên cứu chạy các mô hình hồi quy nhằm phân tích tác động của các điều kiện truyền thống đối với tăng trưởng kinh tế, dựa trên các mô hình hồi quy cơ sở này, nhóm nghiên cứu tiến hành so sánh các yếu tố điều hành kinh
tế Kết quả hồi quy cho thấy, các điều kiện truyền thống có thể giải thích 90% sự khác biệt đối với số doanh nghiệp trên 1.000 dân, 46% sự khác biệt đối với mức đầu tư tư nhân trên đầu người (giai đoạn 2000-2004) nhưng chỉ giải thích được 7% sự khác biệt về lợi nhuận của doanh nghiệp (giai đoạn 2000-2004)
Từ năm 2008 trở đi, nghiên cứu PCI phân tích thêm nội dung cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin và truyền thông của các địa phương (thành một chương riêng trong báo cáo) nhằm tăng cường nhận thức của các tỉnh về vai trò của CSHT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó xác định các lĩnh vực có khả năng cải thiện Các nhân tố chính của chỉ số cơ sở hạ tầng PCI gồm: khu công nghiệp, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, đo lường năng lực và chất lượng của các khu công nghiệp địa phương; đường bộ và giao thông, đánh giá độ bao phủ của đường giao thông Việt Nam, chi phí vận chuyển trực tiếp và gián tiếp phát sinh từ mạng lưới giao thông này; dịch vụ công, đo lường chi phí và độ tin cậy của các dịch vụ viễn thông và điện lực tại tỉnh; cơ sở hạ tầng khác, là chỉ tiêu thể hiện một tỉnh có hay không có sân bay hay bến cảng, những yếu tố giúp giảm chi phí vận chuyển cho các doanh nghiệp trong tỉnh Các chỉ số cấu thành chỉ số
cơ sở hạ tầng PCI được xây dựng từ nhóm dữ liệu cứng lấy từ các nguồn đã công bố và nhóm dữ liệu mềm thu thập được từ khảo sát doanh nghiệp PCI thường niên Có thể thấy, về cơ bản, chỉ số cơ sở hạ tầng PCI là bước cải tiến trong việc thực hiện tách bạch điều năng lực điều hành kinh tế và điều kiện truyền thống của địa phương: có sử dụng thêm dữ liệu mềm từ khảo sát PCI
thường niên để tính toán; lược bớt nhân tố chất lượng nguồn nhân lực (được đo
bằng phần trăm số học sinh tốt nghiệp PTTH so với số dân năm 2000); bổ sung các chỉ tiêu quan trọng khác cấu thành nên chỉ số cơ sở hạ tầng PCI Xét về mối tương quan cặp giữa chỉ số cơ sở hạ tầng PCI và chỉ số PCI tổng hợp chưa có
.
Trang 36trọng số, có mối tương quan thuận khá mạnh mẽ giữa hai chỉ số này, nhóm nghiên cứu lý giải là do:
Các tỉnh năng động quan tâm đến sự phát triển của khu vực KTTN thường đầu tư nguồn lực để cung cấp CSHT tốt hơn và hoàn thiện môi trường pháp luật Không có lý do gì để các tỉnh này chỉ lựa chọn một trong hai khía cạnh để phát triển
Điều hành tốt có thể sẽ đem lại CSHT tốt hơn Các tỉnh phát triển nhanh có nhiều nguồn lực dành cho CSHT hơn Một tỉnh điều hành kinh tế tốt sẽ giúp phát triển khu vực tư nhân giàu mạnh, tạo ra nguồn thu lành mạnh thì tỉnh sẽ có nguồn ngân sách lớn hơn dành cho CSHT; hoặc trung ương có thể sẽ phân bổ ngân sách để phát triển đường sá, cầu cảng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của các cụm doanh nghiệp tại địa phương đó
CSHT tốt giúp thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Khu vực này sẽ góp phần cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách thông tin về các lĩnh vực cần cải cách nhằm cải thiện môi trường đầu tư không chỉ cho doanh nghiệp nước ngoài mà còn cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước
Các tỉnh kém phát triển phụ thuộc nhiều hơn vào ngân sách trung ương về CSHT, và vì vậy ít có khả năng phát triển thể chế điều hành độc lập Những tỉnh này có xu hướng sử dụng nguồn lực hạn hẹp để kêu gọi trung ương cấp vốn nhiều hơn
1.2.3 Cách tính trọng số từng chỉ số thành phần phục vụ việc xây dựng chỉ
số PCI tổng hợp có trọng số
Sau khi xây dựng và chuẩn hóa các chỉ số thành phần theo thang 10 điểm, nhóm nghiên cứu tiến hành tính toán chỉ số năng lực cạnh tranh PCI tổng hợp Nếu như chỉ số tổng hợp PCI được xây dựng một cách giản đơn dựa trên việc tính bình quân điểm số của các chỉ số thành phần thì giá trị của chỉ số này không cao vì sẽ bỏ qua mức độ tác động khác nhau của từng chỉ số thành phần đối với
sự phát triển kinh tế Phương pháp tính bình quân giản đơn là phương pháp dễ thực hiện nhất nhưng lại không phù hợp với kỳ vọng ban đầu mà nhóm nghiên cứu đặt ra khi xây dựng chỉ số PCI tổng hợp Nhằm mục tiêu xây dựng một chỉ
số PCI tổng hợp có ý nghĩa trong thực tiễn đề xuất các chính sách, nhóm nghiên cứu PCI đã tính toán trọng số cho các chỉ số thành phần và sử dụng trọng số này trong việc tính toán chỉ số PCI tổng hợp
.
