1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng nỗi buồn trong thơ huy cận

57 1,8K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 74,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Văn Khương Nghiên cứu hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc những tư tưởng, tình cảm, quan niệm…của nhà thơ.. Tuy nhiên, chúng tôi nhận t

Trang 1

Hình tượng nỗi buồn trong “Lửa thiêng” của Huy Cận

Nhà thơ Huy Cận – Tác giả tập thơ “Lửa thiêng” Nguồn: vienvanhoc.org.vn

SVTH: Hồ Thị Ngọc Nữ ĐH4C1

GVHD: Ths Nguyễn Văn Khương

Nghiên cứu hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận sẽ giúp chúng

ta hiểu sâu sắc những tư tưởng, tình cảm, quan niệm…của nhà thơ Qua Lửa thiêng, Huy Cận đã nói lên tâm trạng chung của tầng lớp trí thức tiểu tư sản

Đó là tâm trạng buồn bã, thất vọng và bất lực trước thực tại.

MỤC LỤC

Trang

Trang 2

III Mục đích nghiên cứu……… 6

Trang 3

IV Phương thức xây dựng hình tượng……… 19

Cận……… 21

I Vài nét chính về phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 và tập

III Nỗi buồn nhân thế- nỗi buồn thời cuộc của giai cấp tiểu tư sản………… 26

1. Nỗi buồn của một tâm hồn nhạy cảm, luôn cảm thấy bơ vơ, lạc

Trang 4

C PHẦN KẾT LUẬN……… 56

KHẢO……… 58

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

I.1 Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc thù Là hình thái ý thức xã

hội, văn học gắn liền với cuộc sống Với tính chất thẩm mỹ đặc thù, văn học nhận thức, phản ánh, lý giải, biểu hiện cuộc sống, con người bằng hình tượng Hình tượng không chỉ là phương tiện phản ánh cuộc sống mà còn là phương tiện giao tiếp của nhà văn

Học tập, nghiên cứu, giảng dạy văn học không thể không tập trung vào hình tựợng Bởi vì, khám phá hình tượng mới thấu hiểu được nội dung, ý nghĩa và cái đẹp của tác phẩm văn học Đồng thời, hình tượng nghệ thuật không chỉ phản ánh mà còn biểu hiện tiếng nói của tình cảm- cảm xúc con người, là sự bộc lộ, giãi bày và gởi gắm tâm tư Ở đó còn thể hiện cách nhìn, cách suy nghĩ của người nghệ sĩ

I.2 Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 là một hiện tượng văn học vô cùng

đa dạng và phong phú Thơ mới mang màu sắc của cái tôi cá nhân độc đáo thể hiện nhu cầu giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân Do vậy, cái

tôi của các nhà thơ mới mang nhiều màu sắc khác nhau, muôn màu muôn vẻ, hết

sức đa dạng, phong phú và phức tạp Song, ở đâu cũng phảng phất nỗi buồn và cô

đơn, không lối thoát, không thấy tương lai, chỉ thấy trời đất tối tăm mù mịt, “cho

nên Thơ mới vừa cất tiếng chào đời đã buồn ngay trong bản chất” [8;564].

Cái buồn và cô đơn thấm đẫm trên từng trang viết và quan niệm thẩm mỹ của các nhà Thơ mới Hầu như thi nhân nào cũng có đề cập đến sự cô độc, cái buồn man

mác, cái đau đời Song Huy Cận là nhà thơ thành công nhất khi thể hiện cái tôi sầu thương bi thiết Huy Cận đã nâng nỗi đau đời của mình và của đất nước lên thành hình tượng vừa lãng mạn vừa điển hình Đó là hình tượng nỗi buồn Đây cũng

chính là đề tài mà chúng tôi yêu thích và sẽ đi sâu khai thác

I.3 Huy Cận là một tác gia lớn có nhiều đóng góp cho phong trào Thơ mới lãng

mạn 1932-1945 nói riêng, cho nền văn học ViệtNam nói chung Tác phẩm của Huy

Trang 5

Cận rất đa dạng về số lượng và đề tài Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ là một chặng đường sáng tạo độc đáo không mệt mỏi Huy Cận là một trong những nhà thơ có

nhiều tác phẩm được trích giảng trong nhà trường phổ thông như: Đoàn thuyền

đánh cá, Các vị La Hán chùa Tây Phương, Tràng giang….

Với nhiều đóng góp quan trọng và có giá trị như thế chứng tỏ rằng Huy Cận là một tên tuổi không thể thiếu trong nền văn học dân tộc Do đó, việc tìm hiểu, khám phá các tác phẩm của ông rất được nhiều người quan tâm Chúng tôi nhận thấy, nỗi buồn trong thơ Huy Cận được nhiều nhà phê bình- nghiên cứu văn học đề cập đến Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu riêng lẻ, chưa có một hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh Thế nên, người viết muốn khám phá, nghiên cứu và đi sâu phân tích

hình tượng nỗi buồn trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận để hiểu một cách có hệ

thống một khía cạnh trong thơ Huy Cận Mặt khác để trân trọng sự đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà Cuối cùng là để có một kỹ năng, một ý thức trong việc khai thác hình tượng nghệ thuật trong việc giảng dạy văn học sau này

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

II.1 Đối tượng nghiên cứu

Thơ Huy Cận đề cập và phản ánh nhiều vấn đề trong cuộc sống Hơn 60 năm lao động nghệ thuật, nhà thơ đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ với trên 20 tập thơ và trở thành cây đại thụ của nền thi ca ViệtNamhiện đại Mỗi tập thơ đều có nét độc đáo riêng biệt, đề cập đến các vấn đề khác nhau tạo nên sự đa dạng và phong phú trong phong cách sáng tác của ông

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng đi sâu tìm hiểu và khám phá hình tượng nỗi buồn trong thơ và để phát hiện ra những sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật sáng tác của Huy Cận là một đề tài rất thú vị

II.2 Phạm vi nghiên cứu

Tác phẩm Huy Cận để lại vô cùng phong phú cả về số lượng lẫn đề tài Nhưng do khả năng bản thân và việc cho phép của một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu hình tượng nỗi buồn và nghệ thuật xây dựng hình tượng nỗi buồn

trong Lửa thiêng của Huy Cận Vả lại đây cũng là tập thơ tập trung nhất nỗi buồn

của chủ thể trữ tình

Những vấn đề khác cũng như những tập thơ khác của Huy Cận cũng được chúng tôi tìm hiểu xem là tư liệu quý báu, cần thiết để phục vụ cho đề tài

Trang 6

III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu hình tượng nỗi buồn trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận để thấy

được vì sao thi nhân nhìn đời buồn như vậy, nghệ thuật biểu hiện hình tượng nỗi buồn đặc biệt như thế nào mà nhiều người đã quan tâm

Đây cũng là dịp để người viết áp dụng lí luận đã được trang bị ở trường Đại học vào thực tiễn nghiên cứu Từ đó, củng cố lí thuyết, khắc sâu kĩ năng khai thác hình tượng Đây là một việc làm quan trọng mang lại hiệu quả thiết thực cho việc giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ dạy học của một giáo viên tương lai

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

IV.1 Khái quát về hình tượng, phương thức xây dựng hình tượng trong thơ, về

phong trào Thơ mới 1932-1945, về cuộc đời và sáng tác của nhà thơ Huy Cận để làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu

IV.2 Tìm hiểu nguyên nhân của nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận, những

đặc sắc của nhà thơ trong việc thể hiện nỗi buồn Từ đó , thấy được phong cách riêng rất độc đáo của thi nhân

IV.3 Rút ra kết luận và nêu lên những đề xuất của người viết về việc mở ra hướng

tiếp cận đề tài theo những cấp độ mới của bậc học cao hơn

V ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu đề tài này một cách nghiêm túc, toàn diện, có hệ thống sẽ giúp người viết có thêm những kiến thức mới, bổ ích về thơ Huy Cận Qua đó, thấy được sự đóng góp to lớn, tích cực của nhà thơ cho nền văn học nước nhà

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đề tài có các giá trị thực tiễn như sau:

V.1 Cung cấp tài liệu cho học sinh phổ thông tìm hiểu thêm về thơ Huy Cận.

