1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng mưa trong thơ huy cận

265 666 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 265
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đề tài này cũng giúp người viết hiểu thêm các ý kiến đánh giá cũng như quan điểm của những nhà phê bình văn học trước đó về hình tượng mưa trong thơ Huy Cận.. Sau đó, người vi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

  

TRẦN THỊ BÍCH LOAN

HÌNH TƯỢNG MƯA TRONG THƠ HUY CẬN

(Luận văn TNĐH ngành Sp Ngữ Văn Khóa: 2007-2011)

CBHD: HỒ THỊ XUÂN QUỲNH

Cần Thơ, 4/2011

Trang 2

A – PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 3

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Mưa là một hiện tượng thiên nhiên nhưng đã đi sâu vào đời sống văn học của dân tộc

ta hết sức sâu sắc Mưa xuất hiện trong những câu tục ngữ, những câu ca dao, rồi những vần thơ trữ tình…Ta làm sao khỏi bùi ngùi khi bất chợt nghe lời ru buồn đến não lòng:

“Trời mưa bong bóng phập phồng

Mẹ đi lấy chồng con ở với ai”

(Ca dao)

Cơn mưa như chất xúc tác hằn sâu thêm nỗi đau, nỗi bơ vơ, lạc lỏng của đứa trẻ thơ Lòng người đã buồn Mưa làm cho con người sầu hơn

Trong thơ, mưa thường là hình ảnh không vui Nguyễn Bính từng than thở:

“Giời mưa ở Huế sao buồn thế

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày”

(Giời mưa ở Huế)

Cái dầm dề, lê thê ấy càng làm cho thi nhân thêm buồn man mác Lưu Trọng Lư không ở Huế mà cũng cô đơn, lạnh lẽo:

“Mưa mãi, mưa hoài Lòng biết thương ai Trăng lạnh về non không trở lại…”

(Mưa mãi mưa hoài)

Có thể nói, những câu ca dao, tục ngữ, thơ…nói về hình tượng mưa là vô cùng phong phú, đa dạng và số lượng không ít nhưng để nói hay và đặc sắc về nó thì số lượng vẫn còn hạn chế Huy Cận cũng làm thơ về hình tượng mưa Nhưng hình tượng mưa trong thơ Huy Cận không đơn điệu, một chiều, hoặc buồn, hoặc vui…mà có sự đan xen giữa nhiều cung bậc tình cảm

Trang 4

Vì sự yêu thích thơ Huy Cận - đặc biệt là thơ về hình tượng mưa, vì muốn tìm được

sự khác biệt hình tượng mưa trong thơ Huy Cận và hình tượng mưa trong thơ của các nhà thơ khác, vì muốn được tìm hiểu sâu hơn hình tượng mưa trong thơ Huy Cận nên tôi đã chọn đề tài “hình tượng mưa trong thơ Huy Cận”

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:

Phong trào thơ mới được Hoài Thanh trân trọng gọi là “một thời đại trong thi ca” đã

để lại ấn tượng trong lòng độc giả suốt thời gian dài Bên cạnh đó, có nhiều tranh luận từ phía công chúng, từ phía các nhà nghiên cứu phê bình nói riêng và văn nghệ sĩ nói chung

về “hiện tượng văn học” này

Huy Cận là một nhà thơ bước vào thi đàn “Thơ mới” muộn hơn so với các nhà thơ khác như: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu… Nhưng với tâm huyết hơn sáu mươi năm cộng với tài năng sẵn có, Huy Cận đã cho ra đời hơn hai mươi tập thơ: Lửa thiêng (1940),

Vũ trụ ca (1942), Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (1967), Những năm sáu mươi (1968), Phù Đổng Thiên Vương (1968), Cô gái Mèo (1972), Thiếu niên anh hùng họp mặt (1973), Chiến trường gần, chiến trường xa (1973), Những người mẹ, những người vợ (1974), Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975), Sơn Tinh - Thủy Tinh (1976), Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984), Chim làm ra gió (1989), Tao phùng (1993), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỉ (1997)…đã gây sự chú ý từ phía người đọc và trở nên nổi tiếng Có rất nhiều bài phê bình viết về các tập thơ này, có thể kể:

 “Luận đề về thơ Huy Cận” của Trần Ngọc Hưởng

 “Huy Cận và Lửa Thiêng” của Trinh Đường

 “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh - Hoài chân

 “Phong trào Thơ mới: 1932 - 1945” của Phan Cự Đệ

 “Xuân Diệu - Huy Cận” của Vũ Tiến Quỳnh

 “Con mắt thơ” của Đỗ Lai Thúy

 “Thi pháp thơ Huy Cận” của Trần Khánh Thành

 “Thế giới Huy Cận” của Xuân Diệu

……….………

Trang 5

Có rất nhiều tác giả nghiên cứu những khía cạnh trong thơ Huy Cận Ở đây, tôi chỉ điểm qua một số tác phẩm tiêu biểu Tuy nhiên, hầu hết những công trình này đều có điểm chung là giới thiệu về tác gia Huy Cận, về nội dung và nghệ thuật thơ của tác giả.Và chỉ

có rất ít những bài phê bình đề cập đến “mưa” trong thơ Huy Cận:

1 Trong “Huy Cận - sự khắc khoải không gian”, Đỗ Lai Thúy có ý kiến: “Huy Cận hay làm và làm hay thơ mưa Với thi sĩ, mưa là vật môi giới cho nội tâm và ngoại cảnh gặp gỡ Giữa vô thể và hữu thể, mưa là một khiếm thể, một thể không định hình, đang chuyển hóa”

Xuân Diệu trong “Trò chuyện quanh một bài thơ” cho rằng: “Huy Cận thì có thể nói là một chuyên gia về tả mưa trong thơ trước Cách mạng”

2 ”Những hàng châu ngọc trong thi ca hiện đại” của Huy Trâm cũng từng đề cập:

“nếu văn học Pháp có “II pleut dans mon Coeur” của Verlain mô tả tâm trạng một kẻ đang bực dọc, buồn chán nhìn mưa rơi ngoài phố; nếu văn học Trung Hoa

có bài “Thu thanh phú” của Âu Dương Tu lý giải về lẽ huyền vi của tạo vật qua tiếng mưa thu trong đêm trường tịch mịch thì văn học Việt Nam phải hãnh diện vì

có “Buồn đêm mưa” của Huy Cận - nhà thơ có kích thước tâm hồn lớn”

3 Khi bàn về Huy Cận, Phạm Thế Ngũ cũng đề cập: “Huy Cận lạnh lùng hơn, mênh mang hơn Cả cái lành lạnh xa xưa của không gian, của quá khứ, của cái không biết nơi đâu, cái không biết thời nào đã đến trong “Buồn đêm mưa”…Trong mấy câu tuyệt diệu ấy, Huy Cận cho ta hưởng một cái hay rất mênh mông, một cái hay phải rợn mình vì lạnh lẽo”

4 Lê Bảo cũng có ý kiến về bài “Buồn đêm mưa” của Huy Cận: ““Buồn đêm mưa”

là một trong các tác phẩm đầu tay, một trình làng đích đáng…Những giọt mưa dịu dịu, rơi rơi cứ kín đất, kín trời, cứ xóa nhòa tất cả”

5 Hà Minh Đức trong “Huy Cận và những chặng đường sau Cách mạng” phát hiện:

“và một chiều “Mưa xuân trên biển”, mọi vật đều muốn đâm chồi nảy lộc: “mưa xuân tươi tốt cả cây buồm” Đối với công việc lao động, Huy Cận có thiên hướng phát hiện cái đẹp, cái hay và ngợi ca”

6 Nguyễn Xuân Nam cũng nói đôi chút về bài “Mưa mười năm sau” của Huy Cận:

“cơn mưa tẩy rửa cảnh vật Cơn mưa cũng gợi lên trong tâm hồn nhà thơ những ý nghĩ trong sáng”

Trang 6

7 “Có một nỗi buồn trong thơ” của Trần Đình Việt cũng từng nhắc đến “Buồn đêm

mưa”: “ai không hơn một lần cảm thấy “buồn buồn” như Huy Cận, nhưng nắm bắt được trọn vẹn cái cảm giác mơ hồ này một cách than tình như Huy Cận thì rất hiếm hoi”

8 Trần Mạnh Hảo trong “Huy Cận - Lửa vẫn còn thiêng” nhận xét về “Buồn đêm

mưa”: “tưởng chừng như Huy Cận phải đội trên đầu cả vòm “trời nặng nặng” mà

“nghe ta buồn buồn”, rồi thơ thẩn đi hết cõi “Lửa thiêng” để nghe trọn vẹn hư không”

Tóm lại, có rất nhiều sách của các nhà phê bình viết về thơ Huy Cận nhưng hầu hết là những bài giới thiệu ngắn trong mối tương quan với các nhà thơ khác Hoặc có nghiên cứu riêng thì cũng nói chung chung tất cả những vấn đề về Huy Cận chứ chưa đi sâu vào vấn đề về hình tượng mưa trong thơ Huy Cận trước và sau Cách mạng tháng Tám năm

1945

III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Tìm hiểu hình tượng mưa trong thơ Huy Cận trước và sau Cách mạng tháng Tám

1945 trong suốt quá trình hơn sáu thập kỉ sáng tác của ông là một dịp thuận lợi để người viết tăng thêm kiến thức đã học về tác gia Huy Cận và hình tượng mưa trong thơ ông Mặt khác, qua quá trình nghiên cứu đề tài người viết có điều kiện khắc sâu thêm những vấn đề đã học, đã biết về thơ Huy Cận; từ đó, người viết nhận thấy được những đóng góp của Huy Cận trong việc tạo dựng một hình tượng mang sắc thái riêng biệt trong nền thơ nước nhà

Nghiên cứu đề tài này cũng giúp người viết hiểu thêm các ý kiến đánh giá cũng như quan điểm của những nhà phê bình văn học trước đó về hình tượng mưa trong thơ Huy Cận

Tóm lại, mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy, nghiên cứu sau này cũng như thỏa mãn sự tò mò, thích thú của người viết

về những vần thơ giàu ý nghĩa của Huy Cận

IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Trang 7

Trong thơ, Huy Cận sáng tác với nhiều đề tài, chủ đề khác nhau nên những hình ảnh ông sử dụng vô cùng đa dạng và phong phú Vì thời gian có hạn cộng với tài liệu tham khảo chưa thật phong phú và tầm nhìn của người viết còn hạn chế nên người viết chỉ đặt trọng tâm nghiên cứu ở vấn đề “hình tượng mưa trong thơ Huy Cận”

Bên cạnh đó, để phần nghiên cứu thêm hoàn chỉnh người viết sẽ liên hệ, so sánh hình tượng mưa trong thơ Huy Cận với hình tượng mưa trong thơ của một số nhà thơ khác của Việt Nam

Tóm lại, phần nghiên cứu của người viết chỉ thu hẹp trong phạm vi nhỏ, gọn nhưng người viết sẽ cố gắng khai thác các vấn đề được đặt ra trong phạm vi này sâu hơn và chắc hơn

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để tìm hiểu đề tài này, người viết đã sử dụng một số thao tác sau:

Trước hết, người viết sưu tầm, thống kê, phân loại những câu thơ, những bài thơ có hình tượng mưa trong thơ Huy Cận ở hai giai đoạn sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Tiếp đến, người viết sẽ sử dụng nhiều thao tác như phân tích, chứng minh, bình giảng…để chỉ ra các giá trị đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của những câu thơ, những bài thơ đã nêu

