Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc khảo sát nhịp điệu trong các bài thơ lục bát của Huy Cận để thấy đợc sự kế thừa và cách tân, sáng tạo về nhịp điệu củanhà thơ trong thể t
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
Trang 2nhịp điệu trong thơ lục bát
huy cận
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành ngôn ngữ
GV hớng dẫn: ts nguyễn hoài nguyên
SV thực hiện: đậu thị lơng anh
Lớp: 43E 4 - Ngữ văn
Vinh, 5/2007
= =
Mục lục
Trang
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 2
4 Đóng góp của khóa luận 4
5 Bố cục của khóa luận 4
Chơng 1: Một số vấn đề chung 5
1 Vài nét về Huy Cận và thơ Huy Cận 5
1.1 Nhà thơ Huy Cận (1919 - 2005) 5
1.2 Thơ Huy Cận 7
2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 8
2.1 Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi 8
2.2 Thể thơ lục bát 10
2.3 Nhịp điệu và nhịp điệu trong thể thơ lục bát 11
Chơng 2: Nhịp điệu trong thơ lục bát Huy Cận 14
1 Nhịp điệu trong câu thơ lục bát 14
1.1 Nhịp điệu trong câu lục 14
1.2 Nhịp điệu trong câu bát 19
Trang 31.3 Nhịp điệu trong câu lục bát 26
1.4 Nhận xét 43
2 Cách bố trí các loại nhịp trong bài thơ lục bát Huy Cận 49
2.1 Bài thơ có hai loại nhịp 49
2.2 Bài thơ có ba loại nhịp 50
2.3 Bài thơ có bốn loại nhịp 54
2.4 Bài thơ có năm loại nhịp 57
2.5 Bài thơ có sáu loại nhịp 61
2.6 Bài thơ có bảy loại nhịp 64
2.7 Bài thơ có tám loại nhịp 67
2.8 Bài thơ có chín loại nhịp 70
2.9 Nhận xét 73
Chơng 3: Nhạc điệu trong thơ lục bát Huy Cận 76
1 Quan hệ giữa nhịp điệu với vần 76
1.1 Vần thơ 76
1.2 Quan hệ giữa nhịp điệu với vần 77
2 Quan hệ giữa nhịp với thanh điệu 78
2.1 Thanh điệu 78
2.2 Quan hệ giữa nhịp và thanh điệu 79
3 Vấn đề nhạc điệu trong thơ lục bát Huy Cận 81
3.1 Nhạc điệu trong thơ 81
3.2 Nhạc điệu trong thơ lục bát Huy Cận 82
Kết luận 85
Tài liệu tham khảo 86
Trang 4Lời cảm ơn
Tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Hoài Nguyên
đã hớng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Cho tôi đợc gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa, cùng bạn bè và gia đình đã động viên giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt khóa luận này Tuy nhiên do thời gian, nguồn t liệu và khả năng có hạn nên khóa luận không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi hy vọng sẽ nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để khóa luận đợc hoàn chỉnh hơn.
Vinh, tháng 5 năm 2007.
Sinh viên
Đậu Thị Lơng Anh
Trang 5Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Huy Cận có vị trí quan trọng Là
một nhà thơ lớn, Huy Cận đồng thời còn là một nhà chính trị, nhà văn hóa, có nhiều đónggóp cho sự nghiệp văn học, văn hóa và sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Nổi tiếng trên thi đàn từ phong trào Thơ mới, từ “Lửa thiêng” đến nay, Huy Cận đã có một gia tài thơ khá đồ sộ với 20 tập thơ và trở thành cây đại thụ của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Hơn nửa thế kỷ cầm bút, gắn bó cuộc
đời mình với sự nghiệp thơ ca và sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhà thơ Huy Cận đã không ngừng phấn đấu sáng tạo để có những bài thơ đạt đến đỉnh cao của thành tựu thơ Việt Nam và trở thành tri âm, tri kỷ của nhiền bạn đọc Thơ Huy Cận là một mảng đề tài lớn thu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ cây bút nghiên cứu phê bình văn học và những ngời yêu cái đẹp của thơ ca trong
và ngoài nớc.
1.2 Một trong những yếu tố tạo nên cái hay, cái đẹp tạo nên sự ấn tợng của thơ Huy
Cận là yếu tố nhịp điệu Nhịp điệu trong thơ cùng với vần thơ và sự hòa phối thanh điệu đãtạo thành giai điệu, nhạc tính cho thơ Giai điệu của thơ đơng nhiên có sức lay động lòngngời trên cơ sở sự hòa kết nhịp nhàng giữa hình thức biểu hiện và nội dung đợc biểu hiện,giữa nhịp điệu và ngữ nghĩa Vì thế, thơ Huy Cận đã vơn đến những đỉnh cao về mặt nghệthuật thơ Đây cũng là lí do để chúng tôi đi sâu tìm hiểu một khía cạnh sáng tạo nghệ thuật
thơ của Huy Cận là Nhịp điệu trong thơ lục bát Huy Cận“ ” làm đề tài khóa luận tốtnghiệp đại học
1.3 Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc khảo sát nhịp điệu trong các
bài thơ lục bát của Huy Cận để thấy đợc sự kế thừa và cách tân, sáng tạo về nhịp điệu củanhà thơ trong thể thơ truyền thống này Đồng thời, khóa luận cũng góp phần là sáng tỏ giátrị của nhịp điệu trong việc biểu hiện các giá trị nội dung và việc cảm thụ thơ ca
2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của khóa luận là khảo sát nhịp điệu trong thơ lục bát của Huy Cận, cụ thể là khảo sát nhịp thơ và cách ngắt nhịp câu thơ, khổ thơ, bài thơ.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho khóa luận phải giải quyết những vấn đề sau đây:
- Khảo sát thơ Huy Cận, xác định tổng số các bài thơ lục bát của nhà thơ, từ đó xác
định, phân loại các loại nhịp, các cách ngắt nhịp trong câu thơ lục bát
Trang 6- Khảo sát tần số xuất hiện để xác định loại nhịp phổ biến đồng thời chỉ ra nhữngbiểu hiện về sự cách tân sáng tạo trong nhịp thơ lục bát của Huy Cận.
- So sánh đối chiếu với ca dao, với các tác giả khác để đánh giá chung về vai tròcủa nhịp điệu trong việc biểu hiện ngữ nghĩa và cách cảm thụ thi ca
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn t liệu
“Tuyển tập Huy Cận” gồm 2 tập Tập I xuất bản 1986, tập II xuất bản 1995
Các bài thơ lục bát lấy làm t liệu của khóa luận đợc chúng tôi rút ra từ các tập thơsau đây:
- Lửa thiêng (1930): 8 bài (Buồn nửa đêm; Trông lên; Chiều xa; Đẹp xa; Ngậmngùi; Xuân ý; Thu rừng; Thuyền đi)
- Vũ trụ ca (1942): 2 bài (Nắng đào, Nằm nghe ngời thở)
- Trời mỗi ngày lại sáng (1958): 6 bài (Vệt lá trên than; Thu về trên đèo nai; Nằmtrong tiếng nói; Hoa lay bóng sáng; Đồng quê bát ngát; Quanh nơi làm việc)
- Đất nở hoa (1960): 3 bài (Sang xuân; Hoa sấu bầy ong; Trăng xuân)
- Bài thơ cuộc đời (1963): 5 bài (Chờ con ra đời, Mỗi buổi chiều tới đón con về;Nhật ký đi đờng; Gió chuyển mùa, Trăng rằm mọc)
- Chiến trờng gần đến chiến trờng xa (1973): 2 bài (Mẹ đi lấp hố bom; Về thămquê xã Đức Ân)
- Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975): 5 bài (Thăm lò chum; Mẹ ơi, Đời mẹ;
Đêm trăng ma; Cây hoàng lan vờn tôi; Chiều đông nghe nhạc Betthoven)
- Ngôi nhà giữa nắng (1978): 2 bài (Đêm hè nghe nhạc; Gửi một ngời bạn điêukhắc)
- Hạt lại gieo (1984): 4 bài (Mẹ con con mèo; Chiêm bao; Nằm bệnh viện, nhớ conút; Nhạc ơi)
- Chim làm ra gió (1991): 3 bài (Tuổi thơ chơi vụ; Gọi điện thoại; Vờn hồng)
- Tao phùng (1993):1 bài (Yêu đời)
- Những bài thơ khác: Cảm thông; Gối tay; Tóc em; Anh vào hiệu sách; Hỡi emyêu, hỡi em thơng; Miken - lăng; Mùa xuân vĩnh viễn; Mùa xuân vĩnh viễn II
- Phơng pháp phân tích miêu tả theo ngữ pháp ngữ nghĩa, ngữ đoạn, mệnh đề (cúpháp), thành phần câu (chức năng cấu tạo) và thành tố trực tiếp để xác định các loại nhịptrong thơ lục bát của Huy Cận
Trang 7- Phơng pháp so sánh đối chiếu để chỉ ra những sáng tạo và cách tân của Huy Cận.
