Tiếp cận hệ thống nhân vật trong sáng tác Y Ban ở mức độ cụ thể hơn, tác giả Thu Hương trong bài viết Nhà văn Y Ban và những giấc mơ về hạnh phúc đã nhận diện các kiểu nhân vật nữ đặc t
Trang 2trờng đại học vinh
Trang 3Chương 1 SÁNG TÁC CỦA Y BAN TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI
TỰ SỰ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ CẢM HỨNG VỀ NỮ QUYỀN
CỦA NHÀ VĂN
10
1.1 Sáng tác của Y Ban trong bối cảnh văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại 101.1.1 Tổng quan về văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại 101.1.2 Vị trí của Y Ban và sáng tác của nhà văn trong bối cảnh văn xuôi
tự sự Việt Nam đương đại
19
1.2 Cảm hứng về nữ quyền trong sáng tác của Y Ban 261.2.1 Khái niệm nữ quyền và cảm hứng về nữ quyền trong văn học 261.2.2 Những vấn đề đặt ra từ cảm hứng nữ quyền của nhà văn 321.2.3 Hệ thống nhân vật trong sáng tác của Y Ban 35
Chương 2 VỊ THẾ VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN BÀ
TRONG SÁNG TÁC CỦA Y BAN
2.3 Đặc điểm hình tượng người đàn bà trong sáng tác Y Ban 552.3.1 Đặc điểm về thân phận 552.3.2 Đặc điểm về tư duy, nhận thức 672.3.3 Đặc điểm về tính cách 752.3.4 Đặc điểm về tình cảm, tâm hồn 82
Trang 43.1.1 Nghệ thuật khắc hoạ ngoại hình 963.1.2 Nghệ thuật miêu tả hành động 983.1.3 Nghệ thuật miêu tả tâm lí 101
3.2 Nghệ thuật thể hiện hình tượng nhân vật thông qua tạo dựng cốt
truyện, tình huống, bối cảnh
104
3.2.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 1043.2.2 Nghệ thuật tạo dựng tình huống 1073.2.3 Nghệ thuật xây dựng không gian, thời gian nghệ thuật 111
3.3.1 Khái niệm ngôn ngữ nhân vật 1143.3.2 Ngôn ngữ nhân vật đan xen ngôn ngữ tác giả 1153.3.3 Ngôn ngữ đối thoại
3.3.4 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm
116120
3.4.1 Một cách hiểu về nghệ thuật trần thuật 1233.4.2 Lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn trần thuật 1243.4.3 Sử dụng một số hình thức trần thuật đặc biệt dưới dạng thư từ, nhật kí 1273.4.4 Giọng điệu trần thuật “đa thanh” 128
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Y Ban - một trong số không nhiều cây bút nữ thành công ngay từ những
tác phẩm đầu tay và có vị trí xứng đáng trong văn học Việt Nam đương đại Sau hơn 20 năm sáng tác, Y Ban đã là tác giả của gần 20 đầu sách, chủ yếu ở hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Không chỉ ấn tượng về số lượng đầu sách xuất bản,
Y Ban còn rất độc đáo trong những trang văn thấm đẫm hơi thở cuộc sống, giàu chất thời sự, có cái nhìn cuộc đời chân thực, thành thật đến trần trụi, có giọng văn
“táo bạo, mãnh liệt và tưng tửng” và có thể nói, truyện ngắn và tiểu thuyết của Y Ban đã có những đóng góp nhất định cho văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại
1.2 Cùng với phong trào nữ quyền đang xuất hiện trở lại trong văn học Việt
Nam những năm gần đây, người phụ nữ trở thành đối tượng trung tâm trong sáng tác của các nhà văn, đặc biệt là các nhà văn nữ Trong tác phẩm Y Ban, hình tượng người đàn bà xuất hiện một cách thường xuyên, phổ biến và có sức ám ảnh nghệ thuật cao Viết về người đàn bà, Y Ban chú trọng đến những nỗi đau thân phận, đến những khát vọng đời thường giản dị, “bé mọn” và cả những thói tật rất “đàn bà” với một thái độ cảm thông, xót xa: Từ nhân vật người đàn bà trong sáng tác Y Ban, không những có thể nhận diện hình tượng này trong văn xuôi Việt Nam đương đại
mà còn khẳng định được những đóng góp, đổi mới của Y Ban khi viết về một đối tượng rất quen thuộc trong đời sống văn hoá, văn học (người đàn bà)
1.3 Hiện nay, các công trình nghiên cứu về Y Ban đặc biệt về hình tượng
người đàn bà trong tác phẩm của chị còn ít ỏi, lại chưa có tính tập trung, hệ thống, chủ yếu mới chỉ là bài viết trên các báo Vì vậy, nghiên cứu hình tượng người đàn
bà trong tác phẩm Y Ban chính là cách bổ sung những thiếu khuyết đó, mặt khác cũng để thấy được ý nghĩa xã hội – thẩm mỹ của một vấn đề nổi bật trong đòi sống đương đại
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Y Ban và sáng tác của nhà văn
Y Ban cùng với thế hệ nhà văn nữ cùng thời với chị như Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Trần Thuỳ Mai, Thuỳ Dương, Lý Lan, Lê Minh Khuê…và với thế hệ nhà văn nữ lớp sau như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Di Li… đã góp
Trang 6phần tạo nên phong trào nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại với rất nhiều đóng góp nổi bật, có giá trị Tuy nhiên, một điều đặc biệt gần như trái ngược về sáng tác của các nhà văn này là tuy được tìm đọc rất nhiều, được dư luận xã hội và báo chí quan tâm nhưng cho đến nay, ngoại trừ trường hợp Nguyễn Thị Thu Huệ,
Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư các tác giả khác vẫn chưa được nghiên cứu một cách tập trung và hệ thống Y Ban với một cá tính sôi nổi, bộc trực nhưng cũng sắc sảo, táo bạo, là đối tượng của nhiều bài nghiên cứu nhỏ về chân dung tác giả
Cao Minh trong bài viết Lát cắt Y Ban đã giới thiệu trên những nét khái quát
nhất về cuộc đời Y Ban, về những quyết định thay đổi cuộc đời táo bạo của chị và quan trọng nhất, tác giả đã nhận diện “lát cắt” nổi bật nhất trong chân dung nhà văn chính là cá tính bộc trực, thẳng thắn: “Y Ban sẵn sàng đốp vỗ mặt chẳng chút kiêng
dè Những chuyện người khác không dám nói hay cố giấu đi thì qua miệng Y Ban,
nó thật mạch lạc, và thấy thật tự nhiên” [41]
Bình Lê với bài viết Y Ban, người đàn bà nảy lửa in trên báo An ninh thế giới
đã xem Y Ban là người “nảy lửa”, “rất đỗi đàn bà” ngay trong sự tổng hợp của nhiều sắc thái cá tính đối lập nhau: “Người đàn bà rất đỗi đàn bà trong cái quyết liệt, sắc sảo, thông minh, trong cái chao chát, đanh đá và chua ngoa và trong cả cái mong manh yếu mềm trong những lúc vấp váp… ”[36]
Tác giả Thu Hương trong bài viết Nhà văn Y Ban và những giấc mơ về hạnh
phúc đã nhận định chất liệu chính để tạo nên tác phẩm Y Ban chính là sự trải
nghiệm đời thường của chính bản thân nhà văn: “Chị nhặt nhạnh những mẩu đối thoại hay hay chợt nghe được, những truyền thuyết được kể lại thành cốt truyện”[33]
Nhìn chung, các bài viết về chân dung nhà văn đều gặp gỡ nhau ở một điểm, cũng là điểm nổi bật nhất đó là đã chỉ ra những nét khái quát nhất trong chân dung
Y Ban như tính cách táo bạo, mãnh liệt, bộc trực, nhiều trải nghiệm và mang đậm dấu ấn của một người đàn bà viết văn Những tài liệu này sẽ giúp ích cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về phong cách nhà văn cũng như mối quan hệ giữa tác giả với hình tượng trung tâm là nhân vật người đàn bà trong tác phẩm của chị
Với khoảng hơn 20 đầu sách đã xuất bản và khoảng gần 200 truyện ngắn đã
in, tuy chất lượng tác phẩm còn nhiều hướng đánh giá khác nhau nhưng nhìn chung, sáng tác nào của Y Ban xuất hiện cũng đều gây được sự chú ý của dư luận, đặc biệt
Trang 7là những tác phẩm gần đây như: I am đàn bà, Đàn bà xấu thì không có quà, tiểu thuyết Xuân Từ Chiều, Hành trình của tờ tiền giả…
Nhà văn, nhà nghiên cứu trẻ Dương Bình Nguyên khi viết về văn chương của các cây bút nữ trong văn học Việt Nam đương đại đã đề cập đến Y Ban và tác phẩm của chị như minh chứng tiêu biểu nhất của cái anh gọi là “chữ nghĩa đàn bà”: “đàn
bà viết văn như Y Ban, cả đời sáng tác từ truyện ngắn đầu tiên “Bức thư gửi mẹ Âu Cơ” đến cuốn tiểu thuyết mới nhất “Xuân Từ Chiều”, vẫn là chuyện đàn bà, yêu, ghen, giường chiếu, sinh nở, nuôi nấng con cái, chê trách đàn ông, mạnh mẽ như sư
tử nhưng cũng lại yếu mềm như rong biển” [52] Dương Bình Nguyên đã chỉ ra hai vấn đề cơ bản trong sáng tác Y Ban : mảng đề tài trung tâm là những vấn đề đời thường xoay quanh người đàn bà và sự thống nhất hai đặc tính nổi bật nhưng luôn đối chọi nhau trong tính cách của người đàn bà là mạnh mẽ và mềm yếu
Tuy mục đích khảo sát khác nhau (một bên thiên về phong cách, một bên thiên về nhân vật) nhưng cả Xuân Cang và Bùi Việt Thắng đều có những nhận định thống nhất với nhau về cách xây dựng nhân vật của Y Ban Bùi Việt Thắng trong
bài viết Một giọng nữ trầm trong văn chương đã nhận định về cách viết của Y Ban:
“ Y Ban có một lối viết của riêng mình Chị chú ý khai thác những tâm trạng điển hình của nhân vật trong những trạng huống tiêu biểu” [63, tr.89] Xuân Cang trong
bài viết gần đây đăng trên báo Văn nghệ Y Ban và những thân phận đàn bà đã nhận
xét Y Ban là người phụ nữ viết văn “đầy nhạy cảm”, “chị cảm nhận được những biến thái tế vi trong tâm hồn con người, thậm chí chị còn cảm nhận được sự vật, sự việc bằng nhiều giác quan” [11, tr.16]
Năm 2009, có một luận văn thạc sĩ tìm hiểu, nghiên cứu về Y Ban của tác giả Nguyễn Thị Thích (Đại học Vinh) Phong cách truyện ngắn Y Ban được tác giả nhận diện thông qua những đặc trưng cơ bản về phương diện đề tài, nội dung, tư tưởng và một số đặc sắc về nghệ thuật Tuy công trình vẫn còn nhiều chỗ hạn chế nhưng đóng góp đáng kể của nó chính là đã nhìn nhận sáng tác của Y Ban dưới một cái nhìn tập trung và hệ thống để nhận diện phong cách tác giả giữa rất nhiều cây bút nữ đương đại
Các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến những tác phẩm tiêu biểu gần đây
của Y Ban I am đàn bà tuy không phải là tập truyện ngắn đầu tay của chị nhưng nó
lại gây dấu ấn mạnh mẽ trên văn đàn và thu hút đông đảo người đọc Nhà văn Dạ
Trang 8Ngân khi trả lời phỏng vấn báo Thể thao & Văn hoá về tác phẩm đã nhận định: “Y
Ban đã vượt lên chính mình, đã thoát khỏi chuyện tình cảm đàn ông đàn bà để hướng vào thân phận đàn bà chung hơn, lớn lao hơn” Khi được hỏi ý kiến về phong cách văn chương Y Ban, Dạ Ngân cho rằng: “Y Ban bạo liệt hơn, có những đoạn văn băm bổ Âu cũng là cái tạng viết, tạng người Hãy đọc kĩ Y Ban hơn nữa để thấy rằng đây vẫn là cây bút biết tìm tòi, bứt phá không yên với chính mình”
Nguyễn Thị Thu Hà khi đọc Xuân Từ Chiều, tiểu thuyết mới nhất của Y Ban đã
đề cập đến cách tân nghệ thuật nổi bật của tác phẩm là lối viết triền miên, không xuống dòng và hiệu quả mà nó mang lại cho người đọc: “Một tiểu thuyết dài hơn hai trăm năm mươi trang tận những dòng cuối cùng mới thấy dấu xuống hàng để kết thúc tiểu thuyết, nhà văn Y Ban đã để cho những con chữ nhảy những vũ điệu của ngôn từ trên từng trang giấy Cả tiểu thuyết giống như một câu chuyện dài hơi mà nhà văn kể mãi vẫn chưa đến hồi kết” [21]
Thuỷ Chi trong bài viết Nhà văn Y Ban và Hành trình của tờ tiền giả đã xác
định phong cách viết văn của Y Ban là “viết theo xu hướng hiện đại” Tính hiện đại
ấy vừa được thể hiện trên mặt hình thức “văn chương của chị không dài dòng, không dùng nhiều chữ bởi chị cho rằng viết như thế dễ làm người đọc mệt mỏi” [12] vừa thể hiện ở nội dung: “Y Ban được nhận xét là một nhà văn rất giàu chi tiết
và rất táo bạo trong việc đưa chi tiết vào truyện Chị đã nhặt nhạnh chi tiết cho tác phẩm của mình từ trong cuộc sống hàng ngày trong lúc đi làm, lúc đưa con đi học,
khi đi chợ…”[12] Nhận định về Hành trình của tờ tiền giả, Thuỷ Chi cho rằng tác
phẩm vẫn tiếp tục “khai thác thế mạnh là khả năng nắm bắt những vấn đề thời sự, những câu chuyện nóng hổi” [12] giống như hầu hết các tác phẩm của Y Ban
Ngoài ra, có thể kể đến một số bài phỏng vấn Y Ban trên các báo như: Đối
thoại Y Ban - Nguyễn Khắc Phục (dep.com.vn), Y Ban: “Muốn bị đập một cái vào mặt”(vietbao.com), Y Ban: “Cái nhân tình không ai bán cả” (vnexpress), Nhà văn
Y Ban: “Miêu tả sex là ý đồ trần trụi của tôi” (báo Gia đình và Xã hội), Y Ban:
“Sex là giải trí và văn hoá” (vnexpress), Y Ban: “Hãy lắng nghe tác phẩm của các nhà văn nữ”(vnexpress), Nhà văn Y Ban và đàn bà xấu (SGTT Nguyệt san)…
Thông qua những tiết lộ của Y Ban, chúng tôi có những dữ liệu cụ thể hơn về quá trình sáng tác cũng như quan niệm của chị trên một số vấn đề như lối viết, về nhân
Trang 9vật, về độc giả… Tất cả những tài liệu này đã cung cấp cho chúng tôi nhiều thông tin quan trọng trong việc triển khai đề tài.
