Do đó, việc chọn sáng tác của Abe Kobo với các tác phẩm văn chương hiện sinh để nghiên cứu, phân tích là một việc làm có ý nghĩa, nhằm khẳng định giá trị và vai trò của nhà văn trong tiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ THỤC
SẮC THÁI HIỆN SINH NHẬT BẢN QUA HAI TÁC PHẨM:
NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CỒN CÁT VÀ KHUÔN MẶT NGƯỜI KHÁC
CỦA ABE KOBO
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Ninh
Hà Nội – 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa của đề tài
Nền văn học Nhật Bản có lịch sử phát triển khá phong phú và đạt được
nhiều thành tựu Nói tới văn học Nhật Bản người ta không thể bỏ qua Truyện
Genji (Genji Monogatari - 源氏物語) (thế kỉ XI), thơ Haiku - 俳句(thế kỉ XVII) và các sáng tác văn học thời kì hiện đại Làn gió văn hóa phương Tây
ồ ạt tràn vào quốc đảo sau bao nhiêu thế kỉ “bế quan tỏa cảng” ở Nhật Bản đã đem đến cho nền văn học hiện đại của đất nước này một luồng sinh khí thật mới mẻ Tất cả đã ươm mầm cho mảnh đất văn chương phát triển nở rộ với nhiều đề tài phong phú và đặc sắc với nhiều cây bút tài hoa Đã có hai nhà văn Nhật Bản vinh dự đoạt giải Nobel của Viện hàn lâm Thụy Điển là Kawabata Yasunari (1899-1972) và Oe Kenzaburo (1935-) Văn chương Kawabata tượng trưng cho vẻ đẹp trinh nguyên, tinh tế của xứ sở hoa anh đào
nghìn năm truyền thống; còn Oe đi vào lòng người từ “một nỗi đau riêng”
thấm thía chua xót, mang tính nhân văn sâu đậm Ta cũng thấy một Mishima Yukio (1925-1970) kết hợp được “cả thể văn kể chuyện bản địa lẫn phương Tây với truyền thống bi hùng… miêu tả những tâm trạng bệnh hoạn, thế hệ thanh niên hậu chiến hoang mang trước hiện tại, ít gắn bó với dĩ vãng” [39,
tr 195] Hay một Abe Kobo (1924-1993) với ngòi bút mang đậm chất hiện sinh, trong đó “hiện thực lẫn với hư cấu, đặt vấn đề số phận con người qua biểu tượng” [39, tr 195] Đất nước Nhật Bản, con người Nhật Bản sau chiến tranh đã được tái hiện với tất cả các khía cạnh của nó, tạo nên diện mạo một nền văn học chân thực, sinh động mà vô cùng đa dạng, phong phú Văn học hiện đại Nhật Bản có nhiều dòng, nhiều trường phái sáng tác khác nhau và hiển nhiên xuất hiện những thiên hướng khác nhau
Ở nước ta, việc nghiên cứu và dịch thuật nền văn học Nhật Bản cho đến nay vẫn còn rất ít Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai
Trang 3tác giả đoạt giải Nobel là Kawabata Yasunari và Oe Kenzaburo còn các tác giả nổi danh khác chưa được chú ý nghiên cứu Bởi vậy, việc đi sâu tìm hiểu tác phẩm của một tác giả nổi tiếng hàng đầu trong nền văn học Nhật Bản như Abe Kobo là cần thiết để thấy toàn diện và sâu rộng hơn về nền văn học, văn hóa Nhật Bản Do đó, việc chọn sáng tác của Abe Kobo với các tác phẩm văn chương hiện sinh để nghiên cứu, phân tích là một việc làm có ý nghĩa, nhằm khẳng định giá trị và vai trò của nhà văn trong tiến trình văn học Nhật Bản
Vấn đề hiện sinh là vấn đề trung tâm, nổi trội trong sáng tác của Abe
Kobo, đặc biệt là qua hai cuốn tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát và Khuôn mặt người khác của ông Do vậy, vấn đề chủ nghĩa hiện sinh trong hai
tác phẩm của Abe Kobo vừa có ý nghĩa khoa học, vừa phục vụ thiết thực cho công việc giảng dạy bộ môn văn học Nhật Bản ngày càng được chú trọng trong các trường đại học ở Việt Nam Đồng thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sôi nổi những năm trở lại đây, khi mối quan hệ giao lưu của hai nước Việt Nam và Nhật Bản ngày càng được mở rộng, thì việc đẩy mạnh nghiên cứu văn hóa, văn học Nhật càng góp phần tăng cường, thúc đẩy tình hữu nghị, hợp tác phát triển giữa hai dân tộc Việt Nam và Nhật Bản
2 Mục đích của đề tài
Với ý nghĩa nêu trên, mục đích của luận văn là tìm hiểu và phân tích
một số mặt về kết cấu nội dung, nghệ thuật trong hai tác phẩm Người đàn bà trong cồn cát, Khuôn mặt người khác của Abe Kobo Qua đó chúng ta có thể
thấy rõ hơn sắc thái hiện sinh Nhật Bản trong văn học
Trang 4thích thú Ông có hứng thú đặc biệt đối với nền văn học hiện đại với các nhà văn lừng danh như Abe Kobo, Endo Shusaku, Tanizaki Junichiro, Shiga Naoya, Kawabata Yasunari, Oe Kenzaburo Tác giả cũng đã có những nhận
định độc đáo về cuốn tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát của Abe Kobo
Hisaaki Yamanouchi trong bài: Abe Kobo và Oe Kenzaburo: sự kiếm tìm tính tương đồng trong nền văn học Nhật Bản đương đại (Abe Kobo and
Oe Kenzaburo: the search for identity in contemporary Japanese literature)
đã đánh giá rất sâu sắc: “Mặc dù khoảng cách về tuổi tác, (Oe trẻ hơn Abe đến mười một tuổi), có khá nhiều điểm tương đồng và khác biệt thú vị giữa hai nhà văn Cả hai đều băn khoăn về tình trạng cô độc của con người bị xa lánh, ruồng bỏ trong xã hội đương thời và đau khổ bởi sự mất mát cá tính Bên cạnh chủ đề có tính tương đồng trong tác phẩm của cả hai nhà văn, Abe
và Oe cùng gặp nhau ở chỗ có sự chệch hướng cố ý khỏi khuynh hướng ưu thế của tiểu thuyết Nhật Bản trước chiến tranh Họ hoàn toàn thoát khỏi đặc điểm về tính đa cảm hay tự thương xót của tiểu thuyết ngôi thứ nhất (tiểu thuyết cái Tôi) Phong cách tự sự của họ cũng là một dấu hiệu của sự chệch hướng khỏi truyền thống văn xuôi Nhật Bản Phong cách của Abe là khách quan, logic và trong sáng Còn Oe, mặt khác, lại bóp méo một cách hữu ý cú pháp mang tính truyền thống, nhưng ông lại là người có một không hai về khả năng sử dụng trí tưởng tượng vô cùng sinh động của mình Mọi sự so sánh đều lạc điệu, nhưng thế giới văn chương của Abe có một mối quan hệ thân thuộc với thế giới của Kafka và một vài nhà văn Châu Âu đương đại hơn
là Oe Hiển nhiên, Oe say mê và hấp thụ nhiều từ Jean-Paul Sartre, Henry Miller và Norman Mailer” [102, tr 166] Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã chú ý đến mối quan hệ gần gũi về mặt tư tưởng giữa tiểu thuyết gia hiện sinh Abe Kobo và Oe Kenzaburo Tác giả bài viết này có
những nhận định sâu sắc về tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát: “Đối với độc giả phương Tây thì bộ phim Người đàn bà trong cồn cát đã trở nên nổi
Trang 5tiếng như bản thân cuốn tiểu thuyết Cuốn tiểu thuyết thể hiện được tất cả các chủ đề chính của Abe và bộc lộ một nghệ thuật tài tình bậc cao” [102, tr 169]
Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô cũ đã viết: “Abe Kobo, nhà văn hiện đại Nhật Bản, sinh năm 1924 Đề tài quen thuộc của ông là mối quan hệ ghẻ lạnh giữa cá nhân và xã hội ở xã hội tư bản, trong đó cá nhân luôn là một thực thể tồn tại đối lập và xa lánh xã hội, hoài nghi xã hội và hoài nghi, phủ nhận ngay cả sự tồn tại của bản thân mình” [Chuyển dẫn 2, tr 5]
Từ điển Bách khoa Anh nhận xét về Abe Kobo là: “nhà văn và nhà soạn kịch người Nhật được chú ý bởi lối sử dụng những tình huống kỳ dị và phúng dụ (biểu tượng) để nhấn mạnh sự cô độc của cá nhân Và mặc dù chuyên ngành chính của ông là Toán học, nhưng ông lại “rất có hứng thú với việc sưu tập côn trùng và bản thân đã mải mê với những sáng tác của Fyodor Dostoyevsky, Franz Kafka, Rainer Maria Rilke, Edgar Allan Poe, and Lewis Carroll…” [103]
Trong các tư liệu bằng tiếng Việt, nhiều nhà nghiên cứu cũng có những nhận định khá xác đáng về Abe Kobo Tác giả Nguyễn Tuấn Khanh trong bài
Văn học Nhật Bản từ thời Minh Trị đến nay đã viết: “Abe Kobo (sinh năm
1924), học y khoa, sau viết tiểu thuyết tâm lý gần triết học hiện sinh, hiện thực lẫn với hư cấu, đặt vấn đề số phận con người qua biểu tượng” [65, tr 103]
Tác giả Hoàng Long trong bài: “Người đàn bà trong cồn cát và thảm kịch nhân sinh” đã dựa trên cơ sở sự tương chiếu giữa nhà triết học Martin
Heidegger và nhà văn Abe Kobo để phân tích hành trình đi tìm kiếm lại chính mình của nhân vật người đàn ông trong tác phẩm Tác giả cũng viết: “Từ Abe Kobo đến Oe Kenzaburo đều trải qua những năm tháng của chiến tranh thế giới thứ hai nên dễ dàng thấm thía vị cay đắng giòn mỏng của thân phận con người trong guồng quay của lịch sử Và vì thế mà trong tác phẩm của mình,
họ xoáy sâu vào sự hiện sinh của con người là điều tất nhiên thôi” [51]
Trang 6Nhà nghiên cứu Phạm Vũ Thịnh trong bài: “Abe Kobo: tác gia Nhật Bản đương đại” cũng xác nhận: Abe Kobo thuộc lớp nhà văn tiền vệ, có tư tưởng và thủ pháp đi trước thời đại Trong tác phẩm Người đàn bà trong cồn cát, “Abe Kobo đã cho nhân vật của ông trải qua đủ thứ tình cảm, từ lòng tự
hào, sợ hãi cho đến dục vọng và thất vọng, để thấm thía sự phi lý của thân phận con người” “Abe Kobo chuộng lối văn khô khan nhưng hàm súc và khoa học, đối lập với lối văn ướt át, thấm đẫm tình cảm và chủ quan vẫn tiếp tục được ưa chuộng thời bấy giờ Ông không ngừng thử nghiệm những thủ pháp và tư tưởng mới lạ, kể cả khoa học viễn tưởng, triết lý hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực thần kỳ Đề tài của Abe Kobo là sự cô lập, tha hóa của con người, áp lực của xã hội khiến con người vong thân, đánh mất căn cước bản ngã, cảm thấy khó khăn gần như bất khả trong việc truyền đạt tâm tình, suy nghĩ với người khác, khiến cho toàn bộ xã hội trở thành thế giới quái gở, kỳ
dị đối với cá nhân” Tác giả cho rằng cuốn tiểu thuyết Khuôn mặt người khác
là “một câu chuyện ngụ ngôn tân thời về ước vọng của đàn ông muốn kiếm cho mình một căn cước khác” Và: “Abe Kobo đã đi trước thời đại với những
tư tưởng và phong cách cho đến nay vẫn còn có tính cách tiền vệ Nhiều nhà phê bình trên thế giới cho rằng ông là một trong số ít tác gia Nhật Bản xứng đáng được xem là tác gia tiêu biểu của thế kỉ 20” [79]