V.2 Giúp ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy sau này của bản thân Đặc

biệt giúp học sinh hiểu được cái hay , cái đẹp của hình tượng văn học

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp cơ bản sau:

Trang 7

VI.1 Phương pháp thống kê

Phương pháp này dựa vào những số liệu cụ thể và tổng hợp chúng một cách có hệ thống theo mục đích của người viết Từ đó minh chứng cho các ý kiến, nhận định hay lý giải một vấn đề nào đó mà người viết đề cập đến Đồng thời, phương pháp này sẽ giúp cho quá trình nghiên cứu được thuận lợi hơn

VI.3 Phương pháp phân tích

Phương pháp phân tích đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu, lí giải, đánh giá văn học Đây là phương pháp cơ bản cho việc nghiên cứu đề tài

Phân tích để thấy được cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của hình tượng nỗi buồn trong thơ Huy Cận, thấy được phong cách riêng rất ấn tượng của nhà thơ này

VII LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

VII.1 Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc thù, ra đời và phát triển

trong quá trình lao động và hoạt động thực tiễn của con người Cùng với sự phát triển ngày càng cao của nền văn minh nhân loại, các loại hình nghệ thuật cũng ngày càng phát triển phong phú và đa dạng So với các loại hình nghệ thuật khác thì văn học chiếm một vị trí rất quan trọng Bởi vì văn học sử dụng chất liệu để xây dựng hình tượng là ngôn từ, mà ngôn từ có một sức mạnh tiềm tàng rất lớn, có thể chứa đựng trong nó tất cả âm thanh, hình ảnh, đường nét, màu sắc…Có thể lấy

lời khẳng địng của Belinxki để minh chứng cho điều này: “Thơ văn là loại hình

nghệ thuật cao cấp nhất Thơ văn thể hiện trong lời nói tự do của con người, mà lời nói vừa là âm thanh, vừa là bức tranh, vừa là khái niệm Do vậy thơ văn mang trong mình tất cả các yếu tố của nghệ thuật khác, nó như sử dụng không tách rời phương thức của tất cả các loại hình nghệ thuật riêng biệt Thơ văn chính là toàn

bộ nghệ thuật.”[9;91].

Trang 8

Ý kiến của Belinxki đã chỉ rõ ưu thế của văn học trong việc phản ánh cuộc sống Với chất liệu là ngôn từ, văn học đã xây dựng một hệ thống hình tượng có thể phản ánh bất kì phương diện nào của thế giới khách quan Đồng thời, qua hệ thống hình tượng đa dạng và phong phú, văn học còn có chức năng nhận thức, biểu hiện tư tưởng một cách trực tiếp và toàn diện nhất.

Hình tượng văn học mang tính phi vật thể Do đó thiếu tính trực quan nhưng bù lại

hình tượng văn học có những ưu thế khác Trước hết, do tác động vào thế giới tinh thần nên hình tượng văn học kích thích sự liên tưởng, tưởng tượng, tái hiện cuộc

sống và con người đối với người đọc Bên cạnh việc tái hiện những hình tượng

hữu hình, văn học còn tái hiện được những hình tượng vô hình, những cái mỏng

manh và mơ hồ nhất mà các loại hình nghệ thụât khác không thực hiện được Điều

đó cho thấy rằng, nhờ có hình tượng mà những trạng thái tình cảm rất trừu tượng

của con người có được một hình hài cụ thể Qua đó, người đọc có thể cảm nhận được những tư tưởng, tình cảm của tác giả qua các hình tượng vô hình đó.

VII.2 Hình tượng là vấn đề phổ biến trong văn học và được nhiều người quan tâm

nghiên cứu Ở phương Tây, hình tượng được xem là sự thống nhất biện chứng giữa cái riêng và cái chung, giữa cái cá biệt- cảm tính với cái trừu tượng- khái quát

Hêghen, một trong những nhà nghiên cứu hình tượng khá toàn diện cho rằng: “Nội

dung của nghệ thuật là tư tưởng, còn hình thức của nó là sự thể hiện một cách hình tượng cảm tính” [21;17].Tiếp nối quan niệm của Hêghen về hình tượng trong

văn học còn có ý kiến của các nhà nghiên cứu văn học như: Sussanne Langer, A Enstein, Belinxki, Timophêep, Pospelov v.v…

Ở phương Đông, hình tượng cũng được quan tâm từ rất sớm Về vấn đề này,

Khổng Tử viết: “Viết không nói hết lời, lời không nói hết ý, vậy thì cái ý của thánh

nhân không thấy hết được sao?” Và Không Tử thấy rằng: “Thánh nhân làm ra tượng để nói hết ý” Nghĩa là, người xưa đã biết dùng hình ảnh, biểu tượng để

diễn đạt những điều mà lời nói không chuyển tải hết được Ngoài Khổng Tử, còn

có các quan niệm về hình tượng của nhà lí luận- phê bình văn học Lưu Hiệp Ông cho rằng, hình tượng là hình ảnh của thế giới khách quan được nghệ sĩ quan sát,

sau đó biểu hiện và sáng tạo bằng những cảm nhận tinh tế của mình “Tình cảm vì

sự vật mà thay đổi, lời vì tình cảm mà phát ra…Trong cái cảnh bao la muôn vàn hình tượng, nhà thơ trầm ngâm nghe và ngắm, tả lại cái khí chất, vẻ lại cái dung mạo của nó Nhà thơ đã theo sự vật mà để tâm trí, lại còn thêm sắc thái, góp âm thanh, tâm trạng cũng vì thế mà bồi hồi.” [14;54] Điều đó có nghĩa là sự thay đổi

của thế giới khách quan tác động đến thế giới tinh thần của con người Và từ sự cảm nhận chủ quan tinh tế, người nghệ sĩ đã tạo ra hình tượng từ thực tế cuộc sống

Trang 9

Điều đó cũng chứng minh rằng, hình tượng là sự gắn bó mật thiết giữa hiện thực khách quan và tình cảm chủ quan.

Ở Việt Nam, lí luận văn học hiện đại khẳng định hình tượng là “bức tranh sinh

động về cuộc sống vừa cụ thể- cảm tính vừa khái quát và mang ý giá trị thẩm mỹ” [18;298] Các nhà nghiên cứu, lý luận văn học tiêu biểu như: Phương Lựu,

Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Lê Ngọc Trà… đều rất quan tâm và đề cập nhiều đến những khía cạnh của hình tượng

Qua nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng các ý kiến và quan điểm của các nhà lí luận văn học phương Tây, phương Đông và ở Việt Nam đều có điểm chung khi cho rằng hình tượng văn học là sự thống nhất biện chứng giữa cái cụ thể- cảm tính và cái chung- khái quát, giữa chủ quan và khách quan

VII.3 Trong nền văn học ViệtNam hiện đại, Huy Cận có một vai trò, vị trí rất quan

trọng Hơn nửa thế kỉ cầm bút, Huy Cận đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ Trong hành trình nghệ thuật của mình, Huy Cận đã không ngừng phấn đấu sáng tạo

và cho ra đời nhiều tác phẩm văn chương có giá trị, đạt đỉnh cao của thành tựu thơ

ca ViệtNam

Các nhà thơ, các nhà nghiên cứu đều trân trọng những đóng góp của Huy Cận trên

cả hai chặng đường, trước và sau Cách mạng Nhiều ý kiến đã lý giải được quá trình vận động cảm hứng sáng tạo của Huy Cận qua các tập thơ, phác thảo được những đặc điểm cơ bản trong phong cách thơ của Huy Cận như: tình yêu sự sống,

nỗi khắc khoải không gian, nỗi buồn thế hệ, giọng điệu trầm lắng, sâu sắc…

Thơ Huy Cận là một mảng đề tài lớn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình

và nhiều thế hệ độc giả Tính cho đến nay, đã có hơn 80 công

trình nghiên cứu- phê bình lớn ở trong nước và ngoài nước Đáng chú ý nhất là những công trình nghiên cứu mang tính tổng kết của Trần Khánh Thành, Trinh Đường, Hà Minh Đức, Trần Đình Việt, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Trần Mạnh Hảo, Phan Hoàng, Trần Đình Sử, Nguyễn Hoàng Khung, Nguyễn Xuân Nam, Vũ Quần Phương, v.v…

Lửa thiêng tuy là tập thơ đầu tay của Huy Cận nhưng đã đưa tên tuổi nhà thơ lên vị

trí hàng đầu trên thi đàn Việt Nam Đây là tập thơ được nhiều nhà phê bình và các độc giả yêu văn chương quan tâm nhất Đây cũng chính là tập thơ được coi là một

trong những tập thơ “toàn bích nhất của giai đoạn 1932-1945” [25;5].