Sau đó, người viết sẽ so sánh hình tượng mưa trong thơ Huy Cận ở từng giai đoạn sáng tác, ở cả hai giai đoạn sáng tác với nhau và so sánh hình tượng mưa trong thơ Huy Cận với hình tượng mưa trong thơ của một số nhà thơ khác để người đọc có thể thấy được bước chuyển cũng như những nét đặc sắc trong hình tượng mưa của thơ Huy Cận Tóm lại, trong bài nghiên cứu này người viết sẽ sử dụng nhiều phương pháp để làm rõ hơn những vấn đề mà tác gia Huy Cận đã đưa ra trong thơ

Trang 8

B – PHẦN NỘI DUNG

Trang 9

CHƯƠNG I HÌNH TƯỢNG MƯA TRONG THƠ CA VIỆT NAM VÀ THẾ

GIỚI

1 Hình tượng mưa trong thơ ca Việt Nam

1.1Hình tượng mưa trong thơ ca trung đại Việt Nam

Xét trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc, văn học trung đại có một ví trí đặc biệt quan trọng Đó là nền văn học nảy sinh từ quá trình dựng nước, giữ nước vĩ đại của dân tộc Văn học trung đại đã phản ánh những nét văn hóa đặc sắc của đất nước, con người Việt; đồng thời nó cũng thể hiện ý thức của người Việt về Tổ Quốc, dân tộc mình Bên cạnh đó, văn học trung đại đã trở thành tiềm lực thúc đẩy sự phát triển nền văn học hiện đại Với hàng nghìn năm hình thành và phát triển, văn học trung đại đã có thành tựu rực

rỡ về số lượng lẫn chất lượng tác phẩm Và số tác giả sáng tác trong thời kì có thể nói là đếm không kể xiết Vì thời gian và điều kiện không cho phép, vì mục tiêu nghiên cứu đề tài này nên người viết chọn hai tác gia tiêu biểu là Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến - hai tác gia có sử dụng hình tượng mưa trong nhiều sáng tác của mình

Trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến, hình tượng mưa luôn gắn liền với hệ thống thiên nhiên lung linh, huyền ảo, thoát tục và nó cũng là nguồn nhiên liệu mang sức sống cho con người và vạn vật trong vũ trụ

Hình tượng mưa được Nguyễn Trãi nhắc đến trong các bài: “Nghe mưa”, “Tự thán XXV”, “Ngôn chí XVI, “Gửi cậu dịch trai Trần Công”, “Bến đò xuân đầu trại”, “Cuối xuân tức cảnh”, một bài trích trong “Tinh văn yên tập” … Một thế giới tự nhiên phong phú, đầy màu sắc được vẽ ra dưới nét bút thần kì của thi nhân Thiên nhiên đối với Nguyễn Trãi là tài sản tinh thần làm thỏa mãn thế giới tâm hồn con người Đó là nơi mà mây, gió, trăng, hoa, đặt biệt là mưa…trở thành những người bạn thân thiết, luôn gắn bó

và chia sẻ trong thú tiêu khiển cũng như lao động trong “Tự thán XXV” Đó là bức tranh thiên nhiên nhàn nhã, yên bình trong cơn mưa xuân trong “Bến đò xuân đầu trại” Đó là bức tranh nhiên thiên gợi cảm và thanh khiết, không chỉ có đường nét mềm mại của rêu, thảm rêu mà còn có cả âm thanh sống động: tiếng suối như đàn cầm hòa cùng tiếng mưa,

Trang 10

tiếng chim hòa với tiếng mưa trong “Bài ca Côn Sơn”, trong “Ngôn chí XVI” …Qua hình tượng mưa, ta thấy được vẻ đẹp thơ mộng, đầy sức sống của tự nhiên và vạn vật

Nguyễn Khuyến cũng là một nhà thơ của nông thôn Ông viết về nông thôn bằng tất

cả tinh thần thân thuộc quyến luyến Nguyễn Khuyến tạo dựng hình tượng mưa một cách đặc sắc Trong thơ Nguyễn Khuyến, hình tượng mưa cũng là biểu tượng của niềm vui, là biểu tượng của sự thanh sạch, tạo sự nhuần mát cho tạo vật…được ông thể hiện trong các bài: “Mai vũ”, “Cỏ tóc tiên”, “Ngày hè ngẫu hứng”, “Ngày hè hạn lâu, mừng gặp mưa”,

“Ngày hè vừa tạnh mưa”, “Ngày xuân dạy các con”, “Tiết thanh minh năm Canh Dần”,

“Mùa xuân bị ốm”, “Ngày xuân”, “Năm mất mùa”, “Mừng mưa”, “Năm mất mùa, mừng mưa”, “Mưa thu” (bài hai)…Mưa là một nguồn sống không thể thiếu của thiên nhiên Sau cơn mưa, cây cối như đâm chồi nảy lộc trong “Quan thượng thư châu Giang họ Bùi từ

kinh muốn đến thăm rồi thôi, làm thơ gửi”, và “Mừng mưa - bài hai” Cơn mưa như thỏa

mãn bao khát khao, chờ đợi của tạo vật trong “Ngày hè hạn lâu, mừng gặp mưa, làm thơ”…Không chỉ có lợi cho thiên nhiên mà mưa còn có tác dụng làm thuyên giảm bệnh tình của con người ở “Mùa xuân bị ốm”; và mưa cũng làm tăng thêm sức sống trong lòng

người của “Ngày xuân – bài nữa”

Cũng với hình tượng mưa, Nguyễn Khuyến không chỉ thấy được lợi ích của nó mà

cũng thấy được những khó khăn, trở ngại mà nó gây ra cho những người nông dân – những người vốn đã mang nhiều nỗi nhục nhằn trong cuộc sống Trong “Mai vũ - bài

hai”, “Ngày hè vừa tạnh mưa”, “Việc mua ao cá”, “Ngắm chiều hè”, “Năm mất mùa - bài ba” mưa đã gây ra bao nỗi khốn khổ cho người dân Mưa không chỉ là nguyên nhân gây

bao nhiêu nỗi hoang mang, lo sợ trong “Ngắm chiều hè” mà còn là nguyên nhân trực tiếp

phá đi kế sinh nhai của con người trong “Việc mua ao cá”, “Năm mất mùa - bài ba”,

“Mai vũ- bài hai”

Hình ảnh mưa trong thơ về thiên nhiên của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến luôn có nhiều biến đổi Lúc thì mưa tô điểm cho bức tranh thiên nhiên thêm hư ảo Lúc thì mưa tạo nên âm thanh sảng khoái cho lòng người…Nhưng tựu trung lại, sự biến hóa kì ảo đó

đã chứng minh một điều có ý nghĩa quan trọng hơn hết, đó chính là: tâm hồn của thi nhân Đó là tâm hồn của những con người yêu tự do, tự tại, cởi mở, thân thuộc, bình đẳng, sẵn sàng hòa vào cùng thiên nhiên

Trang 11

Giữa lúc đất nước ở cảnh dầu sôi lửa bỏng, không còn cách lựa chọn, Nguyễn Khuyến phải cáo quan về quê Cứu nước, cứu đời là hoài bão lớn nhất của kẻ sĩ nhưng ở hoàn cảnh của ông lúc bấy giờ, những hoài bão ấy ông khó lòng có thể thực hiện Chính vì thế

mà lời thơ của ông thường đượm vẻ ưu buồn Nhất là khi có thêm hình ảnh mưa Nếu như thơ thiên nhiên của Nguyễn Trãi nghiêng về chất phóng khoáng, trữ tình bao nhiêu thì thơ thế sự của Nguyễn Trãi lại mang chất triết lý, suy tư bấy nhiêu Hình ảnh lặp đi lặp lại trong nhiều tập thơ của Nguyễn Trãi là hình ảnh một ông già luôn suy tư, thao thức vì lẽ đời Đó là trạng thái thao thức của một con người đang sục sôi nhiệt huyết và muốn hành động “Nghe mưa” đã thể hiện được sự dằn vặt của một cá nhân đang tự vấn chính mình Tiếng mưa như làm tăng thêm sự bứt rứt đang bưng phá, trỗi dậy trong không gian vừa động (trời mưa) nhưng cũng vừa tĩnh (phòng vắng) Gió mưa gợi lên nỗi sầu li biệt - nỗi sầu đau đớn và nhức nhối trong lòng thi nhân Gió mưa càng tăng thêm giá lạnh cho một người cô lẻ được nhắc đến trong “Gửi cậu dịch - trai Trần Công” Hình

ảnh mưa gợi lên nỗi buồn như hiện về từ quá khứ trong “Bài ca nhà cũ ở vườn Bùi” hay

đó là nỗi đau vì bất chợt bắt gặp nơi mình đã đi qua, bất chợt nhận thấy dòng chảy thời gian sao mà chóng thế; hoặc đó là sự bắt gặp sự tàn bạo của mưa gió khi phá hủy đi sự

nghiệp của cả một đời người trong “Qua hai đền trạng nguyên” Nỗi đơn côi, quạnh vắng

trước cơn mưa cũng vang vọng trong nhiều bài thơ của Nguyễn Khuyến : “Tiết Trùng

Dương năm Kỷ Sửu – bài nữa”, “Tức sự” Nguyễn Khuyến còn quan tâm đến sự đổi thay

của vạn vật và cả con người trước quy luật của thời gian qua “Qua năm cửa ải ở Cao

Ban”, “Nguyên Đán năm Đinh Hợi - bài hai”…Trong thơ thế sự, hình tượng mưa trong

thơ Nguyễn Khuyến cũng không kém biến hóa, linh hoạt hơn trong thơ Nguyễn Trãi Nó vừa thể hiện sự sướng vui, khao khát của một tâm hồn luôn gắn bó với cuộc sống của người lao động Bên cạnh đó, nó còn thể hiện được sự thông thái của một cá nhân trước những triết lí, những chiêm nghiệm về lẽ đời

Trong thơ ca Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến, mưa là hình tượng được tạo dựng một cách đặc sắc Mưa không chỉ tô điểm cho bức tranh thiên nhiên thêm lung linh, huyền ảo

mà còn góp phần thể hiện bức tranh quê vốn đã phong phú thêm sinh động Bên cạnh đó, bức tranh tâm trạng của các thi nhân cũng được hé mở qua chất xúc tác là hình tượng mưa Cùng với các hình tượng thiên nhiên khác, mưa trở thành một yếu tố quan trọng trong thơ ca của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến

Trang 12

1.2 Hình tượng mưa trong thơ ca giai đoạn 1930 – 1945

Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 gồm hai bộ phận: hợp pháp và bất hợp pháp Thơ ca trong bộ phận bất hợp pháp ở giai đoạn này chủ yếu là tuyên truyền cho cuộc đấu tranh của dân tộc nên về mặt nghệ thuật và nội dung vẫn còn một số hạn chế so với bộ phận hợp pháp Chính vì thế người viết chỉ trình bày hiểu biết của mình về hình tượng mưa trong giới hạn thơ ca của bộ phận hợp pháp