4 Đóng góp của khóa luận
- ở một mức độ nhất định, khóa luận tìm hiểu nhịp điệu thơ lục bát của Huy Cận dớigóc độ ngôn ngữ học, qua đó cho thấy của Huy Cận trong việc đa dạng hóa nhịp điệu ở thểthơ lục bát
- Khóa luận cũng góp phần cung cấp cho việc tìm hiểu yếu tố nhịp điệu trong thơcủa các tác giả khác, từ đó ứng dụng vào việc tìm hiểu thơ nói chung và việc giảng dạy thơtrong nhà trờng nói riêng
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần phụ lục, phần chính văn của khóa luận gồm 87 trang Tru phần mở đầu
và kết luận, nội dung của khóa luận đợc trình bày thành 3 chơng:
Chơng 1: Một số vấn đề chung
Chơng 2: Nhịp điệu trong thơ lục bát Huy Cận
Chơng 3: Nhạc điệu trong thơ lục bát Huy Cận
Trang 8Năm 1938, bài thơ “Chiều xa” của Huy Cận đợc đăng số Tết báo “Ngày nay”.Tháng 10 năm 1939, Huy Cận ra Hà Nội học trờng Cao đẳng Nông lâm và cùng sống vớiXuân Diệu trên gác số 40 phố Hàng Than Tháng 11 - 1940, tập thơ đầu tay của Huy Cận
“Lửa thiêng” đợc Nhà xuất bản Đời nay ấn hành với số lợng lớn so với hồi đó (ba nghìnbản)
Đầu năm 1942, Huy Cận tham gia hoạt động Việt Minh Từ cuối năm 1943, HuyCận, Dơng Đức Hiền và một số anh em trí thức chuẩn bị đến ngày 30-06-1944 chính thứcthành lập Đảng dân chủ trong Mặt trận Việt Minh Cuối tháng 7 - 1945, Huy Cận đợc Tổng
bộ Việt Minh triệu tập họp Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và đợc bầu vào ủy ban dân tộc giảiphóng toàn quốc và về sau mở rộng thành Chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ cộnghòa
Sau khi ở Tân Trào về Huy Cận đợc cử vào phái đoàn Chính phủ lâm thời vào Huếnhận sự thoái vị của Bảo Đại Trong Chính phủ lâm thời, Huy Cận đợc cử giữ chức Bộ tr-ởng Bộ Canh nông và ngày 23 - 11 - 1945 lại đảm nhiệm thêm công việc Thanh tra đặc biệtcủa Chính phủ
Trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Huy Cận giữ chức Thứ trởng Bộ Canh nông,
từ tháng 5 đến tháng 11 - 1946 lại đảm nhận chức vụ Thứ trởng Bộ nội vụ
Trong kháng chiến chống Pháp, Huy Cận lần lợt đảm nhận các chức vụ: Thứ trởng
Bộ Canh nông (12 - 1946 đến 1947), Thứ trởng Bộ kinh tế (1947 - 1949), Thứ trởng, Tổng
th ký Hội đồng Chính phủ (1949 - 1955)
Từ cuối năm 1955 đến năm 1984 là Thứ trởng Bộ Văn hóa Từ tháng 9 - 1984 là Bộtrởng đặc cách công tác Văn hóa Nghệ thuật tại Văn phòng Hội đồng Bộ trởng, kiêm Chủtịch ủy ban Trung ơng Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam Tiếp đó là Phó chủ tịch ủyban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt nam
Huy Cận là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, là đại biểu Quốc hội khóa 1, khóa
2, khóa 7 và khóa 8
Trang 9Ngoài nhiệm vụ trong nớc, Huy Cận còn tham gia hoạt động quốc tế, có nhiều đónggóp trên lĩnh vực văn hóa - thông tin nh: đồng chủ tịch Đại hội nhà văn á Phi họp ở Ai Cập (2 -1962), đồng chủ tịch Đại hội văn hóa toàn thế giới họp ở Cu Ba (1-1986), là ủy viên Hội đồngchấp hành UNESCO (1978 - 1983).
Năm 1990, nhà thơ Huy Cận đợc tặng thởng Huân chơng Hồ Chí Minh
Năm 1996, Huy Cận đợc tặng giải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt1)
Tháng 6 - 2001, nhà thơ Huy Cận đợc bầu là viện sĩ Viện hàn lâm toàn thế giới vềthơ
Là nhà thơ có các bài báo đăng từ sớm (1938) và hơn hai năm sau (1940) tập thơ đâu
“Lửa thiêng” là một nỗi buồn mênh mang, da diết, một hồn thơ “ảo não”, bơ vơ cố tìm đ ợc
sự hài hòa mà mạch sống âm thần trong tạo vật và cuộc đời Trong “Kinh cầu tự” (1942,văn xuôi triết lí) và “Vũ trụ ca” (thơ đăng bào 1940 - 1942), Huy Cận đã ca ngợi niềm vui,
sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn cha thoát khỏi bế tắc
Sau cách mạng tháng Tám - nhất là từ 1958 - hồn thơ Huy Cận đợc khơi nguồn từcuộc sống chiến đấu và lao động xây dựng của nhân dân, trở nên dồi dào, đầy lạc quan Cáctập thơ của Huy Cận sau cách mạng: “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958), “Đất nở hoa”(1960), “Bài thơ cuộc đời” (1963), Hai bàn tay em (thơ thiếu nhi, 1967), Những năm sáumơi(1968), Chiến trờng gần đến chiến trờng xa (1973), Họp mặt thiếu niên anh hùng(1973), Những ngời mẹ, những ngời vợ (1974), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975),Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984)
1.2 Thơ Huy Cận
Huy Cận là một cây đại thụ của làng thơ hiện đại Việt Nam Ngót 60 năm sáng tác, Huy Cận đã in ra 20 tập thơ và còn hàm trăm bài cha in, trong đó có nhiều bài là kiệt tác Huy Cận trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu của thế kỷ XX Ông còn viết văn xuôi, viết sách nghiên cứu
và là một nhà hoạt động chính trị, nhà văn hóa có nhiều đóng góp cho đất nớc những năm đầy biến động, chuyển mình và đợc nhiều nớc trên thế giới
in, giới thiệu, liệt vào hàng danh nhân Một trí thức lớn của Pháp đã biểu
d-ơng: Huy Cận là ng “ ời đã biết ngợi ca nỗi quằn quại của con ngời” Một
nhà thơ Pháp nổi tiếng khác thì viết: Huy Cận không chỉ là một nhà thơ “
lớn, ông còn là một con ngời đích thực”.
Huy Cận bớc tới thi đàn bằng một tâm hồn đã cảm, đa sầu Với tập thơ đầu tay “Lửathiêng”, Huy Cận đã mang đến cho phong trào Thơ mới những vần thơ buồn bã ảo não bậcnhất Buồn bã, cô đơn là tâm trang chung của các nhà thơ mới nhng không có nhà thơ nàobuồn nhiều, buồn sâu, buồn thấm nh Huy Cận
Với tâm hồn đa sầu đa cảm ấy, Huy Cận đi l“ ợm lặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam).
Trang 10Từ tập thơ đầu tay, qua hơn sáu mơi năm sáng tác, Huy Cận đã tiến những bớc dài:
từ những suy nghĩ về con ngời trừu tợng, ông đi đến với giai cấp vô sản; từ nỗi buồn, ông
đến với niềm vui, từ sự buông xuôi, đi đến hoạt động cách mạng Từ những ngày t ởng nh
bế tắc, Huy Cận là một trong số ít nhà thơ lớp trớc đã suy nghĩ và suy cảm kịp với thời đại,
đóng góp tích cực vào việc xây dựng nên thơ xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hình thức biểu hiện của thơ Huy Cận cũng đa dạng, có thơ tình, thơ tự sự - trữ tình,thơ sân khấu, thơ văn xuôi Cùng với Chế Lan Viên và một số nhà thơ khác, Huy Cận gópphần làm cho câu thơ Việt Nam vốn nhuần nhuyễn trong việc diễn đạt các trạng thái uyểnchuyển của tâm tình, nay có thêm những dạng thức biểu hiện mới để diễn đạt cảm xúc mớicủa con ngời thời đại Từ hồn thơ dồi dào và đa dạng ấy ta thấy hiện lên tình yêu thiết thacuộc đời, lòng gắn bó sâu xa với truyền thống dân tộc, sự giao hòa rộng rãi với vũ trụ thiênnhiên
Những nhợc điểm trong thơ Huy Cận thật ra không phải là khó thấy Cùng với sựphát triển chung của đất nớc, ngời đọc muốn nhà thơ giúp mình nhận thức rõ hơn, sâu hơncuộc đời trong muôn mặt cụ thể và phức tạp của nó Tình yêu cuộc đời trong một số bài thơcủa Huy Cận vẫn đôn hậu và hồn nhiên nh thủa nào nhng cha đáp ứng nhu cầu mới của ng-
ời đọc Cảm giác vũ trụ mà Huy Cận rất a thích không khỏi có lúc quá trừu tợng, thiếu sắcthái không gian, thời gian cụ thể, trở nên khó hiểu
Cuộc đời 60 năm cầm bút và 20 tập thơ đã nói rất nhiều về sức lao động bền bỉ vàsức sáng tạo không hề vơi cản của đời thơ Huy Cận Từ thế giới thơ của ông, ta thấy hiệnlên hình ảnh một con ngời, bằng sự tinh nhạy của cảm xúc, bằng sức mạnh của suy nghĩ,bằng sự giàu có của vốn văn hóa đang sống hết mình với cuộc sống nhân dân để lắng nghemọi biểu hiện tinh vi nhiều tầng, nhiều lớp của cuộc đời
2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
2.1 Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi
Thơ là nghệ thuật gợi tình cảm, phản ánh cuộc sống bằng ngôn ngữ
có hình tợng, âm thanh, nhịp điệu trong khuôn khổ những quy tắc về vần,
số câu, sự xen kẽ giữa các thành bằng và trắc Nói đến thơ ngời ta thờng thiên về việc biểu hiện cảm xúc, những cung bậc tình cảm riêng t của con ngời Để thực hiện đợc chức năng đó thơ ca phải tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt Nó là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và
có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc, trong khi đó văn xuôi chỉ là hình thức ngôn ngữ mà chẳng ai tổ chức theo âm tiết, vần, nhịp, khổ, số câu, niêm luật hết.