Lửa thiêng thành công vẻ vang vì tập thơ đã nêu bật được hồn thơ của nhà thơ,

cái buồn chung của cả một thế hệ và nỗi đau của những người dân mất nước nên đã

Trang 10

đánh động được sự đồng tình, ủng hộ của tất cả mọi người, thuyết phục cả những độc giả khó tính nhất.

Nghiên cứu tập thơ Lửa thiêng, các nhà phê bình- nghiên cứu văn học đã tìm hiểu

nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh khác nhau Trong lời giới thiệu về tập thơ,nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét về hồn thơ Huy Cận- một hồn thơ mang linh hồn trời đất và

nặng tình đời, tình người, tình yêu sự sống: “Linh hồn Huy Cận là một linh hồn

trời đất, nói thế không sai đâu! Xem suốt tập Lửa thiêng, cái cảm giác trội nhất của ta là một cảm giác không gian, ta nghe xa vắng quanh mình, ta đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát; một cái buồn vời vợi dàn ra cho đến

hư vô Huy Cận quá cảm nghe cái mênh mông, thì giọng thơ của người cũng lây cái sầu vũ trụ” [5,27].

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh- Hoài Chân đã khẳng định vị trí quan trọng của Huy Cận khi cho rằng tác giả Lửa thiêng “đã gọi dậy hồn buồn của Đông Á,

người đã khơi dậy cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”

[24;137] Trong tác phẩm Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra vẻ đẹp trong sáng, thanh tao, cổ kính của Đẹp xưa, Tràng giang, Thu rừng… “Dù nhìn nhận ở

những góc độ khác nhau nhưng các nhà thơ và các nhà nghiên cứu đương thời đều đánh giá cao đóng góp của Huy Cận Và Huy Cận đã có một vị trí cao, vững chắc trong phong trào Thơ mới” [25;14].

Các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoàng Khung trong các giáo

trình đại học đều chỉ ra lòng yêu đời, yêu và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Hồn thơ Huy Cận trong trẻo và đầy sức sống Từ năm 1985 đến nay, Lửa

thiêng càng được nhiều nhà phê bình- nghiên cứu văn học quan tâm hơn và được

khai thác từ nhiều phương diện khác nhau Trong chuyên luận Thơ mới, những

bước thăng trầm, Lê Đình Kỵ đặc biệt nhấn mạnh “nguồn mạch truyềnthống chảy dào dạt trong những vần thơ Lửa thiêng” [25;15] Còn nhà thơ Trinh Đường trong

tiểu luận Huy Cận và Lửa thiêng đã cảm nhận sâu sắc nỗi buồn thương của Huy

Cận về quê hương, đất nước, về những mảnh đời đau khổ của kiếp người nô lệ, về

nỗi xót xa, thương cảm của một chiếc linh hồn nhỏ, mang mang thiên cổ sầu (Ê

chề) Song song đó là lòng yêu đời thiết tha của thi nhân Đỗ Lai Thúy trong tiểu

luận Huy Cận và sự khắc khoải không gian đã nghiên cứu rất sâu những đặc điểm

cơ bản của không gian nghệ thuậtLửa thiêng Đó là một không gian “hóa thân của

thiên đường, của sự hòa đồng nguyên thủy thưở xưa” [25;330] Ở đó có sự tương giao giữa con người, thiên nhiên và vũ trụ bao la.

Trang 11

Trong tập tiêu luận Một thời đại trong thi ca, Hà Minh Đức đã có những kiến giải mới mẻ và phân tích sâu sắc về Ngọn Lửa thiêng trong đời và trong thơ Ông cho rằng thế giới tâm linh kết thành ngọn Lửa thiêng trong thơ Huy Cận Đó là “thế

giới tâm linh soi rọi như ánh sáng, như niềm tin vào lương tri của con người và được tác giả xem như phần hồn” [25;52] Nhờ có nguồn ánh sáng ấy mà Huy Cận

nhìn thấy được “bóng dáng xưa của ngọn nguồn dân tộc, cảm nhận được nhịp sầu

vũ trụ và nỗi buồn nhân gian, và nhận ra bản thể của con người trong sự sống của thiên nhiên” [25;15].

Đặc biệt, Trần Khánh Thành trong chuyên luận Thi pháp thơ Huy Cận đã nghiên cứu sâu về thơ Huy Cận ở nhiều phương diện, nhiều khía cạnh như: Cái tôi trữ

tình với nhiều đối cực, Quan niệm nghệ thuật, Thời gian và không gian nghệ thuật, Phương thức thể hiện…

Những công trình nghiên cứu của các tác giả đều rất đáng trân trọng và rất bổ ích đối với những ai quan tâm đến thơ Huy Cận, đặc biệt là giúp ích cho người viết

trong suốt quá trình tìm hiểu hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận.

Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở góc độ nào thì các nhà phê bình và nghiên cứu văn học đều thống nhất với nhau khi cho rằng:

“Huy Cận bước tới thi đàn bằng một tâm hồn đa cảm, đa sầu Với tập thơ đầu tay Lửa thiêng, Huy Cận đã mang đến cho phong trào Thơ mới những vần thơ buồn bã, ảo não bậc nhất Buồn bã, cô đơn là tâm trạng chung của các nhà thơ mới nhưng không có nhà thơ nào buồn nhiều, buồn sâu, buồn thấm như Huy Cận” [25;15].

Khi tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu văn học đặc

biệt quan tâm đến tâm trạng cô đơn, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời của Huy Cận

Đó chính cảm xúc chủ đạo của thi nhân Đồng thời, thơ của tác giả Lửa thiêng có

một vị trí đặc biệt trong lòng bạn đọc Đó là cơ sở quý giá để khoá luận tiếp tục làm sáng rõ thêm nguyên nhân của nỗi buồn và nghệ thuật thể hiện nỗi buồn đó đặc sắc như thế nào mà bạn đọc rất quan tâm và yêu thích

VIII KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi gồm 3 phần:

A Phần mở đầu

B Phần nội dung

Chương I Cơ sở lí luận

Trang 12

Chương II Nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận

Chương III Nghệ thuật xây dựng hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy

Cận

C Phần kết luận

PHẦN NỘI DUNG

Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN

I Khái quát về hình tượng

Hình tượng là phương thức biểu hiện chủ yếu của văn học Nói đến văn học là nói đến hình tượng Hình tượng chính là phương tiện để nhà nghệ sĩ miêu tả con người

và thế giới khách quan một cách sinh động, toàn diện, có hệ thống

Vai trò của hình tượng luôn được các nhà lý luận- phê bình nghiên cứu văn học

nhấn mạnh Heghen viết: “Sứ mệnh của nghệ thuật là ở chỗ dùng hình thức hình

tượng nghệ thuật cảm tính dể làm hiện lên tính chân thực” Còn Macxim Gorki thì

cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật không phải là kể ra mà là dùng hình tượng và bức

tranh để miêu tả hiện thực” Do vậy, hình tượng là phương thức tư duy đặc thù của

nghệ thuật để phản ánh thực tại khách quan

Theo Từ điển văn học thì : “Hình tượng hay hình tượng nghệ thuật là bức tranh

cuộc sống vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát và có ý nghĩa thẩm mỹ” [19;298]

Một tác phẩm có tính hình tượng khi tác phẩm đó đem đến cho người đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống Đồng thời phải tạo nên những cảm xúc mãnh liệt khi tiếp xúc với tác phẩm qua ngôn ngữ Bức tranh ấy vừa phản ánh cuộc sống của một vài cá thể vừa phản ánh cuộc sống của nhiều người trong xã hội Tình cảm