Trong phong trào Thơ Mới 1932 - 1945, thiên nhiên là một thành phần quan trọng bởi nó gợi lên khuynh hướng thẩm mỹ của thi nhân Thiên nhiên phù hợp với những tâm hồn thoáng đạt, yêu tự do, không chịu sự ràng buộc, gò ép Nó là người bạn đáng tin cậy của cái “Tôi” cá nhân đang bất mãn với xã hội Thiên nhiên mênh mông, bao la, đầy bí hiểm luôn khêu gợi, phát huy trí tưởng tượng của con người Tìm đến thiên nhiên, các nhà thơ lãng mạn thường chọn những cảnh phù hợp với lòng mình Đó là những cảnh trời rộng sông dài, đồng hoang bãi vắng, núi cao, rừng sâu… Trong đó, hình tượng mưa cũng được sử dụng rộng rãi Hình tượng mưa tô điểm cho bức tranh quê thêm sinh động, phong phú Nó vừa làm cho thiên nhiên rực rỡ vừa là một yếu tố tạo cho thiên nhiên bùng lên sự dữ dội, ác liệt vốn có Đặc biệt, hình tượng mưa trong bức tranh sinh hoạt của con người cũng khá độc đáo

1.2.1 Hình tượng mưa tô điểm cho bức tranh nhiên nhiên thêm phong phú

Bằng sức quan sát tinh tế, Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ đã vẽ lại bức tranh về làng quê đẹp và gợi cảm Nguyên liệu của bức họa làng quê ấy là những nếp nhà tranh, dòng sông, con thuyền, cỏ, cây, hoa, lá… và đặc biệt là mưa Đây là những nguyên liệu từ làng quê tuy đơn sơ, mộc mạc nhưng hữu tình

Bức tranh thủy mặc được tạo ra với những nét bút uyển chuyển, mềm mại của “họa sĩ” Anh Thơ Bằng lối nhân hóa, Anh Thơ đã tạo cho thiên nhiên một trạng thái tĩnh lặng

vô biên trong “Chiều xuân”, “Bến đò ngày mưa” Con đò thì “biếng lười”, quán tranh cũng “đứng im lìm” Bên cạnh đó, một số tính từ mang sắc thái âm tính “im lìm, vắng lặng, êm,…” cộng với hình ảnh “mưa đổ bụi” – những hạt mưa nhỏ li ti, bay thoáng qua rồi mất hút vào không trung… tất cả đã chất vào lòng người nỗi đìu hiu, quạnh vắng

trước không gian Nhưng không hẳn ngày mưa nào cũng ủ ê như thế Trong “Đêm trăng

xuân”, có mưa lại có ánh trăng thì khung cảnh lãng mạn vô cùng Trong trời đêm bao la, khi mọi vật đang chìm vào sự “ âm thầm”, “im ắng”, “nhè nhẹ” để giữ sự bí mật, tạo sự

Trang 13

huyền bí thì mưa đã làm tan vỡ tất cả Mưa nhẹ thôi, không rớt hạt Những hạt nước dường như chưa chạm vào mặt đất dã bị cơn gió cuốn đi Dưới ánh trăng, sợi mưa kéo dài ra, mỏng manh tựa những sợi tơ, lóng lánh tuyệt đẹp Quan sát cơn mưa giữa ngày, mưa trong đêm và Anh Thơ còn quan sát một cách tỉ mỉ bức tranh tuyệt đẹp của làng quê vào những ngày có mưa trong “Chiều ba mươi tết”, trong “Ngày tết” Cơn mưa nhẹ, khẽ khàng Vẫn là những hạt li ti, không đủ sức làm lạnh giá cho con người Những hạt mưa

cùng với hoa đào, chòm nêu, pháo đỏ đã tạo nên bức tranh xuân đầy sắc màu và hình ảnh

Không qua một hệ thống ước lệ, không theo một quy tắc nào, chỉ bằng những nét chấm phá, bằng sự quan sát biến thái tinh vi của cảnh vật Anh Thơ đã gợi nên bức tranh quê đẹp nhưng buồn, đìu hiu

Hình tượng mưa không chỉ dệt nên những bức thảm thiên nhiên đẹp đẽ mà còn tạo nên những biến đỗi dữ dội trong thiên nhiên Mưa làm cho cuộc sống sinh hoạt con người thêm tất bật Những lo toan trong cuộc sống thường nhật đã làm cho con người vất vả, những cơn mưa – tai họa của thiên nhiên làm cho cuộc sống con người kham khổ hơn Trần Huyền Trân đã quan sát thấy bao nỗi vất vả trước “Mưa đêm lều vó” Vì cơn

mưa dài dằng dặc “mưa trắng đêm” đã tạo nên nỗi vất vả, lo âu cho con người và cả loài vật Loài vật bé nhỏ cũng có cuộc sống riêng và cũng hoảng sợ trước mưa gió: “kiến đã dời lên mái” Không hoảng sợ trước thiên nhiên đến thế, nhưng mưa đã tạo nên nỗi lo toan của con người “bà lão chài lọ chửa có thuyền” Thật sự, chỉ có tâm hồn sâu sắc của

tác giả mới có thể cảm nhận được những nỗi đau, những biến động của vạn vật dưới cơn

mưa chính xác đến vậy Trong “Đêm giông tố”, “Lụt” và “Đồng làng”, Đoàn Văn Cừ đã

miêu tả tính chất dữ dội của cơn mưa Mưa không chỉ mang lại sự giá lạnh mà còn cô lập

con người “Mưa tầm tã” – cơn mưa không chỉ to mà còn kéo dài Chính cơn mưa vô tình

ấy mà cuộc sống của biết bao con người bị đe dọa Tài sản được làm từ mồ hôi nước mắt của những con người tay lấm chân bùn lại bị cuốn đi theo dòng nước mưa lạnh lẽo: đê

vỡ, trôi đồng, bao mái rạ chìm, cây vườn mất tích Và khi trời mưa, nước dâng lên, không gian của con người như bị thu hẹp dần Con người như nhỏ bé hơn, đơn côi hơn giữa

thiên nhiên bao la, giữa “trời xanh” và “nước phẳng lỳ” Mưa cũng trở thành lực hung

bạo phá hoại cuộc sống con người trong bài “Cơn giông”, “Những nỗi lo sợ phấp phỏng”

Những cơn mưa tháng sáu, tháng bảy đã thật sự trở thành hiểm họa cho con người “Trời mưa”, “mưa rây”, “mưa lao mình”, mỗi cơn mưa được miêu tả với những dáng vẻ khác

Trang 14

nhau nhưng chúng đều mang dữ dội, to và nguy hiểm Chúng gây cho con người những nỗi lo: lo nước lũ tuôn về, lo kè vỡ…Hình ảnh tất bật lo chống lũ do trận mưa gây nên

càng tô đậm nỗi sợ hãi của dân làng trước cơn mưa: “trẻ già sợ hãi” phải “tìm cơ tránh”, lấy “chày chân để chống nhà”, “nhao nhác lo kè vỡ”, “đi chặt gốc tre”, lúc vào tối, “chạy mưa về hớt hải”, các bô lão “cố ghìm thuyền”…Một khung cảnh vô cùng náo loạn và tất

bật đang diễn ra dưới cơn mưa

Thơ lãng mạn không chỉ đi tìm cái đẹp của tự nhiên mà còn là cuộc đi tìm cái đẹp của sinh hoạt, của phong tục, của những nếp sống êm đềm, ngọt ngào hay tất bật, ngộ nghĩnh

và đậm vị điềm nhiên Hình tượng mưa cũng được lãng du vào công cuộc đi tìm cái đẹp

ấy Tâm hồn vốn lạc quan, cởi mở, những con người Việt Nam luôn biết tận hưởng niềm vui ngay trong sự gian khó, trắc trở Bên cạnh sự lo âu trước những cơn mưa thì con người lại cảm thấy hạnh phúc trước những con mưa ấy Đoàn Văn Cừ đã biết nắm bắt nhanh chóng trạng thái ấy và đưa vào thơ mình bằng những chi tiết thi vị trong bài

“Làng” Giữa cơn mưa, giữa sự giá lạnh, những tiếng cười của niềm hạnh phúc, những

trò tinh nghịch của trẻ con lại hiện lên Mưa không còn là vị hung thần, giờ đây mưa là hiển hiện của tình yêu thương Cơn mưa làm cho con người xích lại gần nhau hơn, thân ái

và đầm ấm hơn Còn đây là “Bữa cơm quê” của một gia đình trong lúc mưa rơi: mưa

lặng lẽ chảy, mưa dịu dàng, hiền hòa Mưa như ban phát và chứng kiến niềm vui đơn sơ của người dân quê Đó là niềm vui, niềm hạnh phúc được sống trong lao động, được sống với hạnh phúc gia đình, được sống giữa thiên nhiên bình yên và êm ả

Trong bức tranh thiên nhiên, trong bức tranh sinh hoạt của con người, mưa luôn biến chuyển liên tục từ trạng thái này sang trạng thái khác Lúc như là nhân tố tô điểm cho bức tranh thủy mặc, lúc thì dịu dàng êm ái chứng kiến, ban phát hạnh phúc, tạo nguồn sinh lực cho vạn vật; nhưng đôi lúc cũng giận dữ, thô bạo phá hủy cuộc sống con người Thật

sự, mưa đã trở thành yếu tố quan trọng không thể thiếu trong bức tranh làng quê Tuy có

kế thừa hình ảnh mưa trong thơ ca truyền thống và thơ Đường nhưng hình ảnh mưa trong phong trào Thơ Mới có sự phát triển với nhiều đường nét mới lạ: nhiều sắc thái hơn, nhiều hình dạng hơn, giàu sức biểu cảm hơn nhất là trong việc miêu tả thiên nhiên

1.2.2 Hình tượng mưa là chất xúc tác cho thế giới nội tâm con người được hiện

Trang 15

Văn học giai đoạn 1930 – 1945 đã kế thừa và phát huy trên tinh thần dân chủ sâu sắc những truyền thống tư tưởng lớn của nền văn học dân tộc Ấy là lòng yêu nước, lòng nhân đạo, tình thần dân tộc Ở mỗi bộ phận, mỗi xu hướng văn học, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc hiện lên với chiều hướng và mức độ khác nhau Bộ phận hợp pháp của văn học giai đoạn 1930 – 1945 đã thể hiện nội dung đó ở sự phát hiện vẻ đẹp thiên nhiên đất nước, vẻ đẹp truyền thống văn hóa con người như người viết đã nêu ở trên.Bên cạnh đó, thơ lãng mạn còn có công mở rộng thế giới tự nhiên và thế giới nội tâm con người Cả thế giới tình cảm: hạnh phúc, là lo âu, cay đắng, sầu não, đau khổ vô biên…đặc biệt là trong tình yêu đều được thể hiện một cách đặc sắc qua những vần thơ lãng mạn tuyệt vời Và hình tượng mưa được sử dụng với tác dụng của một chất xúc tác

để thế giới nội tâm con người càng hiện rõ hơn

Quy luật của tình yêu cũng giống như quy luật của trời đất vậy, không thể ngăn cản, không thể bảo nó dừng lại Ta yêu người, chẳng biết người có yêu ta? Dù người có yêu hay không thì ta vẫn yêu, vẫn nhớ nhung da diết Tâm trạng da diết đó được Trần

Huyền Trân gửi gắm vào hình tượng mưa trong bài “Thu”, “Tương Tư” Cả hai bài thơ

là hai lời than não nuột của một cá nhân trước cơn mưa - cơn bão lòng!