Theo Nguyễn Phan Cảnh: Trong văn xuôi lặp là một điều tối kị và ph“ ơng trình không đợc xây dựng thành thông báo” Thế nhng, chính cái điều văn xuôi tối kị ấy lại là“
thủ pháp làm việc của thơ, trong thơ, tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo” [1, trang 52] Sử dụng đặc trng tơng đồng của các đơn vị
Trang 11ngôn ngữ trong thơ là vì sự t“ ơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ làm nên chiết đoạn tạo thành thông báo bao giờ cũng bao hàm sự tơng đơng về nghĩa” [1, trang 60] Nghĩa là sức
mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiến trúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra đợc một sự láy lại,song song trong t tởng
Việc chức năng mỹ học chiếm u thế trong các thông báo thơ trong khi không loại trừchức năng giao tế nh thế, đã làm cho thông báo thành ra đa nghĩa, có tính chất nớc đôi,thành ra nhập nhằng hiểu theo nghĩa tốt của từ này Và đấy chính là điều cốt tử của thơ:
Thơ phải đ
“ ợc ý ở ngoài lời” Cách tổ chức thơ có u thế hơn văn xuôi bởi tính chắp khúc
(articule) của nó Một bài thơ đợc chia ra thành từng đoạn, mỗi đoạn chia ra thành từngkhổ, mỗi khổ có một số câu thờng nh nhau, mỗi câu có một số chỗ thờng nh nhau, các chỗnày đợc bố trí theo một mô hình có sẵn về thanh điệu, trờng đoạn, âm tiết và từng câu ấy cómột ý nghĩa trọn vẹn; các câu ấy có ít nhất một chỗ cắt mạch, tức là ngay câu thơ cũng đã
là một dạng lặp lại của những vế khác nhau Đây là một kiến trúc hoàn hảo giúp cho cảmgiác nội cảm hóa dễ dàng và dễ nhớ Nội dung thông báo của văn xuôi là nội dung do cúpháp đem lại Còn ngữ nghĩa của thơ, ngoài nội dung thông báo còn có những ngữ nghĩakhác Nghĩa của thông báo thơ cũng khác với nghĩa thông báo của văn xuôi Câu văn xuôichứa đựng một thông báo cá biệt, hạn chế về địa điểm, đối tợng, thời gian và sau đó không đ-
ợc ngời đọc ghi nhớ Một thông báo của thơ là phi thời gian, phi không gian, cho cả loài ngời
Do đó, câu thơ nào cũng đa nghĩa, cũng chứa đựng những nỗi niềm, những câu hỏi mà ngời
đọc tự trả lời trong những hoàn cảnh riêng Chính vì vậy, thơ là một cách tổ chức ngôn ngữrất đặc biệt bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổchức ngôn ngữ này, trong đó có cách tổ chức nhịp điệu
2.2 Thể thơ lục bát
Lục bát là một thể thơ truyền thống của dân tộc, rất quen thuộc đối với mọi ngời.Trong nền văn học dân tộc, thể thơ này có vị trí và vai trò quan trọng Trong ca dao ViệtNam, thể lục bát chiếm số lợng lớn, có giá trị nghệ thuật đặc biệt và sức sống mạnh mẽnhất Thực tế thống kê từ cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca” của Vũ Ngọc Phan (In lần thứ 8 -1978) trong số 1585 bài ca dao thì có tới 1282 bài đợc sáng tác theo thể lục bát và lục bátbiến thể (chiếm hơn 90%) Bên cạnh đó, thể thơ này cũng đợc vận dụng nhiều trong sángtác các tác phẩm văn học viết Nghĩa là có hàng chục tác phẩm đợc sáng tác theo thể lụcbát dài hơn ngàn câu, và “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một dẫn chứng rất hùng hồn chothể này, và đó là kiệt tác có giá trị nghệ thuật tuyệt đỉnh Không chỉ thế, các nhà thơ hiện
đại cũng sáng tác theo thể loại thơ này rất nhiều Tại sao lục bát lại đợc sử dụng và vậndụng nhiều đến thế? Phải chăng lục bát là thể thơ diễn tả đợc nhịp điệu của cảm xúc, củanhững diễn biến tâm lí hết sức tinh tế và sâu sắc, đa dạng của hiện thực đời sống? Hay donhịp điệu uyển chuyển, linh hoạt, không gò bó, không hạn chế về độ dài ngắn của bài cũng khiến cho lục bát nhanh chóng trở thành thể thơ tin dùng, đợc dùng phổ biến trongvăn học?
Là một thể loại có sức sống trờng tồn nh vậy, nhng xét về mặt kết cấu hình thức câuthơ, câu lục bát trong dân ca, ca dao cũng không có gì khác với câu lục bát trong tác phẩmvăn học viết, kể cả trong thời kì thơ mới, thơ hiện đại sau này Thực ra thể lục bát không có
Trang 12gì mới lạ về hình thức, nhng các tác giả đã biết khai thác đặc trng vốn có của thể này để thểhiện những cảm xúc mới.
2.3 Nhịp điệu và nhịp điệu trong thể thơ lục bát
2.3.1 Nhịp điệu
Nhịp điệu là x
“ ơng sống của thơ Thơ có thể bỏ vần nhng không thể vứt bỏ nhịp
điệu” (Phan Ngọc, 2003, trang 269).
Nhịp điệu trong thơ xuất hiện trên cơ sở nhịp của lao động, nhịp của hơi thở con
ng-ời Nhịp là sự nối tiếp của các tiếng xếp thành từng khung đều đặn, của giọng nói theo thờigian Lúc đầu, khiêu vũ, thơ ca, âm nhạc có chung nguồn gốc là sự vận động nhịp nhàngcủa con ngời lao động gồm có hơi thở và lời nói Trong quá trình phát triển, dờng nh khôngcòn sự hòa trộn nữa, các trạng thái cảm xúc của con ngời đợc thể hiện bằng bài hát, bằnglời thơ và cũng từ đó thơ bắt đầu tách dần ra Thơ là sự thể hiện những rung cảm, nhữngbiến thái tinh vi của cảm xúc Thơ thể hiện một câu chuyện có sự rung động nội tâm củariêng nó và độc lập với hình thức nhịp điệu Nhịp trong thơ còn phụ thuộc vào nhịp thở,nhịp thơ có liên quan đến tình cảm, cảm xúc
Thơ là thế giới của tâm hồn, là lĩnh vực thể hiện tình cảm rất mạnh Các trạng tháirung động biến thái tinh vi của cảm xúc đều ảnh hởng rất lớn đến nhịp điệu của câu thơ, bàithơ Trumanepxki khẳng định:”Nhịp điệu của bài thơ trên bản chất chất liệu ngôn ngữ, dù
có cấu tạo bài thơ riêng biệt và có đặc thù bao nhiêu đi nữa thì cơ cấu ấy cũng thuộc về mộtngôn ngữ và không đợc lặp lại ngoài giới hạn của cái hình thức dân tộc trong lời nói” (Dẫntheo Bùi Công Hùng, 1983, trang 168)
Để khẳng định thêm phần quan trọng của nhịp thì trong “Làm thơ nh thế nào?”,
Maiacôpxki cũng đã nói rõ vai trò của nhịp: Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng l“ ợng cơ bản của câu thơ Sự ngắt đoạn và ngắt nhịp của bài thơ hệ trọng hơn việc chấm câu đ -
ợc dùng cho khuôn sáo cũ, nó phải đợc phục tùng ngắt đoạn và nhịp Nhịp là sáng tạo những khoảng cách và tổ chức thời gian phải đợc dựa vào những quy tắc cơ bản của mọi sách giáo khoa thực hành về thơ Việc thể hiện nhịp trong thơ, thể hiện bản sắc của từng nhà thơ”.
Khác với nhịp của văn xuôi, nhịp thơ xuất hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiên các
đơn vị âm thanh tạo nên đơn vị ngữ điệu của ngôn ngữ Timophiep cho rằng: nhịp điệu tr
-ớc tiên là việc lặp lại có tính quy luật các hiện t ợng giống nhau Đơn vị đầu tiên của nhịp
là âm tiết (quan trọng là vần và thanh điệu)
Thế giới nghệ thuật là một sự đa dạng và trong thơ cũng vậy Ta thấy rằng cách ngắtnhịp, tạo nhịp trong thơ là rất đa dạng, có nhiều kiểu tùy câu, tùy đoạn Nhịp điệu trong thơ
có tính chất mĩ học do con ngời sáng tạo ra để biểu hiện t tởng, tình cảm của con ngời.Nhiều khi một câu thơ đợc biểu hiện theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào cách ngắtnhịp Những trạng thái, cung bậc tình cảm có sự biểu hiện tơng ứng với cách ngát nhịptrong câu thơ
Mặt khác, tùy theo đặc điểm ngôn ngữ của một dân tộc mà hệ thống nhịp điệu trongcâu thơ, bài thơ, những cách khai thác sắc thái tu từ, những cách vận dụng và sáng tạo ngônngữ cũng có những điểm khác nhau
2.3.2 Nhịp điệu trong thể thơ lục bát
Trang 13Lục bát là thể thơ có những nét riêng biệt về lối gieo vần và về lối ngắt nhịp Nhịp
điệu của câu thơ lục bát đợc thể hiện hoàn chỉnh qua hai dòng thơ: sự kết hợp giữa hai loạivần chân và vần lng và thờng đợc gieo ở vị trí chẵn đã tạo cho thể thơ lục bát một âm hởng
và một nhịp điệu riêng, đặc biệt là vần chân cũng nh vần lng bao giờ cũng hiệp vần vớithanh bằng nên nhịp điệu chung của câu thơ lục bát thờng nhẹ nhàng, uyển chuyển và ngânvang
Xét về tính chất hoàn chỉnh của thể lục bát về mặt ngữ nghĩa cũng nh về âm và ngữ
điệu thì cả cặp lục bát mời bốn tiếng đợc coi nh một đơn vị nhịp điệu, một “chỉnh thể vềnhịp điệu” Trong đơn vị đó lại có thể ngắt ra từng tiết tấu tùy theo cách diễn đạt của câu
thơ, phù hợp với nội dung câu thơ, nh“ ng không hề phá vỡ nhịp điệu của câu thơ, xét trong toàn bộ kết cấu của nó” (Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam hình thức và
thể loại, 2006) Nói nh thế, tức không phải là chia một cách máy móc câu thơ ra từng nhịp
đôi một: câu lục 2/2/2, câu bát 2/2/2/2 (vốn là nhịp phổ biến, nhịp cơ bản của thể thơ lụcbát) Vì nếu làm nh vậy, câu thơ chỉ còn một cái khung tách khỏi lời nói, mà thật ra nhịp
điệu dù tính theo đơn vị nào cũng gắn chặt với cảm xúc và t duy đợc diễn đạt qua lời thơ
Timôphiep đã nói: Đơn vị có nhịp điệu không thể tách ra khỏi lời nói mà phải là đơn vị“
của lời nói, nghĩa là đơn vị của ngữ nghĩa và ngữ điệu” (Timôphiep - “Sơ thảo nguyên lý và
lịch sử thơ Nga” - Phần I, Chơng I)
Nhịp điệu trong thơ lục bát nói chung khá tẻ nhạt Thơ lục bát có những khuôn thi
điệu quen thuộc, cố định đã trở thành khuôn sáo thi điệu Đó là, câu lục có hai khuôn sáothi điệu là 2/2/2 và 3/3; câu bát cũng có hai khuôn sáo thi điệu là 2/2/2/2 và 4/4 Do đó, đọcthơ lục bát dễ bị trôi trợt theo những khuôn sáo thi điệu Nếu không hoán cải cái khuôn sáothi điệu của lục bát khiến nó trở thành đa dạng thì thơ lục bát dễ rơi vào đơn điệu, gò bó.Nhịp của bài thơ cũng nh nhịp của một bản nhạc, trớc hết phải có nhịp cơ bản, trên cái nhịpcơ bản đó tạo ra những biến thiên khác để đem đến tính đa dạng Nh vậy, từ nhịp cơ bảncủa lục bát là 2/2/2/2 và 3/3 (câu lục), 2/2/2/2 và 4/4 (câu bát), các nhà thơ đã tạo ra nhiềucách ngắt nhịp cho câu thơ lục bát Từ đó câu thơ lục bát có chức năng biến hóa theo nhiềudạng khác nhau Câu lục có 6 dạng nhịp phổ biến sau: 6, 2/2/2; 2/4; 4/2; 3/3; 1/5 Câu bát
có 10 dạng phổ biến sau: 8; 2/2/2/2; 2/6; 6/2; 4/4; 3/5; 5/3; 1/7; 2/4/2; 1/3/4 Nh vậy sự tổhợp câu lục với câu bát sẽ cho ta tối thiểu là 60 dạng câu lục bát khác nhau Việc xác định
đợc nhịp điệu của câu thơ cũng là lúc ta thấy đợc cái hay, cái đẹp của bài thơ, giúp ta đọc
đúng, diễn cảm và đọc hay nó
Ngoài ra, có thể còn có các dạng nhịp khác nh 5/1; 7/1; 1/5/2; 1/3/2 nhng khôngphổ biến
Trang 14Chơng 2
Nhịp điệu trong thơ lục bát Huy Cận
1 Nhịp điệu trong câu thơ lục bát
1.1 Nhịp điệu trong câu lục
1.1.1 Các cách ngắt nhịp truyền thống
1.1.1.1 Nhịp 2/2/2
Huy Cận là nhà thơ viết nhiều bằng thể lục bát và ông đã chứng tỏ mình là ngời nắmvững những niêm luật về thể thơ này Đặc biệt ông đã kế thừa rất thành công một trongnhững yếu tố hình thức của thể lục bát trong sáng tác của mình là nhịp điệu Cụ thể là cáchngắt nhịp 2/2/2 ở câu lục Trong tổng số 49 bài thơ lục bát khảo sát có tất cả 274 câu thơlục bát, tức là cũng có 274 câu lục, thì số câu lục có nhịp 2/2/2 chiếm tỉ lệ cao nhất gồm203/274, chiếm khoảng 74, 08 %
Ví dụ minh họa:
Đồng quê / bát ngát / xôn xao.
(Đồng quê bát ngát, câu I tr.159, tập I)
Chiều nay / mây tạnh / nắng lên
(Hoa sấu bầy ong, câu 3 tr.192, tập I)
Vụ quay / vụ đứng / vững vàng
(Tuổi thơ chơi vụ, câu 5 tr.124, tập II)
Ví dụ so sánh:
Dịp dìu / tài tử / giai nhân (câu 47) Lơ thơ / tỏ liễu / buông mành (câu 269)
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Chờ em / chờ mận / chờ mơ
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Chiều ma / phố Huế / một mình
(Đồng Đức Bốn - in trong tập “Chăn trâu đốt lửa”)
Đi tìm / kỉ niệm / bên nhau
(Kỷ Niệm - Hoàng Cầm)1.1.1.2 Nhịp 3/3
Ngoài nhịp phổ biến 2/2/2, thơ lục bát truyền thống còn hay dùng nhịp 3/3 (trong
“Truyện Kiều” có 80 câu theo nhịp 3/3) và loại nhịp này cũng đợc Huy Cận sử dụng khá nhiềutrong những câu lục, gồm 15 câu (chiếm khoảng 5,47%)
Ví dụ minh họa:
Gió đa hơi, / gió đa hơi.