ấy vừa là tình cảm của chủ thể trữ tình vừa là tình cảm của một tầng lớp, một dân tộc hay toàn nhân loại Lòng yêu hoà bình và căm thù chiến tranh không chỉ của

riêng Andrey hay Pier trong tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình của L.Tonxtoi mà

là của cả cộng đồng người trên toàn thế giới

Hình tượng phải có tính chất vừa quen vừa lạ, tức là có sự thống nhất giữa khách

quan và chủ quan trong nghệ thuật xây dựng hình tượng Nhờ có sự thống nhất biện chứng giữa tính chung của hiện thực khách quan và tính riêng của cảm xúc người nghệ sĩ mà hình tượng phản ánh cuộc sống một cách chân thực, đồng thời mang ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc Có thể thấy, qua nhân vật Thuý Kiều, hình tượng người phụ nữ được phản ánh một cách trọn vẹn và chân thật Nàng mang tất cả những nét đẹp của người phụ nữ về dung mạo lẫn tâm hồn Nàng giàu đức hy sinh

Trang 13

và giữ vẹn lòng chung thuỷ Dù bị vùi dập giữa muôn ngàn lớp sóng cuộc đời, nàng vẫn giữ lòng mình trong sạch Nàng ý thức được về bản thân, về thế giới và quyết không đầu hàng số phận Đó là những nét tính cách rất thật cuả người phụ nữ trong xã hội phong kiến Đồng thời, Nguyễn Du cũng xây dựng nàng Kiều thành một hình mẫu trọn vẹn, tinh khiết và lý tưởng Nàng trở thành một hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao Nàng đã gieo được những hạt mầm tình cảm tốt đẹp trong lòng người đọc.

Đó chính là cách phản ánh rất riêng và độc đáo của tác phẩm văn học “Nghệ thuật

xây dựng các hình tượng là để phản ánh và lí giải đời sống theo cách riêng cuả nó” [20;64] Với cách đó, hình tượng chẳng những nói hết ý mà còn có khả năng

tác động trực tiếp đến tình cảm và thế giới tinh thần của con người

Do có sự thống nhất giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan nên hình tượng có thể phản ánh thực tại khách quan một cách chân thực, đồng thời cũng mang đậm nét phong cách, tài năng và bản lĩnh của chủ thể sáng tạo Vì vậy, hình tượng vừa

có giá trị hiện thực vừa là “thành quả của tư duy sáng tạo và tưởng tượng của

người nghệ sĩ” (Pospelov) Qua hình tượng, chúng ta có thể hiểu được những suy

tư, trăn trở, những tư tưởng, tình cảm của tác giả

II Đặc trưng của hình tượng

Hình tượng nghệ thuật là sự kết tinh những kinh nghiệm sống và những mối quan

hệ ràng rịt của con người Cho nên hình tượng nghệ thuật vừa có sự thống nhất giữa cái cá biệt, cụ thể- cảm tính và cái chung, khái quát vừa thể hiện ở chỉnh thể các quan hệ xã hội- thẩm mỹ

Trước hết, đó là quan hệ nghệ thuật với thế giới khách quan mà nó phản ánh Tiếp theo là quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và người tiếp nhận, tức là giữa tác giả với người đọc Sau nữa là quan hệ giữa hình tượng nghệ thuật với chất liệu làm nên nó v.v…

Đặc trưng của một ngành nghệ thuật nói chung và hình tượng của nó nói riêng chịu

sự chi phối của chất liệu tổ chức tác phẩm Với chất liệu ngôn từ, hình tượng văn học có những đặc trưng riêng

II.1 Tính hình tượng- gián tiếp

Chất liệu của hội hoạ là màu sắc, của âm nhạc là âm thanh, làn điệu, của vũ đạo là hình thể, động tác, của điêu khắc là đường nét, hình khối… Nói chung, các loại

Trang 14

hình nghệ thuật trên đều có chất liệu là vật chất, vật thể nên chúng đều có tính hình tượng- trực tiếp, tức là người tiếp nhận có thể trực tiếp nghe hoặc nhìn thấy một cách dễ dàng.

Văn học cũng là một loại hình nghệ thuật nhưng hình tượng văn học đặc biệt không giống như các loại hình nghệ thuật khác Hình tượng văn học là hình tượng- trực tiếp bởi chất liệu tổ chức tác phẩm là ngôn từ, mà ngôn từ chỉ là kí hiệu của vật chất chứ không phải là vật chất nên ta không thể cảm quan một cách trực tiếp Đây là hình ảnh cô gái thanh xuân, xinh đẹp, tràn đầy sức sống trong thơ Huy Cận:

Ngực trắng dòn như một trái rừng;

Mắt thì bằng rượu, tóc bằng hương,

Miệng cười bừng nở hàm răng lựu,

Sáng cả rừng xanh mấy dặm trường.

(Hồn xuân)

Rõ ràng ta có thể tưởng tượng ra các hình tượng chứ không thể thấy ngực, mắt,

miệng…cũng như mùi hương của cô gái.

Hình tượng văn học tuy thiếu tính trực quan nhưng bù lại nó có những khả năng đặc biệt khác Khả năng đặc biệt đó là do sức mạnh của ngôn ngữ mang lại Ngôn ngữ trong tác thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai nên sẽ tác động vào trí não và ý thức con người, giúp họ nghe thấy được hình tượng một cách gián tiếp qua sự hình dung, tưởng tượng, kích thích quá trình hoạt động trí tuệ của họ

II.2 Tính tư duy- trực tiếp

Do ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy” (Mác) nên những tư tưởng,

suy nghĩ, tình cảm- cảm xúc của nhà văn hoặc nhân vật trong tác phẩm đều có thể bộc lộ một cách trực tiếp Nói cách khác, do văn học lấy ngôn ngữ làm chất liệu nên hình tượng của nó mang tính tư duy- trực tiếp Chẳng hạn, đau buồn trước thực trạng tăm tối của xã hội, Huy Cận đã không kìm được tiếng lòng nức nở

Than ôi! trời đẹp nhưng trời buồn

Như cảnh tươi màu rạp cải lương

Tôi đội tang đen cùng mũ trắng,

Trang 15

Ra đi không hẹn ở trên đường.

(Giấc ngủ chiều)

Trước Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt

Trái tim đau khô héo thuở trần gian.

Tôi sẽ nói:

“Này đây là nước mắt,

Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan”.

(Trình bày)

Các loại hình nghệ thuật khác mang tính tư duy- gián tiếp Khi xem một bức tranh hay nghe một bài hát, ta có thể nghe thấy được hình tượng một cách dễ dàng nhưng muốn biết những tư tưởng, tình cảm ẩn giấu đằng sau thì buộc người tiếp nhận phải suy nghĩ và tư duy Trái lại, khi đọc một tác phẩm văn chương, chúng ta có thể biết được vô vàn số phận con người trong xã hội và họ suy nghĩ như thế nào về cuộc đời, những suy tư, dằn vặt, những nỗi đau khổ, sự thất vọng, niềm hạnh phúc…Vì

thế, xét trên một bình diện nào đó thì hình tượng văn học “giàu khuynh hướng tư

tưởng hơn các loại hình nghệ thuật khác” [15;190].