2.2 Lịch sử nghiên cứu về nhân vật người đàn bà trong sáng tác Y Ban
Y Ban cũng giống rất nhiều nhà văn nữ đương đại, luôn chọn nhân vật trung tâm trong tác phẩm của mình là người đàn bà với những sự kiện xoay quanh đời sống xã hội, gia đình, tâm hồn của họ Chính vì vậy, khi nghiên cứu sáng tác của Y Ban, các nhà nghiên cứu cũng đặc biệt chú trọng tiếp cận hình tượng nhân vật trung tâm này
Y Ban trong rất nhiều lần trả lời phỏng vấn báo chí đã đề cập đến nhân vật đàn bà trong tác phẩm của mình Trong cuộc đối thoại với nhà văn Nguyễn Khắc Phục, chị tự nhận mình là người “rất thuận tay khi viết về phụ nữ Hơn ai hết, em từng trải nghiệm qua nhiều thứ để cân đo đong đếm và định giá về cuộc sống của phái yếu Em cứ dựa trên thế mạnh đó để khai thác các nhân vật của mình” [22] Chị cũng bày tỏ mục đích của mình khi viết về thân phận những người đàn bà:
“Thực ra, khi viết về người phụ nữ hôm nay, mổ xẻ và phân tích thân xác cũng như thân phận của họ, tôi muốn rằng các tác phẩm của tôi sẽ là thứ để họ vin vào và đứng dậy Tôi muốn chỉ ra rằng, đàn bà chúng ta, họ đau khổ và phức tạp hơn, ngay
từ trong ý nghĩ Họ bị hành hạ bởi những suy nghĩ, có khi chỉ là rất nhỏ nhoi, như một phút xao lòng…Từ các câu chuyện của mình, tôi cũng có tham vọng là chỉ cho phụ nữ những ranh giới, để họ biết dừng lại, khi họ là phụ nữ” [87]
Bùi Việt Thắng trong bài viết Một giọng nữ trầm trong văn chương đã xác
định kiểu nhân vật trung tâm trong sáng tác của Y Ban là các nhân vật nữ với sức sống, sự vươn lên mạnh mẽ trước hoàn cảnh bi kịch: “Nhân vật truyện ngắn Y Ban tuyệt đại đa số là nữ, người nữ và những nỗi đau, sự vượt lên làm chủ số phận hoặc chí ít thoát khỏi những trớ trêu ám ảnh của cuộc đời” [63, tr.89]
Trong bài viết Chữ nghĩa đàn bà, Dương Bình Nguyên đã gặp gỡ và cụ thể
hoá ý kiến của Bùi Việt Thắng khi chỉ ra biểu hiện rõ nhất sự vươn lên của nhân vật
nữ trong sáng tác của Y Ban chính là “ý thức mạnh mẽ về bản năng sống và yêu”, lí
do làm cho dù thất vọng nhiều về đàn ông thì nhân vật “chưa bao giờ ngừng yêu và
tỏ ra không cần đàn ông” Cũng trong bài viết này, tác giả đã có sự liên hệ thú vị khi
so sánh thế giới nhân vật đàn bà trong truyện ngắn Y Ban với một hình ảnh rất đời thường, gần gũi: “Thế giới những người đàn bà của Y Ban như một cái chợ đầu
Trang 10mối, đủ loại, đủ màu, cái nào cũng tươi mơn mởn như rau buổi sáng mới hái, cá dưới sông mới vớt lên, thịt mới đưa từ lò mổ tới vẫn còn hơi ấm…”[52]
Tiếp cận hệ thống nhân vật trong sáng tác Y Ban ở mức độ cụ thể hơn, tác giả
Thu Hương trong bài viết Nhà văn Y Ban và những giấc mơ về hạnh phúc đã nhận
diện các kiểu nhân vật nữ đặc trưng trong sáng tác của nhà văn là: “những cô gái lỡ dại, những người đàn bà luôn khao khát sự dịu dàng, mải mê kiếm, tìm mẫu đàn ông lý tưởng Bề ngoài, họ tỏ ra gai góc, chấp nhận cuộc sống nhưng ẩn sau đó là những tâm hồn thèm muốn được nâng niu, chiều chuộng” [33]
Tác giả Việt Hà qua bài viết I am đàn bà và thế giới nửa đàn ông là đàn bà đã khái quát đặc trưng các kiểu nhân vật nữ trong sáng tác Y Ban: Thân phận người
đàn bà Việt - đây là tứ lớn cho hầu hầu hết các câu chuyện trong tập sách Ngoài một số truyện nói về người đàn bà Việt trong vẻ đẹp nhân hậu, thuần phác (như
trong truyện Cái Tý), hay cả trong những ấm ớ dễ thương (như trong Gà ấp bóng)
còn lại nhiều nhân vật nữ của Y Ban khắc khoải, vô vọng trên con đường đi tìm một cuộc sống ấm no, một tình yêu hoàn thiện trong một thế giới “nửa đàn ông là đàn bà” còn biết bao bất trắc ” [23] Đây là một gợi ý cho chúng tôi trong quá trình khảo sát các kiểu nhân vật đàn bà trong sáng tác của Y Ban
Xuân Từ Chiều tiếp tục là thử nghiệm mới về thể loại của Y Ban (trước đó, tác
phẩm Đàn bà xấu thì không có quà chưa mang nhiều dấu ấn tiểu thuyết) nhưng dù
đổi mới về thể loại, nhà văn vẫn trung thành với đối tượng là các nhân vật nữ Số phận và tính cách người đàn bà chưa bao giờ được chị thể hiện tập trung và rõ nét
như trong tác phẩm này Viết về những nhân vật đàn bà trong Xuân Từ Chiều,
Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng ở mỗi nhân vật cụ thể, ta đều thấy thấp thoáng bóng dáng chung của những số phận đàn bà: “Ba con người, ba tính cách, ba số phận, ba thế hệ nhưng họ gặp nhau ở cái chung đấy là nỗi khổ tâm của người đàn bà Dù khác nhau ở tuổi tác, ở hoàn cảnh nhưng sao ta cứ như nhìn thấy họ ở trong nhau” [21] Không chỉ nhận diện những đặc trưng nổi bật của hình tượng nhân vật trung tâm là người đàn bà trong sáng tác của Y Ban, các tác giả cũng đã phân tích (một cách khái quát) cách thức thể hiện hình tượng nhân vật của nhà văn Đào Đồng
Diện trong bài viết Phụ nữ- nguồn cảm hứng sáng tác của văn xuôi thời kì đổi mới
khi khảo sát nhân vật nữ từ sáng tác của Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu đến các nhà văn nữ sau đó như Võ Thị Xuân Hà, Y Ban và Võ Thị Hảo đã nhận diện ra
Trang 11nét riêng trong cách viết về nhân vật nữ của Y Ban: “ Là một nhà văn nữ, nhiều truyện ngắn của Y Ban được viết ra nhằm giảm bớt “tai nạn” của người phụ nữ trong xã hội ngày nay Những truyện ngắn như Thiên đường và địa ngục, Cái điềm con thỏ trắng, Sự vô tội của Ađam và Ê va… là những “câu chuyện cảnh giác” chị viết dành riêng cho các cô gái trẻ, khuyên họ chớ yêu mù quáng, chớ quá tin vào đàn ông mà rước hoạ vào thân” [13] Thực tế, thông qua “tai nạn”, lỗi lầm của các
cô gái trẻ, Y Ban không hẳn muốn đả kích hay cảnh giác đàn ông mà chị chỉ muốn gửi đi một thông điệp rất nhẹ nhàng: đàn bà là thế, muôn đời ngây thơ và cả tin Thất vọng về thế giới đàn ông trong đời thực với nhiều thiếu khuyết, họ muôn đời phải kiếm tìm, phải khao khát một mẫu hình người tình lý tưởng
Xuân Cang trong bài viết Y Ban và những thân phận đàn bà đã nhận định: “Y
Ban đã khám phá ra mọi ngõ ngách tâm hồn của người phụ nữ”, “ở mỗi người thường thấy biểu hiện những vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam như đức hi sinh, lòng vị tha” [11, tr.16]
Tiếp cận lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi thấy nổi lên một số điểm đáng
chú ý sau:
Thứ nhất, các tác giả đã có cái nhìn khái quát, tương đối toàn diện về chân dung nhà văn và quá trình sáng tạo của chị Ở chừng mực nhất định, các bài viết đã phác hoạ nét cơ bản về chân dung Y Ban một phụ nữ mạnh mẽ, táo bạo, quyết liệt
cả trong đời thực lẫn trong văn chương Ngoài ra, khi dừng lại ở những tác phẩm
tiêu biểu của Y Ban như I am đàn bà, Đàn bà xấu thì không có quà, Xuân Từ
Chiều, Hành trình của tờ tiền giả… các tác giả đã chỉ ra giá trị nội dung, nghệ thuật
nổi bật của từng tác phẩm
Thứ hai, dù hướng tiếp cận và lựa chọn đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng nhìn chung, các tác giả đã thống nhất khi nhận định nhân vật trung tâm trong sáng tác của Y Ban là người đàn bà Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ra đặc điểm
về các kiểu nhân vật, đặc trưng thân phận, cá tính, đời sống tâm hồn… của nhân vật Đây là những căn cứ để chúng tôi tiếp tục đi sâu khảo sát hình tượng nhân vật này ở mức độ cụ thể, tập trung và hệ thống hơn
Thứ ba, tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về nhân vật người đàn bà trong sáng tác Y Ban Chân dung nhân vật vẫn chưa được nhận diện một cách cụ thể trong mối quan hệ đối sánh với hình
Trang 12tượng nhân vật nữ trong văn hoá và các sáng tác văn học trước đó, cũng như với văn học Việt Nam đương đại Nghệ thuật xây dựng nhân vật chỉ được đề cập đến một cách sơ lược, chưa tạo thành hệ thống có mối quan hệ lô gic và nội tại với việc biểu đạt nội dung.