Trang 371.2.3.1 Cách tính trọng số từng chỉ số thành phần trong năm 2005, năm
2006
Trong năm 2005 và năm 2006, trọng số của các chỉ số thành phần được tính toán thông qua một chuỗi gồm ba hàm hồi quy tương ứng với 3 biến phụ thuộc lần lượt là đầu tư, lợi nhuận và số doanh nghiệp Quy trình nhóm nghiên cứu tính toán ra các trọng số có thể được mô tả sơ bộ như sau:
a Lựa chọn các chỉ tiêu đại diện cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở cấp tỉnh
Sau khi cân nhắc cẩn thận, nhóm nghiên cứu PCI đã lựa chọn ra 03 chỉ tiêu năng lực cạnh tranh (lần lượt làm biến phụ thuộc trong 3 mô hình hồi quy) mà nhóm cho rằng có tính đại diện rộng rãi và sâu sắc nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở cấp tỉnh, ba biến này gồm:
Tỷ lệ số doanh nghiệp dân doanh (bao gồm DNTN, công ty hợp
danh, công ty TNHH và công ty cổ phần) đang hoạt động trên số dân
của tỉnh vào năm 2004
Vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính bình quân đầu người (giai đoạn 2000-2004) được chọn dùng để thể hiện mức độ rủi ro mà doanh nghiệp chấp nhận
Lợi nhuận bình quân (triệu đồng) trên một doanh nghiệp (giai đoạn 2000-2004) dùng để thể hiện mức độ thành công của doanh nghiệp
từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời
b Tính toán tác động của các chỉ số thành phần đến kết quả phát triển kinh
tế
Trên lý thuyết, để xác định được trọng số của các chỉ số thành phần, có thể thực hiện mô hình hồi quy với biến phụ thuộc lần lượt là ba chỉ tiêu năng lực cạnh tranh và biến độc lập là các chỉ số thành phần cấu thành chỉ số PCI tổng hợp (sau khi loại bỏ tác động của các điều kiện truyền thống) Trọng số sẽ là các
hệ số beta tương ứng, thu được từ kết quả của các mô hình hồi quy Tuy nhiên, không thể áp dụng phương pháp này do giá trị các chỉ số thành phần cấu thành chỉ số PCI tổng hợp có quan hệ tương quan đa tuyến với nhau và như vậy, sẽ có hiện tượng đa cộng tuyến trong các mô hình hồi quy này1 (xem phụ lục 1)
c Xác định ba nhân tố không tương quan từ chín chỉ số thành phần
với nhau) Nếu hiện tượng đa cộng tuyến xả ra, các hệ số hồi quy không xác định được do sai số chuẩn của các
hệ số hồi quy rất lớn (Nguyễn H T., 2007)
.
Trang 38Nhóm nghiên cứu đã xử lý vấn đề đa cộng tuyến bằng cách áp dụng phương pháp phân tích nhân tố Cụ thể, trong năm 2005 và năm 2006, nhóm
nghiên đã cứu tạo ra 3 nhân tố lần lượt là (xem thêm phụ lục 2):
Năm 2005
Nhân tố thứ nhất bao gồm các chỉ số thành phần: tính năng động và tiên
phong, chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân, thực hiện chính sách của
trung ương, tiếp cận đất đai, ưu đã đối với DNNN; nhân tố thứ hai bao gồm các
chỉ số thành phần: tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí gia nhập thị
trường, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước; nhân tố thứ ba
gồm chỉ số thành phần chi phí không chính thức và chỉ số ưu đãi đối với DNNN
Năm 2006
Nhân tố thứ nhất gồm các chỉ số thành phần: chính sách phát triển khu vực
KTTN, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước, đào tạo lao
động và tính năng động tiên phong; nhân tố thứ hai gồm các chỉ số thành phần:
tiếp cận và sử dụng ổn định đất đai, chi phí không chính thức, chính sách ưu đãi
DNNN, tính năng động và tiên phong; nhân tố thứ ba gồm hai chỉ số thành phần
có phương sai nhỏ: chi phí gia nhập thị trường, thiết chế pháp lý
d Xác định trọng số của các chỉ số thành phần
Sau khi áp dụng quy trình điều chỉnh Varimax để xây dựng được ba nhân
tố dựa trên các chỉ số thành phần cấu thành chỉ số PCI tổng hợp, nhóm nghiên cứu tiến hành một chuỗi gồm 03 mô hình hồi quy với 03 biến phụ thuộc đã được
đề cập ở trên (đầu tư, lợi nhuận, số doanh nghiệp) Loại trừ tác động của các điều kiện truyền thống, sau đó cộng dồn hệ số các giá trị dương, nhóm nghiên cứu xác định được tác động tổng hợp của các nhân tố (nhân tố thứ nhất, nhân tố
thứ hai, nhân tố thứ ba) lên kết quả của các biến đầu ra (xem thêm phụ lục 3)
Sau khi tính toán được trọng số của các nhân tố, nhóm nghiên cứu thực hiện quy trình ngược lại để tính toán trọng số cho từng chỉ số thành phần trong chỉ số PCI
tổng hợp (xem thêm phụ lục 4) Trong năm 2006, thay vì giữ nguyên giá trị
trọng số cuối cùng như kết quả tính toán được (tương tự năm 2005), nhóm nghiên cứu đã làm tròn các giá trị này về mốc 5%, 10%, 15% Việc làm tròn này trên lý thuyết sẽ làm giảm tính chính xác tương đối của các trọng số của từng chỉ
số thành phần, tuy nhiên, nó giúp đọc giả dễ dàng hình dung và so sánh tầm quan trọng của các chỉ số thành phần với nhau Ngoại trừ các chỉ số thành phần
và cấu thành ba nhân tố của năm 2005 và năm 2006 khác nhau, về cơ bản,
.