II.3 Tính tuyến tính của hình tượng

Hình tượng văn học được tái hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn trong thời gian, tức là những hành động, sự kiện, suy nghĩ, ý định…của con người xuất hiện nối

tiếp nhau theo thời gian “Văn học thuộc loại nghệ thuật thời gian, nghĩa là hình

tượng của nó mở dần trong thời gian, khác hẳn các loại hình nghệ thuật khác”

[16;188] Lessing đã rất có lý khi đưa ra lập luận: “Các ký hiệu biểu hiện cái này

tiếp sau cái kia thì chỉ có thể chỉ ra các sự vật trong thực tế cũng bộc lộ với ta trong tính liên tục của thời gian” Lập luận của Lessing có thể giải thích qua chất

liệu xây dựng hình tượng Bằng ngôn từ nghệ thuật, khi đọc một tác phẩm văn học,

ta có thể cảm nhận sự xuất hiện dần dần theo thời gian của hình tượng đến khi trở thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất biểu hiện một tư tưởng , một quan niệm nào đó của tác giả

Hình tượng Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao xuất hiện với nhân dáng là một con quỷ dữ của làng Vũ Đại Sau đó, lật qua từng trang

viết, hình tượng nhân vật này ngày càng được hoàn chỉnh, người đọc có thể hiểu một cách sâu sắc về Chí Phèo ở nhiều khía cạnh: Một anh thanh niên hiền lành,

Trang 16

chất phác với mơ ước giản dị, trong sáng, có vợ sinh con và có cuộc sống bình thường, hạnh phúc Rồi anh bị hãm hại, vào tù và sau đó trở nên hung hăng, tàn nhẫn mất hết tính người với chuỗi ngày tháng sống vất vưởng bên lề xã hội loài người, với những mảnh chai chằng chịt trên mặt, với cuộc sống vô nghĩa không

cảm xúc, không tình yêu Rồi Chí Phèo gặp Thị Nở và nảy sinh tình yêu, Chí bắt

đầu ý thức về bản thân và sự bất hạnh khi bị mọi người xa lánh, Chí giết Bá Kiến

và tự kết liễu cuộc đời đầy đau khổ của mình…Tất cả các chi tiết đều hiện lên tuần

tự theo thời gian, tương hỗ nhau để khắc hoạ hoàn chỉnh hình tượng Chí Phèo.Nhờ có chất liệu là ngôn từ nghệ thuật nên văn học đạt được tính vạn năng trong việc phản ánh , tái hiện đời sống và xây dựng hình tượng Tính vạn năng thể hiện ở chỗ văn học có thể phản ánh bất kỳ phương diện nào, vấn đề nào trong đời sống-

xã hội Văn học chẳng những phản ánh được những sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà còn có thể nắm bắt tất cả những cái mơ hồ, vô hình chỉ tồn tại trong tâm thức của con người Điều này làm cho văn học không bị giới hạn bởi không gian và thời gian khi miêu tả, thể hiện Chính vì vậy mà có thể nói rằng không ở đâu có thể có hình tượng phong phú như trong văn học

I.2.4 Tính đa trị, mơ hồ của hình tượng

Hình tượng văn học thường được cấu tạo bằng các phương thức: so sánh, ẩn dụ, liên tưởng…cộng với ngôn từ giàu hình ảnh làm cho hình tượng mang tính đa trị, nhiều nghĩa Một nhân vật văn học hay một trạng thái cảm xúc được xem là hình tượng khi nó có tính đa trị, tức là nhân vật hay trạng thái cảm xúc đó phải ẩn chứa trong nó nhiều ý nghĩa, nhiều giá trị tư tưởng sâu sắc, là thông điệp cho một quan niệm nhân sinh nào đó của tác giả Chẳng hạn, xây dựng hình tượng nỗi buồn, Huy Cận không chỉ nói lên tâm trạng xót xa, đau buồn của mình trước thực tại mà còn thể hiện nỗi buồn chung của thế hệ, của dân tộc, ẩn đằng sau nỗi buồn da diết ấy còn lấp lánh những tia sáng hy vọng

vào con người, vào cuộc đời và tương lai đất nước

Do tính đa trị nên kéo theo hệ quả là hình tượng cũng có tính mơ hồ Bởi “vì hình

tượng văn học tác động vào trí tuệ, tưởng tượng và liên tưởng của người đọc”

[16;186] Chế Lan Viên đã đề ra nguyên tắc “thơ là gợi chứ không phải mở” để

minh chứng cho cách viết có hình tượng:

Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi

Còn một nửa cho mùa thu làm lấy

Cái xào xạt hồn anh chính là xào xạt lá

Trang 17

Nó không là anh nhưng nó là mùa.

(Sổ tay thơ)

Với quan niệm đó, chúng ta có thể thấy, để có hình tượng thơ thì người thi sĩ không nên trình bày hết những điều mình nghĩ, tức là chỉ nên nói một phần và phần còn lại phải để cho người đọc tìm hiểu, khám phá Do tự tìm hiểu, khám phá, người đọc phải liên tưởng, tưởng tượng Do không có sự liên tưởng, tưởng tượng nào giống nhau nên hình tượng văn học mang tính mơ hồ

Cùng một hình tượng văn học nhưng mỗi người tiếp nhận sẽ sáng tạo cho riêng

mình một hình ảnh nhất định tuỳ theo sự tưởng tượng của họ về nhân vật đó, tác phẩm đó Thuý Kiều đẹp, điều đó ai cũng biết, nhưng vẻ đẹp của Kiều ở mỗi người lại khác vì sự tưởng tượng của mỗi người không giống nhau

Đó chính là tính đa trị, mơ hồ của hình tượng văn học

III Hình tượng trong thơ trữ tình

Như đã phân tích ở trên, ta thấy không chỉ có văn học mới có hình tượng mà trong điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc…đều có hình tượng của nó với những nét riêng mang tính đặc thù

Những hình tượng thuộc các lĩnh vực nghệ thuật khác cũng phản ánh cuộc sống một cách sinh động nhưng chúng được xây dựng bằng chất liệu mang tính vật thể Còn hình tượng văn học nói chung và hình tượng thơ nói riêng cũng là bức tranh

sinh động về cuộc sống nhưng chất liệu của nó lại mang tính phi vật thể.

Theo Hữu Đạt thì:“Hình tượng thơ là một bức tranh sinh động và tương đối hoàn

chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần, điệu với trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của nghệ sĩ” [7;127].

Như vậy, ta thấy hình tượng thơ là một phương tiện để phản ánh cuộc sống Đó là sản phẩm độc đáo của trí tưởng tượng , óc sáng tạo và cách đánh giá đối tượng của nhà nghệ sĩ

Bản chất nghệ thuật là sáng tạo Vì thế, hình tượng phải ngày càng mới lạ, độc đáo

và gắn với hiện thực cuộc sống và con người

IV Phương thức xây dựng hình tượng trong thơ trữ tình

Văn học là nghệ thuật ngôn từ Có nghĩa văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ sử dụng ngôn từ tổ chức tác phẩm Đặc trưng xã hội thẩm mỹ của văn học

Trang 18

là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng Như vậy hình tượng văn học được xây dựng bằng ngôn từ Cái tài của nhà thơ là am hiểu, vận dụng sáng tạo ngôn ngữ trong thơ để tạo nên hình tượng nghệ thuật.

Trước hết là ở lớp từ ngữ có tính hình tượng Đó là các từ ngữ chỉ sự vật, hoạt

động, trạng thái Ví dụ như: tót, nhờn nhợt, trọc lóc…,lớp từ này sẽ tạo nên một

thế giới hình tượng sinh động

Tiếp theo là lớp từ ngữ đa nghĩa Tiếng Việt có nhiều từ đa nghĩa gợi lên sự liên

tưởng đến hình tượng Chẳng hạn từ mận, đào, vườn hồng…trong bài ca dao sau

đây:

Bây giờ mận mới hỏi đào:

-Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa:

-Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Cách ngắt nhịp khéo léo cũng có thể tạo nên hình tượng

Kìa đạn, kìa gạo

Kìa gạo, kìa đạn.

Nhịp bài thơ gợi lên sự hối hả của đoàn tàu tiếp nối nhau mang lương thực và vũ khí của hậu phương miền Bắc để chi viện cho chiến trường miền Nam Ngoài ra, nhịp thơ còn gợi lên sự ác liệt của chiến trường và sự khắc nghiệt của những tháng ngày chiến tranh

Có thể nói một nghệ sĩ tài hoa là người biết vận dụng linh hoạt lợi thế ngôn ngữ để xây dựng hình tượng một cách sáng tạo cho riêng mình Hình tượng đó phải sinh động và gợi được cảm xúc của người đọc

Đặc biệt, hình tượng được xây dựng rất nhiều từ các phương tiện chuyển nghĩa như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, đối lập, nhân hoá v.v…So sánh tu từ trong câu thơ sau đây của Xuân Diệu thật độc đáo:

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

(Vội vàng)

So sánh tháng giêng với cặp môi người thiếu nữ thì quả là rất độc đáo Đôi môi người thiếu nữ là biểu tượng của cái đẹp, duyên dáng và tinh khiết Đôi môi mềm

Trang 19

ấy sẽ thốt lên những lời dịu êm, nhẹ nhàng gây ấn tượng đẹp trong lòng người Tháng giêng là mùa đẹp nhất trong năm, là mùa bắt đầu một năm mới với những

hy vọng mới Tháng giêng cũng đẹp, cũng ngon như môi người thiếu nữ vậy Thật

là một sự so sánh hết sức đặc biệt và mới mẻ!