Luận văn của chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu Người đàn bà trong sáng tác Y
Ban hy vọng sẽ góp phần khắc phục những hạn chế đó và đưa ra một cái nhìn toàn
diện, hệ thống về nhân vật trung tâm trong sáng tác Y Ban nói riêng và về hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam đương đại nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu: nhân vật người đàn bà trong sáng của tác Y Ban 3.2 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu: luận văn tìm hiểu, khảo sát nhân vật
người đàn bà trong toàn bộ sáng tác Y Ban
1 Người đàn bà có ma lực; 2 Đàn bà sinh ra từ bóng đêm; 3 Vùng sáng kí ức; 4 Miếu hoang; 5 Cẩm cù;6 I am đàn bà; 7 Chợ rằm dưới gốc dâu cổ thụ; 8 Cưới chợ; 9 Đàn bà xấu thì không có quà (tiểu thuyết); 10 Hành trình của tờ tiền giả; 11 Xuân Từ Chiều (tiểu thuyết)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đưa ra một cái nhìn chung về sáng tác của Y Ban trong bối cảnh văn xuôi
tự sự Việt Nam đương đại và cảm hứng về nữ quyền của nhà văn
4.2 Khảo sát, phân tích, xác định vị thế và đặc điểm nhân vật người đàn bà
trong sáng tác của Y Ban
4.3 Khảo sát, phân tích và xác định những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng
nhân vật người đàn bà của Y Ban
Cuối cùng, rút ra một số kết luận về nhân vật người đàn bà trong sáng tác của Y Ban
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác
nhau, trong đó có các phương pháp chính: Thống kê phân loại, phân tích - tổng
hợp, so sánh - loại hình, cấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tập trung và hệ thống về nhân vật người đàn bà trong sáng tác của Y Ban Qua đó, góp phần đánh giá những đóng góp
Trang 13của nhà văn khi viết về một đối tượng quen thuộc nhưng vẫn luôn mới lạ là người đàn bà.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, tiếp nhận sáng tác của Y Ban cũng như văn xuôi Việt Nam đương đại
6.2 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Sáng tác của Y Ban trong bối cảnh văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại và cảm hứng về nữ quyền của nhà văn
Chương 2 Vị thế và đặc điểm của nhân vật người đàn bà trong sáng tác của Y Ban Chương 3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật người đàn bà trong sáng tác của Y Ban
Trang 14Chương 1 SÁNG TÁC CỦA Y BAN TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI TỰ SỰ
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ CẢM HỨNG VỀ NỮ QUYỀN CỦA NHÀ VĂN
1.1 Sáng tác của Y Ban trong bối cảnh văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại
1.1.1 Tổng quan về văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại
1.1.1.1 Một giai đoạn khởi sắc của thể loại văn xuôi tự sự
Sự phát triển của một giai đoạn hay một nền văn học không có gì khác hơn là
sự vận động và phát triển của các thể loại gắn với các tác phẩm cụ thể Sự vận động
ấy có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: từ yêu cầu khách quan của đời sống, từ
sự đổi mới tư duy, tư tưởng của đội ngũ sáng tác, từ một thị hiếu tiếp nhận mới của công chúng hay từ sự vận động nội tại của bản thân thể loại… Thể loại vừa “phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học” (M.Bakhtin) vừa là sự hồi sinh và đổi mới liên tục qua từng chặng đường phát triển Văn xuôi tự
sự Việt Nam đương đại cũng đang vận động và phát triển dưới sự tác động của các yếu tố đó
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với tinh thần cởi trói cho các văn nghệ sỹ, Đảng đã tạo ra không khí đổi mới dân chủ cho đời sống văn học Sự đổi mới ấy đã tác động đến tất cả các nhà văn, nhà thơ, buộc họ phải đổi mới sáng tạo như một nhu cầu tất yếu
Trong văn xuôi tự sự, tiểu thuyết là thể loại có dung lượng lớn nhất Không chỉ được biết đến là thể loại có khả năng bao quát hiện thực ở phạm vi rộng lớn, có khả năng thể hiện cuộc sống trên diện rộng với tất cả sự ngổn ngang, bề bộn của nó
mà tiểu thuyết còn được biết đến bởi khả năng miêu tả cuộc sống ở góc độ đời tư với sự thể hiện cụ thể, sinh động, tinh tế Sự khởi sắc của tiểu thuyết thể hiện trước
hết ở sự phát triển của đội ngũ sáng tác Những cây bút tiểu thuyết tiêu biểu trong
giai đoạn trước đó vẫn phát huy thế mạnh của mình trong việc phản ánh và đổi mới nội dung tác phẩm tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Chu Lai, Bảo Ninh… Bên cạnh đó, còn có sự xuất hiện của một đội ngũ tác giả tiểu thuyết mới, đã sáng tác từ trước nhưng đến nay mới khẳng định được vị trí của mình như Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương… Đặc biệt, nếu tiểu thuyết với quy mô và tính chất phản ánh cả ở bề rộng và bề sâu
Trang 15thường được quan niệm là sở trường của những cây bút “già” giàu kinh nghiệm và
sự từng trải như trước đây thì đến nay thể loại tiểu thuyết chứng tỏ tài năng của các cây bút trẻ Sự trải nghiệm và độ chín có thể còn thiếu nhưng sự mới mẻ, độc đáo, táo bạo và tinh thần dấn thân để đổi mới thể loại của các cây bút trẻ là đáng ghi nhận Trong số đội ngũ viết trẻ này có thể kể đến: Nguyễn Ngọc Thuần, Đặng Thiều Quang, Nguyễn Thị Diệp Mai, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Danh Lam, Quỳnh Trang, Trần Ngọc Linh… Một số tác giả mới xuất hiện đã có tác phẩm gây được tiếng vang như Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Xuân Khánh, Mạc Can Tác giả truyện ngắn cũng lấn sân sang lãnh địa tiểu thuyết và có những thành công bước đầu về thể loại như Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thuý Nguyễn Thị Diệp Mai, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà …
Với đội ngũ sáng tác đa dạng và mỗi thế hệ có những điểm mạnh riêng nên dù không có những cách tân về thể loại thực sự sâu sắc, rõ rệt như thơ và truyện ngắn
nhưng tiểu thuyết Việt Nam đương đại vẫn có những dấu ấn về số lượng và chất
lượng tác phẩm Mở đầu là các tác phẩm của thế hệ “những người mở đường tinh
anh” sau Đổi mới như Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam (Nguyễn Minh Châu),
Bến không chồng (Dương Hướng), Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều
ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)… Kế tiếp đó là hàng
loạt những tác phẩm của thế hệ trung gian như: Cõi người rung chuông tận thế,
Đức Phật, nàng Savitri và tôi (Hồ Anh Thái), Giã biệt bóng tối, Thiên thần sám hối, Truy tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phương), Hồ sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện, Nháp (Nguyễn Đình Tú), Hoen gỉ, Đảo cát trắng, Bóng giai nhân, Chờ tuyết rơi
(Đặng Thiều Quang), Thức giấc, Ngụ cư, Nhân gian (Thuỳ Dương)… Sáng tác của
những tác giả này đang tạo nên những dòng chủ lưu của tiểu thuyết Việt Nam, thể hiện rõ rệt nhất diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Bên cạnh đó, gần đây cũng xuất hiện một số tiểu thuyết đáng lưu ý của các cây viết trẻ 8x như Cấn Vân Khánh, Trang Hạ, Từ Nữ Triệu Vương, Nguyễn Quỳnh Trang, Hà Kin…
Nếu tiểu thuyết có tham vọng ôm chứa đời sống trong tính đầy đặn, trọn vẹn
và ở một phạm vi rộng thì truyện ngắn lại thiên về khắc hoạ một hiện tượng, bộc lộ một nét bản chất thông qua việc nắm bắt và phản ánh khoảnh khắc của cuộc sống,
Trang 16để có thể khái quát lên toàn bộ thân phận con người, giống như cách nói của học giả Steven Millhauser, truyện ngắn “có tham vọng bao quát toàn bộ vũ trụ thông qua một hạt cát nhỏ bé”
Sau Đổi mới, do cảm hứng chính của văn học là đời tư thế sự, con người chủ thể của văn học là con người cá nhân với rất nhiều những góc khuất phức tạp của tâm hồn nên truyện ngắn trở thành thể loại ưu tiên được các nhà văn lựa chọn bởi khả năng “len lách” xới lên những chi tiết cụ thể và sinh động của nó Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi đây là thời kỳ “lên ngôi” của truyện ngắn Có thể nói rằng, trong văn xuôi, truyện ngắn là thể loại đã khẳng định được vị trí của mình và
có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất đối với đời sống văn học: “Chưa bao giờ truyện ngắn Việt Nam lại tung phá và biến ảo như thời kì này” (Hoàng Minh Tường)
Truyện ngắn Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay, chỉ chưa đầy ba mươi năm
phát triển nhưng cũng giống như tiểu thuyết, nó đã chứng kiến sự trưởng thành của
nhiều thế hệ nhà văn Thế hệ đầu tiên vẫn phải kể đến Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Khải, Xuân Thiều, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Chu Lai… Thế hệ trung gian chứng kiến sự trưởng thành và khẳng định tài năng một cách mạnh mẽ của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Sương Nguyệt Minh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Y Ban, Lý Lan, Thuỳ Dương, Trần Thuỳ Mai, Võ Thị Xuân Hà, Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh … Và ở thời điểm hiện tại là đội ngũ đông đảo những cây viết trẻ như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Hồng Minh, Dương Bình Nguyên, Cấn Vân Khánh, Trang Hạ…
Với đội ngũ sáng tác như vậy, truyện ngắn Việt Nam đương đại đem lại cho người đọc nhiều tác phẩm mới mẻ và có thể được xem là thể loại tự sự đáp ứng được đầy đủ nhất nhu cầu đọc của độc giả Không chỉ được đọc ở Việt Nam, nhiều truyện ngắn tiêu biểu đã được dịch và giới thiệu với công chúng nước ngoài như tác phẩm của Hồ Anh Thái, Lý Lan, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo… Các nhà văn nữ thời gian này cũng khẳng định mình ở thể loại truyện ngắn với
những tác phẩm gây được tiếng vang, được bạn đọc đặc biệt yêu thích như Hậu
thiên đường, Nào, ta cùng lãng quên, Giai nhân, Xin hãy tin em, Rồi cũng tới nơi thôi, Tân cảng… (Nguyễn Thị Thu Huệ); Hồn trinh nữ, Goá phụ đen (Võ Thị
Hảo), Nơi bình yên chim hót, Chiêm bao thấy núi, Đất khách, Người đàn bà kể
chuyện (Lý Lan), Người đàn bà có ma lực, Đàn bà sinh ra từ bóng đêm, I am đàn
Trang 17bà, Cưới chợ, Chợ rằm dưới gốc dâu cổ thụ (Y Ban)… Với những tác phẩm này,
truyện ngắn Việt Nam đương đại được đánh giá là “tập trung được nhiều nhất yếu
tố có tính cách tân trong văn xuôi thời kì đổi mới và có nhiều kết tinh hơn hẳn các thể loại khác” [10, tr.217]
Trong liên hệ và tác động trực tiếp tới nhiều vấn đề ngổn ngang nhức nhối của thời sự, ký, phóng sự là hình thức mũi nhọn, thức tỉnh lương tri của con người trước những vấn đề thường nhật nhưng mang tính chất sống còn Nó cảnh tỉnh chúng ta nếu không thay đổi thì sẽ trở thành nạn nhân của chính mình Các nhà viết ký và phóng sự đã mang về chất thơ của phương ngữ, sự đa dạng của tiếng lóng, nghề nghiệp, chất bụi bặm của đủ loại người và có nội dung gắn bó mật thiết với cuộc đời
hơn Tiêu biểu của thể ký phóng sự thời gian này là các tác phẩm: Tháng ba ở Tây
Nguyên (Nguyễn Khải), Rất nhiều ánh lửa (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Suy nghĩ trên đường làng (Hồ Trung Tú), Cái đêm hôm ấy…đêm gì (Phùng Gia Lộc), Người không
cô đơn (Minh Chuyên), Tiếng kêu cứu của một vùng văn hoá (Võ Văn Trực)…
Tản văn cũng là thể loại tự sự được sử dụng nhiều trong thời gian này Tản văn đã cuốn hút tên tuổi của thơ và truyện ngắn như Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Duy, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan… Tản văn thời gian này có cái hàm súc của truyện ngắn, bay bổng của thơ và chất thời sự nóng hổi của phóng sự nhưng nó vẫn giữ được linh hồn Việt trong cách suy tư và trong từng câu chữ
Khái quát qua một số thể loại tự sự như tiểu thuyết, truyện ngắn, ký phóng sự, tản văn trong văn học Việt Nam đương đại, trên cơ sở đánh giá số lượng và chất lượng của cả đội ngũ sáng tác lẫn tác phẩm, có thể thấy, thể loại tự sự trong văn học thời kì này đang chiếm thế thượng phong Tuy chưa nhiều cách tân táo bạo, dễ thấy như thơ nhưng những đóng góp to lớn của nó đã tạo nên diện mạo đặc trưng của văn học Việt Nam đương đại Trong tương quan so sánh với văn học giai đoạn trước, có thể thấy văn học Việt Nam đương đại có sự trưởng thành và phát triển phong phú, đa dạng trên mảng văn xuôi tự sự, thể hiện ở sự tiếp nối của nhiều thế
hệ sáng tác, sự đa dạng của đề tài, sự phong phú và phức tạp của tư tưởng, cảm hứng, sự đổi mới về hình thức nghệ thuật …
1.1.1.2 Một số đặc điểm nổi bật về nội dung
Sau Đổi mới, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi so với trước trên tất cả các mặt Các nhà văn đứng trước một tình thế, thử thách mới Cuộc sống đang mở ra
Trang 18trước mắt họ những hiện thực mới mẻ, hấp dẫn nhưng cũng phức tạp, đa chiều hơn trước Trước tình hình đó, văn xuôi tự sự cũng đòi hỏi có những bước chuyển mình mới để thích hợp với hiện thực và yêu cầu phản ánh của văn học Một trong những
chuyển biến về nội dung của văn học Việt Nam sau Đổi mới thuộc về đề tài.
Trước hết, các nhà văn thời gian này vẫn tiếp tục những đề tài cũ là đề tài
chiến tranh, hậu chiến Tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn thu hút số đông độc giả
với nội dung bi tráng đầy cảm động như Đời cát, Vầng trăng trinh nữ, Ngã ba
Đồng Lộc, Bến không chồng, Người sót lại của rừng cười, Thân phận tình yêu…
Một cách tổng quát, đề tài chiến tranh vẫn là một đề tài lớn nhưng theo độ lùi thời gian, nó không còn nổi lên trên bề mặt như là đề tài lớn nhất của văn học nữa Đề tài chiến tranh thời gian này không khai thác trọng tâm vào các cuộc chiến mà nó chú trọng đào sâu dư chấn của các cuộc chiến tranh, bi kịch thời hậu chiến lên số phận và thế giới tâm hồn của con người
Ngoài đề tài chiến tranh, văn xuôi tự sự đương đại còn xuất hiện nhiều thể
nghiệm của các tác giả về đề tài lịch sử Tiêu biểu trong số này là: Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt các truyện ngắn Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Xuân Khánh với 2 tiểu thuyết Mẫu thuợng ngàn và Hồ Quý Ly, Hoàng Công Khanh với Vằng vặc sao Khuê, Hoàng Quốc Hải với ba tiểu thuyết Bão táp
cung đình, Thăng Long nổi giận, Vương triều sụp đổ, Nguyễn Mộng Giác với tiểu
thuyết có dung lượng lớn, gây được sự chú ý là Sông Côn mùa lũ, Võ Thị Hảo với
Giàn thiêu… Với quan niệm mở rộng hơn, đề tài lịch sử bao hàm cả dã sử, huyền
sử, thậm chí là phản lịch sử, là sự tổng hợp nhiều chủ đề để đem đến cho người đọc
một cái nhìn mới về lịch sử theo kiểu tư duy tiểu thuyết với tinh thần giải thiêng và
khuynh hướng nhận thức lại Không chỉ nhận thức lại chiến tranh, cuộc sống, con
người, nhà văn và công chúng đương đại còn muốn nhận thức lại những giá trị tưởng như đã ổn định, bất biến trở thành chân lí muôn đời, đó là lịch sử
Tuy nhiên, đề tài lớn nhất và cũng là đề tài trung tâm của văn học thời kì Đổi
mới chính là con người cá nhân với tất cả những bộn bề diễn ra xung quanh nó Các
tác giả đương đại tập trung nhiều vào các mối quan hệ phức tạp của con người như quan hệ với cộng đồng, với gia đình, bạn bè, với quá khứ, với bản thân mình và tập trung vào các đề tài như: tình yêu, hôn nhân, cuộc sống đời thường, những trăn trở của con người trong cuộc sống hiện đại, sự tha hoá, suy đồi nhân cách, mối quan hệ
Trang 19rạn vỡ của người với người… Nói chung, tất cả những gì thuộc về con người, thế sự đều được văn học tự sự nắm bắt và đưa vào phản ánh trong tác phẩm.