Gần đây nhất, GS Numano Mitsuyoshingười Nhật đã xếp Abe Kobo vào danh sách mười nhà văn được cho là quan trọng nhất trong nền văn học Nhật Bản cận hiện đại (bao gồm: Mori Ogai, Natsume Soseki, Tanizaki Junichiro, Akutagawa Ryunosuke, Dazai Osamu, Kawabata Yasunari, Mishima Yukio, Abe Kobo, Oe Kenzaburo, Murakami Haruki) Ông khẳng định: “Abe Kobo (1924~1993), theo quan điểm của tôi, là một trong những nhà văn sáng tạo nhất do đất nước Nhật Bản sinh thành từ nửa sau thế kỷ 20 Phong cách huyễn tưởng khoét sâu vào những vô lý của hiện thực của ông có thể được so sánh với Franz Kafka trong văn học thế giới thế kỷ 20 Bản thân
Trang 7Abe nói rằng ông hầu như không chịu ảnh hưởng của nền văn học cổ điển Nhật Bản, thậm chí những nhà văn nước ngoài như Elias Canetti hay Garcia Marquez còn gần gũi với ông hơn Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn
tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng Đây
là tác phẩm khắc họa một tình cảnh vô lý của nhân vật chính bị lạc vào một ngôi làng cát và không có lối về Tác phẩm từng được dựng thành phim Ngoài ra, còn có các tác phẩm tiểu biểu khác trong lĩnh vực tiểu thuyết như
“Khuôn mặt người khác”, “Bản đồ cháy rụi”, “Người đàn ông trong chiếc hộp”, hay vở kịch “Bạn bè”…” [57]1
Những bài viết hay công trình nghiên cứu của họ đã dẫn dắt và gợi mở cho chúng tôi triển khai đề tài luận văn Tuy nhiên, từ trước đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào có quy mô rộng lớn và chuyên sâu về Abe Kobo, mà chủ yếu là giới thiệu tác phẩm qua bản dịch hoặc giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm Chúng tôi tiếp nhận ý kiến của những người đi trước và tiếp tục phân tích sâu hơn tác phẩm để chỉ ra những đặc điểm biểu hiện của sắc thái hiện sinh trong hai tác phẩm của Abe Kobo, qua đó khẳng định những đóng góp mới mẻ của tác giả đối với nền văn học Nhật Bản hiện đại
4 Phạm vi nghiên cứu
Khi nghiên cứu về sắc thái hiện sinh Nhật Bản trong tác phẩm của Abe Kobo, chúng tôi tập trung đi sâu tìm hiểu hai tác phẩm tiêu biểu của ông:
Người đàn bà trong cồn cát và Khuôn mặt người khác qua một số bình diện
của nội dung, nghệ thuật tác phẩm, đặc biệt là việc xây dựng nhân vật - con người mang sắc thái hiện sinh và việc xây dựng không gian, thời gian trong
1 Bài thuyết trình của GS Numano Mitsuyoshi tại Hội thảo Văn học Nhật Bản do Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm Giao lưu Văn hoá Nhật Bản tại Việt Nam tổ chức vào ngày 26/9/2009
Trang 8tác phẩm Văn bản hai tác phẩm đó đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam vào các năm 1999 và 2001
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu về sắc thái hiện sinh trong hai tác phẩm của Abe Kobo, chúng tôi sử dụng hệ thống lý thuyết thi pháp học và lý thuyết về chủ nghĩa hiện sinh trong quá trình hình thành, phát triển và chuyển thể từ triết học vào văn học
- Phương pháp chủ yếu của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là phương pháp phân tích tác phẩm theo nguyên tắc hệ thống, tổng hợp và khái quát các đặc điểm biểu hiện của sắc thái hiện sinh Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng một số thao tác khác như thống kê tư liệu, thao tác tiếp nhận so sánh và đối chiếu, nhằm làm nổi bật những nét khác biệt trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Abe Kobo
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Văn học Nhật Bản trước tác động của các làn sóng văn hóa
-văn học phương Tây
Chương 2: Nhân vật hiện sinh trong hai tác phẩm của Abe Kobo
Chương 3: Thời gian, không gian và bút pháp nghệ thuật đặc sắc trong
hai tác phẩm của Abe Kobo
Sau nội dung luận văn là phụ lục và thư mục tài liệu tham khảo
Trang 9Chương 1 VĂN HỌC NHẬT BẢN TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA CÁC LÀN SÓNG
VĂN HÓA - VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY
1.1 Sự tiếp xúc và tiếp biến văn học phương Tây của văn học Nhật Bản
Có thể khẳng định rằng, bất cứ nền văn hóa nào muốn phát triển đều tiếp nhận ảnh hưởng ở mức độ ít hay nhiều, hẹp hay rộng các nền văn hóa khác ở bên ngoài nó bởi những thay đổi về lịch sử, xã hội và thời đại Văn học Nhật Bản đã trải qua một tiến trình phát triển lâu dài, tới hơn một nghìn năm cùng với những sự kiện, biến cố của lịch sử dân tộc Ban đầu, nền văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng sâu sắc của chữ Hán cổ Tuy sau đó, qua một thời gian dài nó đã phát triển theo phong cách riêng của mình, song nền văn học này vẫn chịu ảnh hưởng của văn hóa và văn học Trung Hoa cho đến cuối thời kì Edo2 Vào nửa thế kỉ XIX, sau khi Nhật Bản bãi bỏ chính sách bế quan tỏa cảng và thiết lập ngoại giao với các nước phương Tây thì nền văn học Nhật Bản từ đó đến nay đã chịu nhiều ảnh hưởng của phong cách văn học phương Tây
Không thể không kể đến tác động của cuộc Duy Tân Minh Trị năm
1868 Nó có ý nghĩa lớn lao trong lịch sử chính trị, văn hóa, xã hội của Nhật Bản Nó tạo ra một bước ngoặt mới có thể coi là bắt đầu cho công cuộc hiện đại hóa Nhật Bản Cuộc cải cách đã giúp đất nước này phát triển về mọi mặt Văn học không nằm ngoài quy luật chung của sự phát triển toàn diện đó Các
xu hướng văn học mới ra đời Và chính các nhà văn thuộc nhiều thế hệ khác nhau đã lần lượt làm nên diện mạo của nền văn học Nhật Bản hiện đại Văn học đi theo xu hướng chung, hòa nhập vào quỹ đạo thế giới và dần dần lại tự tạo dựng cho mình những giá trị riêng biệt Nước Nhật đã từng tuyên bố đi theo phương Tây, học phương Tây, đuổi kịp và vượt phương Tây
2 Thời kì Edo‐江戸(Tokugawa‐徳川): 1603-1867
Trang 10Làn sóng văn học phương Tây tràn vào Nhật Bản trước hết là qua các cuốn sách dịch Thêm vào đó là con đường tiếp xúc trực tiếp của các tác giả văn học Nhật Bản khi họ du học ở các nước Tây phương Từ khi có cuộc duy tân thời Minh Trị, rất nhiều du học sinh Nhật Bản ra ngoại quốc Trong số đó hai nhà văn, vốn là hai du học sinh có tiếng nhất là Mori Ogai (đi Đức) và Natsume Soseki (Anh) Ngoài ra còn có Futabatei Shimei (Nga), Takamura Kotaro (Mỹ, Pháp), Nagai Kafu (Mỹ, Pháp), Arishima Takeo (Mỹ), Hori Tatsuo (Pháp) Futabatei Shimei là người tiếp nhận lý luận của chủ nghĩa hiện thực đạt đến trình độ cao qua nền văn học Nga; còn Mori Ogai sau khi lưu học ở Đức về đã nỗ lực mở ra những hoạt động khai trí mang khuynh hướng lãng mạn trên các lĩnh vực như thơ, phê bình văn học và dịch thuật
Đó là tên tuổi của một số tác giả đặt nền móng quan trọng cho sự hiện đại hóa nền văn học Nhật Bản thời kì này Đồng thời, các nhà văn Âu Mỹ cũng đã đặt chân lên đất Nhật và tiến hành những công trình nghiên cứu của họ Các nhà văn thuộc thế hệ sau của Nhật Bản ngày càng có cơ hội tiếp xúc nhiều với các tác phẩm văn học phương Tây và chịu nhiều ảnh hưởng từ sáng tác của họ
Sự tiếp xúc với phương Tây nhờ các con đường như thế đã phân luồng văn học Nhật Bản thành những khuynh hướng, những trường phái rất khác nhau Trong thời Minh Trị3, nền văn học được đặc trưng bởi năm khuynh hướng: Phái truyền thống, phái sáng tạo, phái Cơ đốc giáo, phái xã hội chủ nghĩa, phái tự nhiên chủ nghĩa… với các đại diện tiêu biểu mà sáng tác của
họ được nhiều người biết đến ở cả trong và ngoài nước Đến đầu thế kỉ XX, những sáng tác theo khuynh hướng tự nhiên dần chiếm ưu thế trên văn đàn, nhưng đã bị lắng xuống dưới thời Đại Chính2
trước những thành công của khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa Giai đoạn thế chiến đầu thời Chiêu Hòa4
đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai 1945 đã chứng kiến sự đụng độ
3
Meiji - 明治 (1868-1912), 2 Taisho - 大正 (1912-1926)
4 Showa - 昭和 (1926-1989)
Trang 11của hai dòng văn học chính: văn học vô sản “vị nhân sinh” và trường phái tân cảm giác “vị nghệ thuật”
Ở thời Minh Trị, sáng tác của các nhà văn Nhật Bản chịu ảnh hưởng từ các dịch phẩm của Moliere, Zola, Emily Bronte, Jean-Jacques Rousseau, Dostoievsky Đến thời Đại Chính (1912-1926), nhà văn nổi tiếng Akutagawa tiếp thu những kiến thức Âu Mỹ và chịu ảnh hưởng của nhiều tác giả nổi tiếng phương Tây như Strindberg, Nietzsche, Tourgueniev, Tolstoi, Gogol, Dostoevski, Flaubert, Baudelaire đến cả Jonathan Swift và Samuel Butler Kiến thức của Akutagawa trải rộng từ Shakespeare cho đến các nhà soạn kịch Ailen, từ Francois Villon đến Paul Valéry
Ngay từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên, dù trực tiếp hay gián tiếp, văn học ngoại quốc đã không ngừng ảnh hưởng tới văn học Nhật Bản Trước hết
là ảnh hưởng từ văn học Nga với các sáng tác của Đostoievski, Tolstoi, Gogol, Tchekhov và văn học chủ nghĩa Marx-Lenin (đối với phong trào văn học vô sản - Puroretaria Bungaku プロレタリア文学) Tiếp đó là ảnh hưởng của văn chương Anh với các kịch phẩm của William Shakespeare (1564-1616), thơ Thomas Gray (1716-1771), sáng tác lãng mạn của William Wordsworth (1770-1850) và Dorothy Wordsworth (1771-1855), Byron (Lord Byron, George Gordon, 1788-1824) Bên cạnh đó, ảnh hưởng của Pháp đối với Nhật Bản buổi đầu mạnh mẽ nhất có lẽ là trong lĩnh vực thi ca Những nhà thơ được giới thiệu có Baudelaire, Verlaine, Mallarmé và Maurice Maerterlinck Các nhà văn lớn của Pháp như Honoré de Balzac, Stendhal, Anatole France, Alphonse Daudet, Emile Zola, Guy de Maupassant, Raymond Radiguet cũng đã để lại những ảnh hưởng sâu sắc đối với các nhà văn Nhật Bản Sáng tác của một số nhà văn Đức như: Friedrich Schiller (1759-1805), Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832), truyện cổ của anh