Thơ lãng mạn Nguyễn Bính Thể hiện những mô típ lãng mạn của ông: những trông đợi mơ hồ, những mối tình suông, những mơ ươc hão, tương tư kẻ không yêu mình… đặc biệt là những cuộc tình lỡ làng, dở dang Và trông những cuộc tình dở dang ấy, mưa như chất keo làm nỗi buồn sánh đặc lại Với Nguyễn Bính, mưa là nguyên nhân tạo nên

sự éo le trong cuộc đời của “chị” trong “Lỡ bước sang ngang” “Giời mưa” là nguyên nhân, là thảm họa cho bi kịch tâm hồn “chị”, vì “giời mưa” mà “chị ” phải lấy chồng Vì

“giời mưa” mà có pháo đỏ rựơu hồng, có niềm vui cho người khác và có nỗi buồn cho người ở lại Vì “giời mưa” mà hồn chị lạnh lẽo, như chết đi Vì giời mưa tất cả! Và kết

quả của những mối tình dở dang ấy là nỗi đìu hiu, trống trải, bâng khuâng của người ở lại: “Giếng thơi mưa ngập nước tràn; ba gian đầy cả ba gian nắng chiều”

Cô đơn là tâm trạng không thể tránh khỏi ở mỗi con người Có lẽ trong tình yêu, người ta dễ dàng nhận thấy sự cô đơn hơn Bởi khi yêu, ta luôn muốn khăng khít, muốn tiến gần đối phương nhưng đôi khi vẫn không được đối phương đáp lại Nỗi buồn từ sự

cô đơn ấy chưa dứt thì cơn mưa như làm nỗi buồn thêm thê thiết Cơn mưa liên miên, lớn và nặng hạt đã trở thành vật chướng ngại của đôi lứa Cơn mưa đã làm cắt đứt sợi

Trang 16

dây liên lạc giữa “tôi” và “em” trong “Người hàng xóm”, trong “Đàn tôi” Nếu như hình tượng mưa chính là nguyên nhân cho những cuộc tình dở dang trong thơ Nguyễn Bính thì mưa lại là nguyên nhân tạo nên sự ngăn cách trong thơ tình yêu của Hồ ZDếch, Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu Cơn mưa lạnh như kéo dài trong tâm hồn nhân vật trữ tình Cơn mưa xuất hiện đồng thời trong những buổi chia ly Cơn mưa làm tăng thêm nỗi giá

lạnh của cuộc “Chia ly”trong thơ Lưu Trọng Lư “Mưa ngàn” đã xóa đi mối liên hệ giữa

“ta” và “bạn” của Hồ ZDếnh Nếu như mưa tạo sự ngăn cách ở ngoại cảnh làm ngăn trở đôi lứa trong thơ Hồ ZDếch, Lưu Trọng Lư thì mưa trong “Bên ấy, bên này” của thơ Xuân Diệu lại tạo sự ngăn cách trong lòng người

Trong tình yêu, dù tình đã thoáng qua hay đã sâu đậm đều có thể dở dang Dù thời gian phai nhòa, cái còn xót lại trong mỗi chúng ta hẳn là những kỉ niệm Khi mưa rơi, ta

dễ dàng bắt gặp những kỉ niệm hơn

Trước cơn mưa, Bàng Bá Lân hồi tưởng về tuổi ấu thì với “Tình trong mưa”

Trong “mái nhà vang tiếng mưa”, đôi trai gái đã ngồi bên nhau rồi “mơ mộng” về hạnh

phúc Mưa như vỗ về trái tim đôi lứa Và rồi khi tình yêu không đơm hoa kết trái, mưa trở thành một kỷ niệm thật đẹp Hồ ZDếch nhớ lại mối tình mơ mộng của mình cũng

dưới “Mưa” Mưa đánh thức nỗi nhớ nhung trong tâm hồn “tôi”, mưa và “Hiền áo trắng” cùng hiện lên trong kí ức Mưa là kỉ niệm êm đềm cũng là nỗi nhớ nhung! Dưới

cơn mưa, Nguyễn Bính cũng có kỉ niệm thật ấm áp trong “Dòng Dư Lệ” Thấy mưa rơi

hôm nay mà nhớ về kỉ niệm của đêm mưa hôm nào Nỗi buồn thương, xót xa, luyến tiếc như ngập lòng thi nhân Trận mưa không phải rơi từ bầu trời mà rơi từ lòng người Đó

là trận mưa sầu Mỗi giọt mưa là mỗi giọt sầu Đó còn là trận mưa của sự bồi hồi, nhớ thương Cũng cùng tâm trạng đó, Lưu Trọng Lư như nức nở trong “Lại nhớ”

Trong tình yêu, hình tượng mưa đồng hành cùng nỗi nỗi nhớ nhung tương tư, cô đơn, nỗi đau lỡ làng duyên phận, nỗi luyến tiếc kỉ niệm đã qua Ở mỗi cung bậc của tình yêu, hình tượng mưa đều là chất xúc tác tạo cho tình yêu có thể thể hiện hết bản chất thật sự của nó Hình tượng mưa làm chất xúc tác khiến cho thơ tình càng quyến rũ hơn

Đó là đóng góp quan trọng của hình tượng mưa

Không chỉ là chất xúc tác trong những kí ức về tình yêu, mưa còn là hình tượng được các thi nhân gửi gắm niềm tâm sự của mình Đó là lòng yêu nước được thể hiện kín đáo Đó là nỗi tủi hờn sông núi, hay nỗi buồn vì cảm thấy thiếu quê hương ngay trên

Trang 17

đất nước mình Mưa là một phương tiện để họ dùng để thể hiện nỗi tủi hờn sông núi và thiếu quê hương

Trong “Tiểu Đăng Khoa”, “Lá thư ngày trước”, “Một phút ngừng say”, “Nửa

truyện hồ ly”, niềm sầu tư của Vũ Hoàng Chương chẳng những không được tẩy rửa đi

mà còn dâng cao vời vợi giữa cơn mưa Những cơn mưa nối tiếp, luân phiên nhau rơi xuống Những từ miêu tả cuộc đời chính mình cũng được Vũ Hoàng Chương sử dụng

cụ thể: “đời tàn”, “đời hiu hiu”, “ngày trắng” kết hợp với những cơn mưa lê thê tạo

nên mộ khung cảnh buồn não nuột giống như cuộc sống như vô vị, đầy khổ đau của thi nhân vậy Cuộc sống trôi qua, ngày cứ nối tiếp trôi qua; thi nhân xem cuộc sống, xem thời gian như vô nghĩa Sự bế tắc của quẩn quanh, lặp lại, hết ngày đến đêm và dưới cơn mưa lạnh lẽo Cũng chính vì cơn mưa “Mưa…mưa mãi” mà Lưu Trọng Lư đã bỏ lỡ cả

cuộc đời của mình: “buồn hết nửa đời xuân”, “mộng vàng không kịp hái”, “phí hoang đời trẻ dại” Cũng vì mưa mà tác giả thấy cuộc đời mình tựa hồ bị đầy đọa trong đau

khổ, đổ vỡ Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm với cuộc sống Với cuộc sống, ông yêu cầu có sự giao cảm tuyệt đối Nhưng vì yêu cầu tuyệt đối nên không bao giờ đạt được, nhất là trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ “Cảm xúc” đã thể hiện tâm trạng của thi nhân trong giai đoạn này một cách chân thật nhất Đó là nỗi buồn thương trước cơn mưa Đó không chỉ là sự đau đớn, sầu tư, bơ vơ mà còn là sự bế tắc, hoang phế trong tâm hồn thi nhân trước xã hội đương thời Bích Khê cũng cùng tâm trạng nhớ thương

“cố quốc” ấy với các thi sĩ đương thời Thi sĩ nhận ra sự lạnh lẽo ở xung quanh mình trong “Cuối thu”, trong “Tiếng đàn mưa” Và tiếng mưa của thi nhân là một tiếng lòng đang cất lên trước nỗi đau từ hoàn cảnh của đất, của bản thân

Hình tượng mưa trong thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 có sự kế thừa từ hình tượng mưa trong thơ ca trung đại Thơ ca trong giai đoạn 1930 - 1945 vẫn sử dụng bút pháp chấm phá, dùng hình ảnh tượng trưng để gợi những bức tranh nhiên nhiên thơ mộng; trong đó, mưa vẫn là một yếu tố trong bức tranh đã được gợi ra đó Tuy nhiên, trong việc thể hiện tình cảm cá nhân thì thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 lại sử dụng hình tượng mưa một cách triệt để hơn Hình tượng mưa trong giai đoạn 1930 - 1945 đi sâu vào tất cả thế giới tâm hồn của con người đương đại Đó là niềm vui, đó là nỗi buồn, đó là sự bất mãn trước thời cuộc…Trong khi đó, hình tượng mưa trong thơ trung đại chỉ thể hiện tình cảm của con người một cách hạn hẹp, có đi sâu vào đời sống cá nhân nhưng đó chỉ là thiểu số

Trang 18

1.3 Hình tượng mưa trong thơ ca giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945

Cách mạng tháng Tám đã mở ra một chặng đường mới vẻ vang và hào hoa cho dân tộc, thời kì độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội Cùng với sự kiện đáng nhớ

đó, nền văn học mới ra đời Đó là nền văn học mà văn nghệ sĩ thật sự được “cởi trói” Vì thế diện mạo văn học cũng như thơ ca đã trở về đúng với bản chất thật của nó Thơ ca sau năm 1945 vô cùng phong phú và đa dạng, nó không những tái hiện lại cuộc chiến đang xảy ra, đã xảy ra mà còn đi sâu vào từng ngõ ngách sâu kín trong tâm hồn con người Đặc biệt, hình tượng mưa trong giai đoạn này cũng có sự thăng hoa trong thơ của các văn nghệ sĩ

1.3.1 Mưa gắn liền với cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam

Các chặng đường lịch sử của dân tộc luôn là đề tài và cảm hứng sáng tác cho mỗi người cầm bút thiết tha với tổ quốc Chính vì thế, ta có thể dễ dàng nhận ra chất lịch sử trong thơ của các thi nhân Và hình tượng mưa giúp ta dễ dàng nhận ra chất lịch sử ấy hơn Lịch sử dân tộc ta chủ yếu trong giai đoạn này là lịch sử chiến đấu Ta sẽ bắt gặp hình tượng mưa hòa vào cuộc chiến đấu của dân tộc

Trong thơ Nguyễn Đình Thi, hình tượng mưa xuất hiện như một lực lượng tàn phá đi sức lực của con người Qua “Đất nước” và “Bài ca Điện Biên Phủ”, ta thấy cảnh vất vả của các chiến sĩ trong lúc hành quân Những chiến sĩ của ta phải chịu sự khắc nghiệt bởi

cái trái tính trái nết của tự nhiên: ngày thì cháy bỏng, đêm thì lạnh buốt vì “mưa dội”

Hình tượng mưa cũng xuất hiện cùng với những trận bom, pháo giật trên chiến trường trong “Lá cờ” Với Tế Hanh, mưa luôn gây trở ngại cho cuộc sống thường nhật và trong lúc chiến đấu Trong “Bác Pó”, mưa như làm tăng thêm sự gian lao cho Bác – vốn là người đã chịu đựng sẵn biết bao vất vả Còn với Tố Hữu, mưa là cái lạnh giá trong tâm hồn của người mẹ trước nỗi lo mất nước và mất cả con Trong đêm mưa, bóng “Mẹ Tơm” như héo hắt hơn trước bao nỗi đang đau giày xéo tâm hồn Mưa cũng vô tình gây

thêm bao cảnh nghiệt ngã cho những con người chịu cảnh “mất nước, nhà tan” Những

thân phận mồ côi, không nhà như càng đớn đau, giá lạnh hơn trước cơn mưa trong “Mồ côi” Thế hệ trước rồi thế hệ sau, người đi chiến đấu phải trải qua những khó khăn vất vả

Mưa là nỗi trắc nhớ mãi còn là dấu ấn trong tâm hồn mỗi chiến sĩ Riêng với Quang

Trang 19

Dũng, trận mưa rừng là nỗi trở ngại cho những lính mới nhưng cũng là thử thách để giúp con người kiên cường hơn bởi “Phan Thiết có anh tôi”

Không phải lúc nào hình tượng mưa cũng buồn Hình tượng mưa cũng mang niềm vui, niềm hạnh phúc Đó là niềm vui trong chiến thắng trong “Đá Hoa Nghệ” Đó là cảm giác ngất ngây giữa cuộc mới khi con người đã tận lực giành lại được cuộc sống của chính mình trong “Mưa xuân” Đó là niềm hạnh phúc dâng trào khi “Ngày về” đứng giữa quê hương nhưng những gông xiềng đã không còn mà chỉ còn tự do Đó là niềm vui khi được sống giữa quê hương tự do, được chung sống với người mình yêu thương trong

“Chim én”, “Buổi chiều ấy”…Nguyễn Đình Thi đã cho ta thấy sự cuống quýt, hối hả nhưng cũng có cái gì đó rưng rưng trong nỗi sướng vui trước chiến thắng và sự vươn mình của dân tộc

1.3.2 Mưa cụ thể hóa những cung bậc cảm xúc của con người

Xa nhà, xa người thân để lên đường chiến đấu, những kỉ niệm như trở thành những điều thiêng liêng nhất Trong lúc hành quân, Quang Dũng đã gặp lại sự thiêng liêng ấy từ hình ảnh cơn mưa trên một bản làng Quang Dũng mơ về một vùng đất mà mọi thứ như tang hoang và buồn man mác ở “Hồ Nam” Vùng đất trong tâm thức Quang Dũng là vùng đất chết Mọi thứ đều phai tàn, rệu rã Cơn mưa tô điểm cho vùng đất ấu thêm thê lương, trở thành bức tranh “nghĩa địa” Với Tố Hữu, mưa là một phần trong kỉ niệm về bức tranh thiên nhiên Tây Bắc “Việt Bắc” - đó là nơi đồng chí, đồng đội và “mình” đã từng sinh sống và hoạt động cách mạng Trong “Quê mẹ”, hình ảnh mưa gợi lên bao rưng rưng rồi nức nở của một đứa con xa quê, lâu lắm mới được về

Nỗi nhớ riêng tư cũng được Quang Dũng nhắc đến trong “Đôi bờ” Sông xa vốn đã

gợi nỗi buồn, mưa trên sông khiến cho lòng người càng buồn hơn Hình ảnh “lớp lớp

mưa dài” như nỗi buồn đang được nhân lên Trong “Có một điều như thế”, Hữu Thỉnh

cũng từng trong tâm trạng thương nhớ giống Quang Dũng Nếu như nỗi nhớ của Quang

Dũng dâng thành “lớp lớp mưa dài” thì nỗi nhớ của Hữu Thỉnh lại như “cơn mưa tích nước” trong “Tự thuật của người lính” Và nếu Hữu Thỉnh trộn nỗi nhớ vào cơn mưa thì

Thanh Tịnh lại trộn nỗi nhớ, nỗi chơi vơi vào lời nói trong “Đi từ giữa một mùa sen”

Trang 20

Trong hoàn cảnh kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, con người Việt Nam cố nén cảm xúc Dù là nỗi đau hay niềm vui cũng là nỗi đau, niềm vui chung với cộng đồng và dân tộc Còn khi trở về thời bình, con người cá nhân được đánh thức, mong muốn được bày tỏ, được cảm thông Chính vì thế, hình ảnh mưa trong trong thời kì này chủ yếu mang cảm xúc hướng nội, trở về với bản thể Đặc biệt nhất trong thời kì này có lẽ là thơ tình yêu và hình tượng mưa trong thơ về tình yêu

Tình yêu là tổng hòa của những cung bậc cảm xúc: buồn, vui, yêu, ghét…nhưng có

lẽ nỗi buồn và niềm vui là hai cung bậc thường được các nhà thơ đề cập hơn cả Hình tượng mưa trong cái buồn, cái vui ấy cũng có nhiều thú vị Trong nỗi cô đơn, hình tượng mưa đươc nhắc đến như nỗi buồn vừa khơi dậy

Xuân Diệu là người có linh hồn giao cảm với tự nhiên và cuộc đời hết sức mãnh liệt Khi đã có sự gặp gỡ giữa hồn người và hồn tạo vật, ông không nhận được gì ngoài nỗi cô đơn Trần gian trở thành chốn gió mưa đầy trời còn trên tiên giới cũng là nơi lạnh lẽo, hoang vu trong “Bụi mưa mờ cũ”, “Nước đổ lá khoai” và “Hết ngày hết tháng” Với Xuân Quỳnh, cảm thức về sự cô đơn thường được khơi dậy từ những cơn mưa Trong

“Chuồn chuồn báo bão”, dự cảm sự chia cách luôn tồn tại trong tâm thức của thi sĩ Sự chia ly vẫn chưa xảy ra Nhưng một sự thật đã xảy ra là tâm hồn cô đang bị tàn phá tang hoang, chỉ còn lại nỗi trống vắng Dự cảm về nỗi cô đơn cũng được gợi ra từ những cơn mưa trong “Anh”, “Tự hát”, “Nếu ngày mai em không làm thơ nữa”… Cơn mưa vô tình làm tăng thêm sự quằn quại của hồn người khi yêu Mưa cũng đồng hành trong nỗi lo âu,

dự cảm về sự đổi thay của đối phương Tế Hanh đã từng thấm thía sự lạnh lùng ấy trong buổi tạm xa cách với người mình yêu khi “Mùa mưa bắt đầu”, trong “Giữa anh và em” và

“Tặng” Và trong nỗi chia cách, từng hạt mưa “Mưa ngâu” như từng giọt lệ trên mi mắt

kẻ tương tư Nỗi buồn man mác như lan tỏa quanh không gian và giữa màn mưa trắng Trong phong trào Thơ mới, hình tượng mưa trong nỗi buồn, cô đơn của cái tôi được thể hiện rất đa dạng, phong phú Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong hoàn cảnh đời sống kháng chiến, hình tượng mưa hòa và niềm vui và nỗi buồn của con người trong tập thể; trong thời bình thì hình tượng mưa hòa vào những cảm xúc cá nhân Những cảm xúc ấy có vui, có buồn, có cô đơn Nhưng dù có cô đơn, buồn đến đâu cái tôi cá nhân cũng không bao giờ rơi vào sự bế tắc và tuyệt vọng

Trang 21

2 Hình tượng mưa trong thơ ca thế giới

2.1 Hình tượng mưa trong thơ ca Trung Quốc

Trung Quốc không những gần gũi về vị trí địa lý mà nền văn hóa, văn học cũng gần gũi Việt Nam hơn so với Ấn Độ và Nhật Bản Là một trong những quốc gia có lịch sử sớm nhất của văn minh nhân loại, có nền văn hóa xuất phát từ trung lưu, hạ lưu sông Hoàng Hà, Trung Quốc đã có nền văn minh rực rỡ mà tất cả nhân loại đều ngưỡng vọng

và cần học hỏi - trong đó có Việt Nam Có nhiều ý kiến thừa nhận, từ lâu đã có người gắn

sự ra đời với đỉnh cao của các thể loại qua các vương triều: Hán phú, Tống Từ, Đường thi, Minh - Thanh tiểu thuyết…Sự thừa nhận này đã phần nào nói lên đặc điểm riêng biệt của các thể loại Vì vậy, khảo sát thơ Đường là một lựa chọn thích hợp trong việc khảo sát thơ ca Trung Quốc

Nhiều sách lịch sử văn học Trung Quốc đều khá thống nhất trong việc phân chia các giai đoạn phát sinh, trưởng thành, thăng hoa, xuống dốc và tàn lụi của thơ Đường Các nhà nghiên cứu đã chia ra bốn giai đoạn: Sơ Thịnh Đường, Trung Đường, Thịnh Đường

và Vãn Đường Mỗi giai đoạn trong thời Đường đều có những tác giả và những nét đặc sắc riêng Những tác giả và số lượng tác phẩm của họ có thể nói là vô cùng phong phú không thể kể hết trong bài nghiên cứu nhỏ này nên tôi chỉ điểm qua một số tác giả tiêu biểu từ thời Thịnh Đường trở về sau và những tác phẩm tiêu biểu có hình tượng mưa của

Trang 22

Nước trong vờn đáy khe”

Bức tranh mùa thu với trời, núi, nước, trăng, cây Bức tranh ấy như thanh sạch, tinh khiết hơn sau khi được tắm qua cơn “mưa mới” Trận mưa không những làm bừng dậy những hoạt động của thiên nhiên “cây lấn trời xanh”, “đỗ quyên kêu rộn” mà chính trận mưa đã tạo nên nguồn sinh lực mới cho thiên nhiên Những hạt mưa mỏng manh đã tạo thành

“trăm con suối”, tạo thành mạch nước nuôi sống cả khu rừng xanh kia

Mưa trở thành nguồn sống cho thiên nhiên, có lần Tiền Khởi cũng nhắc tới:

“Hang suối trùm lau cỏ, Mây, ráng cỏ rèm buông

Mưa tạnh, trúc như mới, Chiều hôm, núi đẹp hơn.”

(Ở Phòng Sách Cốc Khẩu, Gửi Dương Bổ Khuyết)

Cơn mưa làm thay đổi tạo vật Cơn mưa tạo vẻ đẹp mới mẻ cho nhiên nhiên Nhờ cơn

mưa mà thiên nhiên như bừng nở cái đẹp vĩnh hằng của mình “trúc như mới”, “núi đẹp hơn”

Với Vương Duy, Lưu Trường Khanh, Đỗ Phủ mưa là hạt ngọc mà thiên nhiên đã ban phát Vương Duy thích thú với cơn mưa:

“Sớm mưa bụi sạch Vị Thành Xanh xanh quán khách mấy hàng liễu tươi Rượu này một chén cạn mời,

Dương quan ra khỏi không người bạn xưa”

(Tống Nguyên Nhị Sứ An Tây)

Cơn mưa đã tẩy rửa hết bụi bặm –“bụi Vị Thành”- bụi bặm của cuộc đời Cơn mưa làm

tươi mát cảnh vật và làm ấm lòng người khi nâng chén rượu cùng bạn

Trang 23

Lưu Trường Khanh đã “Tìm Thường đạo sĩ ở Nam Khê” và bắt gặp cảnh tiên tuyệt đẹp cũng như bắt gặp sự đổi mới trong lòng mình:

“Mưa xong ngắm vẻ cây tùng, Theo đường núi đến chỗ cùng thủy nguyên Hoa khe, thiều ý đôi bên

Trông nhau đứng sững cũng quên ngỏ lời”

Qua cơn mưa, cây tùng như được tắm mát - lòng của quân tử vẫn còn vẹn nguyên Nỗi vui, nỗi sung sường như ngấm vào lòng người

Với Đỗ Phủ, mưa là niềm hạnh phúc mà trời đã ban tặng cho con người Mưa làm cho cuộc sống con người tốt hơn, đầm ấm hơn:

“Ngoài trời mây phất mỏng…

Muôn dặm gió từ Tây Nắng sớm hôm nay đẹp Mưa nhiều lúa tốt thay!”