Lấy con người cá nhân đời tư làm đối tượng trung tâm của sự phản ánh, văn học đương đại tấn công vào những lĩnh vực, đề tài vốn được coi là “cấm kỵ” trước
đó như tình dục, nhục thể, khám phá thêm những lĩnh vực mới như tâm linh, vô thức, bản năng… Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam đề tài được mở rộng và có tính dân chủ như văn học giai đoạn này
Nhìn chung, trong văn học Việt Nam đương đại, những đề tài vốn được chú trọng trong văn học trước đó mất dần vị trí độc tôn, thay cho những đề tài gần gũi với cuộc sống của con người hiện đại hơn Mặt khác, ta có thể thấy một đặc điểm nổi bật về đề tài đó là tuy vẫn sử dụng đề tài cũ nhưng cách nhìn nhận, ứng xử của nhà văn với đề tài cũng có bước đổi mới mạnh mẽ so với trước đó
Sự thay đổi về đề tài đã kéo theo sự thay đổi về cách nhìn, về tư duy nghệ thuật Đặc điểm của kiểu tư duy nghệ thuật thời kì này biểu hiện chủ yếu qua cách nhìn hiện thực, con người và với cả bản thân văn học Có thể gói gọn đặc trưng của
tư duy nghệ thuật thời gian này ở hai khía cạnh: chủ nghĩa hoài nghi và khuynh
hướng nhận thức lại Trước hết, các nhà văn đương đại hoài nghi thứ hiện thực
được nhắc đến và phản ánh trong văn học trước kia và yêu cầu phải “giải phẫu” hiện thực để cho một cái nhìn chân xác và toàn diện hơn Không còn là hiện thực mang màu sắc sử thi, lý tưởng, được tô hồng như trong văn học trước Đổi mới, các tác giả trong thời gian này đi sâu khám phá hiện thực với tất cả biểu hiện phong phú, đa dạng nhưng cũng phức tạp và đầy gai góc của đời sống Xuất hiện những hiện thực theo góc nhìn “nghiêng”, theo lối vẽ biếm hoạ, hý hoạ, phóng đại một vài nét bản chất… Do vậy, có thể thấy tư duy về hiện thực trong văn học đương đại biểu hiện sự đa dạng, linh hoạt trong cách nhìn, cách cảm và lối thể hiện
Thay đổi tư duy về hiện thực, các tác giả cũng thay đổi quan niệm về chiến tranh, mảng hiện thực lớn nhất của văn học thời kì trước đó Giờ đây, với cái nhìn thẳng thắn, chân thực, thái độ đối diện dũng cảm, các nhà văn đã chỉ ra rằng chiến tranh vốn dĩ phức tạp hơn chúng ta tưởng Nó có những mảng sáng là anh hùng, là chiến công, hào quang nhưng cũng có không ít hy sinh, bi kịch, tàn phá lên thể xác, tính cách và thân phận con người, ngăn cản con người sống hạnh phúc Chiến tranh
Trang 20không chỉ trên chiến trường bom đạn mà chiến tranh còn là những kiếp người không thể bình yên và hạnh phúc trong thời hậu chiến.
Chính vì khám phá hiện thực ở nhiều góc nhìn, phản ánh nó trong tính đa dạng nên các nhà văn đã nhìn thấy một thực tế là sự “lệch pha” giữa hiện thực cuộc sống và hạnh phúc đời thường của con người Chính hiện thực ấy đẩy con người vào bi kịch nhưng đồng thời, hiện thực mới cũng như liều thuốc “thử”, để con người có thể bộc lộ bản chất phức tạp của chính mình Không chỉ hoài nghi về bản chất tốt đẹp một chiều của hiện thực (như quan niệm trước đó), các nhà văn còn hoài nghi về bản chất của con người Các tác giả khám phá ra rằng, con người cá nhân đời tư mang trong nó rất nhiều sự phức tạp, mâu thuẫn thậm chí là đối lập: tốt đẹp và xấu xa, hạnh phúc và bi kịch…
Thay đổi tư duy về hiện thực, về con người, nhà văn còn hoài nghi và đòi nhận thức lại về văn chương nghệ thuật và nhà văn Văn chương không chỉ phản ánh hiện thực mà còn sáng tạo hiện thực, không phải để độc giả tin vào thế giới do nhà văn tạo nên mà phải dẫn dắt người đọc vào tình thế luôn phải phản tỉnh, nghi ngờ Các tác giả truyện ngắn sau 1986 đa số đều cho rằng, nhà văn là những người
đa cảm, hay chuốc vào mình những hệ lụy, rồi dằn vặt, sám hối, có khi vì thế mà trở thành “kẻ lạc lõng giữa đời” (Tạ Duy Anh), “có khi nhếch nhác” (Hoà Vang), có khi “vô tích sự” (Nguyễn Huy Thiệp) Nói tóm lại, văn chương chỉ là sản phẩm của một con người hiện thực muốn nói lên suy nghĩ bằng cách riêng của mình
Thay đổi về tư duy, văn học buộc lòng phải thay đổi về cảm hứng Thay vì
cảm hứng sử thi lãng mạn, cảm hứng chủ đạo của văn học thời gian này là “những cảm hứng mới về sự thật” (Phong Lê) Nhà văn ít bộc lộ trực tiếp cảm xúc mà sử dụng một thái độ lạnh lùng, “tưng tửng”, điềm tĩnh hơn khi suy xét và bộc lộ cảm
xúc về một vấn đề nào đó Cảm hứng phê phán, triết luận nổi trội hơn cảm hứng
ngợi ca
Như vậy, xét trên các phương diện đề tài, tư duy nghệ thuật, cảm hứng và tư tưởng có thể thấy rằng văn học Việt Nam đương đại đã có sự chuyển mình về nội dung biểu hiện so với văn học thời kì trước Sự đổi mới này phù hợp với hiện thực, với yêu cầu phản ánh mới của văn học, với thị hiếu người đọc và hoà nhập được vào xu hướng chung của văn học thế giới Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho
Trang 21rằng, văn học từ sau Đổi mới đến nay đã mang những mầm mống của văn chương hậu hiện đại.
1.1.1.3 Một số đặc trưng về nghệ thuật
Bên cạnh sự đổi mới về nội dung, văn xuôi tự sự đương đại cũng có những cách tân rõ rệt trên mặt hình thức thể loại Cách tân đầu tiên có thể thấy đó là sự đổi
mới trong việc vận dụng thể loại văn xuôi tự sự.
Không kỳ vọng vào một cuộc cách mạng văn chương như giai đoạn 1930 -
1945 nhưng rõ ràng văn xuôi tự sự đã bước đầu đạt những thành tựu về thể loại và đang trên đà hiện đại hoá Nếu như văn học trước kia vì hướng đến phản ánh một phạm vi hiện thực rộng lớn, hoành tráng mang hơi hướng của sử thi nên lựa chọn thể loại tiểu thuyết, thể loại có dung lượng lớn để thể hiện thì bây giờ, trong thời kì hiện đại “nghe nhìn” với nhịp sống bộn bề hối hả, văn học đang cố thu mình lại, lựa chọn một “khuôn hình” thể loại đáp ứng với thị hiếu văn chương và nhu cầu thông tin thời hiện đại Do vậy, truyện ngắn là thể loại được nhà văn ưu tiên lựa chọn Trong khi cuộc sống toàn cầu đang mở rộng giao lưu giữa các vùng văn hoá,
giữa văn hoá và văn học thì hiện tượng giao thoa và cộng sinh thể loại chưa lúc nào
biểu hiện rõ như lúc này Các nhà văn tiến hành một cuộc “chơi” thể loại: truyện ngắn - tư liệu, truyện ngắn - nhật kí, truyện ngắn - dòng chảy ý thức, truyện ngắn - chân dung, truyện ngắn - phóng sự… Truyện ngắn có xu hướng vươn ra độ dài như
tiểu thuyết: Tiếng thở dài qua rừng kim tước (Hồ Anh Thái), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu)… Xuất hiện một số truyện ngắn có kết cấu theo lối chương hồi (Tướng về hưu, Giọt máu của Nguyễn Huy Thiệp) Đặc
biệt, trong thời gian này, hình thức truyện ngắn hiện đại của nước ngoài là truyện cực ngắn cũng gây được sự quan tâm đặc biệt của các nhà văn (Y Ban có gần 100 bản thảo truyện cực ngắn chưa công bố) Tiểu thuyết lại có xu hướng co hẹp lại như
một truyện vừa (Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan, Xuân Từ Chiều của Y Ban) Cả
truyện ngắn và tiểu thuyết đều có tham vọng dung nạp thơ, tiểu sử, các câu chuyện dân gian vào trong tác phẩm của mình Nhìn sự vận động của chúng, tuy ranh giới thể loại không bị xoá nhoà, người ta thấy rất rõ sự thâm nhập, pha trộn, chuyển hoá lẫn nhau giữa các thể loại Chính từ những vùng sóng giao thoa này, các thể loại cũ
đã có thêm những tố chất, khả năng biểu hiện mới
Trang 22Bên cạnh sự đổi mới về hình thức thể loại, điều quan trọng là trong văn học Việt Nam đương đại, các nhà văn đã biết cách tân, làm mới các thể loại đã cũ bằng
việc vận dụng nhiều thủ pháp biểu hiện mới Chất hài hước, nghịch dị, nhại được sử
dụng như một nguyên tắc tổ chức tác phẩm (tiêu biểu là tác phẩm của Hồ Anh Thái) Dưới ảnh hưởng của triết học, văn học và tư duy phương Tây hiện đại, truyện ngắn đã mang vào mình nhiều hình thức như cắt dán, lồng ghép, đồng hiện, sử dụng dòng ý thức, sử dụng cái kỳ ảo, hình thức nhại, thậm chí đã tạo ra một hình thức mới là giả lịch sử, giả cổ tích Tiểu thuyết vẫn có một số tác phẩm sử dụng kiểu kết
cấu tuyến tính truyền thống như Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều
ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Thuỷ hoả đạo tặc
(Hoàng Minh Tường)… nhưng đã có nhiều tác phẩm sử dụng kết cấu tâm lí như
Thân phận tình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Chim én bay (Nguyễn
Trí Huân), Một ngày và một đời (Lê Văn Thảo)… Ngoài ra, trong những năm gần
đây, rất nhiều cây bút tiểu thuyết đương đại lựa chọn kiểu cấu trúc “mờ nhoè” lỏng lẻo, lắp ghép, phân mảnh rời rạc, với cốt truyện giàu tâm trạng và kết thúc để ngỏ… Một trong những biểu hiện hình thức rõ rệt nhất của văn xuôi tự sự so với các
thể loại trữ tình chính là kiểu trần thuật Văn xuôi đương đại có nhiều đổi mới về nghệ thuật tự sự như sự thay đổi điểm nhìn trần thuật (ví như Bến đò xưa lặng lẽ
của Xuân Đức sử dụng lối trần thuật từ hồi ức một người đã chết, tạo nên không khí
hư ảo cho tác phẩm) đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm và dòng ý thức, tính đa thanh trong giọng điệu… Rồi lối truyện của nhiều truyện, văn bản của nhiều văn bản, tính phân mảnh của chủ thể, trần thuật phi trung tâm, cố ý lộ rõ sự can thiệp của tác giả vào câu chuyện, biến tiểu thuyết thành một trò chơi ngôn từ, một sự thăm dò, thử nghiệm của nghệ thuật
Bên cạnh sự đổi mới hình thức về thể loại, thủ pháp, kết cấu, kiểu trần thuật,
văn xuôi tự sự còn đổi mới về cách sử dụng ngôn ngữ Các tác phẩm văn xuôi tự sự
từ bút ký, phóng sự đến truyện ngắn và tiểu thuyết đều dung nạp mọi sắc thái ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ đời thường trần trụi, góc cạnh, thô tục (người mở đầu tiêu biểu cho hiện tượng này phải chăng chính là Nguyễn Huy Thiệp?) Ngôn ngữ nhân vật được cá tính hoá cao độ Giọng điệu đa thanh với nhiều sắc thái khác nhau có trữ tình, hài hước, cật vấn, triết lý, hoài nghi…Trong số đó, việc dung nạp ngôn ngữ đời thường vào trong tác phẩm (không chỉ trong lời thoại nhân vật mà còn trong lời
Trang 23trần thuật) là một trong những hiện tượng tiêu biểu, diễn ra phổ biến của ngôn ngữ trong các tác phẩm tự sự Điều này làm cho tác phẩm tự sự tuy giảm đi tính lãng mạn, trang nhã nhưng lại khiến tác phẩm trở nên gai góc, trần trụi và gần gụi với cuộc đời hơn.