em nhà Grimm, thơ Heinrich Heine (1790-1856), Rainer Marie Rilke 1926) Và trong khi Mishima Yukio yêu thích Thomas Mann (1875-1955) thì
Trang 12(1875-Abe Kobo lại ngả theo phong cách viết của Franz Kafka (1883-1924) Ngoài
ra, văn học Nhật Bản còn tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của nền văn học Tây
Ban Nha và các nước châu Mỹ La Tinh Đó là tác phẩm Don Quixote của
Miguel de Cervantes Saavedra (1547-1616) hay Gabriel Garcia Marquez (1928-), người gốc Columbia đoạt giải Nobel văn chương năm 1982, với tác
phẩm Trăm năm cô đơn (1967) kiệt xuất
Nhật Bản có tiếng là một dân tộc dịch sách và đọc sách nhiều nhất trên thế giới Hoạt động dịch thuật và nghiên cứu các tác phẩm văn học phương Tây để truyền bá vào Nhật Bản đã góp phần vào việc khai sáng và canh tân cho nền văn hóa của đất nước này Có thể nói, làn sóng phương Tây hóa ở Nhật Bản, bắt đầu vào những năm 1880, trải qua hai mươi năm và từ sau chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905) đã ngày càng trở nên mạnh mẽ, đã tác động to lớn đến sự chuyển biến của văn hóa, văn học Nhật Bản từ thời Minh Trị đến nay Chính sự chủ động Âu hóa của nước Nhật đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển biến này Không nghi ngờ rằng, những năm đầu thời Minh Trị, văn đàn Nhật Bản đã “mở rộng cửa đón gió Tây lồng lộng thổi vào” [65, tr 91] Nhiều trào lưu tư tưởng của văn học phương Tây đã được các nhà văn Nhật Bản tiếp thu: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa lãng mạn,chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên… Các nhà văn hiện đại Nhật Bản về sau vẫn bị cuốn hút bởi sáng tác của các tác giả phương Tây, đồng thời ở một số nhà văn, cái truyền thống của đất nước nhiều khi lại khơi nguồn cảm hứng trong họ Do đó, ở họ đôi khi xảy ra sự xung đột Đông
- Tây và điều đó được biểu hiện khá rõ nét trong tác phẩm Ví như trường hợp của Tanizaki Junichiro và Kawabata Yasunari Trong khi Tanizaki viết
về chủ đề tình dục bệnh hoạn và chủ nghĩa duy mỹ rất Tây hóa thì quan điểm thẩm mỹ của Kawabata lại bắt nguồn từ những truyền thống cũ Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền văn học hiện đại Nhật Bản vẫn tiếp tục phát triển
và nở rộ với tên tuổi của các nhà văn nổi tiếng như Dazai Osamu, Mishima
Trang 13Yukio, Abe Kobo, Oe Kenzaburo, Murakami Haruki… và nhiều nhà văn thuộc thế hệ trẻ sau này
Có thể thấy được rằng, những ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây, đặc biệt là từ các nước Nga, Anh, Pháp, Đức đối với Nhật Bản sau cuộc cải cách Minh Trị là vô cùng lớn lao và đem lại những sự chuyển biến rõ rệt Nếu như đất nước Nhật Bản thực hiện được quá trình hiện đại hóa một cách nhanh chóng và hiệu quả trên mọi lĩnh vực thì cũng có thể thấy bước chuyển mình ấy được thể hiện rõ rệt qua văn học Sự chủ động tiếp xúc với văn hóa phương Tây và khả năng tiếp thu, tiếp biến tài tình của các nhà văn Nhật Bản cận - hiện đại đã tạo nên những thành quả lớn lao trong văn học Các tác giả không bắt chước một cách rập khuôn sáng tác của các nhà văn phương Tây,
mà họ đã đưa vào tác phẩm cái hồn cốt của con người, của văn hóa, của dân tộc Nhật Bản - một nước Á Đông trong sự hòa trộn, có khi còn xung đột với nền văn minh phương Tây Chính vì thế, nền văn học Nhật Bản đã vươn ra tầm nhân loại với những tên tuổi nổi tiếng mà các tác phẩm của họ được dịch
ra nhiều thứ tiếng Đó là một Kawabata Yasunari thấm đẫm vẻ đẹp xứ Phù Tang, một Oe Kenzaburo luôn oằn mình vì nỗi đau nhân loại Hai nhà văn ấy
đã xứng đáng đoạt giải Nobel về văn học Bên cạnh đó, chúng ta còn có thể
kể đến tên tuổi của rất nhiều nhà văn khác, những người đã góp phần tạo nên diện mạo riêng cho nền văn học Nhật Bản với nhiều phong cách sáng tác thật đặc sắc: Mori Ogai, Natsume Soseki, Tanizaki Junichiro, Ryunosuke Akutagawa, Dazai Osamu, Abe Kobo, Mishima Yukio, Murakami Haruki… Mỗi nhà văn ấy sáng tác theo những phong cách khác nhau và đều để lại dấu
ấn riêng của mình trong tác phẩm Tất cả đã tạo nên diện mạo riêng cho nền văn học Nhật Bản hiện đại với những đặc điểm đa dạng và phong phú
Gắn với đặc điểm địa lý tách biệt, con người Nhật, dân tộc Nhật đã bằng ý chí, nghị lực và sự sáng tạo của mình không ngừng vươn lên, trở thành cường quốc của châu Á và sánh ngang tầm với các cường quốc châu
Trang 14Âu Tính cách độc lập của con người Nhật chính là một yếu tố quan trọng để thấy rằng, trong khi tiếp thu và chịu ảnh hưởng những thành tựu của văn hóa, văn học phương Tây, họ cũng vẫn giữ được những nét truyền thống lâu bền, đồng thời tiếp thu một cách sáng tạo và có chọn lọc, cải biến chúng, tạo thành sản phẩm của riêng họ Chính vì thế, sáng tác văn học của các nhà văn Nhật Bản, dù chịu ảnh hưởng nhiều hay ít của văn học phương Tây, đều mang trong mình nó những sắc thái Nhật Bản riêng biệt và độc đáo
Nền văn hóa, văn học Nhật Bản đã chứng tỏ được giá trị tồn tại tự thân của nó trong khi tiếp nhận văn hóa phương Tây Tiếp thu cái ngoại quốc, kết hợp với cái trong nước và đẩy nó lên đỉnh cao của sự phát triển là một trong những đặc điểm quan trọng của văn học Nhật Bản “Mô hình phát triển đặc biệt của văn học trong lịch sử: Nhật Bản thâu nhận tất cả và không loại bỏ gì hết Haiku không hề xóa bỏ waka, kabuki không hề thay thế No và Kyogen Nói cách khác, ở Nhật, không có sự xung đột một mất một còn giữa cái cũ và cái mới Nếu Kyoka (cuồng ca, một loại thơ ngắn hài hước và bình dân) có mất đi cũng chỉ vì không hợp với thời đại mới và bị đào thải một cách tự nhiên thôi (nhưng đây vẫn là ngoại lệ) Những khái niệm thẩm mỹ của người Nhật thuở trước như aware thời Heian, yugen thời Kamakura, wabi và sabi thời Muromachi và iki thời Tukugawa ngày nay hãy còn đó cả Sau thời Meiji (1868-1912), người viết waka vẫn đi tìm aware, kẻ đóng tuồng Nô vẫn dựa vào yugen, trà đạo hãy còn lấy wabi và sabi làm căn bản và các nàng geisha vẫn nhắc đến iki như đỉnh cao của phẩm chất nghệ thuật của mình” [85] Có thể nói, những yếu tố ngoại lai từ phương Tây xâm nhập vào Nhật Bản không làm chìm lấp đi cái “nội sinh” vốn có của nó, mà nó thúc đẩy nhau để phát triển đến một đỉnh điểm cao hơn, đạt được nhiều thành tựu rực
rõ
Phương châm của cuộc cải cách Minh Trị: “học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây và vượt qua phương Tây” đã thúc đẩy nhanh chóng sự phát
Trang 15triển của nước Nhật - từ một nước phong kiến thành nước tư bản chủ nghĩa lớn mạnh trong khu vực và trên thế giới Cuộc cải cách thực sự đã đem lại nhiều biến đổi trong đời sống xã hội nói chung và trong văn học nói riêng của Nhật Bản Các thế hệ trí thức của Nhật Bản là những người góp phần làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của nền văn học nước này
1.2 Sự hình thành chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Nhật Bản
1.2.1 Chủ nghĩa hiện sinh như một trào lưu trong văn học thế giới
1.2.1.1 Sự hình thành chủ nghĩa hiện sinh
Thuật ngữ Chủ nghĩa hiện sinh có nguồn gốc đầu tiên từ trong Triết
học Đây là một trào lưu triết học thịnh hành ở châu Âu sau hai cuộc chiến tranh thế giới, nhất là sau chiến tranh thế giới II, có ảnh hưởng lớn đến giới trí thức và thanh niên châu Âu Trên thực tế, những yếu tố hiện sinh đã manh nha xuất hiện trong triết học cổ Các lãnh tụ tôn giáo từ lâu đã nhấn mạnh sự biến đổi của hiện hữu cá nhân như là mối quan tâm hệ trọng của con người Triết gia Socrates (470-399 TCN) từng đề cập đến vấn đề con người Các nhà
tư tưởng Cơ đốc giáo như Augustine và Pascal có sự ý thức đầy băn khoăn về thân phận con người và nhấn mạnh vai trò cứu vớt của sự biến đổi và cam kết
cá nhân “Thánh Augustin (354-430) đã cho rằng giá trị của con người phụ
thuộc vào những giây phút hiện tại hoàn hảo mà con người được trải nghiệm:
đó là những giây phút làm được những điều thiện hay khi con người có dịp được gặp Chúa Cuộc đời chỉ có ý nghĩa ở những thời điểm như vậy mà thôi” [81, tr 56] Tuy nhiên, triết học cổ truyền từ Platon, Aristote đến Descartes, Kant, Hegel là thứ triết học thuần túy tư biện và xa cách con người Trong triết học này, con người không có chỗ đứng riêng, mà con người được coi là một trong hàng vạn vật Vũ trụ lấn át con người, con người
bị bỏ quên
Trang 16Đến cuối thế kỉ XIX, ở trong lòng xã hội phương Tây nảy sinh những khủng hoảng về đời sống tâm linh con người Một số nhà triết học bắt đầu có
tư tưởng hoài nghi triết học duy lý của R Descartes và mọi hệ thống duy lý chủ nghĩa Họ thiên về khuynh hướng hiện sinh Có thể kể đến các nhà triết học nổi tiếng: F Nietzsche (1884-1900), S Kierkegaard (1813-1855), E
Husserl (1859-1938)… S Kierkegaard - triết gia tôn giáo người Đan Mạch,
là người khởi xướng thuyết hiện sinh hiện đại Mối quan tâm chính của ông thể hiện trên hai mặt: làm thế nào để trở nên bản ngã chân thực của chính
mình, và làm thế nào để trở thành một tín hữu Cơ đốc giáo Còn Nietzsche,
triết gia Đức được xem là một vị cha đẻ khác của thuyết hiện sinh hiện đại Ông nhìn con người hiện đại như một tạo vật suy đồi, không có tinh thần và hao mòn sinh lực, đang cố thoát ra khỏi thực tại khủng khiếp của thân phận mình bằng một thứ triết học nông cạn và một thứ tôn giáo an thần Ông cho rằng, sứ mệnh của con người là sáng tạo ra sự biến đổi của riêng mình thông qua ý chí cương quyết, khổ đau cá nhân và sự trải nghiệm chiều sâu và đỉnh cao của cuộc nhân sinh Ông phản đối triết học truyền thống như sự thỏa mãn hão huyền cho những nhu cầu tâm lý, và chống lại Cơ đốc giáo như sự phủ nhận những giá trị của hiện hữu trần thế Cống hiến lớn nhất của ông là về