(Mưa Tạnh)

“Rửa tội cho con tạo!”, “Mưa nhiều lúa tốt thay!”, hai câu cảm thán đã thể hiện rõ cảm

xúc của thi nhân Đó là nỗi vui mừng khôn xiết khi trời ban cơn mưa Cơn mưa làm sạch cho sông núi và trở thành dưỡng chất nuôi cây lúa - nguồn lương thực chính của con người Vậy, cơn mưa đã gián tiếp góp phần vào việc tạo cuộc sống hạnh phúc cho con

người

Cùng với núi, sông, trời, mây, nước, trăng, hoa, cây cối…mưa đã tạo thành bức tranh thiên nhiên Trung Hoa hùng vĩ, đầy thi vị, lãng mạn tuy đôi lúc đượm chút vẻ u buồn Đằng sau sự góp phần hình thành thế giới tự nhiên xinh đẹp ấy, hình tượng mưa đã cho ta thấy rõ tấm lòng yêu quê hương đất nước mãnh liệt của các thi nhân

Trang 24

Nhưng không phải cơn mưa nào cũng tạo sức sống cho tạo vật, có những cơn mưa

vô tình làm cho khung cảnh thêm não nề Với cái buồn hiu hắt ấy, Liễu Tông Nguyên lại đưa vào thơ của mình:

“Gió dữ, lốc loạn, trên mặt đất phù dung Mưa đầy nghiêng giót vào bức tường rêu cỏ”

(Lên Lầu Thành Liễu Châu Gửi Bốn Quan Thứ Sử Châu Thương, Châu Đinh, Châu Phong, Châu Liên)

Đặc biệt, trong thơ Đỗ Phủ ta thấy càng rõ hơn sự chuyển biến kì ảo của hình tượng mưa trong thiên nhiên Đó là hình tượng mưa với những nét dữ dội:

“Mưa mừng trời mới ngớt

Ngoài bãi mưa thấp thao!

Trên sông mây xám xịt!’

(Mưa)

Trang 25

Mưa làm thiên nhiên như mất dần sự sống: non xanh thì “ủ rũ buồn”, trên sông thì

“mây xám xịt”…Bức tranh thiên nhiên tối sầm hẳn lại!

Trong bức tranh thiên nhiên, trong bức tranh sinh hoạt của con người, mưa luôn biến chuyển liên tục từ trạng thái này sang trạng thái khác Lúc như là nhân tố tô điểm cho bức tranh thủy mạc, lúc thì dịu dàng êm ái chứng kiến, ban phát hạnh phúc, sinh lực cho vạn vật; nhưng đôi lúc cũng giận dữ, thô bạo phá hủy cuộc sống con người Thật sự, mưa đã trở thành yếu tố quan trọng không thể thiếu trong bức tranh làng quê

2.1.2 Mưa là chất xúc tác quan trọng để khám phá thế giới tình cảm của con người

Trong thơ Đường, hình tượng mưa như đi sâu vào tất cả thế giới tâm hồn của con người đương đại Hình tượng mưa thể hiện niềm vui, nỗi buồn và cả sự bất mãn trước thời cuộc…Và lòng yêu nước còn thể hiện kín đáo nỗi “tủi hờn sông núi” , hay nỗi buồn

vì cảm thấy “thiếu quê hương” ngay trên đất nước mình cũng được thể hiện thông qua hình tượng mưa

Với Lý Thương Ẩn, Vi Trang, Vi Ứng Vật, mưa làm họ nhớ đến những kỉ niệm

(Ngoài Thành Phía Đông)

Hai hình ảnh gần như đối lập “mưa nhỏ” nhưng lại làm “mờ đồi thơm” Cơn mưa nhỏ không đủ sức làm mờ đồi thơm ấy Phải chăng những giọt lệ đang hòa cùng những giọt mưa trong tim rồi dâng lên khóe mắt thi nhân làm mờ đi tất cả? Đó hẳn là một cách giải thích cũng không phải không hợp lí

Trang 26

Lý Thương Ẩn thì quan sát thấy:

“Mưa trên sông bời bời, cỏ trên sông tươi thắm, Sáu triều vua như giấc mộng, chim bâng khuâng hót,

Vô tình bậc nhất là liễu ở Đài Thành

Vẫn y nguyên trong bóng khói của dải đê mười dặm”

(Bức Họa Thành Kim Lăng)

Cơn mưa lớn “bời bời” đã khiến cho vạn vật như mơn mởn ra “cỏ trên sông tươi thắm” Nhưng đó càng làm cho thi nhân thêm nao lòng Chính cái mơn mởn vô tình của

cỏ xanh, chính cái vẫn y nguyên của liễu cũ, chính cơn mưa nặng hạt đã gợi cho thi nhân

sự luyến tiếc về một thời vàng son trong quá khứ “sáu triều vua qua” Cơn mưa vẫn có tội lớn nhất với lòng người

Hình tượng mưa không những gợi lên cho thi nhân về những kỉ niệm mà nỗi nhớ thương cố quốc như cũng được nhắc nhở Vi Trang, Dương Sĩ Ngọc, Vương Xương Linh đều cảm nhận được nỗi đau ấy

Vương Xương Linh than rằng:

“Đêm vào đất Ngô, tràn sông, mưa lạnh, Sớm mai tiễn khách, bên ngọn núi nước Sở hiu quạnh, Bạn thân Lạc Dương ví có lời hỏi đến

Vẫn giữ tấm lòng băng trong hồ ngọc!”

(Lầu Phù Dung Tiễn Tân Tiệm)

“Mưa lạnh”, cơn mưa đã sẵn mang vào nó sự băng giá Từ “mưa” kết hợp thêm từ “lạnh” càng làm tăng thêm sự giá buốt trong tâm hồn người ở lại Nỗi đau như nhân đôi khi thân

ở nước Sở nhưng tấm lòng băng trong hồ ngọc vẫn được giữ cho cố quốc

Vi Trang cũng oán than:

Trang 27

“Tiếng đàn sắt oán nỗi đêm dài,

So dây tơ, gió mưa buồn thảm, Ngọn đèn lẻ loi nghe tù và nước Sở Trăng tàn lặn xuống phía Chương Đài.”

(Suy Nghĩ Về Đêm Nhớ Chương Đài)

Cả đọan thơ không còn ngoại cảnh mà chỉ còn nỗi lòng, tiếng lòng của thi nhân Đó là nỗi ai oán, phẫn uất, giữa đêm khuya Đó là nỗi cô đơn, lẻ loi bắt gặp giữa ngoại cảnh và tâm hồn có sự bắt gặp “gió mưa buồn thảm’, “ngọn đèn lẻ loi’, “trăng tàn”…Gió mưa như làm tăng thêm nỗi héo hắt trong lòng người!

Nếu như Vương Xương Linh và Vi Trang gửi tâm sự yêu nước của mình qua nỗi nhớ bạn, khi mơ hồ nghe tiếng tù và thì Dương Sĩ Ngọc lại nói trực tiếp vấn đề:

“Liễu hòe thành quận lơ thơ Đêm thêm mưa núi làm ngờ tiếng sông

Gió thu, xa mã đường không, Lầu cao một bước động lòng nước xưa.”

(Lên Cao)

Nỗi “động lòng nước xưa” của thi nhân được gợi nên từ liễu hòe, từ mưa núi, từ gió thu,

từ sự thiếu vắng của xa mã Nhưng trong đó, trận mưa có sự tác động lớn nhất với mối sầu của tâm hồn ấy, bởi trận mưa đã “làm ngờ tiếng sông” Trận mưa đánh thức tiếng lòng, tiếng vang vọng từ cõi thâm sâu của con người nhớ cố quốc ấy

Qua một số tác phẩm đã nêu ở trên, cả thế giới tâm hồn con người Trung Hoa như hiện lên với đầy đủ cung bậc Nỗi nhớ nhung, sự luyến tiếc, buồn thương…đều được thể hiện Và hình tượng mưa là một trong những chất xúc tác quan trọng để thế giới tâm tư

ấy hiện rõ

Trang 28

2.2 Hình tượng mưa trong thơ ca Ấn Độ

Với lịch sử hình thành hơn bốn nghìn năm, nền văn học Ấn đã có khối lượng tác phẩm và tác giả khổng lồ Vì điều kiện không cho phép tôi không thể nói chi tiết hơn về nền văn học của đất nước này nên tôi chỉ tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong văn học Ấn,

đó là hình tượng mưa trong thơ của Tagore Tagore là một trong những nhà thơ hiện đại

tiêu biểu của thơ ca Ấn Độ được biết đến trên toàn thế giới Những sáng tác của ông luôn đưa người đọc đến bến bờ của sự say mê, chất triết lý và cao hơn hết là vốn kiến thức Tagore đã sử dụng nhiều nguyên liệu từ thiên nhiên và đời sống phong phú của con người Trong đó thiên nhiên là một yếu tố quan trọng để tạo nên những mảng thơ tình tuyệt diệu của ông Mưa là một yếu tố thiên nhiên nhưng vào thơ Tagore, mưa trở thành

hình tượng lung lình kì ảo Hình tượng mưa trong thơ Tagore có sự biến hóa đa dạng

Hình tượng mưa trong thơ Tagore là hiện thân của sự gian khó trong cuộc sống đời thường:

“Chúa ở nơi người nông dân đang cày mảnh đất khô cằn

và nơi người phu đường đang đập đá Chúa ở cùng với họ trong nắng trong mưa.”

(Bài 11 - tập thơ Dâng)

Mưa như là một thử thách với những con chiên ngoan đạo với niềm tin vào Chúa Tagore cho rằng: đạo lý cao nhất, ngôi vị cao nhất của sự tín ngưỡng phải bắt đầu từ lao động, từ gian khổ Và mưa là một trong những yếu tố của sự gian khổ đó

Trong sinh hoạt, mưa gây những phiền phức, khó chịu Đây là phiên chợ phải tiếp diễn dưới cơn mưa:

“Phiên chợ diễn ra trước ngôi đền

Trời đã mưa từ sáng sớm tinh mơ

và ngày sắp hết.”

(Bài 76 – tập thơ Người Làm Vườn)

Cơn mưa còn tạo cho con người cảm giác không thoải mái Vì trời mưa khiến cho bầu trời trở nên xám xịt Lòng người dường như cũng héo úa, hoạt động cũng yếu dần:

Trang 29

“Những đóa hoa nhài đầu tiên

Những buổi mai xám xịt, trời mưa

Tôi đã hát những bài ca uể oải”

(Bài 1 - tập thơ Trăng Non)

Cơn mưa còn tạo nên nỗi buồn thê thiết hơn hơn lòng người khi lòng người bắt gặp cái mênh mông của tạo vật:

“Và cánh đồng ngập nước

trong cơn mưa rả rích không ngừng.”