Như vậy, xét trên các phương diện thể loại, thủ pháp, kết cấu, kiểu trần thuật, ngôn ngữ, có thể thấy, văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại đã có sự cách tân, đổi mới trên phương diện nghệ thuật Tuy nhiên, sự đổi mới này theo chúng tôi, diễn ra theo hai chiều hướng tương đối trái ngược: trong khi có một số nhà văn vẫn quá thận trọng khi áp dụng những lối viết mới thì một số lại cố tỏ ra bứt phá bằng việc làm một cuộc cách mạng về “hình thức” khiến tác phẩm có màu sắc lai căng, xa lạ Cần nhất trong văn học đương đại vẫn là một sự thay đổi về hình thức phù hợp với
sự đổi mới của nội dung biểu hiện, tạo nên sắc thái mới mẻ, hài hoà cho văn chương đương đại Việt Nam
1.1.2 Vị trí của Y Ban và sáng tác của nhà văn trong bối cảnh văn xuôi tự
sự Việt Nam đương đại
1.1.2.1 Y Ban nổi lên như một nhà văn có sức sáng tạo không ngừng
Văn học đương đại, cùng với phong trào nữ quyền đòi giải phóng phụ nữ mọi mặt và phát huy vị thế của người phụ nữ trong xã hội, các nhà văn nữ xuất hiện ngày càng đông đảo và họ đã sớm khẳng định được tài năng của mình trong sáng tác Chưa bao giờ người ta thấy trong văn học Việt Nam xuất hiện đông đảo, kế tiếp nhau của đội ngũ sáng tác các nhà văn nữ như lúc này Họ đã tạo nên dấu ấn riêng
trong văn học đương đại, như lời Bùi Việt Thắng khi giới thiệu Truyện ngắn bốn
cây bút nữ: “Ai đó đã từng nhận xét chí lí rằng văn học đang mang gương mặt nữ
ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm” [66, tr.5]
Trong số những người đàn bà viết văn ấy, tuy không phải là nhà văn nữ tài năng nhất, có vai trò tiên phong đi đầu và mặc dầu các tác phẩm còn có nhiều luồng khen chê trái chiều nhau nhưng có thể khẳng định, Y Ban là một trong số không nhiều những nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, mãnh liệt nhất
Sức sáng tạo dồi dào ấy biểu hiện trước hết ở số lượng tác phẩm và tốc độ viết không ngơi nghỉ của chị Y Ban có những sáng tác đầu tay được đăng vào cuối
những năm 80 Một số tác phẩm như: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ và Chuyện một người
đàn bà đã giành được giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân
Trang 24đội Sau hơn 20 năm cầm bút, Y Ban vẫn giữ được sức sáng tạo dồi dào liên tục:
năm 1993 xuất bản tập truyện đầu tay Người đàn bà có ma lực Hai năm sau đó lại xuất bản tập Đàn bà sinh ra từ bóng đêm Liên tiếp, chị xuất bản tập Vùng sáng ký
ức (1996), tập Truyện ngắn Y Ban (1998), Miếu hoang (2000), Cẩm cù (2001)
Trong cùng một năm 2004, chị liên tiếp xuất bản một tập truyện ngắn Cưới chợ và tiểu thuyết Đàn bà xấu thì không có quà Năm 2007, tập truyện I am đàn bà được
xuất bản, nhận được nhiều luồng ý kiến trái chiều và sự quan tâm đặc biệt của dư
luận Truyện ngắn Iam đàn bà, truyện gây “tai tiếng” nhất của Y Ban rốt cuộc vẫn giành được giải Nhì cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ Sau “sự cố” ấy, dù vẫn
khẳng định trung thành với lối viết cũ nhưng người ta thấy Y Ban đằm thắm, chín
chắn và đã đầu tư vào kĩ thuật viết văn hơn với tiểu thuyết Xuân Từ Chiều xuất bản
năm 2008 Mới đây nhất, đầu 2010, Y Ban cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn mới
nhất Hành trình của tờ tiền giả với 14 truyện…Tính đến thời điểm 2007, Y Ban đã
là tác giả của 15 đầu sách được xuất bản và tính từ khi tập truyện đầu tiên được xuất bản vào 1993 đến thời điểm hiện tại, Y Ban đã là tác giả của gần 20 đầu sách, trung bình 1 đầu sách/ năm Tốc độ sáng tạo không ngừng ấy một mặt bắt nguồn từ sự đơn giản trong cách viết, nội lực sáng tạo mạnh mẽ, dòng tuôn chảy của bản năng khi viết hoặc theo Y Ban, nó đơn thuần chỉ là kết quả của sự “tranh thủ viết”: “Một truyện ngắn của tôi thường tranh thủ viết trong không quá hai ngày Xuân Từ Chiều
250 trang cũng viết tranh thủ trong vòng hai tháng không hơn” [8]
Nội lực sáng tạo phi thường còn thể hiện ở chỗ Y Ban có thể sáng tạo trên rất
nhiều thể loại Tuy nhiên, thế mạnh thật sự của Y Ban trong các thể loại văn xuôi
tự sự chính là truyện ngắn Truyện ngắn là thể loại văn học rất nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận động của xã hội và tái hiện được mọi biến thái của đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người Tính chất năng động của thể loại truyện ngắn đã đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống.“Truyện ngắn tự nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ gọn và truyền dẫn cực nhanh những thông tin mới mẻ Đây là thể loại văn học có nội khí “một lời
mà thiên cổ, một gợi mà trăm suy” [38, tr.293] Cho đến nay, Y Ban đã là tác giả của gần 200 truyện ngắn Trong đó, có rất nhiều tác phẩm gây được tiếng vang như:
Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Tự, Iam đàn bà, Gà ấp bóng, Hành trình của tờ tiền giả…
Trang 25Gần đây, Y Ban hé lộ mình đang thử sức ở thể loại truyện cực ngắn (truyện mini) với gần 100 truyện ngắn chưa in hoặc in rải rác trên các báo Ngoài ra, Y Ban còn khẳng định năng lực sáng tạo của mình ở thể loại tiểu thuyết với hai cuốn tiểu
thuyết có dung lượng vừa phải là Đàn bà xấu thì không có quà và Xuân Từ Chiều
Y Ban không có ý niệm rõ rệt về thể loại Việc sáng tạo của chị bắt nguồn phần nhiều từ nội lực tuôn chảy của các con chữ bên trong
Sự sáng tạo bền bỉ, không ngừng nghỉ của Y Ban không chỉ đơn thuần thể hiện trên số lượng các đầu sách đã xuất bản mà căn cốt nhất, nó thể hiện trong quá
trình không ngừng tìm tòi, làm mới tác phẩm từ nội dung đến hình thức để mỗi lần
xuất hiện, sáng tác của Y Ban đều đủ sức tạo nên những làn sóng nhỏ trên văn đàn
Về hình thức, có thể kể đến những cách tân của Y Ban trong hình thức trần thuật
(dưới dạng bức thư trong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, hình thức đơn từ trong Chồng tôi, hình thức “tự thú” trong Gà ấp bóng…), lối viết “tưng tửng”, không xuống dòng (Xuân Từ Chiều), trong kết cấu đảo lộn trật tự thời gian, sự việc, lối kết thúc mở…
Về nội dung, Y Ban không ngừng làm mới bằng cách liên tục thay đổi sắc thái cho các tác phẩm (lãng mạn trong truyện tình yêu; hiện thực, gai góc trong những câu
chuyện gia đình, xã hội; kinh dị, huyền ảo trong Chợ rằm dưới gốc dâu cổ thụ, Tay
thiêng, Chuyến xe đêm…), luôn sáng tạo ra những tình huống độc đáo, bất ngờ
(người đàn bà đi mua cái chim giả trong Tự, người đàn bà bị kết tội hiếp dâm trong
I am đàn bà, người đàn bà làm vợ “hờ” chung của hai cha con trong Xích lô) Ngoài
ra, trong những năm trở lại đây, Y Ban đã kết hợp nội dung báo chí, thậm chí “bê”
nguyên cả một bài báo để cấu trúc nên tác phẩm (Đàn bà xấu thì không có quà là
một ví dụ) Điều này tuy giảm bớt tính chất trữ tình vốn là đặc trưng trong một số tác phẩm buổi đầu của Y Ban nhưng lại gia tăng chất thời sự, làm cho tác phẩm của chị có sự nóng hổi, gai góc hơn… Sự tìm tòi, đổi mới tác phẩm không chỉ hướng đến việc liên tục làm mới “khẩu vị” cho độc giả mà còn thể hiện nỗ lực luôn vượt qua những giới hạn, những “đỉnh cao” của chính Y Ban
Sức sáng tạo không ngừng của Y Ban không chỉ biểu hiện trên bề mặt tác phẩm mà còn thể hiện ngay ở cuộc sống thường ngày Với Y Ban, dường như sáng tạo không chỉ bắt đầu từ lúc nhà văn ngồi vào bàn và viết con chữ đầu tiên mà sáng tạo văn chương thực sự bắt đầu ngay từ khâu thu thập chất liệu trong đời sống Y Ban được nhận xét là một nhà văn rất giàu chi tiết và táo bạo trong việc đưa chi tiết
Trang 26vào truyện: “Chị đã nhặt nhạnh chi tiết cho tác phẩm của mình từ trong cuộc sống hàng ngày trong lúc đi làm, lúc đưa con đi học, khi đi chợ” [12] Quá trình sáng tác
từ trong đời sống hàng ngày là khâu quan trọng để tạo nên sức hấp dẫn trong tác phẩm Y Ban: “Chính cuộc sống là nơi cung cấp cho chị những ý tưởng nên chị luôn chú ý quan sát tất cả những gì chị thấy” [12] Tất cả những chi tiết diễn ra trong đời sống, qua các câu chuyện chị đọc trên báo chí, qua lời kể của những người bạn đều được Y Ban ghi nhớ và lúc nào đó, “lột xác” trong tác phẩm của mình để thành những câu chuyện mới mẻ, độc đáo và đầy cảm động
Y Ban có thể không là nhà văn tài năng bẩm sinh như Nguyễn Thị Thu Huệ Chị cũng không phải là người có chiều sâu triết lý như Võ Thị Hảo, Lý Lan Đọc Y Ban, ta không cốt yếu tìm triết thuyết vĩ đại mà chị gửi gắm trong tác phẩm Đọc Y Ban trước tiên để tìm cái độc đáo, mới lạ không lặp lại Để có được điều ấy, Y Ban phải là nhà văn sáng tạo không ngừng: liên tục cho ra đời các tác phẩm mới, liên tục làm mới mình và làm mới khẩu vị của độc giả, liên tục sáng tạo ngay trong những khoảnh khắc đời thường, bận bịu nhất…Chính quá trình sáng tạo liên tục với một nội lực dồi dào và cá tính độc đáo đã giúp Y Ban khẳng định vị thế vững chắc của mình trong hơn 20 năm cầm bút
1.1.2.2 Đóng góp của truyện ngắn và tiểu thuyết Y Ban trong văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại
Cũng giống như nhiều nhà văn hiện nay, Y Ban sáng tạo chủ yếu ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết chỉ là sự thử nghiệm bước đầu, một cuộc dạo chơi thể
loại Y Ban đã cho ra mắt nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng: Người đàn bà có ma lực,
Đàn bà sinh ra từ bóng đêm, Cưới chợ, I am đàn bà, Hành trình của tờ tiền giả…
Đến 2006, sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết đầu tay (có nhiều người gọi là truyện
vừa) Đàn bà xấu thì không có quà đã đánh dấu sự thử sức của nhà văn trên một thể
loại mới Y Ban không có ý niệm rành rọt về thể loại: “Tôi viết văn bằng bản năng Khi viết truyện ngắn thì tôi cố gắng “tiết chế” các con chữ được “nén” lại; còn khi định viết truyện vừa hay tiểu thuyết thì tôi “thả lỏng” hơn, chữ nghĩa cứ “vãi” ra mành mành, giống người nông dân đi gieo mạ ấy” [37] Y Ban quan niệm tiểu thuyết và truyện ngắn khác nhau chủ yếu ở dung lượng con chữ Về căn cốt, chị vẫn cho rằng mình chưa thực sự thoát khỏi tư duy của truyện ngắn: “Tôi viết tiểu thuyết bằng tư duy của truyện ngắn” [37]
Trang 27Sáng tác truyện ngắn, Y Ban đã “trưng dụng” được các ưu điểm của thể loại
để biểu hiện nội dung một cách hiệu quả Không tham lam ôm đồm hiện thực, với kích cỡ nhỏ bé, truyện ngắn khám phá hiện thực ở chiều sâu với ưu điểm nổi bật là khá nhanh nhạy và linh hoạt trong việc phản ánh những biến đổi trong đời sống xã
hội Với hình thức “tất cả trong một”, truyện ngắn có hiệu quả đặc biệt, như một
bức tranh hiện lên với trọn vẹn màu sắc, đưa lại cho người đọc sự thỏa mãn đầy đủ nhất Như vậy, có thể thấy, truyện ngắn chứa đựng trong hình thức nhỏ bé của nó bao nhiêu là sức nặng Vì thế, viết được thành công một truyện ngắn không phải là
điều dễ dàng A.Tonxtoi cho rằng "truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó
khăn bậc nhất" Phadeep thì phát biểu "Truyện ngắn là một trong những thể tài văn học khó nhất, đòi hỏi một công phu lao động lớn" [57, tr.121]
Trong thời điểm văn xuôi tự sự Việt Nam nở rộ với số lượng đội ngũ sáng tác đông đảo và sự ra đời của rất nhiều tác phẩm như hiện nay, Y Ban tuy không nổi lên như một nhà văn xuất sắc nhất, tác phẩm của chị cũng chưa thực sự có những cách tân đáng kể để có thể thay đổi diện mạo thể loại nhưng cùng với những nhà văn cùng thời, Y Ban đã có những đóng góp cho sự phát triển của thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn
Xét về mặt nội dung, sáng tác của Y Ban ghi dấu ấn trong nền văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại trên rất nhiều phương diện nổi bật như: dân chủ hoá về cảm hứng, đề tài; sáng tạo nên nhiều tình huống truyện độc đáo; đưa chất thời sự vào tác phẩm, xây dựng hình tượng nhân vật có chiều sâu… Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, đóng góp lớn nhất của sáng tác Y Ban thể hiện trên hai phương diện: đưa chất thời sự vào văn chương và góp tiếng nói mạnh mẽ cho phong trào nữ quyền trong văn học.Nhiều nhà nghiên cứu và độc giả phát hiện xu hướng “báo chí hoá văn chương” trong sáng tác của Y Ban và có những phản hồi không tích cực về điều này Thực tế, đôi khi Y Ban đưa chất báo chí vào tác phẩm quá lộ, tạo nên sự xơ
cứng, rời rạc cho tác phẩm (phần đầu của Đàn bà xấu thì không có quà là một ví
dụ) Tuy nhiên, chất báo chí đã làm nổi rõ chất văn xuôi và tính hiện đại trong sáng tác Y Ban, gia tăng thêm thông tin, tính thời sự và màu sắc khách quan cho tác phẩm Điều này cũng rất phù hợp với lối viết khách quan, “tưng tửng”, giàu lý trí của Y Ban ở những tác phẩm gần đây Trong tình hình không ít sáng tác văn chương trở nên rối rắm, xa lạ, thiếu thực tế mà lại thừa chất “viễn tưởng” như hiện
Trang 28nay thì việc đưa các thông tin báo chí vào văn chương như trường hợp của Y Ban là một sự thử nghiệm đáng ghi nhận Quan trọng là nhà văn cần phải tiết chế thông tin
và dung hoà nó với chỉnh thể tác phẩm tốt hơn
Cũng vì xoay quanh nhân vật trung tâm là người đàn bà với tất cả những vấn
đề về thân phận, tính cách, tâm hồn…nên Y Ban đã có những tiếng nói mạnh mẽ cho phong trào nữ quyền nói chung và nữ quyền trong văn học nói riêng Qua sáng tác, nhà văn đòi hỏi xã hội phải có một cái nhìn mới, thái độ mới về vị trí, vai trò của người đàn bà trong gia đình và xã hội, thừa nhận khả năng của người đàn bà, thấu hiểu và tôn trọng quyền lợi, mong muốn của họ Bên cạnh đó, qua sáng tác, chị cũng đặt ra vấn đề xã hội cần phải có cái nhìn tích cực, bình đẳng hơn về sáng tác
và đóng góp của các nhà văn nữ
Tuy Y Ban có những đóng góp nhất định cho tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam đương đại về nội dung nhưng phải thừa nhận rằng, những đóng góp này chưa thực sự nổi bật, vẫn còn mờ nhoè giữa các cây bút khác như Lê Minh Khuê, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo… Bù lại, những đóng góp cho văn xuôi tự
sự Việt Nam về mặt nghệ thuật của chị lại nổi bật và dễ nhận thấy hơn rất nhiều.Trước hết, tuy Y Ban không đưa ra một cái nhìn mới mẻ về người đàn bà (so với sáng tác của các nhà văn nữ đương đại) nhưng chị đã tìm ra cách biểu hiện, xây
dựng chân dung nhân vật một cách tốt nhất, đó là để nhân vật tự bộc lộ Theo đó,
thay vì nhà văn khám phá nhân vật như là một khách thể bên ngoài thì chị lại để nhân vật tự “mổ xẻ”, “trình bày” mình trước độc giả (qua lối trần thuật từ ngôi một,
sử dụng nhiều độc thoại nội tâm, ngôn ngữ nhân vật lấn át ngôn ngữ tác giả…) Điều ấy tạo nên tính chủ động, linh hoạt, sự chân thực và sinh động cho một hình tượng nghệ thuật vốn dĩ rất quen thuộc trong văn học Cũng chính vì cách thức để nhân vật tự bộc lộ, tự “giải mã” mình nên Y Ban đã khám phá những biểu hiện tâm
lí tinh tế nhất của người đàn bà: những ham muốn bản năng, khát vọng được sống cho bản thân, nỗi lo sợ nhan sắc của người phụ nữ hiện đại, những biến động sau giờ phút ngoại tình…
Đóng góp lớn nhất của Y Ban về nghệ thuật là thúc đẩy hiện tượng cộng sinh
thể loại để tạo nên những khả năng biểu hiện mới cho tác phẩm (tuy Y Ban không
phải là người duy nhất có xu hướng này) Điều này thể hiện rõ trên ba phương diện: đưa phóng sự, mẩu tin (chất báo chí) vào trong truyện ngắn, tiểu thuyết; sử dụng
Trang 29hình thức lồng ghép văn bản trong văn bản (truyện trong tiểu thuyết); lai ghép truyện ngắn với các dạng văn bản khác như văn bản nhật dụng (thư từ, nhật ký), với văn bản hành chính (đơn từ), với hình thức biện bác, nghị luận… Hiện tượng cộng sinh thể loại tạo cho sáng tác của Y Ban màu sắc mới mẻ, khác lạ, hấp dẫn về mặt hình thức Mặt khác, nó tạo nên những khả năng biểu hiện mới về nội dung trong từng trường hợp cụ thể.
Đóng góp thứ ba của Y Ban về nghệ thuật nằm ở lối trần thuật Y Ban đã sử
dụng kiểu trần thuật phi trung tâm cả trong chủ thể trần thuật, hình thức và đối
tượng trần thuật Điều này thể hiển rõ trong tiểu thuyết Xuân Từ Chiều Xuân Từ
Chiều không phải là một tiểu thuyết của cấu tứ và kỹ thuật mà chính xác hơn đó là
một câu chuyện dài, một đoạn phim dài của một người đàn bà “hay chuyện” Y Ban không giỏi về cấu trúc, dù chị đã có chủ đích trước khi viết, cũng không phải là người giỏi về những kỹ thuật, dù chị đã muốn cách tân, không phải là người cao siêu về ý tưởng, cho dù chị cũng đã cố tình gài gắm Điểm đáng yêu trong cuốn tiểu thuyết của chị là cái “duyên” kể chuyện Chị kể bằng giọng của một người đàn bà từng trải nhưng đầy ắp say mê và tràn ngập nông nổi
Ngoài ra, Y Ban áp dụng lối kể nhiều hơn tả, số lượng động từ nhiều hơn tính
từ Ngôn ngữ trong sáng tác của chị dường như luôn tiến hành một cuộc “rượt đuổi”, dấp dính giữa các loại: ngôn ngữ tác giả với ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ kể với đối thoại và độc thoại, ngôn ngữ báo chí, biện bác, trữ tình, cật vấn… Lối trần thuật phi trung tâm và sự xoá mờ đường viền giữa các loại ngôn ngữ trần thuật khiến tác phẩm tuy khó theo dõi nhưng lại cho người đọc cảm nhận hết sự phức tạp, rối rắm, thậm chí hỗn loạn trong đời sống và tư duy con người Đáng lưu ý, trong
tiểu thuyết Xuân Từ Chiều, Y Ban sử dụng lối viết mới “với cách viết không giống
ai, câu chữ được kết thành một mảng như bè rau muống Hơn 20 trang liền tù tì không xuống dòng, trừ đoạn kết giống như là một nốt vĩ thanh” [54] Lối viết này
trên thế giới đã có (tiêu biểu là trường hợp Uylises của James Joyce) nhưng ở Việt
Nam thì không nhiều tác giả áp dụng triệt để như Y Ban Hiệu quả của lối viết này còn nhiều bàn cãi nhưng ý thức làm mới táo bạo như trường hợp của chị thật đáng ghi nhận trong hành trình đổi mới truyện ngắn và tiểu thuyết hiện nay
Ngoài ra, về nghệ thuật, Y Ban cũng có những đóng góp nhất định trên phương diện ngôn ngữ (dân chủ hoá ngôn ngữ), kết cấu (đa phần tác phẩm có kết
Trang 30cấu mở) nhưng những điều này đã đề cập nhiều trong sáng tác của các nhà văn đương đại nên chúng tôi không bàn thêm nữa.
Như vậy, có thể thấy, sáng tác của Y Ban đã có những đóng góp nhất định (tuy chưa thực sự tiêu biểu, mang tính cách mạng) cho văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại Trong đó, đáng ghi nhận là những nỗ lực làm mới của chị trong việc tạo nên những hình thức mới mẻ trong từng tác phẩm Có thể hiệu quả của việc cách tân ấy cần phải bàn luận, đánh giá thêm nhưng riêng ý thức làm mới đã ghi nhận một sự nỗ lực sáng tạo của một nhà văn luôn vượt qua giới hạn của chính mình
1.2 Cảm hứng về nữ quyền trong sáng tác của Y Ban
1.2.1 Khái niệm nữ quyền và cảm hứng về nữ quyền trong văn học
1.2.1.1 Khái niệm “nữ quyền” và cảm hứng về nữ quyền trong văn học
Loài người khởi đầu lịch sử của mình bằng chế độ mẫu hệ nhưng dần dần, người đàn ông với những thế mạnh về sinh lý, sức mạnh (thể xác và tinh thần), khả năng hoạt động hướng ngoại, ưu thế về thu nhập kinh tế…đã vươn lên làm chủ gia đình và xã hội Nam quyền suốt trong một thời gian dài không chỉ được củng cố bằng các thiết chế xã hội mà nó còn in sâu vào tâm lí, quan niệm của nhân loại như một điều hiển nhiên Sự thống trị của nam quyền một mặt đã có tác dụng tích cực trong việc duy trì sự ổn định và phát triển xã hội nhưng mặt khác, sự thống trị hà khắc của nó đã gây không ít khó khăn cho cuộc sống của người phụ nữ
Chính vì vậy, cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của người phụ nữ đã diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ suốt trong thời trung đại Đến Cách mạng tư sản Pháp thời cận đại, nó đã bùng nổ mạnh mẽ, thành một phong trào rầm rộ với tên gọi là
Chủ nghĩa nữ quyền( Feminism) Đến thời kì hiện đại, sự phát triển về mọi mặt của
xã hội đã làm cho nhân loại ngày càng ý thức rõ hơn về khả năng và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Phong trào nữ quyền ngày càng được khẳng định mạnh mẽ, không chỉ trên các lĩnh vực chính trị, văn hoá xã hội mà còn len lỏi vào văn học, trở thành cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt của nhiều nền văn học trên thế giới
Do vậy, có thể chủ trương khẳng định vai trò, vị trí, khả năng và quyền lợi của người phụ nữ đã được manh nha từ rất lâu (đồng hành với chế độ phụ quyền) nhưng
“nữ quyền” với tư cách là một khái niệm chỉ được xuất hiện chính thức cùng với
Chủ nghĩa nữ quyền (Nữ quyền luận) ở phương Tây Hiểu theo nghĩa từ nguyên,
Trang 31“nữ quyền” là quyền lợi của người phụ nữ Tuy nhiên, liên quan đến yếu tố “quyền” này còn có rất nhiều nội dung phức tạp, có liên quan mật thiết với nhau.
Trên lĩnh vực văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, nội dung chính của “nữ quyền” thể hiện trên một số điểm chính: xem phụ nữ là đối tượng trung tâm, quan trọng của cuộc đấu tranh nữ quyền; mục đích chính của phong trào nữ quyền là đòi quyền bình đẳng giới, đòi giải phóng người phụ nữ khỏi ràng buộc, hệ lụy từ nam quyền; bình đẳng giới tính xoay quanh các nội dung chính như: đòi xem xét lại khái niệm đàn ông và đàn bà, quyền có địa vị, quyền được kính trọng, quyền hành trong gia đình, quyền chính trị, quyền theo đuổi nghề nghiệp, quyền được hưởng những lợi ích giáo dục, quyền bình đẳng trong các vấn đề pháp luật như li dị, phân chia tài sản… Phong trào nữ quyền còn đề cao giá trị, vẻ đẹp của người phụ nữ ở mặt hình thể, tâm hồn và trí tuệ, thừa nhận khả năng vô tận của người phụ nữ không chỉ trong gia đình mà còn đối với các vấn đề xã hội…
Phong trào nữ quyền trong văn hoá xã hội phát triển mạnh mẽ cũng ảnh hưởng đến văn chương, hình thành cảm hứng nữ quyền trong văn học Theo nghĩa
từ nguyên, “cảm hứng nữ quyền” là cảm hứng về quyền lợi của người phụ nữ nhưng theo thời gian, khái niệm “quyền” càng mở rộng phạm vi do vậy, cảm hứng
nữ quyền cũng có nhiều biểu hiện mới mẻ hơn trước Trong sáng tác, cảm hứng nữ quyền xoay quanh những vấn đề: lấy người phụ nữ là đối tượng trung tâm của văn học; đòi quyền sống, quyền được yêu, được hưởng tự do, hạnh phúc của người phụ nữ; phản ánh và lên án tình trạng mất bình quyền nam nữ; đề cao vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người phụ nữ; lấy cái nhìn của phụ nữ làm căn cứ nhìn nhận và đánh giá hiện thực…
Trong hoạt động phê bình văn học, cảm hứng nữ quyền thể hiện qua phong trào phê bình nữ quyền Trên cơ sở khẳng định kinh nghiệm văn học và kinh nghiệm xã hội của nữ giới, họ chủ trương dù là nam hay nữ, hãy “lấy thân phận của phụ nữ để đọc” tác phẩm văn học mới phát hiện được những vấn đề tiềm ẩn cả hai mặt văn học và chính trị Các cây bút nữ “không chỉ chống lại mọi hình thức áp chế của nam giới mà còn phải cố gắng xác lập một thứ mỹ học riêng của nữ giới, từ đó thiết lập nên những điển phạm riêng, xây dựng nhiều tiêu chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá lại các hiện tượng của văn học” [55] Bằng lý lẽ sắc bén và lập luận riêng của mình, các nhà nữ quyền luận nhằm đến mục tiêu “cố gắng phát hiện và tái
Trang 32hiện các tác phẩm của phụ nữ qua đó, đánh giá phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm ấy, tìm hiểu xem những tác phẩm ấy đã phản ánh quan hệ nam nữ ra sao và những yếu tố liên quan đến tâm lý, huyền thoại của người phụ nữ như thế nào trong văn học” [55] Tất nhiên, cảm hứng nữ quyền thể hiện trong sáng tác và trong hoạt động phê bình còn không tránh khỏi những cực đoan ban đầu nhưng dần dần, họ đã thể hiện cảm hứng nữ quyền một cách nhuần nhị và mang ý nghĩa nhân văn nhiều hơn.