tính chủ thể của nhân vị làm nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh Từ đó đã hình
thành nên hai kiểu thuyết hiện sinh: tôn giáo và vô thần - được các nhà hiện sinh thế hệ sau làm đại diện Chúng có chỗ thống nhất là cùng quan tâm đến
hiện hữu cá nhân như là phạm vi của chân lý nền tảng Sau đó, hiện tượng luận của Husserl với tính chất như là một phương pháp luận, đã góp phần
làm cho tư tưởng của Kierkegaard và Nietzsche thực sự trở thành một trào lưu triết học theo đúng nghĩa của nó
Vào đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây bước sang thời kì hiện đại Những cuộc cách mạng công nghiệp, khoa học kỹ thuật liên tiếp diễn ra, làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt xã hội phương Tây Cùng với đó, con
Trang 17người bị kiềm tỏa trong guồng quay của xã hội mà sự duy lý hóa ngày càng thống trị Các cuộc chiến tranh thế giới liên tiếp nổ ra, như một tất yếu, số phận của con người trở nên mờ nhạt và đầy hiểm họa Triết học hiện sinh ra đời trên nền của sự khủng hoảng, sự bại hoại tinh thần do chủ nghĩa duy lý gây nên mà chiến tranh chỉ là ngòi lửa châm cho nó bùng nổ Nó ra đời để phản ứng lại, đối lập lại chủ nghĩa duy lý thống trị trong xã hội phương Tây suốt một thời kỳ dài
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện đầu tiên ở Đức vào cuối những năm
20-30 của thế kỉ XX với các đại diện tiêu biểu như: M Heidegger (1889-1976),
K Jaspers (1883-1969); sau đó được J.P Sartre, A Camus, G Marcel, M Merleau Ponty… đưa vào Pháp Trong đó, Sartre được tôn xưng là cây đại thụ của chủ nghĩa hiện sinh trong ba thập kỉ 50-70 của thế kỉ XX Người ta
mô tả sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp như sau: “Ấy là một buổi sáng mùa đông (1946), vừa thức giấc, cả thành phố Paris thấy mình “hiện sinh”, sách báo đầy hiện sinh quyến rũ tràn khắp phố phường, những “đám thanh niên nam nữ vui vẻ” kéo đến những căn nhà hầm ở Saint-Germain, ầm vang điệu nhạc Jazz trong những trang phục mới lạ với mái tóc xõa, quần túm ống
và ăn nói chào mời phóng túng Người ta bảo đó là một lối sống mới, là một phong trào mốt đã trở thành như một huyền thoại” [21, tr 5] Trong bốn năm
từ 1945, Paris trở thành thủ đô văn hóa của thế giới nhờ sức hút của lối sống hiện sinh và danh tiếng của J.P Sartre, người được mệnh danh là “giáo hoàng” của chủ nghĩa hiện sinh và nó lan rộng đến nỗi, một khẩu hiệu theo kiểu chủ nghĩa đađa đưa ra rằng “mỗi người hiện sinh là một người có Sartre
ở răng” Tất nhiên, không nên nhầm lẫn cái gọi là lối sống hiện sinh với triết học hiện sinh
Kế thừa tri thức của nhiều thế hệ nhà tư tưởng, chủ nghĩa hiện sinh ra đời như là một kết quả tất yếu sau các cuộc chiến tranh đẫm máu, hướng mọi suy tư, mọi câu hỏi về thân phận con người
Trang 181.2.1.2 Nội dung của triết học hiện sinh
Từ “Chủ nghĩa hiện sinh” (Existentialism) được tạo ra bởi nhà triết học
người Pháp Grabiel Marcel vào giữa năm 1940 và được sử dụng bởi Sartre trong bài thuyết trình của mình vào 29/11/1945 tại Paris Bài thuyết trình sau
đó được xuất bản thành cuốn sách ngắn mang tựa đề "L'existentialisme est un humanisme - Existentialism is a Humanism - Chủ nghĩa hiện sinh là chủ
nghĩa nhân đạo" Cuốn sách này khiến tư tưởng hiện sinh trở nên nổi tiếng
Khi dùng từ “hiện sinh”, thực chất các triết gia hiện sinh muốn nói tới
sự hiện tồn của con người Đó là “sự hiện hữu của từng cá thể đặc thù, chứ
không phải tất cả loài người Vấn đề của con người, trong cái nhìn của họ, phải trở nên có ý thức đầy đủ về bản ngã chân thực của mình trong hoàn cảnh đặc thù mà hắn ta tìm thấy chính mình đang ở trong đó” [11] Sứ mệnh trở thành bản ngã của chính mình đòi hỏi sự quyết định, cam kết, dấn thân Chính nhờ quyết định mà con người đạt tới sự hiện hữu tự thức, chứ không đơn thuần nhờ những lý tưởng cao vời hay những ý định tốt đẹp Do dự là một tình trạng hư vô
Triết học hiện sinh đối lập hoàn toàn với triết học duy lý của R.Descartes và cả với mọi hệ thống duy lý chủ nghĩa Nếu như trong các hệ thống đó, con người được coi như một “tồn tại” ngay từ lúc đầu tiên đã có lí trí, thì chủ nghĩa hiện sinh cho rằng, đầu tiên con người chỉ là hư vô, và chỉ việc con người tồn tại thôi đã là “phi lý” rồi Vì vậy, chính con người phải đem lại cho đời mình một ý nghĩa Luận đề này được thể hiện trong câu nói nổi tiếng của J.P Sartre: “Hiện sinh có trước bản chất” Thực chất, triết học hiện sinh ra đời vừa là sự tiếp tục phát triển, vừa là sự đối lập với triết học cổ truyền Đó là triết học về ý nghĩa cuộc nhân sinh, tức triết học về con người
Nó chỉ chú trọng đến thân phận con người, tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống và cái chết Vì vậy, chủ nghĩa hiện sinh là một học thuyết mà đối tượng là sự tồn
Trang 19tại của con người xét trong hiện thực cụ thể của nó, và trong điều kiện cá nhân con người dấn thân vào xã hội Sartre khẳng định rằng: con người là tương lai của con người, con người là chính những gì mình tự tạo nên Ông nhấn mạnh trách nhiệm của con người trong cuộc đời: “việc đầu tiên mà thuyết Hiện sinh làm là chỉ rõ cho mỗi người những gì anh ta có và trao cho anh ta toàn bộ trách nhiệm về cuộc đời của anh ta Nói rằng con người có trách nhiệm với bản thân mình không có nghĩa là con người chỉ có trách nhiệm đối với bản thân anh ta, mà anh ta còn có trách nhiệm đối với toàn thể loài người” [82, tr 167]
Nhà nghiên cứu Lộc Phương Thủy trong bài viết Tiểu thuyết hiện sinh 5
đã nêu lên ba đặc điểm chính của chủ nghĩa hiện sinh, bao gồm: chủ nghĩa hiện sinh chia thành hai nhánh - vô thần và hữu thần; quan tâm đến vấn đề thân phận con người; khẳng định tồn tại có trước bản chất Tuy nhiên, các nhà hiện sinh chủ nghĩa dù là hữu thần hay vô thần, đều có tư tưởng bi quan sâu sắc đối với con người và cuộc sống Họ cho rằng, trong thế giới này, mọi giá trị tinh thần đang mất hết ý nghĩa mà không thể bù đắp lại được Con người đang bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn giữa cái hiện hữu thù nghịch, cho nên cuộc đời chỉ là một sự vô nghĩa Để khắc phục tình trạng ấy, các nhà hiện
sinh chủ nghĩa kêu gọi con người quay về với cá nhân mình, “dựa vào cái mình có để không ngừng nâng mình lên” để “tự do sáng tạo ra mình bằng mỗi hành động của mình, tự do mang đến cho sự sinh tồn của mình một ý nghĩa và để trở thành cái mà trước đây mình không phải như thế” (J.P
Sartre) [81, tr 53] Họ nhấn mạnh những khái niệm “dấn thân”, “nhập cuộc” Con người, theo họ, phải hành động trước hết chỉ vì cá nhân mình, vì sự tự vượt lên mình Luận điểm nổi tiếng của Sartre: “cái hiện sinh có trước bản chất” nói lên rằng, không hề có những bản chất của con người tồn tại trước khi có sự hiện hữu của con người trên mặt đất và tồn tại chẳng qua chỉ là quá
5
Trong cuốn Tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX - Truyền thống và cách tân
Trang 20trình hình thành liên tục Trong một hoàn cảnh, con người có thể chọn một trong nhiều cách Và sự lựa chọn ấy sẽ tạo ra con người, tức bản chất của anh
ta vào hoàn cảnh ấy Con người buộc phải lựa chọn và sự tự do của con người nằm trong sự lựa chọn ấy Con người không đứng yên, anh ta phải liên tục lựa chọn và phải chịu trách nhiệm về bản thân mình Ở khía cạnh này, triết học hiện sinh đã thể hiện mặt tích cực của nó khi nhấn mạnh đến sự hoạt động tích cực của con người Nhưng mặt hạn chế là nó nhấn mạnh thái quá tính năng động của con người, không tính hết đến tác động của hoàn cảnh khách quan
Chủ nghĩa hiện sinh lấy con người làm trung tâm, làm đối tượng và mục tiêu để hướng tới Triết học hiện sinh coi con người là một nhân vị, nhờ
đó mà con người mang một bộ mặt riêng biệt, khác với mọi tính cách mang tính phổ quát Con người tự do lựa chọn cách sống, thái độ sống của mình, nghĩa là con người có ý thức để trở thành hiện sinh; và do đó mà con người luôn đau khổ, dằn vặt, lo âu trong cuộc kiếm tìm và lựa chọn tự do
Nếu như các ngành khoa học đề cập đến con người như là một đối tượng để nghiên cứu thì chủ nghĩa hiện sinh lại muốn đề cập đến con người
ấy như là một hiện sinh của tự do, vượt khỏi mọi khoa học Đó là một sinh lực tinh thần thực sự sống bằng tự do của mình, trong những tình trạng cụ thể của thế giới loài người Nói tới tự do là nói tới lựa chọn, mà mỗi lựa chọn, mỗi quyết định là một giá trị hiện sinh, bởi mỗi quyết định đòi hỏi một ý thức thận trọng và một tinh thần trách nhiệm cao Mỗi quyết định ấy còn là sự chiến thắng của tự do đối với bản tính người Từ vấn đề trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh là vấn đề nhân vị - con người, một loạt các phạm trù khác được phái sinh, làm cho vấn đề con người trở thành cụ thể hơn, nhằm để diễn
tả và biểu đạt sâu sắc hơn các cảnh huống của con người Đó là các phạm trù: hữu thể, hư vô, buồn nôn, cô đơn, lo âu, tha hóa, cái chết, trách nhiệm, sự thăng hoa, dự phóng và tự do
Trang 21“Sự lưu đày của thân phận con người trần thế (căn tính đau khổ, bệnh tật, chết chóc, sự không hiểu được “kẻ khác”) vào những cảnh ngộ hoàn toàn
bị che đậy, việc đưa ra bất cứ hành vi quyết định nào như thể đặt nền tảng cho cả một sự cải tổ mang giá trị thế giới quan, đó là những dấu hiệu cấu trúc