Hay biện pháp đối lập được Huy Cận sử dụng trong Mai sau cũng tạo được hiệu

quả tu từ độc đáo trong phương thức xây dựng hình tượng

Chàng yêu lắm nên bị người hắt hủi

Chàng yêu lâu nên thiên hạ lìa xa.

Thật là nghịch lí! Chủ thể trữ tình mang tình yêu chân thành, tha thiết đến cho người nhưng người không thèm nhận, cũng chẳng đoái hoài đến Đã vậy, người

còn hắt hủi, lìa xa Nỗi buồn Huy Cận triền miên, trĩu nặng là vì thế!

Ngoài ra, cách tổ chức câu thơ khác thường cũng tạo được hình tượng Bất thường

về ngữ pháp và bất thường về ý đều tạo được những hình tượng độc đáo

Có thể thấy rằng, khi sáng tác nhà thơ tận dụng tối đa mọi phương tiện ngôn ngữ

để xây dựng thế giới hình tượng đa dạng, phong phú của con người Hình tượng thơ là hình tượng của cảm xúc, suy tư thể hiện cách nhìn, cách đánh giá của chủ thể trữ tình

Hình tượng trong thơ được xây dựng bằng nhiều yếu tố như đã trình bày ở trên Tuy nhiên, chúng tôi chỉ chú trọng khai thác các phương tiện chuyển nghĩa trong

phương thức xây dựng hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêngcủa Huy Cận.

Trang 20

Chương II NỖI BUỒN TRONG LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN

I Vài nét chính về phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 và tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận

I.1 Thơ mới và đặc điểm của phong trào Thơ mới

Thơ mới là thơ có sự thay đổi ở hình thức, ở nội dung cảm xúc, mà đặc biệt là ở

nội dung Theo Hoài Thanh, Thơ mới là tiếng nói của cái tôi lần đầu tiên được giải phóng khỏi cái ta chung của cộng đồng.

Phong trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và cuộc khủng hoảng

kinh tế Các nhà thơ mới tương đối thống nhất về thái độ chính trị và quan điểm

mỹ học, có nhiều yếu tố tiến bộ và tích cực Tuy nhiên, mang nhiều lí tưởng tốt đẹp nhưng lại gặp thực trạng đen tối của xã hội thực dân lúc bấy giờ nên các nhà thơ mới dễ rơi vào bế tắc, hụt hẩng Vì thế, họ luôn mang trong lòng tâm trạng buồn và

những nỗi “đau đời” không tránh khỏi “Buồn và cô đơn là nét chung của Thơ

mới” [11,22].

Cái buồn đã thấm sâu trên từng trang viết và quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ

mới “Cô độc là bệnh của chủ nghĩa lãng mạn” [8;565] Song, dù buồn và cô độc

nhưng Thơ mới vẫn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do Biểu hiện rất rõ của tinh thần dân tộc là lòng yêu và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt Thơ mới còn thể hiện sâu sắc tinh thần yêu đất nước, yêu thiên nhiên Đồng thời, Thơ mới thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc

Thơ mới lãng mạn mang đậm màu sắc của cái tôi cá nhân Cái tôi ấy đã nói lên

được nhu cầu lớn trong việc giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân Do đó, thế giới tâm hồn- tình cảm của con người được mở rộng và ngày càng phong phú Thơ mới chú trọng sự sáng tạo mang màu sắc cá thể (phong cách cá nhân) độc đáo và sắc nét

Mỗi nhà thơ mới đều đi tìm lối thoát bằng cách thoát ly khỏi cuộc sống Nhưng

càng thoát ly lại càng bế tắc, “càng đi sâu vào cái tôi lại càng cô đơn,

vắng lạnh” (Phan Cự Đệ).

Thơ mới lãng mạn 1932-1945 chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thơ Pháp và cũng chịu ảnh hưởng của thơ Đường (Trung Quốc) Sự kết hợp nhuần

21

Trang 21

nhuyễn giữa Đông và Tây, truyền thống và hiện đại đã làm cho Thơ mới phát triển

mạnh mẽ với những nét độc đáo riêng, tạo nên “một thời đại trong thi ca” (Hoài

Thanh) và tạo nên diện mạo mới cho văn học nước nhà

“Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế

Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê màu như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” [24;34].

I.2 Tập thơ Lửa thiêng

Lửa thiêng là tập thơ đầu tay của Huy Cận, ra mắt bạn đọc năm 1940 Tập thơ

được Xuân Diệu- người bạn thơ thân nhất của Huy Cận- giới thiệu với tất cả sự trân trọng và nhiệt tình:

“…Thơ Huy Cận không được vui Âu cũng là sự tự nhiên của đất trời: hàng phi

lao đứng bên sóng xanh kia, gió xa thổi vào, cứ tự nhiên phát ra những lời rầu rĩ… Cái buồn Huy Cận là cái thương vô hạn hóa thành cái tủi vô cùng: ấy là thứ hận sầu dài dặc lâu bền, nó gieo hoa trong lòng bọn thi sĩ! Nỗi buồn đó vốn là nỗi buồn chung của con người…

Huy Cận nói hộ ta đó; những giọt nước mắt thường đến quanh mi rồi ngừng Huy Cận đã vì ta để rơi xuống má…” [25;29].

Lửa thiêng là một tập thơ kết tinh của những nỗi buồn Nỗi buồn Huy Cận thờiLửa thiêng là kết quả của quá trình lắng nghe tinh tế nhịp sầu vũ trụ và nỗi buồn nhân

gian, là sự ý thức về thân phận con người trong cuộc đời nô lệ

Với Lửa thiêng, Huy Cận đã mang đến cho phong trào Thơ mới “những vần thơ

buồn bã, ảo não bậc nhất” [25;15] Lửa thiêng có 50 bài thì có đến 35 bài trực tiếp

bộc lộ tâm trạng buồn bã, cô đơn, lạc lõng Tập thơ đã đưa tên tuổi Huy Cận lên vị trí hàng đầu trong làng Thơ mới lãng mạn 1932-1945

II Nỗi buồn của người dân mất nước, mất tự do

Những nhà thơ lớn bao giờ cũng có sự đồng cảm rộng lớn và sâu sắc trong bất kì hoàn cảnh nào Dường như hoàn cảnh càng khắc nghiệt thì sự đồng cảm càng lớn

Phong trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và cuộc khủng hoảng

kinh tế trầm trọng , đời sống người dân vô cùng

khó khăn, chật vật Tuy là giai cấp tiểu tư sản trí thức có học vấn nhưng đời sống của các văn nghệ sĩ cũng hết sức bấp bênh Do đó, hơn ai hết, các nhà văn, nhà thơ rất hiểu nỗi khổ của người dân nô lệ sống trong xiềng xích kẻ thù

Trang 22

Nói đến Thơ mới là nói đến nỗi buồn của những tâm hồn đa cảm đa sầu Buồn bã,

cô đơn là đặc điểm chung của khuynh hướng lãng mạn Huy Cận cũng không thoát khỏi khuynh hướng tất yếu ấy Nỗi buồn của Huy Cận không chỉ xuất phát từ sự đa cảm của bản thân mà nó còn có nguyên nhân từ đời sống xã hội Cũng như những

nhà thơ lãng mạn khác, Huy Cận cảm thấy ngột ngạt,ê chề khi phải sống trong một

đất nước mất chủ quyền, mất tự do:

Hay lòng chàng vẫn tủi nắng, sầu mưa

Cùng đất nước và nặng buồn sông núi.