Cảm hứng nữ quyền trong văn học đã xuất hiện rất lâu ở Việt Nam (từ trong văn học dân gian) nhưng mới chỉ dừng lại ở những biểu hiện đơn lẻ, mang nhiều tính chất cảm tính Phải đến văn học đương đại, cảm hứng nữ quyền mới xuất hiện trở lại với tư cách là một trong những cảm hứng trung tâm của văn học thời đại mới, với một hệ thống những biểu hiện rõ ràng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc
“đòi quyền lợi” cho người phụ nữ cũng không còn chung chung là đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc, tình yêu như trước mà đã có những biểu hiện mới, cụ thể hơn như: quyền bình đẳng trong tình dục, bình đẳng ngôn ngữ, quyền được tôn trọng, quyền thoả mãn những nhu cầu, sở thích cá nhân… Hơn thế, cảm hứng nữ quyền trong văn học còn có một số biểu hiện cực đoan như xu hướng “hạ bệ”, phủ nhận vai trò của nam giới, xác lập lại vai trò làm chủ của giới nữ, đề cao “nữ quyền” thái quá Những biểu hiện này chứng tỏ cảm hứng nữ quyền trong văn học đương đại Việt Nam chưa định hình bền vững mà vẫn đang trong quá trình vận động cùng sự phát triển của xã hội và tư duy của nhà văn
1.2.1.2 Cảm hứng về nữ quyền - sự tiếp nối liền mạch từ văn học dân gian đến văn học Việt Nam đương đại
Trong thời cổ đại, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia Đông Á khác cũng tồn tại chế độ mẫu hệ với truyền thống tôn trọng người phụ nữ Huyền thoại dân tộc đã nhiều lần đề cập đến vai trò của người phụ nữ: mẹ Âu Cơ, Mẫu thượng ngàn, bà
Mụ, bà Nữ Oa…Lịch sử dân tộc lại chứng kiến không ít những trường hợp anh hùng là phụ nữ: Bà Trưng, Bà Triệu, nguyên phi Ỷ Lan, thái hậu Dương Vân Nga,
nữ tướng Bùi Thị Xuân, … Chính vì vậy, trải qua hàng ngàn năm phong kiến dưới
sự thống trị của tư tưởng Nho giáo “trọng nam khinh nữ” nhưng được hun đúc và kết tinh từ truyền thống và sức mạnh văn hoá bản địa, người phụ nữ Việt vẫn giữ được vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội
Trang 33Vị trí quan trọng của người phụ nữ trong văn hoá dân tộc đã sớm góp phần hình thành cảm hứng nữ quyền trong văn học dân gian Việt Nam Nó tồn tại nhiều
tác phẩm khẳng định vai trò của người phụ nữ trong quan hệ gia đình: Công cha
như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra; Mất cha ăn cơm với cá/ Mất mẹ lót lá con nằm; Cái cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc
nỉ non… Tuy nhiên, tác giả văn học dân gian nhận thức được một điều, dù người nữ
có vai trò quan trọng trong gia đình nhưng trong xã hội cũ, họ luôn bị áp bức bất
công, bị đối xử bất bình đẳng như: bị xem thường so với nam giới ( Nhất nam viết
hữu, thập nữ viết vô; Đàn ông trên nhà, đàn bà xó bếp; Bà chết thì khách đầy nhà/ Ông chết cỏ gà mọc đầy sân); không được làm chủ thân phận của mình (motip
“thân em” trong ca dao), không được tự do trong tình yêu… Cảm hứng nữ quyền ở những tác phẩm viết về thân phận nguời phụ nữ đều gặp nhau ở hai điểm: cảm thông, xót thương cho số phận người phụ nữ và lên án xã hội bất công đẩy họ vào thân phận bất hạnh, không làm chủ Ngoài ra, nhiều tác phẩm văn học dân gian đã
đề cập đến ý thức phản kháng của người phụ nữ Đặc biệt, thể loại phản ánh rõ nhất thái độ “phản kháng” của người phụ nữ và chỉ rõ tầm quan trọng của họ trong gia đình chính là truyện cười Tất nhiên, đây không phải là cảm hứng nữ quyền mà là cảm hứng trào lộng Tuy nhiên, thông qua hình thức trào lộng, tác giả dân gian cũng
có ý thức “hạ bệ” người đàn ông và nâng người phụ nữ lên vị trí bình đẳng giới…Cảm hứng nữ quyền trong văn học dân gian chính là cơ sở để văn học viết nối tiếp.Đến văn học trung đại, dưới sự tác động sâu sắc của tư tưởng Khổng giáo, khuôn khổ xã hội và văn hoá được đặt ra chủ yếu để phục vụ đàn ông Theo Đào
Duy Anh trong Việt Nam văn hoá sử cương, xã hội trong giai đoạn này rất bất công
với người phụ nữ vì “trong gia đình, chủ quyền ở trong tay gia trưởng mà đè nén địa
vị của đàn bà” [1, 109] Nền văn học đó cũng được dùng để khuyến dụ và cưỡng chế đàn bà phải chấp nhận vị trí thua kém đàn ông Trong giai đoạn đầu, chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa yêu nước trong văn học, nội dung phản ánh về số phận con người cá nhân chưa thực sự nổi bật trong văn học trung đại Phải đến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu XIX, ý thức nữ quyền trong văn học mới được thổi bùng lên với sự xuất hiện của một số tác giả nữ như: Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương,
Bà huyện Thanh Quan, Lê Ngọc Hân, Sương Nguyệt Ánh… cùng với tác phẩm của một số tác giả nam có ý thức bênh vực cho quyền sống của người phụ nữ như
Trang 34Nguyễn Du, Tú Xương…Ở nhiều thể loại văn học, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện với vai trò nhân vật trung tâm, từ người quý tộc, bình dân đến người lao động, thậm chí có cả tầng lớp “thấp hèn” là ca nhi, kĩ nữ Các tác giả đã chú trọng đề cao vẻ
đẹp hình thể, tài năng và tâm hồn của người phụ nữ (Truyện Kiều của Nguyễn Du là
trường hợp tiêu biểu) Với trường hợp Hồ Xuân Hương, vẻ đẹp hình thể của người
phụ nữ không chỉ thể hiện trên những bộ phận thông thường: Thân em vừa trắng lại
vừa tròn/…Mà em vẫn giữ tấm lòng son mà còn trong cả những bộ phận vốn bị
“kiêng kị”: Hồng hồng má phấn duyên vì cậy/ Chúa dấu, vua yêu một cái này (Vịnh
cái quạt)
Bên cạnh việc đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ, các tác giả văn học trung đại đều có ý thức bênh vực quyền sống của người phụ nữ, lên án xã hội bất công chà đạp quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc tình yêu lứa đôi của con người Tiêu biểu
trong số này có Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm,
thơ Hồ Xuân Hương… Thậm chí, Hồ Xuân Hương đã lên tiếng “phản pháo” lại toàn bộ các thể chế văn hoá khi bênh vực cho tội lỗi tày đình của người phụ nữ xưa
là “chửa hoang”: Không chồng mà chửa mới ngoan/ Có chồng mà chửa thế gian
thiếu gì Hơn nữa, trong một xã hội “trọng nam khinh nữ”, Hồ Xuân Hương đã có ý
thức lên án lại sự bất bình đẳng giới bằng cách khẳng định vai trò, thế mạnh của
người phụ nữ: Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu Như
vậy có thể thấy, văn học trung đại đã tiếp tục ý thức nữ quyền trong văn học dân gian trước đó Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng sâu sắc của chế độ phong kiến, tư tưởng Khổng giáo “trọng nam khinh nữ”, ý thức nữ quyền trong văn học thời gian này không có biểu hiện rõ như trong văn học dân gian nhưng lại có chiều sâu nhân văn hơn (hướng nhiều đến vấn đề quyền sống) Ý thức này đã góp phần hình thành nên giá trị hiện thực và nhân đạo cho văn học trung đại Đặc biệt, Hồ Xuân Hương chính là tác giả nữ đầu tiên đã có ý thức dùng văn học như là một phương tiện để đấu tranh cho nữ quyền một cách chủ động, dưới một hình thức táo bạo, quyết liệt nhưng vẫn đậm đà vẻ nữ tính của người phụ nữ Việt
Đến văn học hiện đại, từ đầu thế kỷ XX đến khi nước nhà giành độc lập, dưới ảnh hưởng của phong trào Duy Tân và sự tác động sâu sắc của bầu không khí tự do, dân chủ của phương Tây, người phụ nữ tuy vẫn bị phân biệt vị trí so với nam giới trong xã hội nhưng về cơ bản, họ đã được giải phóng cả về mặt thể xác và tâm hồn
Trang 35Ý thức nữ quyền chủ yếu thể hiện trong các tác phẩm Tự lực văn đoàn với nội dung chính là đòi quyền tự do luyến ái, tự do hôn nhân, quyền hưởng hạnh phúc, tình yêu của người phụ nữ Bên cạnh đó, việc tố cáo những tàn dư của chế độ phong kiến trong việc kìm hãm quyền tự do yêu đương của con người vẫn còn Tuy nhiên, ý thức nữ quyền chỉ xuất hiện vào 30 năm đầu thế kỉ Sau đó, đất nước bước vào chiến tranh cách mạng Văn chương cũng như mọi hoạt động khác của xã hội đều phải hướng vào mục tiêu lớn của dân tộc là đánh đuổi kẻ thù, giành độc lập Chính
vì vậy, ý thức nữ quyền trong thời gian này tạm lắng xuống nhường chỗ cho chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Từ sau Đại hội Đảng tháng 12/1986, cùng với tinh thần “cởi trói” cho văn nghệ, văn nghệ sỹ cũng tự giải phóng cho mình khỏi những đề tài đã cũ Phong trào
nữ quyền cũng trở lại trên mọi lĩnh vực của xã hội Ý thức nữ quyền lại trỗi dậy, vừa kế tiếp mạch nguồn truyền thống của văn học dân gian, văn học trung đại vừa
có thêm những biểu hiện mới, ở mức độ mạnh mẽ, quyết liệt hơn Trong văn học, xuất hiện đông đảo đội ngũ các cây bút nữ tài năng mà ảnh hưởng của họ đã lấn át các nhà văn nam như: Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Y Ban, Lý Lan… và gần đây là các nữ nhà văn trẻ như Đỗ Bích Thuý, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Di Li… Tiếng nói nữ quyền trong văn học đã được
mở rộng và phát triển ở một mức độ cao hơn Không chỉ lấy đối tượng trung tâm trong sáng tác là người phụ nữ, các nhà văn này còn xác lập vị trí mới của người phụ nữ trong văn chương và trong xã hội với tư cách là chủ thể tư duy, chủ thể trải nghiệm và chủ thể thẩm mĩ Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp, ý thức nữ quyền trong văn học đương đại được biểu hiện trên bốn phương diện cơ bản:
- Ngôn ngữ quyết liệt, mạnh bạo, gây shock; tấn công vào những vùng ngôn ngữ vốn là độc quyền của nam giới: Dùng cái nhìn riêng của cá nhân và nữ giới để công khai xét lại lịch sử và các điển phạm nghệ thuật; Công khai bày tỏ chống lại thái độ lệ thuộc vào thế giới đàn ông và dám xông vào các đề tài cấm kị một cách tự
do, nhất là đề tài tính dục; Dấu ấn nữ tính vẫn được bảo lưu dù có ý thức hay vô thức, tạo nên nét riêng, đặc sắc cho sáng tác của các nhà văn nữ
Rõ ràng, tuy nối tiếp mạch nguồn văn học dân gian và văn học trung đại nhưng các nhà văn đương đại đã có ý thức dùng văn chương như một phương tiện hữu hiệu để thể hiện ý thức nữ quyền, để đấu tranh cho quyền lợi, tài năng của
Trang 36người phụ nữ Chúng ta có thể thấy những biểu hiện này khi tiếp cận tác phẩm của các nhà văn nữ
Như vậy, có thể thấy, ý thức nữ quyền đã manh nha từ trong văn học dân gian
và được tiếp nối liền mạch qua văn học trung đại, văn học hiện đại và văn học những năm trở lại đây dù ở nhiều mức độ và hình thức khác nhau Nó khẳng định
sự ảnh hưởng sâu sắc của một nền văn minh nông nghiệp lúa nước là đề cao và tôn trọng người phụ nữ Tuy nhiên, đến văn học đương đại, ý thức nữ quyền đã được thể hiện một cách tự do, chủ động và ở mức độ sâu rộng, quyết liệt hơn: không chỉ đòi quyền lợi cho người phụ nữ, các nhà văn còn có nhu cầu xác lập vị trí của người phụ nữ như một chủ thể tư duy, chủ thể trải nghiệm và chủ thể thẩm mĩ… cả trên phương diện nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật của tác phẩm Nữ quyền trở thành nguồn cảm hứng, ý thức sáng tạo chủ đạo của các nhà văn trong giai đoạn văn học này
1.2.2 Những vấn đề đặt ra từ cảm hứng nữ quyền của nhà văn
Cảm hứng nữ quyền là một vấn đề không mới nhưng trong những năm trở lại đây, nó được nhắc nhiều trong nghiên cứu, sáng tác văn học ở Việt Nam và một số nước châu Á, nơi quyền lợi của phụ nữ có nhiều hạn định hơn Trong văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong sáng tác của các tác giả nữ như Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư… cảm hứng nữ quyền nổi lên như là một nhân tố trung tâm chi phối nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện của tác phẩm