mà thứ văn học đậm chất trí tuệ triết lý của chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh
Sự đánh tráo hình ảnh của tồn tại vốn có ở bản thân bằng cái tự ý thức nhân
đó nảy sinh đã dẫn tới việc huyền thoại hóa của cá nhân (có thể giữ được trong khuôn khổ kiểu giống như thực hay phóng lên thành kiểu bóng gió ngụ ngôn mà Kafka là người được coi là ông tổ) Áp lực của tính xác thực đời sống ở đây hoàn toàn không đồng nhất với sự sắc sảo hiện thực chủ nghĩa,
mà chuyển thành sự mã hóa những gì không hiểu được nhưng chính cá nhân
đã trải nghiệm, trong những huyền tích tượng trưng, đi kèm những chi tiết hiển hiện như sờ mó được nhưng trong chỉnh thể lại mang tính huyền hoặc,
được vay mượn từ thần thoại, truyền thuyết cổ (Ruồi của J.P.Sartre, Antigone của Anouinlh) hoặc hư cấu mới (Dịch hạch của A Camus, Chúa ruồi của Golding, Người đàn bà trong cồn cát của Abe Kobo) Do chỗ những kiểu
thức sinh tồn cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh là: bị bỏ rơi, sợ hãi, dằn vặt lương tâm, trạng thái con người “tha hóa” trong cái thế giới thù địch với nó… cho nên khi chuyển sang ngụ ý nó cũng thiên về các dạng: lo âu, chán chường, hoảng loạn Nhờ lối bản thể hóa siêu hình học ấy, văn học hiện sinh đã “tu bổ” lại sự sinh tồn, làm cho nó nếu chưa được nhận biết thì sẽ được nhận
biết” [12, tr 74]
1.2.1.3 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học
Ra đời với tính cách là một trào lưu triết học, chủ nghĩa hiện sinh đã lan rộng ở Đức, Pháp và nhiều nước khác trên thế giới Kêu gọi con người quay về với cá nhân mình, triết học hiện sinh cho ta thấy, không gì tha thiết với con người bằng chính con người Bởi thế, tiếng nói của hiện sinh đã được
Trang 22mọi người, nhất là thanh niên, lớp người nhiều lo âu về thân phận mình, chào đón nồng nhiệt Trào lưu triết học chủ nghĩa hiện sinh đã ảnh hưởng trực tiếp
và sâu sắc đến văn học và các ngành nghệ thuật khác, thậm chí ở nhiều nơi và nhiều lúc trở thành mốt, có xu hướng tách xa với các quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh Các nhà hiện sinh thế kỉ XX không chỉ trình bày những quan điểm của mình thông qua sách báo lý luận tư biện thuần túy mà họ còn chuyển tải tới đông đảo quần chúng bằng cả hình thức các tác phẩm văn chương (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, nghiên cứu văn học ) Do vậy mà mức độ phổ biến của triết học hiện sinh ngày càng trở nên sâu rộng Và như thế, triết học hiện sinh đã đi được vào đời sống và văn học một cách tự nhiên nhất có thể Con đường đi vào văn học của triết học hiện sinh, do đó, có thể coi là con đường trực tiếp mà các triết thuyết khác hầu như không có được Cũng từ đó xuất hiện một trào lưu văn học hiện sinh ở châu Âu, trước hết là ở Pháp vào những năm trước và sau chiến tranh thế giới thứ II với các đại diện
là những nhà văn đồng thời là những triết gia hiện sinh: G Marcel, J.P Sartre, A Camus; và tiếp đó, nhanh chóng lan rộng sang một số nước khác trên thế giới Bên cạnh văn học Pháp là văn học Tây Ban Nha (M.de Unamuno), văn học Anh (Iris Murdoch, W Golding), văn học Tây Đức (H.E Nossaeck, A Doeblin), văn học Nhật Bản (Abe Kobo) và nhiều nền văn học khác nữa
Triết học hiện sinh thường gắn với văn học, có lẽ bởi vì nó cùng có một đối tượng chung với văn chương, nó là thứ triết học gắn liền với con người, với cuộc sống và cái chết của con người Từ những người vốn được coi là cha đẻ của chủ nghĩa hiện sinh như Kierkegaard, Nietzsche đến những triết gia như Jaspers, Husserl, Marcel, Heidegger tuy là những nhà triết học thuần túy, nhưng họ lại rất chú ý đến văn học Đến thế hệ các nhà hiện sinh như Sartre, Simone de Beauvoir, Merleau-Ponty thì họ vừa viết những tác phẩm triết học thuần túy tư biện vừa sáng tác văn học để truyền bá triết
Trang 23thuyết hiện sinh Thậm chí có những người chỉ sáng tác như A Camus, Hermann Hesse… Triết học hiện sinh và văn chương hiện sinh rất phong phú
và phức tạp, tùy theo những biểu hiện khác nhau trong quan điểm của từng triết gia về hiện sinh Ví như ở Sartre và Camus, nhiều khái niệm cơ bản trong học thuyết của họ được giải thích rất khác nhau và họ sử dụng các phạm trù cũng khác nhau Do vậy mà cái hiện sinh biểu hiện trong văn học cũng mang màu sắc rất khác biệt Sự trải nghiệm cuộc sống diễn ra hàng ngày
đã làm cho các triết gia có những cảm nhận riêng không ai giống ai Cuộc sống ở “trạng thái đồ vật” đã làm cho Sartre buồn nôn, Camus thì cảm thấy phi lý, còn Heiddegger thì gọi nó là tầm thường…
Milan Kundera, một trong những nhà tiểu thuyết lớn nhất của thế kỉ
XX từng viết: tiểu thuyết “thể hiện trong mình “tinh thần của phức tạp”,
“hiền minh của hoài nghi”, nó không đi tìm các câu trả lời mà đặt ra các câu hỏi, nó nghiên cứu “không phải hiện thực mà hiện sinh”, nghiên cứu chính ngay bản chất sự tồn tại của con người” [77, tr 90] Mà bản thể mỗi con người lại vô cùng phức tạp, không dễ để định nghĩa rạch ròi Theo Sartre,
“mỗi vật có một bản thể và một hiện sinh Một bản thể, nghĩa là một tổng thể bền vững những thuộc tính và một hiện sinh, nghĩa là một hiện diện có thực nào đó trong thế giới… ở con người và chỉ ở con người thôi, hiện sinh có trước bản chất, con người phải tạo ra bản chất của chính nó, chính là bằng cách tự ném mình vào trong thế giới, đau khổ ở đấy mà con người tự định nghĩa dần dần, và cái định nghĩa luôn luôn mở ra” [78, tr 252]
Trong văn học hiện sinh thế giới, Sartre và Camus là hai kiểu nhà hiện
sinh tiêu biểu Sartre xây dựng một triết thuyết độc đáo của mình: chủ nghĩa hiện sinh hành động Sartre cho rằng, không có một bản chất có trước, mà
con người bằng hành động của mình phải tự tác thành lấy cuộc sống của mình Và con người là dự phóng của mình, cho nên nó phải chịu trách nhiệm với người khác Khi hành động, con người hoàn toàn tự do, buộc phải hoàn
Trang 24toàn tự do Tự do, với Sartre, không phải là thứ tự do trừu tượng, mà là thứ tự
do cụ thể của con người trong xã hội Bởi, con người lúc nào cũng đang sống trong một hoàn cảnh nào đó, nên nó buộc phải lựa chọn Và tự do của con người nằm trong sự lựa chọn này Vì vậy, chủ nghĩa hiện sinh hành động của Sartre khác với Camus là chủ nghĩa hiện sinh phi lý, với Marcel là chủ nghĩa hiện sinh Cơ đốc, với Marleau-Ponty là chủ nghĩa hiện sinh tương đối
Khác với Sartre, Camus không viết những tác phẩm hiện sinh thuần túy tư biện, nhưng triết lý hiện sinh thấm đẫm trong những tác phẩm văn học của ông Tư tưởng hiện sinh của Camus xoay quanh hai khái niệm mấu chốt
là cái phi lý và sự nổi loạn Cuộc đời, thực ra, tự thân nó không phi lý, cũng
như tự thân con người không phi lý Nhưng tính chất phi lý nằm ở chỗ một bên là cuộc đời đầy rẫy trái tai gai mắt mà bên kia con người sáng suốt lại đòi hỏi mọi sự phải rạch ròi Hai mặt ấy đối lập nhau kịch liệt, ấy vậy mà lại phải
hiện hữu bên nhau hàng ngày Những cuốn tiểu thuyết của Camus như Người
xa lạ, Dịch hạch, Caligula đã nói lên rằng, tính chất phi lý này là sự thật chủ
yếu của cuộc đời chúng ta Trên hành trình tư tưởng của mình, Camus đã khởi đầu từ cảm giác phi lý trước cuộc đời, bước qua tâm trạng nổi loạn nhằm mục đích bảo vệ các giá trị người, để cuối cùng đi tới chủ nghĩa nhân bản đặc biệt của ông: con người phải là mục đích tự tại và duy nhất của nó
Vậy là từ triết học chuyển biến vào văn học, chủ nghĩa hiện sinh cũng mang trong lòng nó những yếu tố, những khuynh hướng khác nhau, thậm chí
có khi là trái ngược với nhau Chính điều đó tạo nên sự đa dạng về mặt biểu hiện của các tác phẩm văn học hiện sinh, buộc người nghiên cứu phải đi sâu vào từng tác phẩm của từng tác giả cụ thể, mới khám phá được hết những nét biểu hiện độc đáo của chủ nghĩa hiện sinh thể hiện trong đó
Văn học hiện sinh đậm chất trí tuệ triết lý với những dấu hiệu cấu trúc
về sự lưu đày của thân phận con người trần thế (căn tính đau khổ, bệnh tật, chết chóc, sự không hiểu được “tha nhân” - kẻ khác) vào những cảnh ngộ
Trang 25hoàn toàn bị che đậy; về việc đưa ra những hành vi quyết định và lựa chọn của cá nhân Trong văn học hiện sinh, các nhà văn viết về cái phi lý, cái trực giác, cái bản năng của con người
Ra đời và phát triển rầm rộ trong một khoảng thời gian khá dài nhưng
về sau, phong trào văn học hiện sinh lâm vào tình trạng bất hòa và đi dần đến suy tàn trong thời kỳ “chiến tranh lạnh” Những tranh cãi triết học và văn học
về phương tiện để đạt mục đích, về đạo đức và cách mạng đã nhanh chóng trở nên căng thẳng về tư tưởng chính trị, làm phân rã chủ nghĩa hiện sinh thành những nhóm đối địch và càng đẩy nhanh nó tới gần sự suy tàn Vì những lý do khác nhau, chủ nghĩa hiện sinh đã không đứng vững được lâu dài trong lịch sử Và trào lưu văn học này đã chấm dứt lịch sử tồn tại của nó vào nửa sau những năm 50 của thế kỉ XX
1.2.2 Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Nhật Bản
Làn sóng phương Tây hóa đã có tác động lớn lao đến sự chuyển biến của nền văn học Nhật Bản thời kì cận - hiện đại Trong khi tiếp thu ảnh hưởng của các nhà văn phương Tây, văn học Nhật Bản đã hình thành những trào lưu, những trường phái khác nhau Một số nhà văn Nhật Bản, đặc biệt là thế hệ những người trưởng thành trong và sau chiến tranh, có nhiều cơ hội tiếp xúc với các tác gia phương Tây (Abe Kobo, Oe Kenzaburo…) đã chịu ảnh hưởng bởi các nhà văn hiện sinh tiêu biểu như J.P Sartre, A Camus hay