Trang 15(Xuân ý, câu 1, tr.126, tâpI)
Ví dụ so sánh:
Ca dao hầu nh không có nhịp tiểu đối, nhng ngợc lại trong “Truyện Kiều” tỉ lệ câulục có nhịp 3/3 lại khá cao (chiếm 4,9%)
Làn thu thủy / nét xuân sơn
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Chia cho em / một đời thơ
(Nguyễn Trọng Tạo)
Đừng anh nhé ! / Đừng nói năng
(Đêm tạm biệt, Hoàng Cầm)
1.1.2 Các cách ngắt nhịp thể hiện sự cách tân của Huy Cận
Trên cơ sở các nhịp truyền thống, Huy Cận đã sáng tạo thành các nhịp mới có giá trịtruyền cảm không kém các nhịp truyền thống
1.1.2.1 Nhịp 2/4
Nhịp 2/4 là loại nhịp đợc Huy Cận sử dụng nhiều thứ hai sau nhịp truyền thống2/2/2, với số câu sử dụng là 32 (chiếm 11,67%)
Ví dụ minh họa:
Khuya nay, / trong những mạch đời
(Viết trong quán cà phê - Hoàng Cầm)
Hỏi tên? / rằng biển xanh đâu
(Bùi Giáng)
Tình em / nh sợi heo may
(Tình em nh sợi heo may - Hoàng Cầm)1.1.2.2 Nhịp 4/2
Đây cũng là một loại nhịp cách tân từ nhịp truyền thống, nhịp này xuất hiện trong
20 câu lục, tức chiếm 7,3 % tổng số câu đợc khảo sát
Ví dụ minh họa:
Trang 16Nắng ma nửa bãi, / chiều rồi
(Ngậm ngùi, câu 1, tr.125; tập I)
Con vừa năm tuổi / mầm non
(Mỗi buổi chiều đón con về, câu 3, tr.217; tập I)
Thấy thuyền con chạy / mông mênh
(Mỗi buổi chiều đón con về, câu 13, tr.217; tập I)
Ví dụ so sánh:
Hỡi cô tát nớc / bên đàng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Sông bao nhiều nớc / cũng vừa
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Là nhà Ngô Việt / thơng gia Ngẫm duyên kỳ ngộ / xa nay
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Nếu cùng ngời mới / dạo chơi
(Con đờng - Phan Thị Thanh Nhàn)
Tê mê lại hát / Ơ kìa
(Thờ ơ - Hoàng Cầm, “Gọi đôi”)
Biết đâu là nợ, / là duyên
(Bao giờ lại đến ngày xa - Đặng Nguyệt Anh)1.1.2.3 Một số nhịp đặc biệt khác
+ Nhịp 1/1/4:
Gái, / trai / chờ đứa con so
(Chờ con ra đời, câu 3, tr.125; tập I)+ Nhịp 1/3/2:
Chiều / năm giờ rỡi / ra về
(Mỗi buổi chiều tới đón con về, câu 1, tr 217; tập I)+ Nhịp 1/5:
Nhng / bao công việc làm ăn
(Về thăm quê xã Đức Ân, câu 9, tr.319, tập I)+ Nhịp 5/1:
Bởi đời đẹp quá đi, / em
(Yêu đời, câu 3, tr.152; tập II)
Ví dụ so sánh:
Cách ngắt nhịp 1/1/4; 1/3/2; 1/5; 5/1 rất hiếm trong ca dao, chỉ có một số câu rất ít:
Nguyên Đán âm ỉ rằng: / bây
(Ca dao)Trong “Truyện Kiều” và thơ lục bát xuất hiện nhiều cách ngắt nhịp 1/5; 5/1; 2/1/3 vàmột số nhịp khác
Hỏi tên, / rằng /: Mã Giám Sinh“ ”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Ly cà phê nữa / tỉnh / mê.
(Viết trong quán cà phê - Hoàng Cầm)
Trang 17Xa / anh dồn gió đuổi mây
(Hai nửa - Hoàng Cầm)
Gọi tên / là / một / hai / ba
(Bùi Giáng)
Đâu rồi - / em - / áo mơ phai
(Tình khúc tháng giêng - Nguyễn Nguy Anh)
Từ việc khảo sát và thống kê các loại nhịp trên, chúng tôi tiến hành tính đếm số lợngcác loại nhịp và tỉ lệ của chúng Số lợng thống kê đợc thể hiện qua bảng sau:
Ví dụ minh họa:
Buồm treo / ráng đỏ / giong miền / viễn khơi
(Thuyền đi, câu 4, tr.114; tập I)
Nhớ rừng / nhớ nhựa / mùa xuân / thuở đầu
(Vệt lá trên than, câu 6, tr.153; tập I)
Ngày xuân / trẻ lại / dáng hình / ban sơ
(Thăm lò chum, câu 10, tr.14; tập II)
Lòng anh / hạt muối / đại dơng / bồi hồi
(Yêu đời, câu 12, tr.152; tập II)
Ví dụ so sánh:
Trang 18Nhớ ai, / ai nhớ / bây giờ / nhớ ai?
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Y nguyên / hai múi / bởi đào / em cho
(Đồng Đức Bốn - Tập “Chăn trâu đốt lửa”)1.2.1.2 Nhịp 4/4
Nhịp 4/4 là loại nhịp đã đợc dùng nhiều trong ca dao, đến “Truyện Kiều” Nguyễn
Du cũng phát huy thế mạnh của cách ngắt nhịp tiểu đối này Đến Huy Cận ông lại kế thừa
nó một cách thành công, với 88 lần xuất hiện trong câu bát, chiếm tỉ lệ 32,11%
Ví dụ minh họa:
Nghìn cây mở ngọn, / muôn lòng hé phơi
(Xuân ý, câu 8, tr.126; tập I)
Với cây hiu quạnh, / với lòng quạnh hiu
(Thu rừng, câu 8, tr.130; tập I)
Bóng cành chi chít, / ánh dơng chan hòa
(Hoa lay bóng sáng, câu 2, tr.158; tập I)
Số câu bát đợc ngắt nhịp 4/2/2 là 14 câu, chiếm khoảng 5,10% tổng số câu bát
Ví dụ minh họa:
Có lùm hoa sấu / trớc song, / quên nhìn
(Hoa sấu bầy ong, câu 2, tr 192, tập 1)
Mẹ không chút nản / thơng chồng, / nuôi con
(Mẹ ơi, đời mẹ, câu 4, tr 20, t1)
Mở chơng thơ ấy / ngời xa / ghi lòng
Trang 19(Anh vào hiệu sách, câu 2, tr 195, t2)
Cái thời ấy …/ bây giờ / vẫn nguyên / bây giờ / vẫn nguyên
(Cái thời xa ấy- Vũ Thị Khơng)1.2.2.2 Nhịp 2/2/4
Xuất hiện 12 lần, chiếm 4,37% trong tổng số 274 câu bát
Ví dụ minh họa:
Là ta /, là nhạc /, cũng là trời sao
(Nhạc ơi, câu 4, tr103, t 2)
Nắng vàng /, gió nhẹ /, cũng buồn tơng t
(Gọi điện thoại, câu 6, tr 128, t 2)
Dặm trờng / ánh biếc / soi vào đời anh
(Tóc em, câu 8, tr 135, t 2)
Ví dụ so sánh:
Khác gì / chim phợng / gặp cây ngô đồng
(Cao dao trữ tình Việt Nam)
Thuyền còn / lơ lửng / để chờ đợi ai
(Cao dao trữ tình Việt Nam)
Tha hồng / rậm lục / đã chừng xuân qua Chữ tài / chữ mệnh / khéo là ghét nhau
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Cái cầu /
rơi ngửa /
cho bến quạnh hiu
(Nghĩ thơng - Hoàng Cầm)
Cứ ngon, / cứ ngọt, / muối gừng mặn cay
(Cái thời xa ấy- Vũ Thị Khơng)1.2.2.3 Nhịp 2/4/2
Nhịp 2/4/2/ cũng là một nhịp cách tân đợc Huy Cận sử dụng Trong tất cả các câubát, có 11 câu đợc ngắt theo nhịp này, chiếm tỷ lệ 4,01%
Trang 20Ví dụ minh họa:
Xe nằm / là mạch máu ngừng / tim ta
(Mẹ đi lấp hố bom, câu 8, tr 310, t 1)
Đèo con / học nhạc vỡ lòng / về sau
(Chiều đông nghe nhạc Bethoven, câu 2, tr 27, t 2)
Là sao, / anh mọc đỉnh trời / vô biên
(Hỡi em yêu, hỡi em thơng, câu 10, tr 19, t 2)
Ví dụ so sánh:
Là loại nhịp đợc cách tân nhng vẫn đợc sử dụng trong ca dao (tuy tỷ lệ rất ít) và đợccác nhà thơ vận dụng trong sáng tác của mình
Ngời sao / nắng dãi ma dầu / long đong ?
(Cao dao trữ tình Việt Nam)
Hay là / ngời thử trăm đờng / ngời chê
(Cao dao Việt Nam)
Giật mình / mình lại thơng mình / xót xa Nghĩ lòng / lại xót xa lòng / đôi phen
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Nhói đau / một mối tình đầu / trong tim
(Vô tình - Dơng Trọng Dật)
Anh sang, / ngày đã tàn chiều, / vẫn sang
(Ngẫu hứng chiều - Mã Giang Lân)1.2.2.4 Nhịp 3/5
Nhịp 3/5 không phải cha từng đợc sử dụng nhng đó cũng là một loại nhịp cách tâncủa thơ lục bát đợc Huy Cận phát huy trong tác phẩm của mình Trong các bài thơ lục bátcủa mình, nhà thơ đã 20 lần sử dụng nhịp 3/5, chiếm 7,29%
Ví dụ minh họa:
Đông rét muộn, / tởng xóm làng sang xuân
(Sang xuân, câu 8, tr 191, t 1)
Đàn ong quen / - lại đến tìm lùm hoa
(Hoa sấu bầy ong, câu 4, tr 192, t 1)
Mẹ thơng cha,/ hẳn giống cha mời phần
(Chờ con ra đời, câu 4, tr 215, t 1)
Miệng không cời, / cũng lạ lùng nét tơi
(Nhật ký đi đờng, câu 16, tr 221, t 1)
Ví dụ so sánh:
Nhịp 3/5 hiếm gặp trong ca dao, nhng lại đợc Nguyễn Du sử dụng khá nhiều trong
“Truyện Kiều”, đến thơ lục bát hiện đại có rất nhiều nhà thơ cũng vận dụng nó
Con chim xanh / nỡ bay qua vờn hồng
(Ca dao)
Cho thanh cao, / mới đợc phần thanh cao
Trang 21Chẳng trăm năm / cũng một ngày duyên ta
(Truyện kiều - Nguyễn Du)
Vùi trong trắng xóa / vĩnh hằng thơ ngây
(Xanh xa - Hoàng Cầm)
Đêm chợt thức / Đã trăng bừng quanh ta
(Trăng Trờng Sơn - Trần Ninh Hồ)1.2.2.5 Nhịp 3/3/2
Chỉ đợc sử dụng 7 lần, (chiếm 2,55%) nhng nhịp 3/3/2 đã góp phần tạo nên thànhcông của thơ lục bát Huy Cận, đặc biệt trong việc bộc lộ cảm xúc, nội dung trữ tình
Ví dụ minh họa:
ấp thêm trứng, / nở lứa gà / chờ con
(Chờ con ra đời, câu 10, tr 125, t 1)
Hoa sinh đôi / với ái tình / từ xa
(Vờn hồng, câu 12, tr 130, t 2)
Giọng ngời ấy / giọng tình thơng / đất nhà
(Cảm thông, câu 12, tr 170, t 2)
Ví dụ so sánh:
Ngõ hoa tím - / có hai ngời / đợi nhau
(Ngõ hoa - Ngọc Anh)
Ném lên cao …/ bây giờ / vẫn nguyên / lặng mình nghe/ …/ bây giờ / vẫn nguyên thật ng ời
(Tu - Hoàng Cầm)1.2.2.6 Nhịp 2/6
Nhịp 2/6 chỉ xuất hiện 2 lần trong tổng số 274 câu bát, chứng tỏ nó không đợc HuyCận vận dụng nhiều nh các loại nhịp khác (chỉ chiếm 0,72%)
Ví dụ minh họa:
Yêu thơ, / thơ kể lại hồn ông cha
(Nằm trong tiếng nói, câu 6, tr 158 tI)
Thuỷ chung / vẫn một lòng yêu đời này
(Mẹ ơi, đời mẹ…, câu 18, tr 20, t II), câu 18, tr 20, t II)
Ví dụ so sánh:
Từ rằng:/ Việc ấy để cho mặc nàng“ ”
Cời rằng:/ Tri kỷ tr“ ớc sau mấy ngời”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Hỏi quê?/ rằng mộng ban đầu rất xa
(Bùi Giáng)
Em đi …/ bây giờ / vẫn nguyên / đi mãi đoạn tr ờng ấy sao
(Thể phách tinh anh - Hoàng Cầm)
Vừa quen,/ anh đã hỏi vay gió tình
(Chút lãng mạn - Vơng Tâm)1.2.2.3 Nhịp 6/2
Nhịp 6/2 chỉ xuất hiện một lần trong 274 câu bát, chiếm tỷ lệ 0,36%.
Ví dụ minh họa:
Trang 22Bể sâu lòng mẹ thơng con /,vá đờng
(Mẹ đi lấp hố bom, câu 16, tr 310, tI)
Ví dụ so sánh:
Mà đây hơng khói vắng tanh / thế này Mênh mông nào biết bể trời / nơi nào
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Thơng cho cánh hạc trên đình …/ bây giờ / vẫn nguyên / muốn bay
(Thơng cánh hạc - Đỗ Văn Tri)
Lẽ đâu ta đã thơng rồi,/ lẽ đâu?
(Bâng khuâng - Lệ Thu)Qua việc khảo sát và thống kê các loại nhịp trong câu bát, chúng tôi tiến hành tổnghợp lại theo bảng số liệu sau:
TT Các loại nhịp trong câu bát Số lợng câu thơ
1.3 Nhịp điệu trong câu lục bát
Nếu nh phần trên chúng tôi đã khảo sát sự cách nhịp riêng ở dòng lục và dòng bátthì đến bây giờ có thể nhìn chúng dới sự kết hợp hài hoà lục bát
1.3.1 Các loại nhịp truyền thống
+ Nhịp 2/2/2 ở dòng lục và 2/2/2/2 ở dòng bát
Loại nhịp truyền thống này xuất hiện nhiều nhất trong thơ lục bát Huy Cận Điềunày chứng tỏ ông đã kế thừa và biết khai thác thế mạnh của nhịp truyền thống Số câu lụcbát đợc ngắt nhịp theo loại nhịp này gồm 94 câu, chiếm tỷ lệ 34,30%
Ví dụ minh họa:
Đêm ma / làm nhớ / không gian Lòng run / thêm lạnh / nỗi hàn / bao la…/ bây giờ / vẫn nguyên
(Buồn đêm ma, tr 105, tI)
Cành dâu / chen với / cành bông Nắng hoe / nửa buổi / đàn ông / rộn ràng
Trang 23(Quanh nơi làm việc, tr 159, tI)
Ví dụ so sánh:
So sánh với Truyện Kiều, ca dao:
Ngỡ là / nớc chảy / đá mòn Chẳng là / nớc chảy / đá còn / trơ trơ
(Ca dao)
Êm đềm / trớng rủ / màn che Tờng đông / ong bớm / đi về / mặc ai
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Lá xanh / vội đỏ / môi ngời Hình nh / em cũng / sắp thôi / ngập ngừng
(Ngập ngừng - Nguyễn Đình Kiên)+ Nhịp 3/3 dòng lục và 2/2/2/2 ở dòng bát
Có 6 câu thơ lục bát đợc ngắt nhịp theo loại nhịp này, chiếm 2,19% tổng số câu thơlục bát
Ví dụ minh họa:
Ngủ đi em, / mộng bình thờng
Ru em / sẵn tiếng / thuỳ dơng / mấy bờ
(Ngậm ngùi, tr 125, tI)
Trong hơi ta, / trong hơi ngời Lại nghe / nằm nghỉ / đất trời / ban sơ
(Nằm nghe ngời thở, tr 142, tI)
Hỡi em yêu,/ hỡi em thơng Thân em / cẩm thạch / tẩm hơng / rừng trầm
(Hỡi em yêu, hỡi em thơng, tr 198, tII)
Ví dụ so sánh:
Ngồi mà nghĩ,/ đứng mà suy Vàng còn / bán chấn, / huống gì / duyên em
(Ca dao trữ tình VN)
Ngời lên ngựa,/ kẻ chia bào Rừng phong / thu đã / nhuộm màu / quan san
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Anh cầm dây, / mắt dõi chờ Lắng nghe / tiếng sáo / ru hờ / đêm đêm
(Cánh diều - Thái Bình Đức)+ Nhịp 2/2/2 dòng lục và 4/4 dòng bát
Đây là loại nhịp đợc Huy Cận sử dụng nhiều thứ hai, tới 65 câu thơ lục bát đợc ngắttheo nhịp này, chiếm tới 23,72%
Ví dụ minh họa:
Tai nơng / nớc giọt / mái nhà Nghe trời năng nặng, / nghe ta buồn buồn
(Buồn đêm ma, tr 105, t 1)
Trang 24Chở hồn / lên tận / chơi vơi Trăm chèo của Nhạc /, muôn lời của Thơ
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Dập dìu / tài tử / giai nhân Ngựa xe nh nớc / áo quần nh nêm
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Phân vân / em cứ ngập ngừng Còn do dự mãi …/ bây giờ / vẫn nguyên / hạ đừng sang thu