Trang 39phương pháp tính toán trọng số các chỉ số thành phần của hai năm là như nhau,
có thể biểu diễn theo sơ đồ sau:
Sơ đồ biểu diễn phương pháp tính toán trọng số năm 2005
Nguồn: (VCCI & USAID, 2005)
Sơ đồ biểu diễn phương pháp tính toán trọng số năm 2006
Nguồn: (VCCI & USAID, 2006)
.
Trang 40Do các chỉ số thành phần cấu thành chỉ số PCI được giữ cố định trong giai đoạn 2006-2008 nên trọng số xây dựng được trong năm 2006 được sử dụng cố định trong giai đoạn 2006-2008 Theo chu kỳ bốn năm một lần, nhằm cập nhật những thay đổi trong môi trường kinh doanh, việc thêm, bớt và cải thiện chỉ tiêu các chỉ số thành phần được thực hiện, do đó, trọng số của các chỉ số thành phần cũng được tính toán lại cho phù hợp với giai đoạn mới Nói cách khác, năm
2009, năm 2013 và dự kiến năm 2017, trọng số của từng chỉ số thành phần sẽ được tính toán lại
1.2.3.2 Cách tính trọng số từng chỉ số thành phần trong năm 2009, năm
2013
Từ góc độ kỹ thuật, sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (như năm 2005
và năm 2006) để tính toán trọng số sẽ cho kết quả chính xác hơn Tuy nhiên, điểm số của bản thân các nhân tố không cho phép diễn giải và đánh giá tác động thông qua các biến số mà chính quyền tỉnh quan tâm Vì vậy, từ năm 2009, nhóm nghiên cứu PCI sử dụng phương pháp mới để tính toán trọng số của các chỉ số thành phần PCI Phương pháp này cho phép chính quyền các tỉnh quan tâm có thể diễn giải và đánh giá tác động của các chỉ số thành phần PCI đến các biến số đầu ra, đồng thời, phương pháp này cũng được kỳ vọng sẽ dễ hiểu, dễ tiếp cận hơn phương pháp phân tích nhân tố của giai đoạn trước
Các biến phụ thuộc (biến kết quả đầu ra) thể hiện sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân vẫn giữ nguyên gồm: số lượng doanh nghiệp tư nhân trên 1.000 dân, mức đầu tư bình quân đầu người, lợi nhuận bình quân của mỗi doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu trong năm 2005 và 2006, ba chỉ tiêu này được tính toán bình quân giai đoạn 2000-2004 thì trong năm 2009, ba chỉ tiêu này được tính toán từ số liệu thống kê của năm 2008 Tương tự trong năm 2013, ba chỉ tiêu này được tính toán từ số liệu thống kê của năm 2012
Lần lượt, các mô hình hồi quy giữa ba chỉ tiêu này được thực hiện theo từng chỉ số thành phần, trong đó loại trừ tác động của các nhân tố cấu trúc (mật
độ dân số, diện tích, khoảng cách từ Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh theo km), cơ sở hạ tầng (đo bằng tỉ lệ đường được rải nhựa trong tỉnh) và các biến giả
(biến dummy) cho 7 vùng của Việt Nam (mô hình hồi quy năm 2009 - xem thêm
phụ lục 5) Các hệ số hồi quy thu thập được từ ba mô hình hồi quy trên được
nhóm tác giả tính toán (sử dụng hệ số hồi quy và sai số chuẩn để tính toán giá trị
T – xem thêm phụ lục 6) và quy đổi thành các trọng số tương ứng với từng chỉ số
thành phần
.