(Bài 76 - tập thơ Người Làm Vườn)

Trong cuộc sống, chắc hẳn ai cũng một lần sẽ trải qua nỗi cô đơn trong chính lòng mình Nỗi cô đơn thường dày vò con người đến tận cùng đau đớn Với tâm trạng của người cô đơn, Tagore như thét lên:

“Hỡi những đêm mưa của ta

hãy đến đây với những bàn chân rộn rịp."

(Bài 46-tập thơ Người Làm Vườn)

Đêm về vốn đã mang cho loài người nỗi buồn miên man Đêm lại có mưa thì nỗi buồn dâng lên làm sao kể xiết Nỗi cô đơn trong đêm vắng ấy được thể hiện một cách trực tiếp qua hi vọng của thi nhân “hãy đến đây những bàn chân rộn rịp”

Tagore nỗi được biết đến với những bài thơ tình hay nhất thế giới Thơ tình là mảng đế tài có dấu ấn quan trọng với tác giả Và hình tượng mưa càng làm cho thơ tình của Tagore buồn man mác hơn

Đó là nỗi cô đơn khi tình yêu dường như ngoảnh mặt với mình:

“Nếu ngươi không ta nhìn thấy mặt, nếu ngươi hoàn toàn gạt ta một bên,

ta không rõ làm sao

ta có thể qua được

những giờ phút mưa buồn dai dẳng này.”

(Bài 18 - tập thơ Dâng)

Trang 30

Trận mưa được tính bằng phút Với thi nhân, thời gian chờ đợi trong tình yêu như lâu hơn Trận mưa càng làm cho nỗi buồn đã “dai dẳng” như kéo dài ra thêm

Đó là nỗi nhớ nhung khi không được gần người mình yêu:

“Chính mối sầu xa cách thức suốt đêm nhìn khắp các vì sao

và trở thành tiếng đàn giữa những vòm lá rì rào

trong bóng tối mưa dầm tháng Bảy”

(Bài 84 - tập thơ Dâng)

“Mưa dầm”- cụm từ miêu tả được thời gian kéo dài lê thê của cơn mưa đồng thời thể hiện cả mối sầu dai dẳng của thi nhân như song hành cùng cơn mưa ấy

Đó là những tiếc thương khi hồi tưởng về kỉ niệm Cơn mưa làm dậy lên mùi hương quen thuộc của người yêu:

“Và trong bao ngày mưa

mùi đất ẩm xông lên đến tận chỗ nàng qua những cọng lúa non tơ.”

(Bài 16 - tập thơ Tặng Phẩm Người Yêu)

Và đó còn là nỗi buồn vang lên từ trái tim si mê, tương tư :

“Nơi tầng mây nặng trĩu cơn mưa

Anh, anh gọi nàng là bóng tối, mặc anh Tôi chỉ biết cặp mắt hươu của nàng đen nhánh”

(Krisshnakali – tập thơ Những Người Thoáng Hiện)

Trái tim si mê vì vẻ đẹp ngây thơ từ “cặp mắt hươu đen nhánh” đã “nặng trĩu cơn mưa” Tính từ “nặng trĩu” được đặt trước cơn mưa cho thấy sức nặng, sự đè nén trong cơn mưa-cơn bão lòng của thi nhân

Trang 31

Trong thơ Tagore, hình tượng mưa mang sắc thái riêng biệt Hình tượng mưa hòa nhập vào tâm trạng con người ở mức cao độ nhất Đặc biệt là tâm trạng thường hướng đến nỗi buồn Đó là nỗi buồn từ thiên nhiên Đó là nỗi buồn của sự cô đơn, nhàm chán trong cuộc sống Và đó là nỗi buồn của sự xa cách, sự cô đơn, sự tương tư…trong tình yêu

2.3 Hình tượng mưa trong thơ ca Nhật Bản

Văn học Nhật Bản vẫn còn khá xa lạ so với sự phổ biến của tác phẩm Trung Quốc

và Phương Tây với Việt Nam Tuy nhiên, những năm gần đây, mối quan tâm đối với văn học xứ Phù Tang của bạn đọc Việt ngày càng tăng Nhất là nhu cầu tìm hiểu về tinh hoa thơ ca Nhật Bản đã phát sinh trong nhà trường và xã hội Tôi cũng là một đọc giả yêu thích và say mê văn chương Nhật Nhưng vì thời gian có hạn nên tôi chỉ xin trình bày một số hiểu biết của mình về những bài thơ có hình tượng mưa trong thơ ca Nhật

Ngoài những trang văn xuôi uyên thâm, Dogen còn là một nhà thơ Và thơ ông chưa đựng những tư tưởng mang chiều sâu thăm thẳm của đời sống:

“Chúng ta đi Như áng mây trời Qua cái sống và chết

Chúng ta đi

Đi trong giấc mộng Con đường vô minh Con đường ánh sáng

Và sau khi thức tỉnh Chỉ còn lại một điều

Trang 32

Trong trí nhớ tôi

Đó là tiếng mưa rơi

một đêm nào đó Trên mái lều tôi

ở Fukakusa!”

Với Dogen, thời gian dường như là vật sở hữu duy nhất của con người Dòng thời gian trôi chảy khiến cho cuộc sống luôn thay đổi, con người có thể đi qua “sự sống và cái chết”, nhưng những gì thuộc về kỉ niệm-“tiếng mưa rơi” vẫn mãi còn Tiếng mưa là tiếng của những kỉ niệm vọng về trong tâm thức thi nhân Nếu như dòng thời gian biểu trưng cho sức mạnh phá hủy của thiên nhiên thì tiếng mưa là biểu trưng của kỉ niệm thuộc thế giới tâm thức của con người còn đọng lại mãi

Nổi danh về sắc đẹp, tài thơ và cuộc đời lãng mạn, Komachi đã để lại những dấu

ấn đẹp trong thơ ca Nhật Có lẽ chính vì cuộc đời lãng mạn ấy nên thời gian đã trở thành nỗi ám ảnh đối với nàng:

“Hoa đào ơi Nhan sắc phai rồi

Hư ảo mà thôi Tôi nhìn thăm thẳm

Mưa trên đời tôi”

Và:

“Những bông hoa đang héo

những sắc màu đang phai

đi trong tháng ngày

Trang 33

giữa đồi vắng vẻ

mưa dài cơn bay”

Tâm hồn thi sĩ như một hình bóng u sầu, lang thang giữa tàn phai và hư ảo Sự tàn phai, héo úa, tàn rơi, cô tịch…như nhát dao găm vào vạn vật và cả trái tim nàng Từ đó toát lên nỗi đau của một con người luôn ý thức về sự sống và cái đẹp

Cũng với sự ý thức về sự tàn phai, Shikishi thở than:

“Hoa rụng cả rồi Tôi nhìn thế giới Một màu phai phôi Trong bầu trời rỗng Mưa mùa xuân rơi”

Cả thế giới tàn phai, nhạt nhòa “hoa rụng”, bầu trời rỗng”, thế giới “phai phôi”, đây

là cái nhìn đầy bi quan Nhưng trong niềm tuyệt vọng, tâm hồn ấy vẫn nảy nở tia hi vọng mong manh “mưa mùa xuân” Cơn mưa như tưới mát tâm hồn khô héo của thi nhân trong những giây phút cuối cùng

Định mệnh của thơ Haikai rơi vào tay Basho Với tài năng và trí tuệ, Basho biến haikai thành thể thơ độc lập có tên mới là haiku Thể thơ haiku ít âm tiết, súc tích, ngắn gọn nhưng thể hiện được nhiều tầng lớp ý nghĩa Vì thế, thể thơ này rất được yêu thích và

có người lưa chọn để thể hiện cảm xúc của mình Những bài thơ có hình ảnh mưa thì càng đặc biệt:

“Mưa xuân thầm thì Bên nhau đôi bóng

Ô và áo tươi cùng đi.”

Thi hào Buson đã vẽ bức tranh thiên nhiên sôi động Nón, áo tơi là hai vật biểu trưng cho sự có mặt của con người Cơn mưa mùa xuân như sợi dây gắn kết giữa hai cá

Trang 34

nhân Giữa trời mưa xuân, đôi bóng kề nhau còn hạnh phúc nào bằng hơn Qua đó, thể hiện niềm vui, hạnh phúc của thi nhân trước hạnh phúc lứa đôi giữ mùa xuân

Sanpu cũng góp vào vườn thơ haiku một tác phẩm tuyệt hay:

“Mưa tháng năm rơi

Và những con ếch Bơi đến cửa nhà tôi.”

“Mưa tháng năm”, cách dùng từ mới mẻ và độc đáo của tác giả gợi ta liên tưởng đến sự trôi chảy của thời gian Thời gian như những hạt mưa rớt xuống rối mất đi, không thể nào tìm lại hình hài cũ được Nhưng hình như cuộc sống hòa hợp với thế giới tự nhiên : những con ếch “bơi đến cửa nhà tôi” đã xóa hết nỗi lo âu về sự tàn phai của thời gian Sanpu đã gợi cho ta một phong thái sống ung dung và có ý nghĩa

Hình tượng mưa của Buson, Komachi…đã phần nào nói lên những đặc điểm của thế giới thơ ca Phù Tang Đó là thế giới văn chương duy tình, nơi cái đẹp được thánh hóa

và niềm đau được thanh tẩy, nơi giấc mộng chính là cuộc đời này

2.4 So sánh hình tượng mưa trong thơ ca Việt Nam và trong thơ ca Châu Á

Qua việc tìm hiểu hình tượng mưa trong thơ ca Việt Nam ở các giai đọan khác nhau và trong thơ ca của một số nước ở Châu Á đã cho ta thấy được những nét đặc sắc trong hình tượng mưa cũng như các nền văn học này

Đất nước Trung Hoa là đất nước có nhiều biến động lịch sử về chống và giữ nước; lịch sử Việt Nam cũng có những giai đoạn lịch sử tương tự nhế thế Tuy không gian sống khác nhau, tuy sáng tác ở những thời kì khác nhau nhưng do sống trong cùng một quá trình lịch sử gần giống nhau nên hệ tư duy của các nhà thơ Việt và các nhà thơ thời Đường có sự tương hợp Hình ảnh mưa trong thơ ca Việt Nam và thơ Đường đều thể hiên những vấn đề của cá nhân và cuộc sống Đó là sự khốn khổ của con người, đó là niềm đau trứơc thời cuộc, đó là sự tự ý thức giá trị của bản thân…Đó là lòng yêu mến thiên nhiên, lòng yêu những cảnh đẹp của quê hương Mặc dù xuất phát từ cùng một ý thức hệ nhưng thơ ca Việt Nam có những nét riêng Thơ ca trung đại Việt Nam có sự kế thừa và tiếp thu từ thơ Đường, nhưng việc mô tả thiên nhiên không hoàn toàn dùng những hình

Trang 35

ảnh ước lệ, trưng như thơ Đường Nếu như trong thơ Đường, mưa là một phần trong bức tranh phong, hoa, tuyết, nguyệt bất di bất dịch thì trong thơ ca trung đại việt Nam nói về thiên nhiên, hình tượng mưa có sức sống mãnh liệt và dẻo dai Hình tượng mưa trong thơ

ca thiên nhiên cũng có tâm hồn, có sức sống, giúp con người có thể sống hòa hợp và tự

do trong tự nhiên Đây là đặc điểm chứng minh được ý thức tiếp thu có chọn lọc của các nhà thơ trung đại Việt Nam