F Kafka… Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh là triết học của sự khủng hoảng, nảy sinh trong thời kì của những chấn động và tai biến xã hội Kiểu thức sinh tồn cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh là trạng thái con người tha hóa trong cái thế giới thù địch với nó, với các biểu hiện: lo âu, chán chường, hoảng loạn
Oe Kenzaburo là con đẻ của thời đại mà tư tưởng hiện sinh đang lan khắp toàn cầu Thêm vào đó, đất nước Nhật Bản thời ông sinh ra và trưởng thành đang ở trong thời kỳ hậu chiến khốc liệt, nhiều khủng hoảng và đổ vỡ, rất
Trang 26thích hợp cho sự du nhập và phát triển của tư tưởng hiện sinh Nhưng người
ta thường nhắc đến Abe Kobo với tư cách là tác gia có tư tưởng hiện sinh tiêu biểu của nền văn học Nhật Bản hiện đại
Thêm vào đó, trong quỹ đạo chung của sự biến đổi toàn cầu và những chuyển biến trong lịch sử thời kì hiện đại, các nước phương Đông, trong đó
có Nhật Bản cũng không nằm ngoài quy luật Cuộc chiến tranh thế giới có tác động trực tiếp đến đất nước này trên mọi lĩnh vực của đời sống Những cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị diễn ra, thậm chí trên cả lĩnh vực tinh thần Chiến tranh làm con người hoang mang trước số phận cuộc đời mình, họ không hiểu cuộc đời sẽ đi về đâu và con người sẽ là gì trong cái vòng xoáy của vũ trụ, nơi những biến thiên lịch sử diễn ra triền miên, dai dẳng
Đất nước Nhật Bản bước vào thời kì hiện đại và thực hiện quá trình hiện đại hóa một cách nhanh chóng cũng đã tạo nên những biến đổi lớn lao trong đời sống xã hội Nhật Bản Con người bị đẩy vào guồng quay của xã hội
ấy, khiến nhiều khi họ mất đi bản ngã của mình Chiến tranh chà đạp lên số phận con người, biến cuộc đời con người thành bể khổ Không ít những nhà văn đã cất lên tiếng nói đau đớn cho thân phận con người, lên án chiến tranh, lên án xã hội là những nguyên nhân trực tiếp đẩy con người vào những cảnh huống trớ trêu ấy Cũng không ít trong số họ đã trực tiếp chứng kiến những cảnh ngộ thương tâm, bi đát của kiếp người trong khi vật lộn với cuộc chiến tranh để sinh tồn, với cả những biến chuyển liên hồi của xã hội Dấu hỏi lớn
về thân phận con người, về số kiếp người dường như là không có lời giải đáp
Nếu như ở Pháp, văn học hiện sinh phát triển mạnh mẽ nhất và trở thành một trào lưu được phổ biến rộng khắp vào những năm trước và sau chiến tranh thế giới thứ II, thì ở Nhật Bản, văn học hiện sinh không phát triển đến độ mạnh mẽ như thế Nó không quy tụ vào một nhóm tác giả, một trường phái hay khuynh hướng văn chương cụ thể nào Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Nhật Bản không nở rộ như một trào lưu trong văn học phương Tây
Trang 27mà nó tồn tại riêng lẻ như những yếu tố trong tác phẩm hay trong phong cách của một tác giả Tuy vậy, những yếu tố của chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trong tác phẩm của một số tác giả lại mang tính chất tiêu biểu và có những biểu hiện đặc sắc Cần phải thấy rằng ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học phương Tây khi chuyển thể vào Nhật Bản đã tạo ra những nét riêng, mang hồn cốt của con người, của dân tộc này - một dân tộc dù đã Âu hóa nhiều song vẫn còn những bản sắc Á Đông rõ rệt Mặc dù không phát triển thành trào lưu văn học hiện sinh mạnh mẽ và phổ biến như ở Pháp, nhưng văn học hiện sinh Nhật Bản đã tồn tại và đạt được những thành tựu nổi bật ở một số tác giả Trong đó, nổi bật nhất là nhà văn Abe Kobo
Như đã nói, Nhật Bản là một quốc gia phương Đông Và trong một thời gian dài trước đó, đã chịu ảnh hưởng của văn hóa, văn minh Trung Hoa
Vì vậy, nó vẫn mang trong mình những nét riêng về lịch sử, về văn hóa, khác biệt rõ rệt với Tây phương Cho nên, quan niệm về con người, về cá nhân trong văn học cũng có những nét khác biệt so với phương Tây Do ảnh hưởng
từ phương Tây, một số nhà văn Nhật đã ngả theo lối viết hiện sinh chủ nghĩa
và tác phẩm của họ đã đạt được nhiều giá trị Những nhà văn thế hệ Showa
30 (1955 về sau) có khuynh hướng đi tìm một thủ pháp mới tìm cách bắt gặp con người toàn thể như một sinh vật có tính xã hội và chính trị (Kaiko Takeshi (1930-1989), Oe Kenzaburo (1935-), Inoue Mitsuharu (1926-1992)…) Trong số đó có cả nhà văn Abe Kobo Các nhà văn này muốn tìm hiểu đâu là lối sống thích hợp của con người trong những điều kiện xã hội hiện đại
Văn học hiện sinh bao giờ cũng miêu tả đời sống như như một thảm kịch, một hư vô, như những bờ vực thẳm mà con người bị treo chơi vơi và lơ lửng Ở đó, họ hoàn toàn bất lực Thế nhưng, trong tác phẩm của Abe Kobo,
ta vẫn thấy có một điểm tựa để con người không sa vào bế tắc tuyệt đối, mà lúc nào họ cũng có ý chí vùng vẫy để thoát ra - bằng hành động của chính
Trang 28mình Điểm tựa ấy chính là bản thân con người, bản thân cuộc sống mà Abe Kobo đã tìm thấy Đó chính là sắc thái riêng của chủ nghĩa hiện sinh trong tác phẩm của Abe Kobo
Như một điều tất yếu, khi văn học hiện sinh Pháp và thế giới rẽ theo những ngả khác nhau tùy vào quan điểm của các nhà hiện sinh chủ nghĩa, thì văn học hiện sinh Nhật Bản cũng có những biểu hiện vô cùng đa dạng của nó, làm nên những sắc thái riêng của nền văn học ấy và góp phần làm phong phú thêm cho diện mạo nền văn học nước này Khi đi sâu vào tìm hiểu những sắc thái của chủ nghĩa hiện sinh thể hiện trong hai tác phẩm của Abe Kobo, chúng tôi chú ý phân tích những biểu hiện đa dạng về hiện sinh mà các tác phẩm đó chứa đựng
1.3 Các tác phẩm văn học hiện sinh của Abe Kobo
(Abe Kobo - 安部公房; bút danh: Kimifusa; 1924-1993), nhà văn, nhà soạn kịch Nhật Bản Bố ông là bác sĩ dạy học tại Trường Đại học Y ở Mucđen (Mukden) [nay là Thẩm Dương (Shenyang)], Trung Quốc Abe Kobo sống ở đó đến năm 17 tuổi Năm 1941, ông trở về Tôkyô để học ngành
y nhưng lại theo đuổi nghề văn và trở thành một nhà văn nổi tiếng của Nhật Bản Chủ đề thường gặp trong tác phẩm của Abe Kobo là tâm trạng cô đơn của con người sống trong xã hội công nghiệp Ở giữa những nơi đô thị, chật chội, ồn ào, vô tình và độc ác, con người có cảm tưởng lạc vào mê cung, luôn luôn tìm “đường sinh” để thoát ra nhưng không bao giờ tìm thấy Tác phẩm
chính của ông là: "Người đàn bà trong cồn cát" (1962), "Khuôn mặt người khác" (1964), "Người hộp" (1973) và nhiều tập truyện ngắn khác
Abe Kobo được coi là nhà văn có tư tưởng tiên phong, đi trước thời đại của văn đàn Nhật Bản thế kỉ XX Qua các tác phẩm của ông, độc giả tìm thấy những môtíp về sự trốn chạy, sự săn đuổi, sự xa lạ với chính mình và với mọi người xuyên suốt các sáng tác Ở giữa sự phi lý, kỳ dị đó, thân phận con
Trang 29người được miêu tả giống như một quá trình không có khởi đầu và kết thúc, không còn tồn tại trong không gian và thời gian Ở đó con người chỉ tự mình
ra đi và tự mình sinh trưởng, giữa họ không có điểm tương đồng Với nhiều chủ đề đa dạng, phong cách sáng tác độc đáo và sự thành công trong nhiều thể loại sáng tác, tên tuổi của Abe Kobo được nhiều người trên thế giới biết đến và khâm phục
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu có tiếng ở Nhật Bản và thế giới, Abe Kobo là nhà văn sáng tạo vào bậc nhất nước Nhật, với phong cách tiền
vệ (advant-garde) đi trước thời đại Ông cũng là nhà văn hiện sinh tiêu biểu
của văn học Nhật Bản hiện đại Trong tác phẩm của mình, ông đã thể hiện những vấn đề con người, những vấn đề của chủ nghĩa hiện sinh với một bút pháp nghệ thuật độc đáo, mới mẻ và hấp dẫn Ông được coi là một trong số ít những nhà văn có văn phong độc đáo nhất ở Nhật Tác phẩm của ông đào sâu vào những vấn đề của thân phận con người, của tự do cá nhân với một giọng văn khô khan nhưng chính xác, mang tính biểu tượng cao độ Không sáng tác theo lối truyền thống như Kawabata hay một số nhà văn khác, cũng không giống với các nhà văn học tập phong cách phương Tây, Abe tìm cho mình một lối viết mới mẻ, tạo nên phong cách nghệ thuật đặc sắc của riêng mình
Abe Kobo sinh ra và lớn lên trong thời kì nước Nhật có nhiều biến động về chính trị, kinh tế và xã hội Trải qua cuộc chiến tranh thế giới thứ II với từng bước vươn lên của đất nước và con người ở đó, Abe Kobo thấm đẫm những nỗi niềm về thân phận con người trong xã hội công nghiệp Vấn đề thân phận con người không chỉ nổi lên trong cuộc chiến tranh thê thảm của sự chết chóc, bần cùng; mà còn đặc biệt lộ rõ trong quá trính nước Nhật trở nên một cường quốc tư bản ngày càng giàu mạnh Khi đó, mọi giá trị dường như
bị đảo lộn, con người mất đi bản ngã của chính mình, bị dồn vào guồng quay của xã hội công nghiệp Vấn đề cá nhân, con người được các nhà văn thế hệ sau chiến tranh đặc biệt quan tâm Cùng với sự tiếp nhận những ảnh hưởng
Trang 30của sách báo và văn hóa phương Tây, Abe Kobo đã sáng tạo nên một cách viết thật độc đáo, riêng biệt Tác phẩm của ông tạo nên sự tò mò và những tìm tòi, suy ngẫm sâu sắc trong lòng độc giả Nếu như Oe Kenzaburo, qua những biểu hiện của con người tha hóa trong tác phẩm, muốn gửi gắm tới độc giả thông điệp về tâm trạng của thế hệ người Nhật sau chiến tranh với nhiều
đổ vỡ và mất mát; thì Abe Kobo, thông qua các biểu tượng và ẩn dụ, muốn đặt vấn đề cái hiện tồn, hiện sinh của con người trong xã hội tư bản công nghiệp Sự hiện tồn của con người trong tác phẩm của ông trở thành một vấn
đề nhức nhối, có khi con người bị rơi vào trạng thái bi đát, không lối thoát Các tác phẩm cũng chứng tỏ tài năng độc đáo của nhà văn với nhiều thủ pháp nghệ thuật hiện đại