Nội dung của vấn đề nữ quyền đã được Y Ban đề cập trực tiếp qua một số bài
phỏng vấn Trên phương diện là một nhà văn nữ, trong bài phỏng vấn Y Ban: Hãy
lắng nghe tác phẩm của các nhà văn nữ, Y Ban đã khẳng định vị trí, vai trò, đóng
góp của các nhà văn nữ và đặt ra vấn đề phải đánh giá tác phẩm của họ một cách thoả đáng hơn Cũng trong bài phỏng vấn này, Y Ban cũng đề cập đến biểu hiện nữ quyền của phụ nữ hiện đại: “Nhưng trong xã hội hiện đại lại khác Người phụ nữ độc lập tự chủ hơn Họ có xu hướng sống cho bản thân mình, chiều chuộng cảm xúc của chính mình” [88] Chị cũng có quan điểm đồng thuận rằng người đàn ông cần có những biểu hiện tích cực hơn nữa để giúp người phụ nữ trong cuộc đấu tranh đòi lại nữ quyền Quan niệm của Y Ban về nữ quyền được thể hiện một cách mạnh
mẽ và quyết liệt trong các sáng tác của chị
Trang 37Từ phương diện sáng tạo, Y Ban đặt ra vấn đề phải nhìn nhận lại về nhân vật
nữ trong văn học Nếu trước đây, văn xuôi viết về người phụ nữ thường theo hướng
phê phán hay ngợi ca từ góc nhìn đạo đức, sử dụng nhân vật nữ để chuyển tải một quan niệm hay tư tưởng thì ngày nay, người phụ nữ phải được nhìn nhận như một khách thể thẩm mĩ độc lập, như một thế giới riêng, hấp dẫn mà văn học nghệ thuật cần khám phá và lý giải Chính vì vậy, Y Ban thiên về khám phá người phụ nữ và quan tâm đến những vùng “bí mật” của họ hơn là đánh giá, bình phẩm
Bên cạnh đó, thông qua sáng tác, đặc biệt là thông qua hình tượng nhân vật
trung tâm là người đàn bà, Y Ban đặt ra vấn đề phải nhìn nhận lại vai trò của người
phụ nữ trong xã hội và gia đình Họ không chỉ thực hiện thiên chức sinh con đẻ cái,
tề gia nội trợ như phụ nữ truyền thống mà họ còn có khả năng đứng ra gánh vác việc mưu sinh nuôi sống gia đình và đóng góp cho sự phát triển của xã hội Những người phụ nữ trong sáng tác Y Ban, dù khác nhau về thân phận, ngoại hình, tính cách nhưng phần lớn họ đều được tác giả thể hiện là những người phụ nữ đảm đang, tháo vát, giỏi giang trong gia đình và trong xã hội
Thông qua cảm hứng nữ quyền, Y Ban còn đặt ra vấn đề phải có một cách
nhìn mới về phẩm chất, giá trị của người phụ nữ Giá trị ấy không chỉ được biểu
hiện qua vẻ đẹp tâm hồn mà còn phải được ngợi ca, chiêm ngưỡng từ vẻ đẹp hình thể Y Ban tuy không phải là người duy nhất nhưng có thể là một trong số những nhà văn quyết liệt nhất khi đòi hỏi xã hội phải có một cái nhìn mới về vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ Bên cạnh đó, cách nhìn mới về phẩm chất của người phụ nữ còn đòi hỏi xã hội không chỉ chấp nhận, đồng tình, ngợi ca những phẩm chất thiên tính nữ tốt đẹp của người đàn bà mà còn phải chấp nhận những thói tật đời thường, những hạn chế của họ Cần phải nhìn nhận giá trị của họ với tư cách là một người đàn bà bình thường với những phần tốt đẹp và xấu xa, phần xã hội và bản năng, phần vị tha và ích kỉ chứ không phải là một “tượng thánh” hay trách nhiệm làm vợ, làm mẹ
Viết về người đàn bà, Y Ban không đề cập đến những vấn đề to tát về nữ quyền như quyền được bình đẳng, quyền có địa vị, quyền chính trị, quyền về kinh
tế Chị cũng không tập trung lên án sự bất công của xã hội hay những hà khắc của chế độ nam quyền (mặc dù chế độ nam quyền với những biểu hiện hà khắc vẫn hiện diện trong tác phẩm của chị) Y Ban đã chỉ ra rằng, ẩn sau khái niệm có vẻ to tát là
Trang 38“nữ quyền” thì người phụ nữ cần nhất đó chính là quyền được thấu hiểu, được yêu
thương, âu yếm, chiều chuộng Hơn ai hết, người phụ nữ muôn đời luôn cần có một
người đàn ông bên cạnh mình Và cái mà người phụ nữ trong sáng tác của Y Ban muôn đời đi tìm không phải là quyền về kinh tế, chính trị, luật pháp mà họ đi tìm một người đàn ông yêu thương mình Y Ban đã chỉ ra rằng với người đàn bà, một lời nói âu yếm, dịu dàng, một cử chỉ quan tâm cũng thật cần thiết và có ý nghĩa đối với họ Điều này có ý nghĩa nhân văn và thiết thực hơn đối với đời sống của người phụ nữ hơn là những khái niệm to tát về bình đẳng giới, quyền tự chủ về kinh tế, quyền bình đẳng về luật pháp…
Nhưng nổi bật nhất, theo chúng tôi, qua tác phẩm, Y Ban đã đặt ra vấn đề
trung tâm đó là phải chấp nhận người phụ nữ như một chủ thể chủ động và tích cực:
chủ động trong công việc, trong tình yêu và trong tình dục Họ có thể có những phút giây nổi loạn, vượt qua sự kiềm tỏa của đàn ông, của lễ giáo, luật tục nhưng chỉ có chấp nhận họ sống như một chủ thể, chúng ta mới trả họ về bản chất của quyền được làm một người đàn bà đích thực Quyền được làm một người đàn bà chính là trung tâm của cảm hứng nữ quyền trong sáng tác Y Ban
Thay đổi cách nhìn nhận, từ cảm hứng nữ quyền trong sáng tác, Y Ban cũng
đặt ra vấn đề phải thay đổi lại thái độ, cách hành xử với người phụ nữ Vấn đề này
không được đặt ra một cách trực tiếp mà nó chủ yếu được biểu hiện qua việc xử lý mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà trong tác phẩm của Y Ban Những nhân vật đàn ông trong sáng tác Y Ban thường yếu đuối, dựa dẫm và lợi dụng người đàn bà;
họ ứng xử với đàn bà như là vật sở hữu lệ thuộc; họ đơn giản hoá, thờ ơ với đời sống tâm hồn của người đàn bà; và cuối cùng là họ coi đàn bà là đối tượng tình dục, còn họ là “chủ thể tình dục được mang ơn” (đây là cách gọi tương đối của chúng tôi, nhằm ám chỉ người đàn ông luôn chủ động trong việc dẫn dắt các hoạt động tình dục và họ coi việc ban phát tình dục cho người đàn bà như một hành động ban ơn) Chính vì vậy, thay đổi cách nhìn về phụ nữ cũng phải đi đôi với việc thay đổi cách ứng xử với người phụ nữ: cần trân trọng, thấu hiểu và yêu thương người phụ
nữ thay vì coi sự hy sinh của họ cho người đàn ông là một tất yếu
Tiếp cận sáng tác Y Ban từ thể loại truyện ngắn đến tiểu thuyết, chúng tôi thấy nữ quyền là vấn đề trung tâm xuyên suốt trong tác phẩm của chị Tuy nhiên, Y Ban không thể hiện vấn đề này một cách trực tiếp, mạnh mẽ trong tác phẩm như Lý
Trang 39Lan Dấu ấn nữ tính được bảo lưu trong văn phong và qua các nhân vật nữ chính là một trong những điểm đặc sắc trong cảm hứng nữ quyền trong sáng tác của Y Ban.
1.2.3 Hệ thống nhân vật trong sáng tác của Y Ban
1.2.3.1 Các kiểu nhân vật trong sáng tác Y Ban
Dù khác nhau ở phương thức phản ánh và những đặc điểm về mặt nội dung và nghệ thuật nhưng thể loại tự sự, trữ tình, kịch vẫn gặp nhau ở một điểm là sử dụng nghệ thuật ngôn từ và nhân vật Nói đến nhân vật là nói đến con người (hay các sự vật hiện tượng được thể hiện như con người) được thể hiện bằng các phương tiện văn học trong tác phẩm Văn học không thể thiếu nhân vật bởi đó là hình thức cơ bản để miêu tả thế giới một cách hình tượng: “Bản chất văn học là một quan hệ đối với đời sống, nó chỉ tái hiện đời sống thông qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của cuộc đời” [40, tr.278] Với tác phẩm tự sự, nhân vật
có vai trò quan trọng trong việc gắn kết các thành tố tạo thành tác phẩm như chi tiết,
sự kiện, cốt truyện và là nơi thể hiện một cách tập trung nhất quan niệm nghệ thuật
về con người của nhà văn Xây dựng nên những nhân vật tiêu biểu, có thể tồn tại mãi với thời gian chính là một trong những đích hướng đến của các tác giả văn xuôi
tự sự
Tuy thế giới nhân vật giữa tác phẩm của các nhà văn và của cùng một nhà văn luôn có nét phong phú, đa dạng, độc đáo nhưng khi quan sát và ráp nối mối quan hệ giữa các nhân vật, ta nhận ra rằng, các tác phẩm ở cùng một giai đoạn văn học hoặc của cùng một tác giả luôn có mối quan hệ tương đồng, gắn bó khăng khít với nhau tạo thành các nhóm, các kiểu nhân vật tương đồng một cách ổn định và bền vững Người ta gọi đó là kiểu (loại hình) nhân vật Nói cách khác, kiểu/ loại hình nhân vật
là hiện tượng lặp lại của một nhóm nhân vật có sự tương đồng về nội dung, cấu trúc, chức năng trong cùng một nền văn học, một giai đoạn văn học hay trong tác phẩm của cùng một nhà văn Tìm hiểu các kiểu nhân vật chính là cách để chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật phong phú và đa dạng của nhà văn
Y Ban đã sáng tác gần 200 truyện ngắn và 2 tiểu thuyết Đàn bà xấu thì không
có quà và Xuân Từ Chiều Tuy mỗi tác phẩm có thế giới nhân vật riêng biệt và độc
đáo nhưng một đặc điểm dễ nhận thấy là các tác phẩm của Y Ban không nhiều nhân vật và thường có hiện tượng lặp lại một số kiểu nhân vật nhất định trong các tác phẩm khác nhau
Trang 40Căn cứ vào tần số xuất hiện của nhân vật trong các tác phẩm và sự định hình phong cách, chúng tôi thấy trong truyện của Y Ban thường xuất hiện ba kiểu nhân vật cơ bản: trẻ em, người đàn ông, người đàn bà.
Kiểu nhân vật trẻ em chỉ xuất hiện trong một số tác phẩm và đa phần là các bé
gái: Nàng thơ, Cái Tý, Xuân Từ Chiều, Cuộc chiến tranh giữa các nền văn hoá…
Trẻ em trong truyện Y Ban thường là những đứa trẻ sinh ra trong một làng quê
nghèo, nhếch nhác, vẫn có những hành động rất ngây thơ như ăn “phở ngó” (Cưới
chợ), cách nựng nịu của cô chị đối với em trai (Nàng thơ), những trò chơi tai quái,
tò mò (Xuân Từ Chiều)… Tuy nhiên, chúng lại có lối tư duy tỉnh táo, già dặn và ăn
nói như một triết gia Ví như những đứa trẻ khi xem bố chúng ăn phở bị chết nghẹn
có suy nghĩ như thế này: “Cưới chợ có phở bò ăn hay chết nghẹn lắm Nhưng ăn
“phở ngó” thì không việc gì đâu Sao bố không ăn phở ngó ấy Bố hay bị chết nghẹn
mà” (Cưới chợ) Từ trong Xuân Từ Chiều đã có phong thái rất người lớn khi ngăn
cản người chị lớn hơn mình không xem cảnh nạo phá thai: “Chị đừng lại gần Chị sẽ
ân hận cả đời đấy Em còn không dám lại gần nữa là Em chỉ đến đây để kiểm chứng thôi” [85, tr.17] Mới ít tuổi nhưng chứng kiến nhiều cảnh nạo phá thai, Từ
đã có thể nói vanh vách: “Thai này được khoảng hơn ba tháng rồi, tay đã đủ năm ngón nhưng vẫn còn màng…Đây nhé, đây gọi là phôi, là tế bào đang phân chia Còn giai đoạn này gọi là thai nhi nhớ vì nó đã có hình hài nhớ” [85, tr.23] Cái Tý trong truyện ngắn cùng tên mới mười hai tuổi nhưng đã “vừa nói, vừa nghĩ, trầm
ngâm như một bà cụ già” (Cái Tý) Dáng vẻ rắn rỏi và cách suy nghĩ nói năng rất
già dặn của các nhân vật trẻ em gợi cho ta cảm giác chua xót thay vì hài hước Dường như dấu ấn cuộc đời đã sớm in hằn trên những tâm hồn non trẻ và làm giảm
sự ngây thơ vốn là “đặc tính” rất đáng quý của chúng Tuy nhiên, dường như có sự nối kết vô hình giữa những bé gái trong truyện Y Ban với kiểu nhân vật thứ ba: Các
bé gái luôn sẵn sàng tinh thần để trở thành một người đàn bà, như lời cái Tý: “Thì
cháu đã chẳng phải là một đứa con gái rồi sẽ trở thành đàn bà ư ?” (Cái Tý) Nhưng
với người đàn bà, xu hướng này lại ngược lại: họ luôn mong muốn được làm một đứa trẻ ngây thơ, vô tư, được chở che, nuông chiều (có lẽ đây là lí do khiến các nhân vật đàn bà trong sáng tác Y Ban thường hay xao xuyến khi được gọi là “cô bé” ?)
Kiểu nhân vật thứ hai thường xuất hiện trong sáng tác của Y Ban là các nhân vật đàn ông Các nhân vật này được sử dụng chủ yếu như một đòn bẩy, đặt trong thế