Hình tượng mưa trong thơ hiện đại Việt Nam có những đặc điểm khác so với hình tượng mưa trong thơ Ấn Độ và Nhật Bản

Văn chương Nhật không có kinh điển và sử thi như ở Ấn Độ, không có Bách gia chư tử như ở Trung Quốc; đó là nền văn chương của tình cảm và thiên nhiên.Về thiên nhiên thơ Nhật giống như nhận xét của Osawa: văn chương Nhật là “sự rung cảm, sự phập phồng nhịp nhàng theo vận tiết của vũ trụ Chỉ vỏn vẹn có mấy chữ, một bài thơ Nhật muốn nhắc ta nhớ lại nhịp rung của vũ trụ vô hình mà chúng ta thường quên; thơ Nhật muốn gợi cho tâm hồn nỗi niềm tưởng nhớ một quê hương vô hình” Về tình cảm,

dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tâm linh của văn học Nhật đều thể hiện tín ngưỡng vô cùng đáng yêu: đó là cái Đẹp Cái đẹp là cảm hứng chủ đạo trong thế giới tình cảm người Nhật Hình tượng mưa thơ ca về thiên nhiên Nhật Bản vẫn còn chiếm số lượng khá ít trong khi hình tượng mưa tồn tại trong bức tranh thiên nhiên Việt Nam lại vô cùng phong phú và đa dạng Hình tượng mưa trong thiên nhiên Nhật Bản tượng trưng cho cái đẹp nên thường lung linh, huyền ảo, thơ mộng Trong thơ về thiên nhiên Việt nam, hình tượng mưa có sự biến đổi liên tục và phản ánh đầy đủ tính chất phức tạp: vừa đẹp đẽ nhưng cũng vừa dữ dội, mang sức mạnh tàn phá

Trong thơ ca Ấn Độ, con người luôn là trung tâm của vũ trụ Con người có thể sánh ngang với các lực lượng của thiên nhiên và Chúa trời Tâm hồn con người là cả thế giới huyền bí và siêu hình Chính vì thế, hình tượng mưa trong văn học Ấn chỉ là một thành phần bổ trợ, góp phần dẫn lối để khơi gợi thế giới siêu hình ấy lộ diện Trong thơ

ca Việt Nam, con người luôn sống chan hòa cùng tạo vật Vì thế, mưa không những là người bạn thân thiết mà còn là lực lượng hỗ trợ trong cuộc sống đầy khó khăn và phức tạp Điều đó đã thấy rõ sự khác biệt giữa sự tồn tại của hình tượng mưa ở hai nền thơ ca khác nhau

Trang 36

Tóm lại, dù có những điểm tương đồng hay khác biệt thì mỗi nền thơ ca của mỗi quốc gia đều sử dụng hình tượng mưa với hiệu quả cao nhất Từ đó, vẻ đẹp của hình tượng mưa trong thơ ca như được thăng hoa

Trang 37

CHƯƠNG II HÌNH TƯỢNG MƯA TRONG THƠ CỦA HUY CẬN

1 Tiểu sử nhà thơ Huy Cận

Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919, tại xã Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) Bố ông đậu tam trường, làm hương sư ở Thanh Hóa, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng Mẹ ông quê ở

xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ - vùng quê dệt lụa nổi tiếng Cả hai người đều yêu văn chương, rất thuộc “ Truyện Kiều”

Thuở nhỏ, Huy Cận học ở quê nhà Đang học lớp tư thì được ông cậu đưa về Huế học đến hết tú tài tòan phần Nơi đây, năm 1936 Huy Cận gặp người bạn thơ tri kỉ: Xuân Diệu Năm 1939, Huy Cận ra Hà Nội học trường Cao đẳng Nông Lâm Từ cuối năm

1941, ông vừa học vừa tham gia họat động Việt Minh Tháng 7 năm 1945, ông được Tổng bộ Việt Minh triệu tập dự họp Quốc dân Đại hội tại Tân trào và được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng tòan quốc Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nứơc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Huy Cận được giữ chức Bộ trưởng bộ Canh nông và ngày 23 -

11 - 1945, được Hồ Chủ tịch giao thêm nhiệm vụ là Thanh tra đặc biệt của Chính phủ Từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1946, ông được cử giữ chức Thứ trưởng bộ Nội vụ Trong kháng chiến chống Pháp ông làm Thứ trưởng bộ Canh nông rồi Thứ trưởng bộ Kinh tế (1947 - 1949) Từ năm 1949 đến năm 1955, ông là Thứ trưởng, Tổng thư kí Hội đồng Chính phủ Từ năm 1955 đến năm 1984, ông chuyển sang công tác lãnh đạo văn hóa với cương vị là Thứ trưởng thường trực Bộ Văn hóa Từ năm 1984 đến 1987 Huy Cận được

bổ nhiệm làm Bộ trưởng đặc trách công tác văn hóa - nghệ thuật tại Văn phòng Hội đồng

Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch Ủy ban trung ương Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật.Ông còn là Đại biểu Quốc hội khóa 1, 2 và 7 Được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt I - 1996)

Ngòai những họat động về kinh tế, chính trị, văn hóa trong nước, Huy Cận còn là nhà họat động Quốc tế năng động, có nhiều đóng góp tích cực trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Ông đã là đồng Chủ tịch Đại hội nhà văn Á - Phi họp ở Ai Cập vào tháng 02 năm

Trang 38

1962, đồng Chủ tịch Đại hội văn hóa tòan thế giới họp ở Cu - ba vào tháng 01 năm 1968,

là Ủy viên Hội đồng chấp hành UNESCO từ năm 1978 đến năm 1983, là Phó Chủ tịch

Tổ chức hợp tác văn hóa - kỹ thuật của 49 nước từ năm 1981 đến 1987, là Ủy viên Hội đồng cao cấp tiếng Pháp từ năm 1985 trở đi Huy Cận là nhà họat động chính trị, kinh tế, văn hóa và là nhà thơ lớn của nền thơ Việt Nam hiện đại

Năm 1936, Huy Cận bước vào con đường sáng tác văn chương với những bài bình luận văn học đăng trên báo Tràng An, báo Sông Hương, lấy bút danh là Hán Quỳ Từ

1938, Huy Cận có thơ trên báo Ngày nay Tập thơ đầu tay Lửa Thiêng ra mắt độc giả vào tháng 11 - 1940, (bằng tiền tái bản tập Thơ Thơ của Xuân Diệu) Ðây là thời gian Huy Cận cùng sống với Xuân Diệu tại số 40 Hàng Than - Hà Nội Và cho đến ngày nay, Huy Cận đã cho ra đời hơn hai mươi tập thơ và hơn bảy tập văn xuôi, có thể kể như:

5 Tập “Bài thơ cuộc đời”

6 Tập “Hai bàn tay em”

7 Tập “Những năm sáu mươi”

8 Tập “Phù Đổng Thiên vương”

9 Tập “Cô gái Mèo”

10 Tập “Thiếu niên anh hùng họp mặt”

11 Tập “Chiến trường gần, chiến trường xa”

12 Tập “Những người mẹ, những người vợ”

Trang 39

13 Tập “Ngày hằng sống, ngày hằng thơ”

14 Tập “Sơn Tinh-Thủy Tinh”

15 Tập “Ngôi nhà giữa nắng”

16 Tập “Hạt lại gieo”

17 Tập “Chim làm ra gió”

18 Tập “Tao phùng”

19 Tập “Marées de la Meret Orientale”

20 Tập “Messges stellaires et terrestres”

21 Tập “Thiên nhiên, nôi ấm của em”

22 Tập “Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ”

23 Tập “Ta về với biển”

Văn xuôi:

- Tập “Kinh cầu tự”

- Bài “Suy nghĩ về nghệ thuật”

- Tập “Culture et politique cultelle en R.S du Vietnam, Paris”

- Bài “Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (viết chung)”

- Bài “Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc”

- Bài “Các vùng văn hóa Việt Nam (chủ biên cùng Đinh Gia Khánh)”

- Tập “Hồi ký song đôi”

Sau một thời gian bị bệnh nặng, mặc dù được các thầy thuốc tận tình cứu chữa, nhưng do tuổi cao, sức yếu, nhà thơ Huy cận đã qua đời tại Hà Nội lúc 20h53 ngày 19 tháng 02 năm 2005

Trang 40

Với những đóng góp to lớn trong con đường đấu tranh, giải phóng dân tộc cũng như về văn học nghệ thuật, Huy Cận xứng đáng được nhận danh hiệu là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn tầm cỡ thế giới

2 Huy Cận viết nhiều về những cơn mưa Việt Nam

Thơ ca Việt Nam trải qua nhiều thời kì hình thành và phát triển; trong mỗi thời kì, đều có những cây bút khám phá về hình tượng mưa Tuy nhiên, không phải cây bút nào cũng có nhiều sáng tác và thành công với hình tượng này

Văn học trung đại Việt Nam đã trải qua bốn giai đoạn: giai đạn văn học thời Lý - Trần từ thế kỉ mười một đến thế kỉ mười bốn, giai đoạn văn học thời Lê từ thế kỉ mười lăm đến thế kỉ mười bảy, giai đoạn văn học từ thế kỉ mười tám đến nửa đầu thế kỉ mười chín và giai đoạn văn học ở nửa cuối thế kỉ mười chín Trong nền văn học này, chúng ta từng biết đến những cái tên đã làm nên một thời kì rực rỡ của thơ ca như: Lý Công Uẩn,

Lý Thường Kiệt, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Mộng Tuân, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà…Đây là những nhà thơ lớn, sáng tác của họ không những có chiều sâu về tư tưởng mà còn có sự đặc sắc trong việc sử dụng hệ thống các đề tài Tuy nhiên, qua ngần

ấy nhà thơ, duy chỉ có Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến là hai tác gia sử dụng hình tượng mưa nhiều nhất trong sáng tác của mình

Hình tượng mưa được Nguyễn Trãi nhắc đến trong các bài: “Nghe mưa”, “Tự thán XXV”, “Ngôn chí XVI, “Gửi cậu dịch trai Trần Công”, “Bến đò xuân đầu trại”, “Cuối xuân tức cảnh”, một bài trích trong “Tinh văn yên tập” …

Trong các bài: “Mai vũ”, “Cỏ tóc tiên”, “Bài ca cũ ở xứ vườn Bùi”, “Ngày hè ngẫu hứng”, “Ngày hè hạn lâu, mừng gặp mưa”, “Ngày hè vừa tạnh mưa”, “Ngày xuân dạy các con”, “An ủi nguyên tri huyện Nam Xang là chú Hoàng”, “Tiết thanh minh năm Canh Dần”, “Mùa xuân bị ốm”, “Ngày xuân”, “Năm mất mùa”, “Tiết trùng dương năm Kỷ Sửu”, “Tức sự”, “Quan thượng thư Châu Giang họ Bùi từ kinh về muốn đến thăm rồi thôi, làm thơ gởi”, “Mừng mưa”, “Việc mua ao cá”, “Qua hai đền Trạng nguyên”, “Năm mất mùa, mừng mưa”, “Qua năm cửa ải ở Cao Ban”, “Nỗi buồn ban đêm”, “Ngắm chiều

Ngày đăng: 15/12/2015, 18:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dung một thoáng tương tư  chín chiều… - Hình tượng mưa trong thơ huy cận
Hình dung một thoáng tương tư chín chiều… (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w