(Phân vân - Hoàng Cầm)+ 3/3 dòng lục và 4/4 dòng bát:
Đây là loại nhịp mà ở cả dòng lục và dòng bát trong tổng số 274 câu, Huy Cận đãsáng tác theo loại nhịp truyền thống này
Ví dụ minh họa:
Đêm vừa nhẹ /, gió vừa mơn Cây chen ánh nguyệt / trải vờn bóng xanh
(Cao dao trữ tình Việt Nam)
Mai cốt cách/ tuyết tinh thần Mỗi ngời một vẻ, / mời phân vẹn mời
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Em không nổi / chị không chìm Chị trong gió tím / em tìm sang xuân
(Gọi đôi - Hoàng Cầm)
Ngời dng ơi, / hổ làm sao Càng giơ tay gạt, / càng dào dạt mong
(Đơn phơng - Đồng Thị Chúc)
1.3.2 Những loại nhịp cách tân
+ Nhịp 2/2/2 dòng lục và 3/5 dòng bát
Thơ lục bát Huy Cận có 15 câu lục bát đợc ngắt theo loại nhịp này chiếm 5,47%
Ví dụ minh họa:
Trang 25Trơ vơ, / buồn lọt / quán chiều Mái nghiêng nghiêng / gửi buồn theo hút ngời
(Đẹp xa, tr 110, tI)
Trên đèo / thu tới / đêm qua Sáng lên tầng, / đã khô ba dốc đèo
(Thu về trên đèo Nai, tr 154, tI)
Chiều nay / mây tạnh / nắng lên
Đàn ong quen - / lại đến tìm lùm hoa
(Hoa sấu bầy ong, tr 192, tI)
Ví dụ so sánh:
Lỡ chân / trót đã / vào đây Khoá buồng xuân / để đợi ngày đào non
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Những gì / đến tự / h không Rót tràn biển / có cho hồng xuân em
(Ai xui chắp mảnh xe hồng - Hoàng Cầm)+ Nhịp 2/4 câu lục và 4/4 câu bát
Bằng cách kết hợp 1 nhịp cách tân và một nhịp truyền thống, Huy Cận đã tạo nên sựmới mẻ cho thơ lục bát Ông đã phát huy loại nhịp này trong 11 câu thơ lục bát, chiếm4,01%
Ví dụ minh họa:
Khuya nay, / mùa động đầu cành
Đồng trăng lục nhạt,/ vàng thanh lối gần
(Phân vân - Hoàng Cầm)
Trang 26Thế rồi / chết một mùa đông Tôi đi lấy chồng./ Ngời ấy ngẩn ngơ
(Bao giờ lại đến ngày xa - Đặng Nguyệt Anh)+ Nhịp 2/4 câu lục và 2/2/2/2 câu bát
Có 12 câu thơ lục bát đợc ngắt nhịp 2/4 và 2/2/2/2 chiếm tỷ lệ 4,38% Đây là một sốlợng nhỏ nhng so với các loại nhịp khác thì nó chiếm tỷ lệ khá lớn trong các loại nhịp cáchtân
Ví dụ minh họa:
Con khoe / con ríu rít lời
Bố nghe / bố thấy / biển trời / rộng thênh
(Mỗi buổi chiều tới đón con về, tr 217, t1)
Quen tên / nhng chửa biết ngời
Các em / xúm xít / nô cời / hỏi han
Ví dụ minh họa:
Sắc trời / trôi nhạt / dới khe Chim đi, / lá rụng, / cành nghe lạnh lùng
Trang 27Thơng thì / mở nắp / bng cơi Không thơng / đặt xuống / cho ngời khác bng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Bẽ bàng / mây sớm / đèn khuya Nửa tình / nửa cảnh / nh chia tấm lòng
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Chát chua / là khế / là sung
Cứ ngon, / cứ ngọt, / muối gừng mặn cay
(Cái thời xa ấy - Vũ Thị Thơng)
+ Nhịp 2/2/2 câu lục và 4/2/2 câu bát
Trong tổng số 274 câu thơ lục bát, có 7 câu đợc ngắt theo loại nhịp này
Ví dụ minh họa
Mấy hôm / chiều lại / cơn giông
Có lùm hoa sấu / trớc song, / quên nhìn
(Hoa sấu bầy ong, tr 192, t 1)
Vại chum / từ thuở / xa khơi Rắn nh từng mảnh / mặt trời / nguội đen
(Thăm lò chum - tr 14, t2)
Ví dụ so sánh:
Thơng anh / nỏ biết / mần răng
Đi mời cửa bể / cắm đăng / cả mời
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Hoa hơng / càng tỏ / thức hồng
Đầu mày cuối mắt / càng nồng / tấm yên
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Từ đây / sang đấy / tởng gần Hoá ra thăm thẳm / chồn chân / bấn lòng !
(Tháng giêng - Hoàng Cát)+ Nhịp 2/2/2 câu lục và 2/4/2 câu bát
Có 6 câu lục bát trong số 274 viết theo nhịp này, chiếm 2,19%
Ví dụ minh họa:
Xe đi / chi viện / chiến trờng
Xe nằm / là mạch máu ngừng / tim ta
(Mẹ đi lấp hố bom, tr 310, t 1)
Mái hầm / ẩn trú / năm xa Xây cao,/ hoa lại xuống vừa / tầm tay
(Cây Hoàng Lan vờn tôi, tr 26, t 2)
Ví dụ so sánh:
Ngời xinh/ cái bóng / cũng xinh Ngời giòn / cái tỉnh tình tinh / cũng giòn
(Ca dao)
Trang 28Một đời / đợc mấy / anh hùng
Bõ chi / cá chậu chim lồng / mà chơi !
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Chợ lùng / mở dới / gốc đa Nhà quê / có mấy con gà / bán chơi
(Đồng Đức Bốn)+ Nhịp 4/2/ câu lục và 2/2/2/2 câu bát
Số câu thơ lục bát đợc viết theo nhịp này, có 6 câu chiếm 2,19%
Ví dụ minh họa:
Mẹ là tạo hóa, / tháng ngày Làm ra / ngày tháng / sâu dày / đời con
(Mẹ ơi, đời mẹ…, câu 18, tr 20, t II) tr 20, t 2)
Sông là ngời đẹp / khoả thân Núi xanh / mơn mởn / bớc gần bớc xa
Huy Cận kết hợp một nhịp cách tân ở câu lục với một nhịp truyền thống ở câu bát
Ví dụ minh họa:
Con vừa năm tuổi / mầm non
Bố ngoài bốn chục / vẫn còn tơi xanh
(Mỗi buổi chiều đón con về, tr 127, t1)
Con nằm đẫy giấc / con nghe !
Hố sâu sáu thớc, / đoàn xe nối chờ
(Mẹ đi lấp hố bom, tr 310, t1)
Ví dụ so sánh:
Chẳng cay sao gọi / là gừng
Ta xin gió đấy - / gió đừng rung cây
(Mùa xuân đánh rơi tình yêu - Nguyễn Thị HồngNgát)
+ Nhịp 4/2 câu lục và 4/2/2 câu bát
Trang 29Sao anh khéo tạc / ái tình / lứa đôi
(Mùa xuân vĩnh viễn II, tr 194, t2)+ Nhịp 2/2/2 câu lục và 3/3/2 câu bát
Ví dụ:
Hồng ơi / ý đẹp / kết tinh Hoa sinh đôi / với ái tình / từ xa
(Vờn hồng, tr 130, t 2)
Tính thầm / ngày tháng / con ra
ấ p thêm trứng, / nở lứa gà / chờ con
(Chờ con ra đời, tr 215, t 1)+ Nhịp 2/4 câu lục và 2/4/2 câu bát
Ví dụ minh họa:
Vờn tôi / có cây hoàng lan Mùa hoa / cây những mấy lần / ra hoa
(Cây Hoàng lan vờn tôi, tr 26, t2)
Nhạc ơi !/ hồn của ta ơi
Đêm đêm / em thoát giữa trời / gọi ta
Ví dụ minh họa:
Gọi từ gần gũi, / thẳm xa
Là ta, / là nhạc, / cũng là trời sao
(Nhạc ơi, tr 103, t2)
Cứ chi chớp bể, / ma nguồn Nắng vàng, / gió nhẹ / cũng buồn tơng t
(Gọi điện thoại, tr 128, t2)+ Nhịp 2/2/2 câu lục và 2/6 câu bát
Ví dụ:
Tháng ngày / con mẹ / lớn khôn Yêu thơ, / thơ kể lại hồn ông cha
(Mẹ ơi, đời mẹ…, câu 18, tr 20, t II) tr 158, t2)
Cắn răng, / bỏ quá / trăm điều Thủy chung / vẫn một lòng yêu đời này
(Mẹ ơi, đời mẹ, tr 20, t2)
Trang 30+ NhÞp 2/4 c©u lôc vµ 4/2/2 c©u b¸t
VÝ dô:
Ngãn tay / tëng bóp xu©n trßn
Cã ngêi ra d¹o / vên non thÉn thê
(Xu©n ý, tr 126, t1)
Con ¬i, / con ngñ cho ngoan!