Abe Kobo không trực tiếp chịu ảnh hưởng của các tác giả hiện sinh phương Tây (đến mức như Oe say mê tác phẩm của Sartre) nhưng những vấn
đề mà ông đặt ra trong một số tác phẩm của mình đã cho thấy lối viết hiện sinh chủ nghĩa thấm đẫm trong sáng tác của ông Với lối viết siêu thực đi trước thời đại, ông đã sáng tạo nên những tác phẩm đặc sắc, đi sâu vào các vấn đề con người và thân phận con người trong đời sống xã hội Nhật Bản thời kì đó với không khí thật ngột ngạt, trong đó con người phải gắng đi tìm
tự do và sự lựa chọn cho chính bản thân mình Ông được coi là nhà văn hiện sinh tiêu biểu của nền văn học hiện đại Nhật Bản Trong tác phẩm của mình, nhà văn đã thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa hiện sinh với một bút pháp
nghệ thuật độc đáo, mới mẻ và hấp dẫn, đặc biệt trong hai tác phẩm Người đàn bà trong cồn cát và Khuôn mặt người khác của nhà văn Chúng tôi chú
trọng soi xét hai tác phẩm trong hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội Nhật Bản thời kì nước Nhật thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dẫn tới những thay đổi lớn lao trong đời sống xã hội, tác động sâu sắc đến cuộc sống con người Là một nhà văn thuộc thế hệ Showa 30 (1955 trở đi), Abe Kobo muốn tìm hiểu đâu là lối sống thích hợp của con người trong những
Trang 31điều kiện của xã hội hiện tại Nó buộc con người phải lựa chọn tự do cho riêng mình
Nhà nghiên cứu Phạm Vũ Thịnh đã nhận xét rằng: “Trước Murakami Haruki trên 20 năm, Abe Kobo đã được biết đến như một tác gia Nhật Bản nổi tiếng quốc tế về các tác phẩm vượt khỏi mỹ quan truyền thống Nhật Bản, sáng tạo mới mẻ, dùng nhiều ẩn dụ, ngụ ngôn, nhiều hình tượng cụ thể hay siêu thực để diễn tả nội tâm và tiềm thức của con người bị tha hóa, vong ngã trong xã hội đô thị ngày càng tiện lợi và máy móc” [79]
Tác phẩm của Abe Kobo đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới
và được độc giả mến mộ Ông vẫn thường được xem là một “nhà văn quốc tế” với ý nghĩa là nhà văn được nước ngoài đọc hiểu mà không phải đụng chạm những tính cách “thuần Nhật” Tác phẩm của ông hiển nhiên chẳng liên quan gì đến anh đào nở hoa hay núi Phú Sĩ đầy tuyết trắng Nhân vật của ông
là cư dân của những thành phố hiện đại trong các xứ sở công nghiệp mà ta có thể bắt gặp ở mọi nơi trên toàn thế giới Con người bị tha hóa trong xã hội tư bản là đề tài quen thuộc của Abe Kobo Với tư tưởng triết lý tiềm tàng trong văn mạch và cách viết mới mẻ, ông là nhà văn tiên phong của Nhật có một danh tiếng quốc tế đáng kể
Tác phẩm Người đàn bà trong cồn cát in năm 1962 đã nhận được giải Độc mãi văn học thưởng (Yomiuri Bungakusho - 読売文学賞) và giải thưởng
cao nhất của Pháp dành cho tác phẩm văn học nước ngoài Cuốn tiểu thuyết
được biết đến nhiều nhất trên thế giới nhờ các bản dịch ra tiếng nước ngoài
và cuốn phim của đạo diễn Teshigahara Hiroshi vào năm 1963 Bộ phim này cũng đã được giải thưởng đặc biệt tại liên hoan phim Canes
Câu chuyện kể về Niki Jimpei, một giáo viên trung học có sở thích sưu tầm côn trùng Nhân một kì nghỉ cuối tuần, anh đã đi tới một làng cát ven biển, nơi mà những cồn cát cao hơn cả các mái nhà đến chục mét và ngôi làng có nguy cơ bị cát chôn vùi bất cứ lúc nào Anh hy vọng tìm được những
Trang 32con côn trùng cánh cứng để bổ sung vào bộ sưu tập của mình Bị lỡ chuyến
xe buýt cuối cùng về thành phố, anh ngỏ ý ở trọ qua đêm và được dân làng đưa anh xuống trọ tại nhà của một thiếu phụ nằm sâu dưới hố cát và lên xuống bằng một chiếc thang dây Trong hố cát, có một người đàn bà sống để hàng ngày dọn cát cho ngôi nhà không bị cát chôn vùi như bao nhiêu ngôi nhà khác trong làng Chồng và con chị đã bị cơn bão cát năm trước vùi mất xác không tìm thấy Đinh ninh là chỉ ngủ trọ lại đó một đêm nhưng sáng hôm sau tỉnh dậy, anh nhận ra chiếc thang dây đã biến mất Hóa ra anh đã bị sập vào cạm bẫy của dân làng, giống như người bán bưu ảnh hay một chàng sinh viên bán sách cũ trước đó Họ định bắt ép anh làm công việc dọn cát cùng người đàn bà Không thể chịu đựng được một sự thực vô lý như thế diễn ra với mình, anh tìm đủ mọi cách để thoát ra khỏi hố cát ấy Anh leo vách tường cát để thoát lên trên nhưng lại bị cát làm tụt xuống Anh xúc cát để hạ bớt độ dốc thì cát lở đổ ập vào người Anh lấy cớ nói chuyện phải trái với dân làng
để họ thả anh ra… Nhưng tất cả những hành động của anh đều thất bại Thậm chí, anh không làm việc và giả vờ ốm để dân làng gọi bác sĩ đến, anh trói người thiếu phụ không cho chị xúc cát để họ phải nhượng bộ anh Nhưng dân làng đã không cung cấp nước cho họ trừ khi họ bắt đầu làm việc trở lại Không thể làm gì được, anh trút mọi bực tức lên đầu người thiếu phụ, nhưng chị có một sức chịu nhẫn nhục đến lạ thường Chị hầu như câm lặng, không đối thoại với anh Vậy là anh càng trở nên tuyệt vọng Anh không thể hiểu nổi sao con người ta lại có thể sống một cuộc sống luẩn quẩn và vô nghĩa đến như vậy Ban ngày họ ngủ, ban đêm họ dọn cát Ngày nào cũng như ngày nào Họ sống để dọn cát và dọn cát để sống Mọi sinh hoạt đều thấm cát: ăn dưới một cái ô để che cát, ngủ để trần cơ thể cho cát khỏi lọt vào làm loét thịt
da Cuộc sống ấy thật ngoài sức tưởng tượng của anh Lúc nào anh cũng nung nấu kế hoạch và ý định vượt thoát khỏi đây
Trang 33Thời gian trôi đi và anh nghĩ rằng anh phải ra khỏi đây càng nhanh càng tốt Có một lần, với sợi dây thừng được kết bằng những dải áo kimônô
và vài thứ khác, anh đã lên được trên miệng hố Lợi dụng trời về tối có sương
mù, anh định bụng băng qua làng ra đường cái để thoát thân Nhưng kế hoạch chạy trốn không thành, bởi trong khi bị dân làng phát hiện và rượt đuổi, anh mắc bẫy của họ và bị sa vào vũng cát lầy Đối mặt với cái chết, anh đã van xin họ cứu anh lên, thà chấp nhận cuộc sống trong hố cát Cũng từ đó anh trở nên trầm lặng hơn và dường như chấp nhận cuộc sống với người thiếu phụ Anh làm các công việc thường ngày: sàng gạo, rửa bát và xúc cát ban đêm, đến nỗi sau một tháng anh quên hẳn trên đời lại có cái gọi là báo chí
Trong thâm tâm, anh vẫn nung nấu ý chí vượt thoát khỏi nơi này Anh làm chiếc bẫy quạ trên nóc nhà hòng viết thư buộc vào chân nó Anh chấp nhận rủi ro có thể bị dân làng phát hiện lá thư Nhưng chẳng có con quạ nào
sa lưới Đổi lại, anh phát hiện ra rằng, nước đọng lại trong chiếc gầu bẫy quạ rất nhiều Vậy là một niềm hy vọng mới trỗi dậy trong anh, anh như tìm được
ý nghĩa của cuộc sống mới ở nơi đây Anh hiểu rằng, bằng việc tìm ra cách lấy nước từ trong mạch ngầm của cát, anh sẽ có tự do bất cứ khi nào anh muốn Bởi vì anh không còn phải phụ thuộc vào dân làng Vào một ngày trời
ảm đạm, người đàn bà chửa ngoài dạ con phải đưa đi cấp cứu Chiếc thang dây còn đó để anh leo lên miệng hố, nhưng anh tự nhủ không vội ra đi Anh còn nhiều cơ hội khác mà dân làng không thể trói buộc anh được nữa Câu chuyện kết thúc với thông báo mất tích của Tòa án nội vụ sau bảy năm ròng không một mảy may tin tức, và anh được coi như đã chết
Câu chuyện tuy đơn giản nhưng lại có sức hấp dẫn độc giả đến lạ lùng Người đọc cứ chăm chú dõi theo từng hành động của nhân vật, bồi hồi trước
kế hoạch vượt thoát tưởng chừng như rất hoàn hảo rồi cuối cùng lại thất vọng Nếu như trong tác phẩm, tác giả để cho nhân vật nếm trải bao nhiêu tâm trạng, thì người đọc, cũng như thế, đi hết từ cảm xúc này sang cảm xúc
Trang 34khác, từ đầu đến cuối tác phẩm Cát, người đàn bà cũng gây ra cho độc giả biết bao sự tò mò, khó hiểu và mong muốn được giải đáp những thắc mắc riêng Không nhiều nhân vật, không nhiều đối thoại, câu chuyện lại chỉ tập trung trong khoảng không gian nhỏ hẹp của một hố cát, ấy vậy mà nó có sức cuốn hút đến lạ kỳ Có thể nói, tài năng của Abe Kobo chính là ở chỗ đó
Cuốn tiểu thuyết Khuôn mặt người khác in năm 1964 cũng là một tác
phẩm tiêu biểu của Abe Kobo về đề tài hiện sinh chủ nghĩa Câu chuyện kể
về một nhân vật là chủ nhiệm phòng nghiên cứu hóa chất cao phân tử tại một Viện khoa học, bỗng dưng bị hỏng cả khuôn mặt do nổ oxy lỏng Từ khuôn mặt bị phá hỏng đã dẫn đến nhân cách của anh cũng dần bị hủy hoại Bề ngoài cố giữ vẻ bình thản với khuôn mặt quấn băng, nhưng từ đó trong anh bùng nổ cơn bão của tâm trạng dằn vặt, suy tư dữ dội, luôn đau khổ và mặc cảm, hoài nghi ở thái độ mọi người đối với bộ mặt kỳ dị của mình Đồng nghiệp của anh ngại tiếp xúc với anh, đến cả người vợ cũng e sợ anh khi anh muốn gần gũi cô với khuôn mặt quấn băng kín mít
Với nỗ lực lấy lại những gì đã bị mất đi khi khuôn mặt bị tàn phá, giành lại tình yêu của người vợ, anh ta đã quyết định sáng chế ra một chiếc mặt nạ hoàn hảo Anh thuê một căn hộ nằm sâu trong góc khuất của thành phố, theo như anh mô tả trong thư gửi cho vợ là “thế là em đã vượt qua được cái mê cung rắc rối mà tìm đến” Anh thuê một người đàn ông hoàn toàn xa
lạ để lấy mẫu khuôn mặt và để không bao giờ phải gặp lại người đàn ông đó trong đời Chiếc mặt nạ hoàn thành, anh lại dùng nó để đi quyến rũ vợ mình Khuôn mặt anh bị tàn phá, thế giới của anh sụp đổ, tinh thần anh suy sụp, anh mất tự tin vào bản thân mình Anh muốn dùng chiếc mặt nạ để khôi phục lại
sự tự tin, giành lại chính bản thân mình: một cuộc chiến đầy mâu thuẫn và bi kịch Nhưng rồi anh nhận ra mình dần bị chi phối bởi tính cách của cái mặt
nạ Anh không những chẳng đạt được mục tiêu chiến thắng bản thân, khẳng
Trang 35định con người mình mà còn dần đánh mất chính bản thân và đang dần hóa thân vào chiếc mặt nạ!