(Mai sau)

Nỗi buồn đó chính là hệ quả tất yếu khi nhà thơ ý thức được một cách sâu sắc về cảnh ngộ đất nước và thân phận con người trong xã hội nô lệ, một xã hội bế tắc,

quằn quại Trong tập thơ Bài thơ cuộc đời mà Huy Cận sáng tác sau Cách mạng,

tuy giọng thơ và cảm hứng của tác giả có thay đổi nhưng nỗi buồn vẫn đeo đẳng, phảng phất đâu đó trước thực tại quê hương Có thể lấy một ví dụ điển hình trong

bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương:

…Có vị chân tay co xếp lại

Tròn xoe tựa thể chiếc thai non

Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối

Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn…

Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời sâu

Một câu hỏi lớn không lời đáp

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

(Các vị La Hán chùa Tây phương)

Đó là sự trăn trở, vật vã của con người khi phải đối mặt với những cảnh đời đau khổ, với sự thay đổi của xã hội không tình người Cuộc đời thay đổi với biết bao thăng trầm khiến cho thi nhân không nén được tiếng thở dài

Trang 23

Than ôi, trời đẹp nhưng trời buồn

Như cảnh tươi màu rạp cải lương.

(Gíấc ngủ chiều)

Trên sân khấu cuộc đời đã có biết bao bi kịch diễn ra Khi cánh màn nhung mở ra, những cảnh huy hoàng xuất hiện, nào là áo mới, nào là những khuôn mặt đẹp…Nhưng đằng sau đó là gì? Là lọc lừa, giả dối, là sự xa cách, chia ly Là sự hả hê của những người chiến thắng và nỗi chua xót của kẻ thất bại Cuộc đời cũng như rạp cải lương với biết bao sắc màu rực rỡ, muôn hình vạn trạng, khó mà phân biệt được người tốt kẻ xấu Vì vậy, lòng chân thành của chàng trai hai mươi mang trong lòng nhiệt huyết tuổi trẻ rất thiết tha với cuộc sống, rất yêu tự do đã không được đáp trả Chàng trai ấy lại phải chứng kiến đất nước bị giày xéo, còn người dân thì phải chịu cảnh nô lệ đau khổ Còn nỗi buồn nào hơn khi chứng kiến sự đau khổ của

đồng bào mình, dân tộc mình? Nỗi buồn của Huy Cận “có cái gốc từ lòng yêu đời,

từ tình yêu quê hương, đất nước Nỗi buồn ấy không chán chường, bi lụy mà trong trẻo, dễ cảm thông và được nhiều người đồng cảm” [26;48]

Trước thực tại tối tăm, tẻ nhạt, quẩn quanh, bế tắc, Huy Cận vẫn cảm nhận được cuộc đời đang vận động Tinh tế thấy được sự dịch chuyển ấy, đó là sự thể hiện của tấm lòng yêu cuộc đời, con người và lòng yêu nước thiết tha

Nghe mạch đời đang thao thức âm thanh

Và nhạc sống vẫn âm thầm tiến tới.

(Vỗ về)

Cái mạch ngầm chảy trong lòng đất vốn đã khó tìm thấy rồi, huống chi làmạch đời Thế nhưng Huy Cận vẫn phát hiện ra Mạch đời ấy chính là những xao động sâu

kín nhất, vô hình vô thanh trong hồn người Vậy mà Huy Cận vẫn cho rằng nó

có âm thanh, có thể nghe được và thấy được nhạc sống đang âm thầm tiến tới Qua

sự cảm nhận tinh tế, ta có thể thấy tấm lòng yêu thương sâu nặng của thi nhân với cuộc đời, với con người Vì vậy mà nhà thơ cảm nhận được những bước chân xa vắng trên những dặm mòn lẻ loi, mới cảm nghe được những trái sầu đang rơi nặng tâm hồn mình

Từ đó có thể thấy, lòng yêu đời, tình yêu quê hương của Huy Cận đằm thắm, ẩn dấu đằng sau nỗi buồn dằng dặc Vì yêu đời nên khi thấy cuộc đời không tốt đẹp như ý muốn, đất nước không thanh bình, yên vui, thi nhân mới

Trang 24

buồn như vậy Với một tâm hồn đa cảm đa sầu, nhà thơ cảm nhận được cảnh mất mát, lầm than của đất nước như nỗi đau của chính bản thân mình Tình yêu ấy là máu thịt, là linh hồn Tình yêu ấy không sôi nổi, ồn ào mà thâm trầm, lặng lẽ, nhưng không kém phần sâu sắc Nó triền miên, trĩu nặng từng trang thơ Đó là mạch ngầm bền bỉ trong tâm hồn Huy Cận! Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng,

thấm đượm hơn cả trong Lửa thiêng là cái sầu về đời người, về trần thế!

Tình trạng cô đơn, lẻ loi của con người trong xã hội cũ một phần là do họ không tìm thấy sự giao cảm với cuộc đời Ngay từ thuở học trò, Huy Cận đã cảm thấy bơ

vơ, đơn chiếc trong những đêm rét mướt ngủ chung với bạn bè trong nhà trọ Ngủ

chung nhưng vẫn cảm thấy cô độc bởi thi nhân không tìm thấy sự thân thiết và

ngọn lửa ấm áp của tình người, mà chỉ thấy cái rét mướt, lạnh lẽo của sự cô độc

Có thể nhận thấy điều đó trong những câu thơ sau:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

(Tràng giang)

Cái buồn ở đây được gợi lên từ một không gian bao la nhưng rời rạc, hờ hững, không hề có sự giao hòa Các sự vật của thế giới khách quan vẫn tồn tại và đươc

đặt bên cạnh nhau nhưng giữa chúng chẳng hề có sự liên hệ nào cả Cầuvà đò là

những phương tiện nối kết đôi bờ, để cho con người có thể liên lạc Thế mà ở đây

không có gì cả, không cầu, không một chuyến đò ngang Trước mắt ta là một thế

giới không liên hệ, cảnh vật thì đìu hiu, vắng vẻ, con người thì nhỏ bé, cô độc Dường như cuộc sống bị bỏ quên! Tất cả tạo nên một nỗi buồn trùng điệp trong lòng chủ thể trữ tình và ngay cả trong lòng người đọc bao thế hệ

Có thể khẳng định rằng: Nỗi buồn của Huy Cận không phải là nỗi buồn ủy mị, bạc

nhược mà là cái buồn của người có tâm huyết “Thơ Huy Cận buồn, căn bệnh tinh

thần của thế hệ không dễ đổi thay, nhưng nỗi buồn của Lửa thiêng không mang tính riêng tư, không gắn liền với dục vọng, đam mê để rồi chán chường, tuyệt vọng” [25;57] Huy Cận đau buồn vì đất nước rơi vào cảnh xiềng xích và bế tắc,

bất lực vì chưa tìm được lối thoát trong bóng đêm nô lệ Thế nên, khi tìm thấy ánh

sáng của Cách mạng thì Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm đã đi theo Cách

mạng, đem sức mình phục vụ quê hương!

Trang 25

III Nỗi buồn nhân thế- nỗi buồn thời cuộc của giai cấp tiểu tư sản

Tình trạng cô đơn của giai cấp tiểu tư sản trong xã hội cũ xuất phát từ sự bế tắc của

họ trong hành trình đi tìm niềm giao cảm với cuộc đời Đó là khuynh hướng chung của Thơ mới lãng mạn

Huy Cận cũng giống như các nhà thơ lãng mạn cùng thời cảm nhận rất rõ nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn của những con người bị mất thiên đường, bị cuộc đời thờ ơ, lạnh nhạt Huy Cận ý thức sâu sắc về cá nhân và thế giới nội tâm của mình Vì vậy mà nhà thơ càng ý thức sâu sắc về nỗi cô đơn của con người giữa cuộc đời đầy gió bụi Không tìm được niềm giao cảm nên thi nhân cảm thấy hụt hẩng, thất vọng:

Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán

Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh.

(Trình bày)

Lòng chàng xưa chốn nọ với nơi này

Đây hay đó chỉ dựng chòi cô độc.

(Mai sau)

Con người sinh ra trong cuộc đời là một điều rất thiêng liêng và có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Để tồn tại và phát triển, họ cần phải có sự giao lưu và đoàn kết với nhau Điều đó rất có ý nghĩa về mặt tinh thần đối với con người Trong cuộc sống phải có tình người Đó là phương thuốc hiệu nghiệm chữa lành mọi vết thương và

đau khổ Thế nhưng từ thuở sơ sinh, Huy Cận đã cảm thấy lạc loài và cô độc, đã

thấy sợi buồn giăng mắc khắp nơi

Lửa thiêng đưa ta về một thế giới của nỗi buồn- những nỗi buồn day dẳng, sâu

lắng, ảo não, đa dạng và nhiều cung bậc Nỗi buồn ấy thấm đẫm cả không gian, kéo dài từ quá khứ đến hiện tại Sầu muộn, buồn bã như kết lại, đọng lại thành giọt làm nặng lòng nhà thơ

Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm

Gió trăng ơi! Nay còn nhớ người chăng?

Hơn một lần chàng đã gởi cho trăng

Nỗi hiu quạnh của hồn buồn không cớ.

Trang 26

(Mai sau)

Huy Cận bảo rằng mình cảm thấy hiu quạnh bởi hồn buồn không cớ Song đọc thơ

Huy Cận ta thấy nỗi buồn của người rõ ràng là có cớ Nỗi buồn ấy xuất phát từ tâm trạng chung của một lớp người có cùng lý tưởng, cùng chung ước mơ, khát vọng Với tâm hồn lãng mạn đa cảm, giàu tình yêu thương, nhà thơ thương cho mình và thương cho mọi người

U sầu chắc hẳn đang nhanh bước

Lưng khọm ngàn năm đến chỗ tôi.

(Buồn)

U sầu không chỉ đang tiến nhanh đến với một mình Huy Cận mà với tất cả mọi

người, đặc biệt là tầng lớp trí thức tiểu tư sản Bởi vì họ cùng được đào tạo trong một môi trường giống nhau, cùng hấp thụ một nền văn minh Tây học giống nhau

và cùng có một nỗi buồn giống nhau Đó là nỗi buồn của cả một thế hệ, của những con người mong muốn sống tốt sống đẹp để cống hiến tài năng và sức trẻ cho đời Nhưng xã hội tối tăm không biết quý trọng tài năng và trí tuệ của họ, đã thế còn vùi

dập họ, tấn công dân tộc họ bằng bạo lực, bằng chính sách ngu dân Vì vậy Huy

Cận đã đại diện cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản nói lên tâm trạng buồn bã, cô đơn, xót xa vô hạn này !

Qua việc tìm hiểu tập thơ Lửa thiêng, một lần nữa chúng tôi xin đưa ra nhận định:

Tâm trạng cô đơn của Huy Cận chính là tâm trạng chung của các nhà thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám Không chỉ riêng Huy Cận mà Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính… cũng có nỗi buồn chung này tuy mỗi

người có mỗi cách diễn đạt riêng,“….họ cảm thấy bơ vơ lạc lõng giữa lòng nhân

loại, không tìm thấy niềm thân mật giữa cõi đời” [26 ;193] Tầng lớp tiểu tư sản trí

thức cũng ý thức một cách sâu sắc về đất nước đau thương nô lệ, về số phận buồn

tủi của con người trước vận mệnh quê hương Là người nhạy cảm, “Huy Cận đi

lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não” [24 ;136].

Ở Huy Cận, ta không thấy những khát khao âm ĩ, nồng nàn như Xuân Diệu, không thấy sự mộc mạc, quê mùa như Nguyễn Bính, không thấy cái buồn ủy mị, trụy lạc như Vũ Hoàng Chương và cũng không thấy cái buồn nhẹ

nhàng, vơ vẩn như Lưu Trọng Lư Huy Cận than thân thì ít mà khóc cho đời, cho

người thì nhiều Đó chính là tinh thần nhân văn cao đẹp của tác giả Lửa thiêng !

Trang 27

Không buồn sao được khi Huy Cận cững như các nhà thơ mới đều có chung tâm

trạng của người dân mất nước, của thế hệ đầu thai nhầm thế kỉ (Vũ Hoàng

Chương), hằng ngày phải chứng kiến xã hội nhiễu nhương, nhân dân chìm trong nghèo khổ, tối tăm Bản thân các nhà thơ cũng chẳng hơn gì!

Đôi guốc năm hiên kéo bốn mùa

Tiền nhà ít gởi biết chi mua.

(Học sinh)

Do vậy, “đời buồn, lòng buồn, thơ buồn là điều dễ hiểu” [25;368] Nỗi buồn

thương của Huy Cận về kiếp người, về thời cuộc hồ như lan rộng khắp đất trời, lan

cả vào lòng người như sương khói làm mờ cảnh vật, rồi buông những giọt sương là những giọt nước mắt mà con người đồng cảm đã khóc cùng thi nhân Bởi vì thấm

đượm trong Lửa thiêng chính là tinh thần dân tộc, là kiếp người trong muôn thuở,

là những giá trị nhân văn ẩn trong những câu thơ buồn ảo não và cô đơn Đúng như

Hà Minh Đức đã từng viết trong tập tiểu luận Một thời đại trong thi ca: “Lửa

thiêng đúng như tên gọi của tập thơ là mạch tình cảm mang nhiều tình đời, tình người trong những cảnh ngộ buồn chán của xã hội cũ nhưng vẫn giữ được sự thiêng liêng và niềm tin cậy với cuộc đời” [25;60].

IV Nỗi buồn của một tâm hồn nhạy cảm, luôn cảm thấy bơ vơ, cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời

Trước hết, nỗi buồn ấy xuất phát từ sự nhạy cảm của Huy Cận với cuộc đời

Bởi chàng là con của một người mẹ hay sầu- nên trọn kiếp mắt chàng thường đẫm

lệ (Mai sau) Người đa cảm thường hay đa sầu, nhìn vào đâu cũng cảm thấy buồn

mà đã buồn thì không sao nguôi được! Trong bài thơ Ê chề, Huy Cận đã không

kiềm được tiếng thở dài khi cất lên lời than:

Một chiếc linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu.

Chiếc linh hồn nhỏ ấy chính là chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm! (Mai sau) Huy Cận buồn vì cô đơn, vì bị người hắt hủi, bị thiên hạ lìa xa Đối với nhà thơ,

nỗi buồn không chỉ hiển hiện trong nội tâm mà còn có thể tìm thấy, nghe thấy ở tất

cả mọi nơi Nỗi buồn kết đọng lại thành giọt tuôn tràn như mưa lũ và khi đi vào thơ Huy Cận thì những giọt sầu ấy lắng đọng vào hồn người, mang một nỗi buồn man mác, mênh mông, trùng điệp Có những lúc ta bắt gặp nụ cười nhẹ nhàng trên môi người thi sĩ khi người đang đón mùa xuân cuộc đời vào lòng Tình yêu và niềm

Trang 28

khát khao giao cảm với đời như mạch nước ngầm vẫn chảy mãi và không hề cạn trong tâm hồn nhà thơ.

Ồ những người ta đi hóng xuân

Cho tôi theo với, kéo tôi gần!

Rộn ràng bước nhịp hương vương gót

Nhựa mạnh tuôn tràn tưởng dính chân.

(Xuân)

Đêm nay không khí say nồng

Nghìn cây mở ngọn, muôn lòng hé phơi.

(Xuân ý)

Nặng tình với cuộc đời như thế, mở lòng đón tình người như thế nhưng nhà thơ đa sầu đa cảm của chúng ta lại gặp cảnh:

Chàng yêu lắm nên bị người hắt hủi

Chàng yêu lâu nên thiên hạ lìa xa.

(Mai sau)

Tuổi non dại lòng tôi say mến bạn

Khi thanh xuân tôi mỏi chạy theo tình

Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán

Lòng lạc loài ngay từ thưở sơ sinh.

thấy bơ vơ, cô độc, lạc lõng giữa cuộc đời Không buồn sao được khi nhà thơ say

mến bạn với tất cả lòng thành, chàng yêu lắm, yêu lâu và yêu

sâu sắc nhưng cái chàng nhận được là sự hắt hủi, lìa xa và cô lập của con người

Chính vì buồn nên thơ Huy Cận có vẻ già dặn, chín chắn của một người từng trải,

Ngày đăng: 20/10/2016, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w