MÑ ®i lÊp hÕt / hè bom / mÑ vÒ
(MÑ ®i lÊp hè bom, tr 310, t2)+ NhÞp 3/3 c©u lôc vµ 3/5 c©u b¸t
VÝ dô minh häa:
VÝ dô:
Giã ®a h¬i, / giã ®a h¬i L¸ th¬m / nh thÓ da ngêi / l¸ th¬m
(Tr«ng lªn, tr 106, t 1)+ NhÞp 2/4 c©u lôc vµ 3/3/2 c©u b¸t
VÝ dô minh häa:
Con ¬i, / con g¾ng n»m thinh
Trang 31Bề dài / đờng của / nớc non
Bề sâu lòng mẹ thơng con, / vá đờng
(Mẹ đi lấp hố bom, tr 130, t1)
Ví dụ so sánh:
Thế rồi / năm tháng / dần trôi
Và tôi cứ lớn bên ngời / hồn nhiên
(Bao giờ lại đến ngày xa - Đặng Nguyệt Anh)+ Nhịp 3/3 câu lục và 3/3/2 câu bát
Ví dụ minh họa:
Tiếng ngời ấy / tiếng cố hơng Giọng ngời ấy / giọng tình thơng / đất nhà
(Cảm thông, tr 170, t 2)
Ví dụ so sánh:
Em đi đâu /
Em về đâu ? Loanh quanh tìm …/ bây giờ / vẫn nguyên / lại gặp nhau / tủm c ời
(Xuân chợ núi - Mã Văn Tính)+ Nhịp 4/2 câu lục và 3/3/2 câu bát
Ví dụ minh họa:
Đâu là dằng dặc / tơ vơng
Đâu là bóng, / đâu là gơng / nỗi lòng
(Mùa xuân vĩnh viễn tr 189, t2)
Ví dụ so sánh:
Vần này lục bát / mộng mơ
Bờ môi mềm / đến bao giờ / biết say
(Vấn này lục bát - Phạm Quang Đầu)+ Nhịp 5/1 câu lục và 2/2/4 câu bát
(Về thăm quê xã Đức Ân, tr 319,t2)+ Nhịp 1/3/2 câu lục và 2/2/2/2 câu bát
Trang 32+ Nhịp 1/1/4 câu lục và 3/5 câu bát
Ví dụ:
Gái, / trai / chờ đứa con so
Mẹ thơng cha, / hẳn giống cha mời phần
(Chờ con ra đời, tr 215, t 1)
Từ việc thống kê các loại nhịp trên, chúng tôi tiến hành tính đếm số lợng các loạinhịp và tỷ lệ của chúng Số lợng thống kê đợc thể hiện qua bảng sau:
Trang 34bớc thơ …, câu 18, tr 20, t II) ) là dòng lục bát và dòng bát mà trong khoá luận chúng tôi tạm gọi
là câu lục, câu bát Khi khảo sát nhịp điệu trong thơ lục bát và trong cặp lục bát, chúng ta đã tiến hành theo các bớc: khảo sát nhịp điệu trong câu lục, trong câu bát và trong cặp lục bát Từ kết quả khảo sát có thể nêu lên những nhận xét sau đây:
1.4.1 Nhịp điệu là xơng sống của thơ và mỗi thể thơ đều có một cấu trúc nhịp điệu nhất định cùng với các yếu tố khác tạo thành thơ luật Thơ có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, thậm chí bỏ cả luật bằng trắc nhng không đợc phép vứt bỏ nhịp điệu Không thể có một khổ thơ nào đó vứt bỏ nhịp điệu, tuỳ hứng về nhịp điệu Cũng nh nhiều nhà thơ khác, Huy Cận làm thơ lục bát tức là chọn một thể thơ có tinh chất dân gian Có điều, nhịp điệu của thơ lục bát khá tẻ nhạt Do đó nhà thơ nếu không hoán cải cái nhịp điệu ấy làm cho nó trở nên đa dạng thì khó mà nên thơ, khó mà gặt hái thành công khi lựa chọn thể thơ này Nhịp của một bài thơ cũng giống nh nhịp trong một bản nhạc, trớc hết phải có nhịp cơ bản, rồi trên cái nhịp cơ bản ấy tạo ra những biến thiên khác để đem đến tính đa dạng Nhịp cơ bản của thơ lục bát là nhịp
đôi (nhịp chẵn); nhịp này thể hiện thành quan hệ 2/2/2 ở câu lục và 2/2/2/2 ở câu bát Nhịp này phải đợc duy trì trong mọi câu thơ lục bát để tạo nên cái nền thể loại Nhng trên cái nền ấy,căn cứ vào sự kết hợp của các từ, những nhóm
từ để đem đến một sự thống nhất về thông báo tức là về nội dung ngữ nghĩa, lại có những nhịp khác chồng lên để phá vỡ cái vẻ đơn điệu của câu thơ Qua khảo sát các loại nhịp trong câu thơ lục bát của Huy Cận chúng tôi nhận thấy nhà thơ đã ý thức đợc điều đó và tổ chức nhịp điệu trong câu thơ lục bát khá thành công.
Nhận xét đầu tiên là thơ lục bát Huy Cận chủ yếu tiếp thu nhịp điệu truyền thống làm nên các khuôn sáo thi điệu 2/2/2 và 3/3 ở câu lục, 2/2/2/2 và 4/4 ở câu bát T liệu khảo sát cho chúng ta thấy một tỷ lệ rất cao ở các loại nhịp truyền thống mà Huy Cận kế thừa trong thơ lục bát của mình ở câu lục, nhịp 2/2/2 gồm 203 câu trong tổng số 274 câu chiếm 74,08% nhịp 3/3 gồm
15 trên tổng số 274 câu, chiếm 5,47% ở câu bát, nhịp 2/2/2/2 gồm 119 câu,
tỷ lệ 43,43%, nhịp 4/4 là 88 câu, tỷ lệ 32,11% Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi câu thơ lục bát Huy Cận gồm từng cặp sáu tám lặp đi lặp lại không thay đổi về số chữ, trong đó câu lục chỉ có một vần ở chữ thứ sáu, còn câu bát
có hai vần, một vần ở chữ thứ sáu hiệp vần với chữ thứ sáu của câu lục trên, một vần ở chữ thứ tám hiệp vần với chữ thứ sáu của câu lục dới Tất cả các vần
đều là vần bằng, không có một ngoại lệ nào cả Tuy đều là vần bằng nhng ở
Trang 35câu bát, hai vần bằng khác nhau về cao/thấp của thanh điệu Khi không có đối xứng, trong câu lục bát của Huy Cận nhìn chung theo khuôn “b B t T b B /b B
t T b B t B” Tất cả những điều này chứng tỏ, trong thơ lục bát của Huy Cận, các chữ thứ hai và thứ t trong câu lục, các chữ thứ hai và thứ sáu trong câu bát
có một vị trí quan trọng nên nhịp điệu của câu lục là 2/2/2 và câu bát là 2/2/2/2 Điều đặc biệt ở đây là số câu chia làm hai vế cân đối 3/3 hay 4/4 chiếm một tỷ lệ khá cao Nhịp 3/3 có 15 câu, chiếm tỷ lệ 5,47% còn nhịp 4/4
có trong 88 câu, chiếm tỷ lệ 32,11% Nếu ta tính trung bình thì khoảng 18 câu lục sẽ có một nhịp 3/3 và cứ khoảng 3 câu bát sẽ có một câu nhịp 4/4 Đó
là một tỷ lệ hết sức cao nếu nh ta biết toàn bộ ca dao hầu nh không có nhịp
đôi, còn truyện dân gian nh “Thạch Sanh”, “Phạm Công Cúc Hoa” cũng hầu
nh không có loại nhịp này Trong truyện Kiều theo Phan Ngọc [21] nhịp 3/3
có trong 80 câu (tỷ lệ 4,9%), nhịp 4/4 có trong 312 câu (tỷ lệ 19,1%) Nhịp
đôi trong câu trong lục bát nói chung, trong lục bát Huy Cận nói riêng đem lại kết quả gì cho câu thơ? Xét thuần tuý về mặt sinh lý, nếu ta giả thiết thời gian
đọc câu lục và câu bát không thay đổi thì khi có nhịp 3/3 thay cho nhịp 2/2/2 ở câu lục ta sẽ tiết kiệm đợc một chỗ ngừng, cũng thế ở câu bát, nhịp 4/4 thay cho nhịp 2/2/2/2 ta sẽ tiết kiệm đợc hai chỗ ngừng Kết quả, phần thời gian
đọc từng vế một sẽ dài hơn, câu thơ có vẻ nh chậm lại Sự đọc chậm lại trong câu thơ cũng dẫn tới sự suy nghĩ, nhất là khi câu thơ lại gồm hai vế đối nhau.
Sự đối xứng trong câu thơ dẫn tới sự so sánh, sự liên tởng, sự xác lập ý nghĩa
cho câu thơ Chẳng hạn: “Đêm vừa nhẹ/ gió vừa mơn// Cây chen ánh ngọc/
trải vời bóng xanh ” (Xuân ý).
1.4.2 Thơ lục bát của Huy Cận đã thực hiện đợc một sự đổi mới trong việc kế thừa, đẩy sự kế thừa lên một bớc mới việc tổ chức nhịp điệu câu thơ Nếu nh ở lục bát truyền thống có các loại nhịp 2/2/2 và 3/3 (ở câu lục) và 2/2/2/2, 4/4 (ở câu bát) thì câu thơ lục bát của Huy Cận có đến 17 loại nhịp.
Nh vậy, nhịp thơ lục bát của Huy Cận đã vợt ra khỏi khuôn sáo thi điệu truyền thống của lục bát Bây giờ nhịp thơ đã là nhịp cảm xúc, đã biến thiên phong phú và đa dạng cùng với nhiều cung bậc tình cảm, nhiều biến thái tinh tế trong
đời sống nội tâm của nhà thơ Sự sáng tạo và cách tân nhịp thơ lục bát của Huy Cận hết sức linh hoạt, nhiều vẻ Nhà thơ đã có ý thức về các công cụ mình sử dụng mà ở đây là nhịp điệu để diễn tả nhịp điệu trong tâm hồn Đó là các loại nhịp 2/4, 4/2,1/1/4, 1/3/2, 1/5/5/1 ở câu lục; các loại nhịp 4/2/2, 2/2/4, 2/4/2, 3/5, 3/3/2, 2/6, 6/2 ở câu bát Sự đột phá mạnh mẽ của nhịp điệu câu thơ lục bát thể hiện sự đổi mới của nhà thơ trong việc tổ chức tiếng nói âm nhạc