Khi anh dễ dàng quyến rũ được người vợ, anh bàng hoàng đau xót nghĩ rằng vợ mình sao có thể sa ngã quá dễ dàng như thế với một người đàn ông
xa lạ (dù người ấy cũng chính là anh - chồng cô - nhưng dưới chiếc mặt nạ) Rồi anh lại tiếp tục luẩn quẩn trong vòng bi kịch của chính mình: anh và chiếc mặt nạ, đâu mới là cái có thực? Cuối cùng anh không muốn gặp vợ nữa
mà gửi cho cô một lá thư chỉ dẫn tỉ mỉ đường đến căn hộ anh đã bí mật thuê, phơi bày tất cả sự thực cho cô xem: chiếc mặt nạ và toàn bộ câu chuyện gói ghém trong ba quyển sổ
Thế nhưng anh ta đã lầm Từ đầu đến cuối chiếc mặt nạ chẳng giúp anh cải thiện được bất cứ điều gì, thậm chí nó cũng chẳng thực hiện được nhiệm
vụ cơ bản nhất của mặt nạ: che giấu nhân dạng của người đằng sau nó Và hơn ai hết, vợ anh là người biết rõ nhất con người anh Cô đã vạch trần gần như toàn bộ con người thực của anh ta, trong một bức thư ngắn ngủi, có thể xem như một lá thư chia tay Người vợ ấy sẽ không trở về nữa, chiếc mặt nạ cũng không còn cần thiết nữa Anh cần gì đến mặt nạ khi còn không biết mặt
nạ là mặt nạ hay mặt thật của anh Tác phẩm kết thúc khi anh còn lại một mình, vô cùng cô độc và bất lực trong nỗi phẫn uất cùng cực đối với cả xã hội
và cuộc sống đang vây quanh mình Đoạn kết tác phẩm đã in dấu sâu đậm trong lòng độc giả Đó là chuyện kể về một bộ phim mà nhân vật chính chợt nhớ đến sau khi đọc xong bức thư của người vợ: về cô gái xinh đẹp có khuôn mặt bị bom hủy hoại mất một bên Tác phẩm làm ta liên tưởng đến một
truyện ngắn của Andersen: Cái bóng Một nhà bác học đồng hành cùng cái
bóng của ông Cái bóng không có những kiến thức, tâm hồn như ông: nó chỉ
là cái bóng; nhưng nó thay ông tiếp xúc với con người ở thế giới bên ngoài Nhà bác học sống trong tháp ngà Người ta tưởng cái bóng là nhà bác học Đến một ngày, cái bóng càng lúc càng hiện hữu, nhà bác học càng lúc càng
Trang 36nhạt nhòa Người ta tin rằng cái bóng chính là nhà bác học, còn nhà bác học lại là cái bóng của chính ông Rồi cái bóng xui người ta giết nhà bác học Cái vốn không có thực lại tồn tại, cái vốn có thực thì bị hủy diệt
Câu chuyện đơn giản nhưng có sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi tính chất bí hiểm và thú vị cộng với sự sâu sắc đầy trí tuệ xuyên suốt những trang suy tư giàu chất triết lý, được trình bày dưới dạng các trang viết của người chồng
“tự thú” với vợ về tất cả sự việc đã diễn ra trong bi kịch cá nhân của mình Các khía cạnh của tâm hồn con người đã được mổ xẻ cực kỳ tinh tế và phô bày ở trạng thái sống động tất cả các dạng vẻ phức tạp của nó và qua từng nét suy tư của nhân vật, là những vấn đề về cuộc sống tự nhiên và xã hội rộng lớn - những vấn đề khiến người đọc phải suy nghĩ khi đã gấp sách lại Tác phẩm của Abe Kobo đã đề cập đến những vấn đề về con người, về cuộc sống trong một xã hội công nghiệp hiện đại, với mọi sắc thái hiện hữu của nó trong lòng nước Nhật tư bản chủ nghĩa Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu vấn đề chủ nghĩa hiện sinh trên các khía cạnh: nhân vật, không-thời gian và một vài bút pháp nghệ thuật đặc sắc khác trong hai tác phẩm trên
Trang 37Chương 2 NHÂN VẬT HIỆN SINH TRONG HAI TÁC PHẨM CỦA ABE KOBO 2.1 Nhân vật với cái phi lý của sự tồn tại và sự trốn chạy khỏi thực tại
Với việc trình bày về văn học hiện sinh ở trên, có thể thấy, nhân vật là tâm điểm quan trọng nhất trong tác phẩm văn học hiện sinh của nhà văn Qua nhân vật văn học - con người, nhà văn hiện sinh đã gửi gắm cả quan niệm nghệ thuật về con người và xã hội, cả những tư tưởng triết học về tự nhiên và
xã hội để đạt được ý đồ nghệ thuật của mình Vì thế, chúng tôi thấy cần thiết
đi sâu vào bình diện xây dựng nhân vật, hệ thống nhân vật trong hai tác phẩm của Abe Kobo
Chủ nghĩa hiện sinh nêu lên hai đặc trưng về con người: 1) Tính chủ thể của con người, con người tự tạo nên mình, tự làm cho mình thành người 2) Sự tự khẳng định đó chính là sự lựa chọn cơ bản, lựa chọn tự do Trong
cuốn tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát, Abe Kobo đã để cho nhân vật
của ông nếm trải đủ thứ tình cảm, từ sự ngạc nhiên, khó hiểu, sợ hãi cho đến dục vọng, thất vọng và cuối cùng là sự tự hào, tự tin vào lựa chọn của chính bản thân mình Suốt quá trình trải nghiệm ấy, nhân vật thấm thía sự phi lý của thân phận con người và luôn cố gắng để tìm cách vượt thoát ra Ngay từ đầu tác phẩm, Abe Kobo đã đặt nhân vật vào trong một hoàn cảnh dường như là giả tưởng, hoàn toàn không có thực Có thể nhận thấy một sự tương hợp kỳ lạ giữa tư tưởng của Abe Kobo gửi gắm qua tác phẩm với tiến trình suy tưởng của Martin Heidegger - một triết gia của chủ nghĩa hiện sinh phương Tây thế
kỉ XX Khởi điểm suy tư của Heidegger: con người là một hữu thể bị quăng
ném vào cõi nhân sinh Cũng như thế, nhân vật trong tác phẩm Người đàn bà trong cồn cát là một người đàn ông mà đến tận trang cuối cùng của tác phẩm,
chúng ta mới biết tên anh là Niki Jimpei nhờ bản thông báo mất tích của Tòa
án Ngay mở đầu câu chuyện, nhân vật ấy bị đẩy vào một hoàn cảnh thật trớ trêu: rơi vào cạm bẫy của dân làng cát, phải sống trong hố cát sâu ngoài dự
Trang 38tưởng của mình mà không có cách nào thoát thân ra được Thoạt đầu anh rất ngạc nhiên, ngạc nhiên vì sự bắt giữ người trái phép và vô lý, rồi ngạc nhiên
về công việc lao động thường ngày của dân làng Người dân ở đây dọn cát hằng đêm để chống đỡ cho từng ngôi nhà khỏi bị cát lở, và bằng cách làm việc miệt mài, họ được dân làng cung cấp cho thức ăn, nước uống Thế rồi, anh cảm thấy bực bội và bắt đầu nghi ngờ về một điều gì đó mờ ám đang diễn
ra mà anh không được biết Và điều đầu tiên mà anh nhận thấy là, ban đêm ở đây có vẻ náo động hơn ban ngày Hóa ra cuộc sống của người dân ở đây là như thế Họ ngủ vào ban ngày và dọn cát vào ban đêm Anh bật cười ngạc nhiên hơn nữa khi nghe chị phụ nữ nói về cái thứ “tình yêu dành cho nơi chôn nhau cắt rốn của mình”
Trong thâm tâm mình, anh không mảy may có ý định gia nhập cái cuộc sống kỳ dị này chút nào! Nhưng đúng là chỉ có anh ngạc nhiên thôi, còn tất cả những người khác đều bình thản Họ coi việc dọn cát là cả cuộc sống của họ, giống như cái khẩu hiệu treo trước cổng làng: “Hãy yêu nhà của bạn!” Ngạc nhiên, ấy chính là khởi điểm của suy tư Sự ngạc nhiên ngày một tăng sẽ dẫn anh đến sự tò mò, buộc anh phải tìm hiểu cho rõ cái hoàn cảnh mà mình bị rơi vào Và điều đầu tiên anh tìm thấy chính là sự phi lý của thân phận, của hiện tại mà cụ thể là cuộc sống của dân làng nơi đây Anh ngạc nhiên không hiểu tại sao người dân ở đây không đi nơi khác để sống, hay tại sao người ta không làm một cách hữu hiệu hơn việc bỏ phí sức lao động hàng ngày của
Trang 39con người thay bằng việc trồng những hàng cây chắn cát dọc bờ biển? Tại sao người ta cứ mặc nhiên chấp nhận kiếp sống ấy mà không hề kêu ca điều
gì, mà vẫn sống hồn nhiên như cây cỏ? Và trên hết, tại sao người ta lại cố tình giữ anh ở chốn này, nơi anh hoàn toàn xa lạ, nơi anh không thuộc về nó? Đành rằng anh đi xa thành thị mấy ngày là bởi sở thích sưu tập côn trùng và chẳng qua anh muốn xa lánh “cái cảnh sống nặng nề trách nhiệm và nhàm chán tại thành phố mà thôi” [1, tr 38] Nhưng đường đường anh là một giáo viên, một công chức nhà nước, có thẻ căn cước và đóng đầy đủ các loại thuế
và bảo hiểm Lẽ nào người ta dám giam hãm anh ở đây mà không sợ sự can thiệp của chính quyền, của những cuộc tìm kiếm người mất tích! Mọi suy tính của anh đều có vẻ như hợp lý, nhưng ngay sáng hôm sau tỉnh dậy, khi thấy chiếc thang dây biến mất, anh đã bàng hoàng và hoảng hốt, tưởng như không thể nào tin được
Trong tác phẩm, Abe Kobo hầu như không nhắc đến cuộc sống nơi thành thị của nhân vật Tác giả chỉ nói qua rằng, đó là một cuộc sống nhàm chán mà anh - một giáo viên trung học đôi khi cảm thấy nặng nề vì trách nhiệm Và thực tế là không có lý do gì để người đàn ông này tự ý rời bỏ nhà
ra đi Theo những gì điều tra được, người ta cho biết anh không chết, không
tự tử, không bị bắt cóc, không bỏ đi, cũng không phải có một người đàn bà dính dáng vào Vợ anh cho biết mục đích cuộc hành trình của anh là để sưu tập các mẫu côn trùng Thật lạ lùng là tất cả các đầu mối về sự việc xảy ra đối với người đàn ông này đều không hề có chút dấu vết nào Chỉ duy có một người làm công tại ga xe lửa S nhớ rằng có một người đàn ông đã xuống tàu
“Người ấy có dáng dấp của một nhà leo núi vai đeo bình nước và chiếc hộp
gỗ mà ông đoán là hộp đựng đồ vẽ” [1, tr 6] Tất cả những giả thuyết, những phán đoán về cuộc ra đi bất thường của anh ta đều không có một cơ sở nào để khẳng định chắc chắn cả Nghĩa là, cuộc sống hiện tại của anh ở chốn đô thành, dẫu đôi lúc có nhàm chán, nhưng hoàn toàn không phải là một cuộc
Trang 40sống vô nghĩa đối với anh Anh vẫn có gia đình, vẫn có công việc, vẫn là một công dân thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ và trách nhiệm của mình Không ai nghi ngờ gì ý muốn và lý do tồn tại của anh “Cuốn sách đang đọc dở còn mở khi anh để sách xuống… Số tiền lẻ anh bỏ trong túi áo đồng phục của cơ quan… cuốn ngân phiếu chưa rút tiền ra… phong thư dán tem trong có tờ đặt mua một bộ sưu tập sắp gửi đi… Tất cả những cái đó chứng tỏ anh vẫn muốn tiếp tục sống” [1, tr 84]
Sự phi lý bắt đầu xảy ra là khi anh bị lâm vào hoàn cảnh trớ trêu tưởng như kiếp sống ngục tù trong hố cát và chứng kiến cuộc sống hàng ngày, hàng giờ của con người ở nơi đây Bữa ăn đầu tiên có canh nấu với sò và cá luộc Đúng là một bữa ăn miền biển Nhưng đúng lúc anh bắt đầu ăn, người đàn bà bắt đầu giương một chiếc dù rộng bằng giấy và che trên đầu anh Thoạt tiên anh ngạc nhiên không hiểu liệu đây có phải là một phong tục của miền này không Chị giải thích rằng nếu không che dù thì cát sẽ rơi xuống đồ ăn mất
- Cát vào nhà bằng mọi ngả Mỗi ngày cát rơi xuống khoảng hai phân rưỡi nếu em không quét nó đi [1, tr 23]
Trong trận bão cát năm ngoái, chồng và con chị đã bị cát chôn sống cùng với dãy chuồng gà mà không thể nào tìm thấy xác Biết bao gia đình ở cái làng này cũng phải chịu cảnh sống mất người thân như vậy Nhưng họ vẫn ở lại đây, hàng ngày chống chọi lại với cát để bảo vệ ngôi nhà của mình, bảo vệ cả cái làng ấy Ban đêm ở đây náo động hơn ban ngày, bởi ban ngày
họ ngủ, còn ban đêm họ dọn cát, vì lúc này cát dễ dọn hơn do cát ẩm Nhà nào cũng vậy Mỗi thúng cát xúc đầy được người ta thả dây thừng từ trên miệng hố kéo lên và chở đi bán rẻ Cả ngôi làng bị cát tàn phá mà con người nơi đây vẫn bám trụ và cố gắng hết sức để chống đỡ cho ngôi nhà của mình, giống như có một sự ràng buộc nào đó thật chặt chẽ Công việc của người phụ nữ và của cả dân làng nơi đây là như thế, cứ lặp đi lặp lại, mà theo anh
nó thật là vô hiệu: