1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ thơ thạch quỳ

93 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 349 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Chúng tôi xác định nội dung luận văn phải giải quyết những vấn đề sau đây: - Từ cách hiểu về thơ, ngôn ngữ thơ nhận diện những nét đặc sắc thơ Thạch Quỳ, tìm hiểu nhữ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Ngôn ngữ thơ thạch Quỳ

Luận văn Thạc sỹ ngữ văn Chuyên ngành lý luận ngôn ngữ

Mã số: 60.22.01

Ngời hớng dẫn : TS Nguyễn Hoài Nguyên Ngời thực hiện : Nguyễn Thị Thuý Hằng

Vinh - 2008

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nổ lực, cổ gắng của bản thân, tôi còn nhận đợc

sự tận tình, chu đáo của thầy giáo, TS Nguyễn Hoài Nguyên, sự góp ý chân thành của các thầy cô trong khoa ngữ văn và sự động viên khích lệ của gia đình và bạn bè.

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hớng dẫn và xin gửi

đến các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình lời cảm ơn chân thành nhất

Vinh, ngày 15 tháng 12 năm 2008

Tác giả

Trang 3

Mục lục

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cữu 3

4 Nguồn t liệu và phong pháp ngiên cứu 4

Chơng 1 Một số vấn đề liên quan đến đề tài

1.2 Vài nét về thơ và thơ Thạch Quỳ 18

1.2.2 Một số đặc điểm thơ Thạch Quỳ 20 1.2.2.1 Dẫn nhập 20 1.2.2.2 Đề tài chiến tranh 22 1.2.2.3.Đề tài nông thôn 23 1.3 Tiểu kết 25 Chơng 2 Vần, nhịp trong thơ Thạch Quỳ 2.1 Vần và các nguyên tắc hiệp vần trong thơ Thạch Quỳ 26 2.1.1 Vần và chức năng của vần trong thơ 26 2.1.1.2 Chức năng vần thơ 28 2.1.1.3 Cách hiệp vần trong thơ 29 2.1.2 Các nguyên tắc hiệp vần trong thơ Thạch Quỳ 30 2.1.2.1.Dẫn nhập 30 2.1.2.2 Sự thể hiện của các yêu tố tham gia hiệp vần trong thơ Thạch Quỳ 31

2.1.3 Các loại vần trong thơ Thạch Quỳ 50

2.1.3.1 Phân loại dựa vào vị trí của vần 50

2.1.3.2 Phân loại dựa vào sự hoà âm 52

2.1.4 Một số kết luận 53

2.2 Nhịp và cách tổ chức nhịp trong thơ Thạch Quỳ 55

2.2.1 Nhịp và vai trò của nhịp trong thơ 55

2.2.1.1 Khái niệm nhịp thơ 55

2.2.1.2 Vai trò của nhịp trong thơ 57

2.2.2 Cách tổ chức nhịp trong thơ Thạch Quỳ 57

Trang 4

2.3 Mối quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ Thạch Quỳ 64

Chơng 3 Các phơng tiện tạo nghiã

3.1.1 So sánh tu từ 68

3.1.1.1 Khái niệm 68

3.1.1.2 So sánh tu từ trong thơ Thạch Quỳ 69

3.1.1.3 Giá trị nhận thức của so sánh tu từ trong thơ Thạch Quỳ 71

3.1.2 Câu hỏi tu từ trong thơ Thạch Quỳ 73

3.1.3 Điệp và đối trong thơ Thạch Quỳ 76

3.3 Tiểu kết

Kết luận 86 Tài liệu tham khảo 88

Trang 5

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

1.1 Hiện tại, đã có nhiều công trình nghiên cứu cùng hớng vào mục đích là phân tích và lí giải để chỉ ra các đặc trng của ngôn ngữ thơ Từ góc độ lí luận- phê bình, một số nhà nghiên cứu đã dùng các thao tác định lợng của ngôn ngữ học để giải mã tác phẩm thơ Bởi ngôn ngữ là hình thức của t duy nên khi t duy là t duy nghệ thuật thì ngôn ngữ đồng thời cũng là thứ chất liệu đặc trng của loại hình nghệ thuật ấy Do đó, đối tợng chính của nghiên cứu tác phẩm văn học là nghệ thuật sử dụng ngôn từ Xu hớng này có những u thế riêng mà các hớng tiếp cận khác nhiều khi không có đợc nhng cũng dễ rơi vào những cảm nhận mang màu sắc chủ quan Theo hớng dựa vào những căn cứ cụ thể, tức là từ góc độ ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đã xem xét các quan hệ nội tại và ngoại tại của chất liệu tác phẩm văn chơng, trong đó có thơ, khai thác tính nghệ thuật của ngôn ngữ thơ

và cơ chế hình thành những thuộc tính đó Đối với ngôn ngữ thơ nói riêng, ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ý ngh33ĩa của nó phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức

đối tợng phản ánh của chủ thể phát ngôn Do đó, ngôn ngữ thơ cần phải có những cách xem xét đặc thù từ góc độ ngôn ngữ học

1.2 Nghiên cứu ngôn ngữ thơ nói chung, ngôn ngữ thơ của những nhà thơ tiêu biểu cụ thể là hết sức cần thiết để từ đó khẳng định những đóng góp riêng của mỗi tác giả qua từng giai đoạn văn học Thạch Quỳ là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ chống Mĩ và thời kì xây dựng đổi mới, có tên trong danh sách với những Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vũ Quần Phơng, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Vơng Trọng, So với các nhà thơ khác, Thạch Quỳ không có nhiều thuận lợi để phát huy tài thơ của mình nhng ông đã cố gắng ở mức độ tối

đa để tự khẳng định mình, tạo đợc một tên tuổi, một phong cách thơ độc đáo Thơ Thạch Quỳ thể hiện một cảm xúc khỏe khoắn, gân guốc; câu thơ chắc nịch giàu chất suy t triết lí nhng lại có sức ám ảnh ngời đọc Ngôn ngữ thơ hồn hậu, trong sáng, giàu nhạc điệu, giàu chất thơ Thơ Thạch Quỳ luôn luôn có sự tìm tòi, sáng tạo và luôn có ý thức tự đổi mới mình trên các mặt t duy thơ và hình

Trang 6

thức hiểu hiện Ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ có nhiều nét đặc sắc, thực sự có cá tính Do vậy, tìm hiểu ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ là hết sức cần thiết và bổ ích 1.3 Cho đến nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thơ đã xác lập các đơn vị ngôn ngữ, các bình diện ngôn ngữ cấu thành tác phẩm thơ Thơ không phải là hiện t-ợng ngôn ngữ học thuần túy nhng nó là một thứ nghệ thuật đặc thù lấy ngôn từ làm chất liệu Là một yếu tố nghệ thuật, dĩ nhiên ngôn ngữ thơ phải đợc xem xét trong một chỉnh thể nghệ thuật Theo đó, giá trị của ngôn ngữ thơ là tính nghệ thuật của nó chứ không phải là những giá trị phổ quát của ngôn ngữ chung Trong nghiên cứu ngôn ngữ thơ, phơng thức định lợng, định tính các mặt ngữ

âm, ngữ nghĩa, tu từ, nhằm làm nổi bật tính nghệ thuật của nó trong việc biểu hiện thông điệp thẩm mĩ Xuất phát từ góc nhìn này, chúng tôi mạnh dạn khảo sát ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ nhằm làm nổi bật những nét độc đáo về hình thức biểu hiện của một giọng thơ có cá tính, qua đó đánh giá những đóng góp của ông

đối với nền thơ ca hiện đại Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

Là một trong những gơng mặt tiêu biểu trong số các nhà thơ trởng thành trong cuộc chống Mĩ cứu nớc và thời kì xây dựng đổi mới, là nhà thơ hàng đầu

xứ Nghệ nhng những nghiên cứu về thơ Thạch Quỳ cha nhiều Cuộc đời ông hầu

nh gắn với hội văn nghệ địa phơng; chiêm nghiệm, làm thơ, in ấn, đều ở địa

ph-ơng Thành ra, thơ ông không đợc phổ biến rộng rãi, ít ngời biết đến ngoài một

số bạn thơ thân thiết ở Hà Nội, đôi lần, ông từ nghệ An ra đọc cho họ nghe Thi thoảng, thơ ông đợc in trên báo Văn nghệ dạng chùm vài ba bài Trong bảy tập thơ của ông thì năm trong số đó xuất bản ở Nghệ An, điều đó cũng là một lí do

tự ông làm cho thơ mình không phổ biến Nhng đó lại là một nét tính cách của Thạch Quỳ và cũng là nét tính cách của ngời Nghệ Tĩnh- tính gàn và ít nhiều kiêu ngạo theo kiểu bất cần Vì thơ ông cha có điều kiện đến với bạn đọc cả nớc nên giới phê bình, nghiên cứu gần nh ít ngời chú ý đến Thạch Quỳ và thơ Thạch Quỳ

Thơ Thạch Quỳ là thơ hữu xạ tự nhiên hơng Thơ ông khao khát sự tìm tòi

táo bạo; câu thơ mở, kéo dài, co giản một cách phóng túng mang màu sắc triết lí sâu sắc Đọc thơ ông, chúng ta nhận ra một tâm hồn tinh nhạy, luôn trăn trở,

Trang 7

không chịu lời biếng trong suy nghĩ và trong hình thức thể hiện Ông cho rằng thơ phải ở tầng sâu, nơi giáp ranh của thế giới h thực, mộng mơ và huyền ảo Nếu ngời có cấp ngời, cấp văn hóa của ngời thì thơ có cấp thơ, cấp văn hóa của thơ Thơ không đồng cấp quân bình với các văn hóa ngời mà nó ở cấp độ văn hóa cao nhất, siêu việt mà ta có thể hình dung đợc [45] Theo thời gian, ông đã nỗ lực vợt lên chính mình, luôn tự làm mới mình trong t duy sáng tạo Điều đó đã đợc bạn bè và những ngời quan tâm đến thơ ông xác nhận Chẳng hạn, trong bài viết

Phác thảo Thạch Quỳ, nhà thơ Võ Văn Trực đánh giá: Thơ Thạch Quỳ thật thà, bộc trực nhng không nôm na, mà vẫn rất thơ Hầu hết thơ anh mang cảm xúc khỏe khoắn, câu thơ chắc là khá gọt dùa Nhiều bài thơ có ẩn ý sâu xa, nghĩa là

có biểu tợng nhiều mặt [52, tr.212-213] Cũng trong một nghiên cứu về Thạch

Quỳ, tác giả Thái Doãn Hiểu khẳng định: Thơ Thạch Quỳ là thử thơ bản ngã nguyên chất Nhà thơ luôn tìm cách nói về mình và nhân danh mình dể viết

[16,tr.25] Đặt tiêu đề bài viết Thạch Quỳ- ngời nuôi mộng ảo giữa chiêm bao,

tác giả Thái Doãn Hiểu phần nào đã chạm đến vỉa quặng Thạch Quỳ: Thạch Quỳ

đã nhập cõi bang tâm dực vào số phận của mình Đọc thơ anh không dễ Thiếu một cặp mắt tinh khi đọc sẽ khó đồng cảm nội tâm ngời viết [16, tr.28] Còn bạn

thơ Tuyết Nga trong Trò chuyện và Thạch Quỳ lại cho rằng: Thạch Quỳ là nhà thơ thứ thiệt của làng quê Trong thơ, Thạch Quỳ nh một lão nông quan sát kĩ l- ỡng không bỏ sót một chi tiết nào của làng quê, dông ruộng, ao hồ, cảnh vật

[28] Nếu chỉ có chừng ấy bài viết dới dạng phác thảo chân dung thì thơ Thạch Quỳ còn là một ẩn số Gần đây, thơ Thạch Quỳ đợc chọn làm đối tợng nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp Tác giả Nguyễn Thị Hơng với Đặc điểm ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ đã đặt vấn đề nghiên cứu giải mã thơ Thạch Quỳ từ góc độ

ngôn ngữ học Dĩ nhiên, trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học, tác giả mới phác vạch những nét sơ lợc về thơ Thạch Quỳ từ góc độ ngôn ngữ thơ Vậy nên, ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ cần có thêm những nghiên cứu theo hớng đào sâu,

mở rộng để làm nổi bật những nét đặc sắc, độc đáo, khẳng định một ngôn ngữ thơ có cá tính Từ những nhận thức đó, chúng tôi chọn đề tài Ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ làm đối tợng nghiên cứu cho luận văn của mình.

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 8

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ Chúng tôi chủ yếu khảo sát 99 bài thơ trong Thơ Thạch Quỳ, Nxb Hội nhà văn, H.2006 và

có bổ sung một số bài trong 6 tập thơ của ông

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi xác định nội dung luận văn phải giải quyết những vấn đề sau

đây:

- Từ cách hiểu về thơ, ngôn ngữ thơ nhận diện những nét đặc sắc thơ Thạch Quỳ, tìm hiểu những đặc trng nổi bật trong ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ bao gồm vần và nhịp, các biện pháp tu từ nổi trội, một số hình ảnh thơ tiêu biểu là những phơng tiện tạo nghĩa

- So sánh ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ với một số nhà thơ cùng thời, nhận diện phong cách ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ và những đóng góp của ông đối với nền thơ ca hiện đại Việt Nam

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi sử dụng các phơng pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

- Dùng phơng pháp thống kê ngôn ngữ học để tiến hành thống kê, phân loại t liệu gồm các đặc điểm ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ phục vụ cho mục đích và nhiệm vụ mà luận văn đề ra

- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp để xử lí t liệu nhằm khái quát các đặc trng ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ

- Dùng phơng pháp so sánh đối chiếu ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ với một số tác giả cùng thời để nhận diện phong cách ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ

Trang 9

5 Đóng góp của luận văn

- Lần đầu tiên thơ Thạch Quỳ đợc khảo sát và nghiên cứu một cách tơng

đối toàn diện và có hệ thống từ góc độ ngôn ngữ học Các t liệu cùng với những nhận xét, đánh giá của luận văn giúp ngời đọc nhận biết khá đầy đủ những nét

đặc sắc về ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ Luận văn khẳng định, về phơng diện hình thức thể hiện, thơ Thạch Quỳ thực sự có cá tính, là thế giới bí ẩn của sự sáng tạo không ngừng, là nơi dành cho cái đẹp ngự trị, cái đẹp cái hay trong sáng tạo

- Các kết quả của luận văn còn giúp ngời đọc thấy đợc những đóng góp của Thạch Quỳ trên con đờng hiện đại hóa, tự do hóa ngôn ngữ thơ Với Thạch Quỳ, vần thơ không còn quan trọng nữa, còn nhịp điệu không phải là cái bằng bằng trắc trắc mà nó là cái hàn thử biểu đo nhịp tim, đo hồng cầu chảy trong mạch máu của sự sống

Trang 10

đây 1500 năm, trong Văn tâm điêu long, thiên Tình thái, Lu Hiệp đã bàn đến ba

phơng diện cơ bản cấu thành tác phẩm thơ là hình văn, thanh văn và tình văn Nghĩa là, ngôn từ thơ có sự vật (hình văn), có nhạc điệu (thanh văn), có cảm xúc (tình văn) [17] Đến đời Đờng, Bạch C Dị lại cụ thể hóa thêm một bớc các yếu tố cấu thành thơ ca: Cái cảm hóa đợc lòng ngòi chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trớc đợc ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tình cảm,

mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa Từ quan niệm này, một số

bình diện của ngôn ngữ thơ đã đợc sáng tỏ Chẳng hạn, tác giả cho rằng chẳng gì

đi trớc đợc ngôn ngữ là hàm ý cảm xúc, âm thanh và ý nghĩa đều đợc chứa đựng

trong những đơn vị ngôn ngữ cấu thành bài thơ Trong bài tựa Kinh thi, Chu Hi cũng cho rằng: thơ là cái d âm của lời nói, trong khi lòng ngời cảm xúc với sự vật mà hiện ra ngoài Đây là cách nhìn nhận rất hiện đại về ngôn ngữ thơ, xem

thơ là cái d âm của lời nói khi lòng ngời cảm xúc vơi sự vật là thể hiện cái nhìn

sâu sắc rằng tình cảm không phải bộc lộ một cách trần trụi bên ngoài ngôn ngữ

mà là d âm đợc thoát ra từ những cấu trúc lời nói của từng ngời làm thơ khi họ cảm xúc với sự vật xung quanh ở Việt Nam, Phan Phu Tiên thế kỉ XV cũng có

ý kiến tơng tự: Trong lòng có điều gì, tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy ( Việt âm thi tập tân san).

Trang 11

Sang thời hiện đại, xuất phát từ định nghĩa văn học là nhân học, các nhà

nghiên cứu đã đặt ra và trả lời các câu hỏi văn chơng thể hiện nội dung gì, nội dung đó đợc tạo ra nh thế nào Từ đó, các nhà nghiên cứu đa ra quan niệm mới văn học là nghệ thuật ngôn từ, tức là ngành nghệ thuật lấy ngôn từ làm phơng tiện và phơng thức phản ánh Vậy là, một tác phẩm nghệ thuật phải đợc nhận thức và khám phá bằng những tiêu chí của nghệ thuật Nghĩa là không dừng lại ở việc trả lời câu hỏi nó là cái gì mà là nó đợc tạo ra nh thế nào Theo đó, ngôn ngữ văn chơng vừa là chất liệu vừa là phơng thức biểu hiện của tác phẩm nghệ thuật Các nhà nghiên cứu theo trờng phái hình thức tiêu biểu là R Jakobson chủ trơng

đối lập ngôn ngữ văn xuôi với ngôn ngữ thơ Trong tiểu luận Ngôn ngữ và thi ca,

R.Jakobson đã nhấn mạnh cơ chế hoạt động của ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn

và kết hợp Từ nguyên lí phổ quát này, R.Jakobson và những ngời đồng quan

điểm với ông khẳng định, trong thơ, hình thức ngữ âm vô cùng quan trọng Họ nhấn mạnh đến các yếu tố âm thanh nh âm vận, điệp âm, điệp vần, khổ thơ, là những đơn vị thuộc bình diện hình thức Nhng, đến giai đoạn hiện đại cũng cha xác định đích danh thơ là gì? Thế là, tham vọng của con ngời lại muốn đi tìm cái không thể nắm bắt đợc nó Định nghĩa thơ lại đợc nối dài bằng Thơ là sự phân vân giữa âm và nghĩa (P Valéry); Văn xuôi thuộc phía con ngời, thơ ca thuộc phe thợng đế (J.P.Sartre); Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mĩ của nó

(R.Jakobson); Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh; Làm thơ là nói để đợc cái thú là nghe lời mình nói Yêu thơ là yêu những cái đẹp Vì thơ là sự sáng tạo

trên sự võ đoán của ngôn ngữ nên việc định nghĩa nó cũng không thể không rơi vào võ đoán Mỗi bài thơ hay đều đòi hỏi một định nghĩa Mỗi bài thơ hay đều là một định nghĩa cho thơ Nhng trên thực tế, con ngời lại cố gắng đi tìm một định nghĩa khái quát cho thơ GS Phan Ngọc, trong chuyên luận Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học đã đa ra một định nghĩa về thơ: Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩa chính hình thức ngôn ngữ này Chữ quái đản đợc tác giả giải thích là

khác lạ so với thông thờng Bởi vì, cách tổ chức ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, cũng không nh ngôn ngữ văn xuôi Ngôn ngữ gián tiếp hàng ngày và ngôn ngữ văn xuôi không cần đến cách tổ chức ngôn ngữ theo vần luật,

Trang 12

nhịp điệu, bằng trắc, số câu, số chữ, .mà chỉ có thơ mới có cách tổ chức ấy Ngữ pháp thơ khác với ngữ pháp điển phạm của văn xuôi, không giống với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Một quan niệm thơ nh thế có thể chấp nhận đợc Đi theo hớng này có tác giả Nguyễn Phan Cảnh Ông đã tiếp thu các luận thuyết về thơ ca trong và ngoài nớc để đặt ra một vấn đề rất thiết cốt song không kém phần nan giải là các nhà thơ t duy trên chất liệu ngôn ngữ nh thế nào? Lý thuyết hệ hình mà tác giả xác lập không mới song một lần nữa ông lu ý chúng ta nên xem xét thơ từ phơng diện lựa chọn ngôn từ trong hệ hình để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất Đây là một gợi ý đúng, có sức thuyết phục cao

Ngoài các ý kiến, các định nghĩa về thơ đã nêu ở trên, chúng tôi dẫn thêm một số định nghĩa tiêu biểu có tính ớc định để làm việc Theo Đại từ điển tiếng Việt: Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp diệu, vần diệu để thể hiện ý tởng hoặc cảm xúc nào đó của tác giả một cách cảm xúc [54,tr.228] Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi lại

cho rằng: Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất

1.1.l.2 Phân biệt thơ với văn xuôi

Có nhiều điểm dùng để phân biệt thơ với văn xuôi Trớc hết, các nhà văn, nhà thơ t duy trên chất liệu ngôn ngữ là khác nhau Trong văn xuôi, các đơn vị ngôn ngữ cùng một loạt giống nhau đợc tập hợp nhờ thao tác lựa chọn thông qua mối quan hệ liên tởng, hay nói cách khác, trong cùng một hệ hình Nhà văn có thể chọn bất kì đơn vị nào trong mỗi hệ hình rồi kết hợp với nhau để tạo nên thông báo Lựa chọn đơn vị nào trong từng hệ hình cũng đợc nhng không đợc phép lặp lại Đấy chính là nguyên lí làm việc của văn xuôi, làm việc bằng thao tác kết hợp Do đó, các thông báo trong văn xuôi bao giờ cũng dùng để nhắc gợi

đến ngữ cảnh chứ hoàn toàn không phải để giải thích các đơn vị trong mã ngôn

Trang 13

ngữ Chúng ta chỉ bắt gặp trong văn xuôi các thông báo đợc dùng để xây dựng phơng trình nh thế trong một trờng hợp duy nhất Vậy là, trong văn xuôi, lặp lại

là điều tối kị Nhng chính cái điều văn xuôi tối kị đó lại là thủ pháp làm việc của thơ Trong thơ, tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo Nh đã biết, trong thơ chấp nhận từ điệp âm (phụ âm, nguyên âm),

điệp từ, điệp câu, tức là khai thác triệt để thủ pháp lặp lại các đơn vị ngôn ngữ

Nh vậy, các nhà thơ đã t duy trên chất liệu ngôn ngữ một cách khá đặc thù: hình thành các hệ hình, rồi từ các hệ hình xây dựng các phơng trình, và biến các ph-

ơng trình thành chiết đoạn Cứ nh thế, các đơn vị ngôn ngữ trong thơ chồng lên nhiều tầng trên một bề mặt, dồn đống lại Chẳng hạn, có thể hình dung các hệ hình và phơng trình đợc xác lập trong khổ thơ sau: Con về với nhân dân nh nai

về suối cũ/ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa/ Nh đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa/ Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đa (Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên).

Trong thơ, sự tơng đơng của các đơn vị ngôn ngữ làm nên chiết đoạn tạo thành thông báo bao giờ cũng bao hàm một sự tơng đơng về ý nghĩa Nghĩa là, sức mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiến trúc song song trong thơ chính là ở chỗ đã tạo nên một sự láy lại, song song trong t tởng Nh vậy, trong thơ, chức năng mĩ học chiếm u thế nhng không loại trừ chức năng giao tế nên đã làm cho thông báo trở nên đa nghĩa, mập mờ, có tính chất nớc đôi Thơ là phải ý tại ngôn ngoại,

phải hàm súc vô cùng

Nếu nh ngôn ngữ văn xuôi là liền mạch thì ngôn ngữ thơ bao giờ cũng chia cắt thành những đơn vị tơng ứng với nhau Việc tổ chức ngôn ngữ thơ bao giờ cũng theo những quy luật tuần hoàn âm thanh trong đó luôn luôn đề ra sự chia cắt thành những vế tơng đơng Câu trong ngôn ngữ thơ có kích thớc nội tại còn câu trong văn xuôi không theo một kích thớc bó buộc nào Về cơ bản, ngữ pháp của thơ khác với ngữ pháp điển phạm của văn xuôi Cấu trúc ngữ pháp của câu thơ nhiều khi là bất quy tắc Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ nhiều màu sắc,

âm thanh, nhịp điệu với những cấu trúc đặc biệt Mỗi chữ trong thơ có ý nghĩa riêng nhng trong những trờng hợp khác, những cấu trúc khác sẽ mang những ý nghĩa khác Mỗi chữ, mỗi từ không chỉ là xác mà là hồn, là chiều sâu ngữ nghĩa,

độ sâu của ngân vang, của cảm quan nghệ thuật Mỗi thể loại thơ lại mang một

Trang 14

sắc thái riêng, biểu hiện một dạng cảm xúc riêng, đòi hỏi một cách tổ chức ngôn

từ có màu sắc riêng Trong thơ, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ địa phơng, thậm chí ngôn ngữ thông tục đều có thể phát huy hết giá trị của nó Trong thơ, cái thật và cái ảo gắn bó mật thiết, có ý thức và có vô thức, tiềm thức; có cảm giác, thị giác

và cả trực giác, ảo giác và linh giác, Do đó, tìm hiểu thơ khác với văn xuôi ở chỗ phải sử dụng liên phơng pháp mới phát hiện đợc các vấn đề, xác lập đợc nhiều lớp nghĩa, nhiều thông báo trong một văn bản cô đọng, hàm súc Ngời đọc thơ có khi phải sử dụng một siêu giác quan để cảm thơ, hiểu thơ

Còn nữa, khác với văn xuôi, thơ là một cấu trúc đầy nhạc tính Thơ có thể

bỏ vần, không chặt chẽ bằng bằng trắc trắc nhng thơ không thể bỏ đợc nhịp điệu Nhịp điệu là linh hồn của thơ Thơ là văn bản ngôn từ đợc tổ chức bằng nhịp

điệu Nhịp điệu làm nên sức ngân vang cho thơ, tạo sự ám ảnh ngời đọc và tiếng

đồng vọng của những tiếng lòng

1.1.2 Ngôn ngữ thơ

l.1.2.l Các bình diện của ngôn ngữ thơ

Từ việc phát hiện những điểm hạn chế trong lí thuyết ngôn ngữ học của

F de Saussure và L.Bloomfield, nhà ngữ học N.Chomsky đã đa ra nhận định về mối quan hệ sâu giữa ngôn ngữ và ý thức Theo đó, ý nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự nhận thức đối tợng phản ánh của chủ thể phát ngôn Đối với ngôn ngữ nghệ thuật, ý thức chủ quan nhất định chi phối mặt ý nghĩa nhiều hơn Bởi vậy, ngôn ngữ thơ lại càng phải có những tiêu chí xem xét đặc thù Thơ là một thể loại thuộc về sáng tác nghệ thuật nên ngôn ngữ thơ trớc hết phải là ngôn ngữ nghệ thuật đợc dùng trong văn học Xét ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ đợc biểu hiện là một chùm đặc trng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ Đặc tr-

ng của ngôn ngữ thơ đợc thể hiện trên ba bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp Giá trị của ngôn ngữ thơ là các bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp đợc

tổ chức có tính nghệ thuật

a Về ngữ âm

Thơ là hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt mang thuộc tính thẩm mĩ về ngữ âm Nói đến thơ, chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố nằm trong sự vận

Trang 15

dụng nghệ thuật hình thức âm thanh của ngôn ngữ Đó là sự hòa phối về âm thanh, là ngắt dòng, ngắt nhịp, là sự hiệp vần Điểm nổi bật để phân biệt thơ và văn xuôi là tính nhạc Bởi vậy, hình thức ngữ âm trong thơ là vô cùng quan trọng Các đơn vị âm thanh nh thanh điệu, nguyên âm, phụ âm cùng với các thuộc tính âm thanh nh cao độ, cờng độ, trờng độ là những yếu tố tạo nên nhạc

điệu cho thơ Tiếng Việt có số lợng thanh điệu phong phú (6 thanh), có số lợng các đơn vị nguyên âm và phụ âm đa dạng (14 nguyên âm, 23 phụ âm) đợc khai thác và tổ chức trong thơ nhằm tạo nên âm hởng, tiết tấu và nhạc điệu cho thơ, khi du dơng trầm bổng, khi dìu dặt ngân nga, khi dào dạt dồn dập Khi khai thác nhạc tính trong thơ ta cần chú ý đến những đối lập sau: đối lập về trầm/ bổng, khép/ mở của của các nguyên âm làm đỉnh vần; đối lập về tắc- vang/ tắc- điếc (vô thanh) giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các âm cuối kết vần; đối lập cao/ thấp, bằng/ trắc của thanh điệu

Bên cạnh việc tổ chức các đơn vị âm thanh theo sự đối lập, vần điệu và nhịp điệu cũng góp phần quan trọng tạo tính nhạc cho thơ ca Nh đã biết, phát ngôn bao giờ cũng có ngữ điệu Mỗi dòng thơ, câu thơ chứa trong bản thân nó một loại ngữ điệu đặc biệt, ngời ta gọi đó là nhạc thơ Khi nhạc thơ của một thể thơ đạt đến tính ổn định và làm nên nét khác biệt thì chúng trở thành âm luật của thể thơ đó Theo nhà nghiên cứu âm nhạc Dơng Viết á( 2006), ngôn ngữ có trớc

âm nhạc, âm nhạc là từ ngôn ngữ mà ra Càng về sau chúng tách ra để phát triển

và cá biệt hóa Nhng dù có trở thành hai loại hình nghệ thuật thì chúng vẫn có mối quan hệ gắn bó khăng khít Nhạc thơ là thứ nhạc đặc trng, nó phân biệt với

âm nhạc thông thờng Nhạc thơ đợc tạo thành bởi ba yếu tố chính là âm điệu, vần điệu và nhịp điệu Tùy thuộc từng bài thơ cụ thể mà một yếu tố nào đó có vai trò nổi bật hơn Trong bất cứ bài thơ nào, vai trò của ba yếu tố này càng đợc xác lập thì thi phẩm càng giàu nhạc điệu và ấn tợng ngữ nghĩa càng phụ thuộc nhiều hơn vào ấn tợng ngữ âm

Về âm điệu, tính đối lập của âm tiết Việt đợc quy định bởi các thành phần cấu tạo nên chúng chứ không phải đơn vị nào khác, là cơ sở tạo nên âm

điệu trong thơ cách luật tiếng Việt Phẩm chất ngữ âm của tiếng Việt là tổng hòa các mặt nh cao độ, cờng độ, trờng độ, âm sắc Trờng độ của âm tiết này khác âm

Trang 16

tiết kia là do hoàn cảnh phát âm hoặc do âm lợng của nguyên âm đỉnh vần Chẳng hạn, âm tiết kết thúc bằng nguyên âm, bán âm và phụ âm vang thì có độ vang và có khả năng kéo dài, trờng độ lớn hơn các âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh Âm điệu là một khái niệm đợc hiểu trong thế tơng quan với vần

điệu, nhịp điệu và thanh điệu (phối thanh) Âm điệu còn có thể đợc hiểu là sự hòa âm đợc tạo ra từ sự luân phiên xuất hiện giữa các đơn vị âm thanh (nguyên

âm, phụ âm, bán âm, thanh điệu) có những phẩm chất ngữ âm tơng đồng và khác biệt trên trục tuyến tính Trong đó, thanh điệu với t cách là yếu tố cơ bản làm nên

sự khác biệt về phẩm chất ngữ âm của mỗi âm tiết là đối tợng chính của âm điệu

và đợc xác lập trên hai bình diện: âm vực (cao/ thấp), cách thức vận động (bằng/ trắc)

Về vần điệu, đây là khái niệm cha có tính ổn định cao Vần là yếu tố lặp lại của một bộ phận âm tiết ở các bài thơ, khổ thơ, câu thơ, vần có chức năng tổ chức, chức năng liên kết các câu thơ( dòng thơ) thành khổ thơ, các khổ thơ thành bài thơ Có thể hình dung: Vần nh sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau,

do đó giúp ngời đọc đợc thuận miệng, nghe đợc thuận tai và làm cho ngời nghe

dễ thuộc, dễ nhớ [8,tr.21-22] Theo Hê ghen, vần thơ là do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn nhìn thấy mình đợc biểu lộ rõ ràng hơn, có sự vang động đều

đặn/ Dẫn theo Bùi Công Hùng, [18],tr.215/ Vần là yếu tố quan trọng tạo nên sự

hòa âm giữa các câu thơ Đơn vị biểu diễn vần thơ trong tiếng Việt là âm tiết Trong thơ ca truyền thống, dựa vào thanh điệu ngời ta chia vần thơ thành hai loại

là vần bằng và vần trắc Vần bằng là những vần căn cứ trên những âm tiết có thanh ngang và thanh huyền Còn vần trắc là những vần căn cứ trên những âm tiết có các thanh còn lại Vần trắc lại đợc chia thành hai nhóm nhỏ là trắc thờng

và trắc nhập Nhóm trắc thờng căn cứ trên những âm tiết có thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc và thanh nặng Còn nhóm trắc nhập căn cứ trên những âm tiết có các

âm cuối p, t, ch, c mang thanh sắc và thanh nặng Hiệp vần là hiện tợng phổ biến trong thơ từ cổ chí kim, từ đông sang tây Vần thơ còn đợc quan tâm từ các ph-

ơng diện vị trí hiệp vần, mức độ hòa âm và cách kết thúc vần (cũng là cách kết thúc âm tiết) Dựa vào vị trí hiệp vần, ngời ta chia ra vần lng, vần chân (trong vần chân có vần liền, vần cách, vần ôm nhau ) Dựa vào mức độ hòa âm, vần đợc

Trang 17

chia thành vần chính, vần thông và vần ép Dựa vào cách kết thúc vần thì vần thơ gồm vần mở, vần nửa mở, vần nửa khép và vần khép Vần mở còn gọi là vần

đơn, vần nửa mở, nửa khép và khép còn gọi là vần phức

Về nhịp điệu, có thể hiểu nhịp điệu là điệu tính đợc tạo ra từ sự luân phiên các ngữ đoạn trong ngữ lu Theo F de Saussure: Dòng âm thanh chỉ là một đờng thẳng, một dải liên tục trong đó thính giả không thấy sự phân chia nào

đầy đủ và chính xác, muốn có sự phân chia nh vậy, phải viện đến ý nghĩa

Nh-ng khi đã biết cần phải gắn cho mỗi bộ phận của chuỗi âm thanh một ý Nh-nghĩa và một vai trò gì thì ta sẽ thấy những bộ phận đó tách ra, và cái dải vô hình kia sẽ phân ra thành từng đoạn [34,tr.9] Nh vậy, nhịp điệu của giao tiếp thông thờng

đợc hình thành từ tính phân phối ngữ nghĩa Trong thơ, nhịp điệu là kết quả hòa phối âm thanh đợc tạo ra từ sự ngắt nhịp Nhịp điệu chỉ cách thức nhất định khi phát âm hay còn gọi là sự ngắt nhịp Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể phân tích thành hai loại là ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lí Nhịp thơ gắn kết với tình cảm, cảm xúc, là những ngân vang trong tâm hồn nhà thơ Các trạng thái xúc động, rung cảm, cảm xúc, đều ảnh hởng đến việc lựa chọn và tổ chức nhịp của câu thơ, bài thơ Hai loại nhịp này có khi hòa quyện vào nhau, có khi tách bạch tùy vào cấu trúc ngôn từ của dòng thơ, thể thơ và thi hứng của nhà thơ

Nh vậy, nhịp thơ là cái đợc nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chu kì, cách quảng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng nghỉ, chỗ ngắt hơi trên những đơn vị cơ bản nh câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí đoạn thơ Yếu tố tạo nên nhịp điệu là những chỗ ngừng nghỉ trong sự phân bố mau tha theo

sự chế định của thể thơ hoặc theo sự đa dạng của cảm xúc, thi hứng Nhịp thơ khác với nhịp trong văn xuôi Nhịp thơ không hoàn toàn trùng với nhịp cú pháp Trong một số thể thơ cách luật, ngắt nhịp bị chi phối bởi yếu tố tâm lí và cấu trúc

âm điệu Cách ngắt nhịp, tạo nhịp trong thơ hết sức đa dạng, muôn màu muôn

vẻ, tùy câu, tùy khổ, tùy từng bài thơ cụ thể Nhịp trong thơ thể hiện bản sắc của từng nhà thơ, bộc lộ cá tính thi ca rõ nét Chẳng hạn, trong thơ lục bát, sự ngắt nhịp diễn ra dới áp lực của vần lng và xu hớng đơn tiết hóa của tiếng Việt Vì vậy, trong thể thơ lục bát, lúc nào cũng chứa đựng một loại nhịp đặc thù là nhịp tâm lí Nhịp này xuất hiện khi bối cảnh không đủ sức cho nhịp lẻ nào tồn tại

Trang 18

Nhịp tâm lí có nguồn gốc từ sự đồng hóa nhịp lẻ bởi tính nhịp nhàng của nhịp

đôi trong dòng thơ và giữa các cặp 6/ 8 với nhau Nhịp chẵn 2/2/2 ở câu lục và 2/ 2/ 2/ 2 ở câu bát là tiết tấu nhịp đôi vốn đã hình thành từ lâu và là nét đặc trng của thơ tiếng Việt Loại nhịp này dễ dàng trùng hợp với mỗi dòng thơ lục bát vốn

có số tiếng chẵn Tuy nhiên, không loại trừ nhịp lẻ mặc dù loại nhịp này không

có u thế vì ngời Việt vốn u cân đối, hài hòa Nếu có nhịp lẻ thì cũng u tiên nhịp

lẻ cân đối 3/ 3 sau đó mới đến các loại nhịp lẻ khác

Trong thơ tự do, có những câu thơ rất gần gũi với văn xuôi song lại có sức ngân vang rất lớn Hiệu quả đó là do nhà thơ đã có ý thức cho vào đó một số

âm tiết làm cho câu thơ dài ra và trùng với đơn vị cú pháp của văn xuôi, làm cho ngời đọc có cảm tởng nh đang bơi trên một dòng chảy không dứt của một chuỗi ngôn từ đầy ấn tợng; câu thơ có sức ngân vang rất lớn

Trong ngôn ngữ thơ Việt Nam, đơn vị nhịp điệu có thể từ một từ trở lên (thờng là một âm tiết) và thờng là hai từ trở lên Trong thực tế, thơ ca có hai loại nhịp là nhịp chẵn và nhịp lẻ Nhịp chẵn là nhịp điệu tự nhiên trong giao tiếp; còn nhịp lẻ là phá vỡ cái đều đặn, sự cân đối để tạo ra sự phối hợp hài hòa với nhau Nhịp là yếu tố cơ bản, là xơng sống của bài thơ và là tiền đề cho hiện tợng gieo vần

b Bình diện ngữ nghĩa

Thơ là một loại hình nghệ thuật, ngôn ngữ cô đọng, từ ngữ và hình ảnh súc tích, đa nghĩa Mỗi từ ngữ khi đợc đa vào thơ đều đã trải qua sự cân nhắc lựa chọn của tác giả và đợc đặt vào những vị trí nhất định Từ ngữ khi đi vào thơ hoạt

động rất đa dạng, linh hoạt và biến hóa Văn xuôi không hạn chế số lợng âm tiết,

từ ngữ, câu chữ còn trong thơ, tùy theo từng thể thơ mà ngôn ngữ có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ, do áp lực của cấu trúc và ngữ nghĩa, ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà đợc xác lập những nghĩa mới tinh tế và đa dạng hơn nhiều Chính vì thế, mỗi từ ngữ trong câu thơ chứa đựng sức mạnh tiềm tàng, ẩn chứa những thông điệp thẩm mĩ tinh

tế, sâu sắc Vậy là, ngữ nghĩa trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong văn xuôi và trong giao tiếp hàng ngày Trong câu thơ, có những từ đợc sử dụng theo phép chuyển nghĩa mà chủ yếu là phép so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,

Trang 19

Dù nhịp điệu đóng vai trò quan trọng trong thơ song một mình nó không thể tạo nên giá trị bài thơ Ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản để cấu thành tác phẩm thi ca Trong thơ, mọi yếu tố ngôn ngữ đều chứ đựng những giá trị sáng tạo mang tính nghệ thuật ngoài giá trị ý niệm của ngôn ngữ chung Điều kì diệu của ngôn từ trong thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ vừa gọi tên sự vật vừa gợi những liên tởng khiến ngời đọc phát hiện ra những nét tiềm tàng mà trong giao tiếp hàng ngày không có đợc Đó là sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ khơi gợi để thực hiện chức năng thẩm mĩ Các đơn vị ngôn ngữ trong bài thơ phải đợc lựa chọn, sắp xếp theo những cách thức nhất định của từng nhà thơ nhng phải là thứ ngôn ngữ không bình thờng nh cách nhìn nhận của tác giả Phan Ngọc Hiệu quả biểu đạt theo nguyên tắc ý nằm ngoài lời là mục đích muôn đời của thi ca Khi nghiên cứu

ngôn ngữ thơ, ta phải chỉ ra đợc phơng thức tạo lập những đơn vị ngôn ngữ có hiệu quả biểu đạt cao, tức là có giá trị tu từ Đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút kì lạ đối với ngời đọc, ngời nghe Bởi đến với thơ, chúng ta không chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà bằng cả tình cảm, cảm xúc, bằng trí tởng tợng và sự liên tởng, bằng điệu tâm hồn Điều đó làm cho ngôn ngữ thơ không chỉ là phơng tiện giao tiếp mà đã đóng vai trò tiếng nói nội tâm đồng

điệu Trong quá trình vận động của ngôn ngữ thơ, cái biểu hiện và cái đợc biểu hiện đã xâm nhập chuyển hóa vào nhau tạo nên cái khoảng không ngữ nghĩa vô cùng cho thi ca

c Bình diện ngữ pháp

Về phơng diện ngữ ngữ pháp, câu thơ, dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, ngợc lại, cũng có những dòng thơ có nhiều câu thơ Nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu bất thờng về cú pháp nh đảo ngữ, tách câu, câu vắt dòng, câu trùng điệp, mà không ảnh hởng

đến quá trình tiếp nhận văn bản, trái lại chính nó lại tạo nên những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn từ thơ ca Sử dụng các kiểu câu bất thờng về cú pháp có khả năng vô tận trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới nội tâm con ngời, giúp nhà thơ diễn đạt đợc những thành phần ngữ nghĩa đa dạng,

Trang 20

tinh tế trong sự hữu hạn về số lợng câu chữ, góp phần tạo nên phong cách của từng nhà thơ.

Nh vậy, qua ba bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp ta thấy ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, là ngôn ngữ hết sức quái đản hiểu

theo nghĩa tốt đẹp của cụm từ này

1.1.2.2 Ngôn ngữ thơ với quá trình vận động thể loại

Nh đã biết, đặc trng thể loại quy chiếu đặc trng ngôn ngữ Vì vậy, cách tối u trong việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ thơ là truy tìm quá trình vận động tạo lập các thể loại thơ Khi nắm đợc cơ chế của các thể thơ ta có thể biến một bài thơ nào đó từ thể loại này sang thể loại khác thông qua các thao tác lựa chọn

và kết hợp Hình thức cuối cùng của tác phẩm là tấm gơng phản chiếu t duy mĩ cảm- ngôn ngữ của chủ thể sáng tạo Lí thuyết trờng nét d và cơ chế ngâm thơ hé

lộ cách thức vận động của ngôn ngữ trong quá trình hình thành đặc trng thể loại Dựa vào những biểu hiện về ngữ đoạn đợc đánh dấu bằng hiện tợng gieo vần, ng-

ời ta cho rằng vận động tạo vần chính là khâu cơ bản nhất của quá trình hình thành thể thơ Mỗi thể thơ có một kiểu gieo vần trong những ngữ đoạn ngắn/ dài

đặc trng Có thể nhận diện một thể thơ từ các dấu hiệu vần điệu Dĩ nhiên, trong một số trờng hợp, việc nhận diện thể thơ qua vần lại gặp những khó khăn Chẳng hạn, trong bài thơ Tiếng chổi tre của Tố Hữu: Những đêm hè/ Khi ve ve/ Đã ngủ/ Tôi lắng nghe/ Trên đờng Trần Phú/ Tiếng chổi tre/ Xao xác/ Hàng me nếu chấp

nhận vần lng thì văn bản thơ sẽ là: Những đêm hè khi ve ve đã ngủ/ Tôi lắng

nghe trên đờng Trần Phú/ Tiếng chổi tre xao xác hàng me Nh vậy, trong sáng

tác thơ ca, thể thơ hình thành từ việc chọn lọc tự nhiên của lời nói dân tộc Đó là

sự vận động trong quan hệ nội tại bản thân các cấu trúc ngôn ngữ dới sự điều khiển của tâm thức cộng đồng Thơ tiếng Việt có thể từ 2 tiếng đến 12 tiếng Mặc dù trớc đó đã có văn biền ngẫu song thơ văn xuôi không trở thành phổ biến Những thể thơ quen thuộc của ngời Việt là lục bát, song thất lục bát, 5 tiếng, 7 tiếng, Cơ chế biểu đạt của một văn bản thơ khác xa cơ chế biểu đạt của văn bản văn xuôi Các đơn vị trên trục ngữ đoạn có tính đối lập cao và tự nó đối lập với các yếu tố đồng loại trên trục lựa chọn để tạo ra giá trị Chính quan hệ ngữ đoạn giữ u thế đã làm cho ngôn ngữ văn xuôi chỉ thuần túy mang giá trị thông báo D-

Trang 21

ới áp lực của nhạc điệu, quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ thơ đợc hiện thực hóa qua hai con đờng chính: quan hệ lỏng và quan hệ phi lôgíc Quan hệ ngữ đoạn đ-

ợc tháo lỏng( do bị lợc bỏ các h từ) làm cho khả năng tạo lập các liên kết của từ trở nên hết sức linh hoạt Khi cần thiết, có thể tạo ra những kết hợp bất thờng để gây ấn tợng mạnh và tạo nghĩa mới cho cấu trúc ngôn ngữ Lúc này, quan hệ ngữ

đoạn đợc thiết lập dựa trên nguyên lí gián đoạn và nguyên lí phi lôgíc Mỗi dòng thơ có thể tơng đơng với một phán đoán tồn tại trên một tiết tấu và thể hiện bằng một d âm D âm là tiếng vọng của giá trị ngữ âm đợc thể hiện bằng tiết tấu Có câu thơ mang d âm đi xa nhng cũng có những câu thơ d âm mờ nhạt Vậy là, vận

động tạo thể trong ngôn ngữ thơ vừa bị chi phối bởi hai quan hệ khách quan của ngôn ngữ, tức là quan hệ ngữ đoạn và quan hệ liên tởng vừa phụ thuộc vào cảm thức nhạc điệu của từng nhà thơ

Mỗi dân tộc đều có một nền thơ ca đặc trng gắn với những thể thơ nhất

định Thơ tiếng Việt có thể 2 tiếng, 3 tiếng, 4 tiếng, 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng, lục bát, song thất lục bát, thơ tự do, thơ văn xuôi, Một bài thơ đợc tạo lập theo một thể nào đó bắt nguồn từ cảm thức ngôn ngữ Quá trình này vừa phụ thuộc vào tâm lí lứa tuổi, vốn văn hóa vừa phụ thuộc vào năng lực t duy nghệ thuật Khi yếu tố tâm lí đóng vai trò chủ đạo thì thơ thờng nghiêng về cảm xúc Ngợc lại, khi lí trí đóng vai trò hớng đạo sẽ có thơ trí tuệ, thơ lôgíc Tâm lí lứa tuổi, văn hóa và năng lực t duy nghệ thuật chi phối mạnh mẽ t duy ngôn ngữ

Chính nó làm nên thể thơ sở trờng cho mỗi nhà thơ Thơ 5 tiếng là mang hình thức phổ biến của vè, với đặc trng đơn giản về ngữ âm nên thuận lợi cho việc ứng tác Các thể thơ từ 2 tiếng đến 5 tiếng do số lợng các đơn vị mang nghĩa

ít nên câu thơ giản dị, ý thơ mộc mạc, t duy thơ trong sáng phù hợp với ngời bình dân Thơ 6 tiếng thích hợp cho việc thiết lập những phán đoán đối xứng, phản

ánh kiểu t duy mang tính lôgíc cao, có thể xem là thể thơ hàn lâm của tiếng Việt Thơ 7 tiếng có lịch sử hình thành từ Đờng luật- thể thơ chịu ảnh hởng mạnh mẽ của thi pháp thơ Đờng Thể thơ này mang tính hàn lâm cao, ngôn ngữ thơ trong sáng, khuôn mẫu cả về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa Thơ 8 tiếng gần với thơ tự do, phổ biến trong thơ ca hiện đại, có sự phức hợp mới trong cấu trúc ngữ âm Mỗi dòng thơ là một ngữ đoạn dài chứa lợng thông tin tơng đối lớn Thơ tự do là bớc

Trang 22

đột phá nổi bật nhất trong thơ Việt Nam, không bị gò bó về số câu, số tiếng, niêm luật, Khả năng biểu hiện ngữ nghĩa thông qua các hình thức ngữ âm của thơ tự do là vô cùng to lớn Còn thơ lục bát có một phẩm chất thẩm mĩ đặc biệt, kết tinh tinh hoa văn hóa- ngôn ngữ của dân tộc Đặc điểm nổi bật của cấu trúc lục bát là vần lng Vần lng lại phối hợp với vần chân, dựa vào nhau để phát triển, kéo dài trục ngữ đoạn, làm nên tính liền mạch về điệu tính, dễ nhớ, dễ thuộc Vần bằng lại ở hai vị trí trong một dòng thơ tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển Những đặc điểm ngữ âm này phù hợp với việc diễn tả niềm riêng và cả sắc âm giai điệu tâm tình của cả cộng đồng.

1 2 Vài nét về Thạch Quỳ và thơ Thạch Quỳ

1.2.l Vài nét về Thạch Quỳ

Thạch Quỳ tên thật là Vơng Đình Huấn, sinh ngày 8- 8- 1941 tại xã Trung Sơn, huyện Đô Lơng, tỉnh Nghệ An Hiện tại, ông và gia đình c trú tại số nhà

228, đờng Phong Định Cảng, phờng Hng Dũng, thành phố Vinh Nơi ông sinh ra

làng ở khuất trong hẻm núi, đờng đi vào coi nh không có Tôi sinh trong một làng quê hẻo lánh, nghèo khổ [47] Đó là một vùng quê bán sơn địa có ngọn núi

Quỳ lổn nhổn những thứ đá mà ngời địa phơng gọi bằng những cái tên ngộ nghĩnh, kì quặc nh đá xe cồ, đá xe kéo, đá ông voi, đá ván trợt, đá vụt mo, đá quỳ, và đá quỳ đã gợi ý cho ông đặt bút danh Thạch Quỳ kí dới những bài thơ

đầu tay Thạch Quỳ rất yêu cái làng quê nghèo nàn sỏi đá của mình- ở đó, cách

đây hơn năm mơi năm có đứa trẻ lên sáu thuộc lòng bản Chinh phụ ngâm bằng

chữ Hán của Đặng Trần Côn; có bà mẹ tần tảo, lam lũ nhng có thể đọc ngợc Truyện Kiều; có ông nội là một đồ nho, một trí thức nông thôn có uy tín trong làng chữ nghĩa Ông ngoại Thạch Quỳ đỗ liền bốn khoa tú tài nên trong vùng gọi

là cụ Hàn Tứ Tất cả những kỉ niệm về quê hơng thủa thiếu thời đã nhen nhóm trong tâm hồn ông sự đam mê thơ ca một cách cuồng nhiệt Năm 11, 12 tuổi Thạch Quỳ đã bắt đầu làm thơ Trong bài báo Có thể có tính duy nhất của thơ

[47], ông nhớ lại, năm 16 tuổi xuống Vinh để học trờng cấp ba, lần đầu tiên nhìn thấy những tập thơ chép tay có đến ba bốn bài hoàn toàn chồng khít lên những bài thơ tôi viết trớc đó, cho đến ngày nay tôi không dám nói với ai Mấy năm học

ở khoa toán Trờng đại học s phạm Vinh (nay là Trờng đại học Vinh), ông dành

Trang 23

thời gian ban ngày để học toán, ban đêm làm thơ Mời giờ đêm, kí túc xá tắt

điện, bạn bè đi ngủ còn ông nằm trên giờng cầm chiếc bút chì ghi nguệch ngoạc trong bóng tối Mãi về sau, khi điều kiện đã khá hơn nhng ông vẫn giữ thói quen làm thơ làm thơ ở bất cứ chỗ nào có thể nh ngồi trong hầm nấp máy bay, bên bếp lửa, bên vệ đờng, nơi vỉa hè ồn ào, bụi bặm vừa uống bia hơi, hút thuốc lào vừa làm thơ Năm 19 tuổi, thơ ông đợc đăng trên báo Văn nghệ Sau khi tốt nghiệp ngành s phạm toán, ông đợc phân công giảng dạy bộ môn toán ở một trờng cấp

ba huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Thời gian này, ông vừa dạy học vừa làm thơ Những bài thơ đầu tay của thầy giáo dạy toán đợc tập hợp thành tập thơ đầu tiên

có tên Sao và đất (in chung, 1967) Năm 1973, ông chuyển công tác về Hội văn

học nghệ thuật Nghệ Tĩnh, sau này là Hội văn học nghệ thuật Nghệ An, trở thành ngời làm thơ, viết văn chuyên nghiệp Ông đã từng giữ chức ủy viên thờng

vụ Hội văn học nghệ thuật Nghệ Tĩnh Cũng trong thời gian công tác ở Hội văn nghệ tỉnh, Thạch Quỳ đã học Trờng viết văn Nguyễn Du, có một năm tu nghiệp tại trờng viết văn Gorki (Liên xô cũ) Thạch Quỳ đợc nhiều ngời đánh giá là có tài, có cá tính trong sáng tạo nghệ thuật Nhng ông có cái tật là ngang bớng, nhiều lúc gàn và ít nhiều kiêu ngạo Vì thế, lãnh đạo thờng không thích, còn bạn

bè mới quen dễ ngán ông Nhng đằng sau cái vẻ bớng bỉnh và chút ít kiêu ngạo

đó là một tình cảm rất mực chân thực, không quanh co vòng vèo, không ngụy trang hoa lá Đó là tính cách nhất quán của Thạch Quỳ mà những ngời bạn chơi lâu năm với ông mà trong số đó không ít ngời ở Hà Nội khẳng định một cách thân quý Cái tính cách ấy thể hiện bằng cái vẻ bề ngoài tuềnh toàng, xộc xệch, nông dân hơn những ngời nông dân Cá tính Thạch Quỳ đi vào thơ, khúc xạ vào thơ trăm phần trăm Bây giờ thì Thạch Quỳ đã về hu Hàng ngày, ông vừa bán lạc rang, thịt bò khô, cùng bên cạnh là chiếc điếu cày và vài ba thứ nhôm nhoam vừa làm thơ Ông làm thơ trong sự tĩnh lặng của tâm hồn, nhng ông cũng trăn trở về thơ khi viết: Thơ là con đẻ của sự tĩnh lặng đồng thời /à thiên sứ trở

về nhập hồn trong tự tĩnh lặng đó Tiếc thay, cuộc sống hiện đại không nhiều khoảng trống cho sự tĩnh lặng đó [45].

Thạch Quỳ đã công bố 7 tập thơ theo thứ tự thời gian nh sau:

Sao và đất( in chung), Nxb Nghệ An, Vinh, 1967.

Trang 24

Tảng đá và nhành cây, Nxb Nghệ An, Vinh, 1973.

Nguồn gốc cơn ma, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1978.

Con chim tà vặt, Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh, 1985.

Cuối cùng vẫn chỉ mình em, Nxb Nghệ An, Vinh, 1986.

Đêm giáng sinh, Nxb Nghệ An, Vinh, 2004.

Thơ Thạch Quỳ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2006.

Ngoài việc làm thơ, Thạch Quỳ còn viết nhiều bài lí luận phê bình về thơ, giới thiệu thơ của bạn bè, nghiên cứu ngữ văn, lịch sử, đăng trên các báo Văn nghệ, Tạp chí Sông Hơng( Huế), Tạp chí Sông Lam( Nghệ An), Tạp chí Văn nghệ Thanh Hóa, Thành công của Thạch Quỳ trong sự nghiệp thơ đợc ghi nhớ bằng các giải thởng sau đây:

Giải ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1973

Giải A của Hội liên hiệp văn học nghệ thuật toàn quốc năm 2006

Giải A giải thởng nghệ thuật Hồ Xuân Hơng lần thứ ba( tỉnh Nghệ An)

Đọc thơ Thạch Quỳ, ta dễ dàng nhận ra cái chất xù xì, gân guốc nhng rắn chắc nh đá núi ngàn năm đi qua gió sơng; ý thơ thì thâm trầm, sâu sắc, có chiều suy nghĩ trăn trở của kiếp nhân sinh sống hết mình trong cõi tạm Thơ Thạch Quỳ giàu hình ảnh, giàu tính triết lí Nhiều câu thơ, nhiều bài thơ có tính đa nghĩa sâu sắc

ông bàn về thơ, chất lợng thơ hiện nay, vấn đề thơ hay, về tính duy nhất trong

Trang 25

thơ, trong nhiều bài viết Bàn về thơ và thiên chức của nhà thơ, ông cho rằng:

Ngời thơ không phải là nghề lắp ráp xác chữ, xác hình mà là cái nghề có phép thần làm cho hồn chữ, hồn hình hòa đồng với xác mà dựng lên sự sống [46]

Theo ông, thơ trớc hết phải là thơ đã, nghĩa là luôn luôn tìm tòi sáng tạo, là lấy

cái đẹp, cái nhu cầu thẩm mĩ làm cứu cánh Trong bài Thơ cao hơn mọi hiểu biết

về thơ, ông khẳng định: Thơ cao hon mọi hiểu biết về thơ Thơ rộng đờng phát triển Thơ có khoảng trời tự do của thể loại Dùng lí trí hẹp hòi, cằn cỗi để vẽ đ- ờng cho thơ đi e rằng khó tránh khỏi ngõ cụt Sử dụng thơ nh vũ khí tuyên truyền mang tính thực dụng thì chất lợng cũng chỉ loanh quanh trong khu vực ấy [44]

Từ một vài lời tuyên ngôn trên về thơ, ta thấy Thạch Quỳ đã góp phần đẩy lí thuyết về thơ phát triển thêm một bớc Mặt khác, đằng sau những lời tuyên bố kia là một tấm lòng yêu thơ, đam mê thơ đến độ sâu sắc Nhớ lại, 19 tuổi có thơ

in trên báo Văn nghệ, ông sung sớng đến nỗi thỉnh thoảng đem tờ báo có in thơ mình ra đọc, rồi lại thoáng nghi ngờ có phải đó là thơ mình không Từ đó, ông càng say mê và tự tin hơn để bớc vào làng thơ Cũng phải khách quan thừa nhận bắt đầu bớc vào làng thơ, tuy cha có phong cách rõ rệt nhng thơ Thạch Quỳ đã

có khẩu khí riêng Ngay cách đặt tiêu đề các bài thơ nh những cái tít báo Tặng những cô gái đập đá bên đờng không tên, Bài hát của những ngời nhổ cỏ năn, cỏ lác ở vùng chiêm trũng, Mừng hợp tác xã Xuân Hòa trừ xong nạn sâu keo sau lụt, ta đã nhận ra khẩu khí Thạch Quỳ Có ngời cố tình tạo phong cách riêng

cho mình bằng cách đặt tiêu đề cho lạ, tìm chữ nghĩa bắt mắt hoặc cách diễn đạt tân kì Còn đối với Thạch Quỳ thì cứ chân chỉ, thật thà, bộc trực Tình cảm trong thơ ông cũng thật thà, bộc trực nh hạt lúa củ khoai nhng không rơi vào nôm na,

mà rất thơ Hiếm có trong thơ Thạch Quỳ những cảm xúc ý nhị mà trớc đây ngời

ta thờng gắn cho là cảm xúc tiểu t sản kiểu nh: Lòng nh đất lặng thầm mơ dấu guốc/ Cỏ thanh thiên hoa trắng đợi em về (Đợi em ngày giáp tết)

Hầu hết thơ ông thể hiện cách nghĩ, cách cảm khỏe khoắn; câu thơ chắc nịch và khá gọt dũa Nhiều câu thơ, bài thơ có ẩn ý sâu xa, nghĩa là có biểu tợng nhiều mặt Nói cách khác, nhiều bài thơ của ông không chỉ đợc hiểu một nghĩa

mà ngời đọc có thể liên tởng đến nhiều khía cạnh khác nhau Điều đó phù hợp với bản chất hàm súc đa nghĩa của thơ Thạch Quỳ là nhà thơ luôn luôn có khát

Trang 26

vọng tìm tòi, sáng tạo Dĩ nhiên, không phải mọi sự tìm tòi của ông đều thành công Thời kì đầu, thơ Thạch Quỳ nhiều lời, dài dòng hoặc cảm xúc ra ngoài tầm kiểm soát của ngời viết, hoặc ý nghĩ triền miên, dàn trải Đôi lúc, ông không làm chủ đợc ngòi bút của mình nên có những câu thơ dễ dãi Dẫu vậy, thành công hay thất bại ta vẫn quý ông- một nhân cách trong sáng, một tâm hồn luôn luôn trăn trở, không lời biếng trong suy nghĩ và trong cách thể hiện, sống hết mình vì thơ Thơ Thạch Quỳ chủ yếu viết về hai đề tài chính, đó là đề tài chiến tranh và

đề tài nông thôn

1.2.2.2 Đề tài chiến tranh

Thạch Quỳ là nhà thơ cùng thế hệ với những Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Vơng Trọng, Bởi vậy, không có lí do gì mà Thạch Quỳ không viết về đề tài chiến tranh Trong một số bài thơ của ông, ta nhận biết cuộc sống của một dân tộc đầy gian khổ, hi sinh và mất mát nhng kiên cờng bất khuất, anh dũng hiên ngang Viết về đề tài chiến tranh, Thạch Quỳ viết về những con ngời cụ thể và không chiến công của họ Đó là chiến công của ngời chiến sĩ có tên là Huyền, dùng cùi tay kiên nhẫn bí mật bò lên để tiêu diệt xe tăng địch Bài thơ có cấu tứ độc đáo, kể chuyện chiến công mà lại không phải kể lể Hình ảnh thơ đợc dựng lên sắc nét:

Những hàm răng xích sắt xe tăng

Đang nhai nghiến ruộng vờn trong lửa đỏ

Đang nhai nghiến xóm làng trong máu đỏ

Anh trờn lên bằng hai chiếc cùi tay

Bài thơ miêu tả ngời chiến sĩ bị thơng dùng hai chiếc cùi tay trờn lên, ớng về phía mục tiêu một cách căm giận và quả cảm Nhng bài thơ kết thúc một cách đột ngột đầy cảm động Thạch Quỳ đã phác họa đợc vẻ đẹp cao cả nhng hết sức bình dị của những ngời chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận:

h-Xác xe tăng bẹp dí bên cầu

Và tôi nhớ hình nh thuở nhỏ Huyến đã ngồi nơi ấy để buông câu

Trang 27

Viết về đề tài chiến tranh, Thạch Quỳ đã ghi lại dợc những suy nghĩ, những cảm xúc về số phận con ngời, sự hi sinh, nỗi buồn niềm vui và hạnh phúc của con ngời trong dòng chảy của dân tộc và thời đại Ông không ngần ngại nói

về sự khốc liệt của chiến tranh: Những hàm răng xích xe tăng/ Đang nhai nghiến ruộng vờn trong máu đỏ ( Huyến) Nhng từ trong bạo tàn chết chóc ông vẫn

nhận ra sự sống bất diệt của dân tộc qua hình ảnh thơ tinh tế đến bất ngờ: Những con bê, bom xẻ đôi bò mẹo/ Vẫn ngậm nguyên núm vú nhay hoài (Tâm sự thần

sấm sét) Từ sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, từ gạch vụn thành Vinh, Thạch Quỳ đã nhận ra sự sống đang hồi sinh trong cái chết: Có thành phố nào nh thành phố này không/ Đã thấy sắc hồng cời trong gạch vụn (Gạch vụn thành Vinh)

Viết về chiến tranh, Thạch Quỳ đã dựng đợc những hình ảnh điển hình bi thảm nhng ở một phía khác, ông cũng đã thổi vào thơ những cảm xúc tơi mát, thi vị Miêu tả đàn trâu nối đuôi nhau vào tuyến lửa, ông viết:

Chân sng húp hãy còn móng cứng

Vợt tra nắng đèo Ngang dốc dựng

Xuống hố bom đầm nớc lút mình

Đỉnh sừng nhô hai hạt nếp trắng tinh ( Trâu đi)

Từ đầu cho đến cuối bài thơ, ngời đọc cảm nhận đợc cái lầm lì gan góc của đàn trâu vào tuyến lửa Nhng đến câu Đỉnh sừng nhô hai hạt nếp trắng tinh

thì khiến chúng ta chuyển sang một cảm xúc tơi mát bất ngờ Nếu không phải là ngời có một tuổi thơ chăn trâu, thơng trâu thì không thể nhận ra hai hạt nếp trắng tinh trên đỉnh sừng trâu, càng không thể có đợc cảm xúc của mình trớc hai hạt nếp trắng tinh giữa bốn bề bom đạn chiến tranh ác liệt.

1.2.2.3 Đề tài nông thôn

Thạch Quỳ rất yêu cái làng quê của mình, một làng quê nghèo nàn sỏi

đá thuộc huyện Đô Lơng Chính tình thơng yêu đằm thắm và da diết đã nhen nhóm tâm hồn thơ Thạch Quỳ Vốn xuất thân từ làng quê, gắn bó với quê hơng nên khi viết về đề tài nông thôn, Thạch Quỳ có nhiều thành công Trong thơ ông, một vùng thiên nhiên cằn cỗi, nhọc nhằn hiện lên với màu ghỉ sắt cháy vàng; với những ngời nông dân luôn có dấu ngấn bùn trên các móng chân, ngón tay; với

Trang 28

Cây trâm bầu gió nhổrồi/ Quẳng lên cả rễ ngang trời mà quay; với Tiếng đa đa kêu vỡ đá gầy Vùng quê ông cũng đã từng đi qua hoàn cảnh xã hội khủng khiếp.

Ngời nông dân suốt một đời trớc mặt là con trâu, sau lng là đòn roi ông chủ Những kí ức khổ đau của quê hơng, những gơng mặt ngời nhem nhuốc bởi thân phận thấp hèn trớc đây, những cảnh ngộ thơng tâm một thời đã ám ảnh nhà thơ, thức dậy những rung động thơ, bồi đắp một tài năng và tấm lòng để ông xây dựng những hình tợng thơ ám ảnh ngời đọc Viết về cái nghèo một thời ở nông thôn, Thạch Quỳ có những hình ảnh thơ rất ngộ nghĩnh, rất Nghệ: Cái nghèo đội nón cời và nhón đi từng bớc/ Cời sa răng trên miệng ấm sứt vòi (Cái nghèo)

May thay, cái nghèo nh nguồn năng lợng kích thích sáng tạo nghệ thuật, giúp

ông viết đợc những câu thơ ám ảnh Hãy theo dõi cách nhà thơ chỉ mặt đặt tên cho cái nghèo ở quê ông: Mày núp trong vừng tên mẹ răn reo/ Mày ẩn dới gót chân em nứt nẻ /Mày luồn lọt qua trăm ngàn mối chỉ/ Để nằm trong mảnh vá áo con ta/ Đêm ta ngủ thì mày hóa kiến/ Bò nôn nao trong ruột đói của ta (Cái

nghèo)

Phải thừa nhận, Thạch Quỳ có những quan sát về nông thôn hết sức tinh

tế Qua thơ ông, ta thấy nông thôn Việt Nam đâu chỉ có hội hè, đám rớc, gái trai

hò hẹn, tơ tằm trữ tình nh trong thơ Nguyễn Bính mà còn có nhiều khía cạnh khác nh đói nghèo, bão lụt, cày sâu cuốc bẫm, một nắng hai sơng lam lũ nhọc nhằn Đôi khi, ta cũng bắt gặp trong thơ viết về nông thôn của Thạch Quỳ những liên tởng độc đáo bất ngờ

Chúng tôi ngồi yên lặng dới hàng cây

Dới cao vợi sao dày nh nếp nổ

( Tiễn em trai đi vào, tiễn em gái đi ra)

Đọc thơ Thạch Quỳ, ta còn bắt gặp hình ảnh nông thôn hiện lên qua sự bồi hồi, lắng đọng từ những âm thanh làng quê, từ sự sinh nở diệu kì của tạo vật:

Bọt trứng vàng gốc lúa/ Bùn sâu nằm ủi tăm Âm thanh làng quê trong thơ Thạch

Quỳ sao mà rộn ràng và êm ái đến vậy: Tiếng gà gáy cong nh vòi hái; hoặc: Tiếng vàng anh tròn nh đồng tiền/ Tiếng cu đất tròn vo hạt đỗ/ Tiếng cú rúc soi

nh thắng mật, và Tiếng dụ dị trầm đều nh đất thở( Tiếng chim).

Trang 29

Thạch Quỳ là nhà thơ làng quê thứ thiệt Bức tranh làng quê của Thạch Quỳ có nhiều mảng màu đối lập Bên cạnh những câu thơ miêu tả công việc nhà nông nặng nhọc cày cấy, gieo trồng, gặt hái giữa mịt mù thiên tai hạn hán, lụt lội, bão tố nhng cũng ở cái chốn ấy có những cô thôn nữ xinh đẹp, duyên dáng,

đa tình: Quần xắn cao ngang gối giục trâu cày/ Ghẹo khách qua đờng, mợn câu hát dặm/ Che nón cời, gơng mặt đỏ nh say ( Đất Đô Lơng) Mảnh đất quê hơng

nghèo khó: Đào đất lên nơi nào cũng đỏ/ Đập đá ra có ánh lửa ngời nhng qua

bàn tay cần cù của những ngời dân nơi đây thành: Lúa chín sẫm trên lng/Con cu vày hót xù lông cổ/ Nắng lên rồi tu hú gọi bâng khuâng

Viết về nông thôn, thơ Thạch Quỳ có nhiều cung bậc trầm bổng nh cây

đàn muôn điệu Ngôn ngữ thơ sinh động, uyển chuyển, có nhiều nét đặc sắc Thạch Quỳ viết về nông thôn bằng một tấm lòng yêu thơng đằm thắm, chân thành

1.3 Tiểu kết

Thơ là loại hình nghệ thuật độc đáo Ngôn ngữ thơ là một phơng diện hình thức đặc thù, khác thờng Đặc trng của ngôn ngữ thơ đợc thể hiện ở các bình diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, trong đó bình diện ngữ âm đóng vai trò hết sức quan trọng, cần đợc quan tâm nghiên cứu thấu đáo

Thạch Quỳ thuộc lớp nhà thơ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống

Mĩ và thời kì xây dựng, đổi mới Thơ Thạch Quỳ có nhiều nét đặc sắc trên cả hai phơng diện nội dung và hình thức thể hiện Giọng thơ ông trầm bổng, nhiều cung bậc, có sự nhất quán trong t duy nghệ thuật và thực sự có cá tính, đa dạng ở giọng điệu Ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ xù xì, gân guốc, bộc trực nhng cũng rất tinh tế và đa nghĩa Do đó, ở chơng liếp theo, chúng tôi đi sâu khảo sát một số bình diện đặc sắc của ngôn ngữ thơ Thạch Quỳ

Trang 30

trong nền thi ca nói chung Bằng trực cảm nghệ thuật của mình, độc giả của bất kì dân tộc nào cũng dễ dàng nhận ra các vị trí hiệp vần trong thơ và vận dụng chúng trong câu thơ (dòng thơ), khổ thơ với những cấu trúc thể loại quen thuộc Ngày nay, những đòi hỏi về vần trong thơ phần nào đợc nới lỏng Có những nhà thơ tuyên bố làm thơ không vần nhng trên thực tế vẫn cần đến vần Do vần trong thơ có một vị trí quan trọng nh thế, cùng với lịch sử phát triển của thơ ca, các nhà nghiên cứu đã chú ý khảo sát, tìm hiểu, định nghĩa về vần thơ song cho đến nay cách hiểu về vần thơ vẫn cha tìm đợc tiếng nói thống nhất Sở dĩ có tình trạng

nh vậy vì một mặt vần trong thơ hết sức đa dạng, phức tạp; cách tổ chức vần thơ phản ánh những nét đặc thù của từng ngôn ngữ; cách nhận diện vần thơ cũng xuất phát từ những góc độ khác nhau Tiến đến xây dựng một khái niệm chuẩn

về vần thơ có tính chất phổ quát cho thơ ca mọi dân tộc có lẽ cần phải chờ những công trình nghiên cứu trong tơng lai Riêng vần thơ tiếng Việt cũng đã có một lịch sử nghiên cứu gồm nhiều loại ý kiến khác nhau Có thể dẫn ra hai nhóm ý kiến sau đây:

- Từ góc độ lí luận văn học, các nhà lí luận phê bình đều xem vần là yếu tố quan trọng của hình thức thơ ca, là phơng tiện để chuyển tải nội dung t tởng, cảm xúc và thi hứng của nhà thơ, góp phần tạo nên âm hởng hài hòa và hiệu quả giao tiếp của thơ Xét vần trong cấu trúc hình thức của câu thơ, bài thơ, nhà nghiên

Trang 31

âm hòa hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu thơ để hởng ứng nhau [11,tr.143] Định

nghĩa này tơng đối khái quát, chú ý đến đặc điểm cộng hởng, hòa âm của vần

T-ơng tự, tác giả Nguyễn LT-ơng Ngọc trong một cuốn sách lí luận văn học cũng đa

ra định nghĩa về vần : Sự lặp lại những thanh đọc theo một âm ở cuối hay quảng giữa dòng thơ để tăng tiết tấu và sự biểu hiện của từ gọi là vần [30, tr.160] Theo

định nghĩa này, thanh điệu có vai trò to lớn trong vân thơ, khẳng định chức năng của vần là tăng tiết tấu và sức biểu hiện của từ Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa vần thơ rõ ràng và bao quát hơn: Vần là sự lặp lại những khuôn

âm giống nhau hoặc tơng tự ở giữa hay cuối dòng thơ để tăng sự liên tởng và sức gợi cảm của câu thơ [12,tr.277] So sánh với các định nghĩa trên thì định nghĩa

này rõ ràng và dễ hiểu hơn Tuy nhiên, khái niệm khuôn âm cần phải giải thích

rõ hơn Có thể kể thêm cách định nghĩa của Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ

biên, ở đây vần đợc coi là hai hoặc nhiều âm tơng tự, có khi đồng nhất, sắp xếp theo luật thơ hay cách nói trong ca dao và một số tục ngữ [tr.848] Điều đáng

chú ý, các định nghĩa nêu trên cha nói đến chức năng liên kết- chức năng cơ bản của vần Một số tác giả trên cơ sở khảo sát hình thức và thể loại thơ ca Việt nam

đã nêu cách hiểu về vần mặc dù không trực tiếp nêu định nghĩa Các tác giả Bùi văn Nguyên, Hà Minh Đức cho rằng vần có chức năng là lặp lại ngữ âm để làm tăng sự nhịp nhàng của câu thơ và để làm cho mạch thơ gắn chặt với nhau

[33,tr.14] Cũng trên tinh thần ấy, Bùi Công Hùng xem vần: Về phong diện ngữ

âm có thể coi nh sự lặp lại các âm trong tổ hợp âm nối giữa hai dòng thơ và kéo dài đến cuối bài thơ [18,tr.160] Các nhà lí luận phê bình còn giải thích cách

gieo vần trong các thể thơ, xem xét vần thơ theo các vị trí,

- Từ góc độ ngôn ngữ học, một số nhà nghiên cứu đã xem xét vần thơ gắn liền với những kiến thức ngôn ngữ học Chẳng hạn, Nguyễn Phan Cảnh (1969) tìm hiểu Mô hình cơ cấu ngữ âm học của vần trong Truyện Kiều, Lê Anh Hiền

(1973) xem xét Vần thơ và cái nền của nó trong thiệt Nam, Võ Bình( 1975) đã Bàn thêm một số vấn đề về vần thơ, Các tác giả đã thảo luận khái niệm vần thơ,

các loại vần chính, vần thông, vần ép; tập trung tìm hiểu các thành phần tham gia hiệp vần thơ Theo Võ Bình: Vần trong thơ chủ yếu là sự hài hòa tạo ra từ vận mẫu của âm tiết, nhng sự hài hòa ấy có sự tham gia có tính chất không kém phần

Trang 32

quyết định của các yếu tố khác nhau nh phụ âm đầu và thanh điệu [4,tr.31] Còn

Nguyễn Phan Cảnh cho rằng Vấn đề chính là việc là lu giữ và truyền đạt các tham số của các đơn vị thông tin nh nguyên âm, phụ âm trong khi tổ chức các quá trình của thể loại [6,tr.123] Sau này, Mai Ngọc Chừ là ngời nghiên cứu vần

thơ dới ánh sáng ngôn ngữ học nên đã đa ra một định nghĩa về vần thơ khá đầy

đủ và chính xác: Vần là sự hòa âm, sự cộng hởng theo luật ngữ âm nhất định giữa hai loại âm tiết giữa hay ở cuối dòng thơ và thực hiện chức năng nhất dính

nh liên kết các dòng thơ, gợi tả và nhấn mạnh sự ngừng nhịp [8,tr.12] Vậy là, để

đi đến một định nghĩa chuẩn về vần thơ thì cha có nhng chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Nguyễn Quang Hồng sau đây để làm việc: Vần là hiện tợng hòa phối tơng ứng âm thanh giữa các đơn vị ngôn ngữ trên những vị trí nhất

định nhằm liên kết gắn nối các vế tơng đơng trong ngôn từ thi ca [22,tr.34] Trên

quan điểm ngôn ngữ học, một ngôn từ thi ca đợc phân biệt với một ngôn từ văn xuôi trớc hết ở chỗ, nếu trong ngôn từ văn xuôi, các đơn vị ngôn ngữ xuất hiện một cách tự nhiên, liền mạch và xuôi chiều thì trong ngôn từ thơ ca chúng đợc phân chia thành những vế tơng đơng chiếu ứng lên nhau ở những vị trí nhất định Một vế tơng đơng nhỏ nhất trong ngôn từ thi ca là một nhịp Giữa các vế tơng đ-

ơng nh thế thờng có sự liên kết và chiếu ứng với nhau về mặt âm thanh Một trong những phơng tiện liên kết thơ ca là tính tơng đơng; không có nhu cầu liên kết các vế tơng đơng về mặt âm thanh thì không sản sinh ra hiện tợng hiệp vần

dù trong ngôn từ có xuất hiện dày đặc các đơn vị âm thanh tơng đồng

2.1.1.2 Chức năng của vần thơ

Về chức năng của vần thơ, hầu hết các tác giả đều có một cách nhìn

t-ơng đối thống nhất Đó là: Vần là nhịp cầu nối liền các câu vào một bài thơ

[12], Là chất xi măng gắn liền các câu thơ, các ý thành một thể thống nhất hoàn chỉnh [8], Vần nhằm nối liền tiết điệu và âm của các dòng thơ, nhấn mạnh vào một số từ [30], Vần có tác dụng liên kết dòng thơ Vần giúp cho thơ dễ nhớ, dễ thuộc (Nguyễn Nguyên Trứ, 1991) Theo Nguyễn Phan Cảnh, hiệp vần là hiện t-

ợng tạo nên những tiếng vọng theo chu kì, đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa các

đơn vị ngữ điệu Hay nói cách khác, với sự luân phiên nhất định của các vần trong bài thơ, dòng thơ sẽ đợc tổ chức lại thành từng khổ hay từng đoạn khác

Trang 33

nhau Ngay cả những bài thơ tự do, vần vẫn phát huy vai trò liên kết Nhờ vần

mà các câu thơ đợc tổ chức, liên kết thành một chỉnh thể theo những cấu trúc nhất định Vì thế, vần có vai trò quan trọng trong sự hình thành thể loại Trong quá trình vận động tạo vần, để thực hiện chức năng liên kết, vần có mối liên hệ chặt chẽ với nhịp Chúng tồn tại bên nhau, chế ớc lẫn nhau Vần nhấn mạnh và tạo cơ sở xác định nhịp và cùng với nhịp tạo nên sức mạnh biểu cảm riêng cho ngôn từ thơ ca Tóm lại, vần thơ có những chức năng sau đây:

- Vần thơ có chức năng liên kết ở các khổ thơ, bài thơ có vần, với chức năng tổ chức, vần nh sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau; do đó, giúp cho việc đọc đợc thuận miệng, nghe đợc thuận tai và làm cho ngời đọc ngời nghe

dễ nhớ, dễ thuộc Nói theo cách của ngữ pháp văn bản, vần có chức năng liên kết văn bản thơ và là một trong những phơng tiện liên kết chủ yếu trong các tác phẩm thơ ca

- Chức năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp và mối quan hệ giữa vần và nhịp Vần liên kết các vế tơng đơng trong ngôn từ thi ca Cho nên, có thể nói, ngắt nhịp là tiền đề của hiện tợng hiệp vần nhng ở chiều ngợc lại, chính vần cũng tác

động trở lại đối với nhịp Sự tác động này đợc biểu hiện ở chỗ nhịp khi có sự hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng, chỗ ngắt trở nên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn Hay nói cách khác, vần có chức năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp

- Vần và sức mạnh biểu đạt ý nghĩa của nó Trong một dòng thơ, từ hoặc tiếng (âm tiết) mang vần luôn luôn đợc nhấn mạnh, trở thành tiêu điểm của dòng thơ Do dó, vần không chỉ là hiện tợng ngữ âm thuần túy mà trong nhiều trờng hợp có sức mạnh biểu đạt ý nghĩa cho câu thơ, bài thơ

2.1.1.3 Cách hiệp vần trong thơ

Đơn vị hiệp vần trong thơ ca tiếng Việt là âm tiết Theo Mai Ngọc Chừ:

Tất cả các yếu tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt và hòa âm trong thơ Sự kết hợp chặt chẽ giữa âm đầu, âm chính, âm cuối có vai trò quyết định đến sự hòa âm của các âm tiết hiệp vần với nhau

[8,tr.91] Nh vậy, trong thơ Việt Nam nói chung, thơ Thạch Quỳ nói riêng, tất cả các yếu tố của âm tiết đều tham gia vào việc tạo lập âm hởng hài hòa cho thơ Nhng trong tất cả các yếu tố đó thì vai trò của thanh điệu, âm chính và âm

Trang 34

cuối nổi lên nh những yếu tố đắc dụng nhất, không thể thiếu đợc Do vậy, khi khảo sát vần thơ Thạch Quỳ không thể bỏ qua các yếu tố này bởi đó là những yếu tố cơ bản nhất, chủ yếu nhất

Trong thơ, từ hoặc âm tiết tham gia hiệp vần không đợc phép lặp lại nh

cũ Nói khác đi, hai từ hoặc hai âm tiết bắt vần với nhau vừa phải có phần đồng nhất lại vừa phải có phần khác biệt Cả hai mặt đồng nhất và khác biệt cùng tạo nên sự hòa âm, cùng làm nên vần thơ Khi bàn về vần thơ, Hôpkin đã đa ra một nhận xét thú vị: Cái đẹp của vần /à ởhaiyêú tô sự giống nhau hay sự đồng nhất

về âm thanh và sự không giống nhau hay sự khác biệt về nghĩa/ Dẫn theo Mai

Ngọc Chừ, [8]/

Về phân loại vần thơ, nhìn chung, các tác giả đều thống nhất là dựa vào một trong ba tiêu chí cơ bản: vị trí, thanh điệu và sự hòa âm Nếu dựa vào tiêu chí vị trí của các âm tiết hiệp vần, ngời ta chia ra vần lng và vần chân (trong vần chân tiếp tục chia ra vần liền, vần cách, vần ôm, vần chéo, ) Nếu dựa vào thanh điệu, ta có vần bằng, vần trắc Nếu phân loại dựa vào mức độ hòa âm, ta

có vần chính, vần thông, vần ép Ngoài ra, nếu dựa vào cách kết thúc vần (tức là cách kết thúc âm tiết), ngời ta chia ra vần mở (vần đơn), vần nửa mở, vần nửa khép, vần khép (ba loại sau gọi là vần phức)

Từ những nhận thức trên, chúng tôi tiến hành khảo sát vần các nguyên tắc hiệp vần trong thơ thạch Quỳ

2 1 2 Các nguyên tắc hiệp vần trong thơ Thạch Quỳ

2.1.2.l Dẫn nhập

Thơ ca cũng nh cuộc sống luôn luôn vận động và phát triển cả về nội dung và hình thức thể hiện Vần thơ cũng nằm trong xu thế phát triển chung đó Vần trong thơ tồn tại hay không tồn tại đã từng là đề tài bàn bạc, tranh luận của của các nhà nghiên cứu, các nhà thơ vào những năm năm mơi của thế kỉ XX Nhng một tiếng thơ có sức sống thực sự bao giờ cũng là một tiếng thơ kết hợp đ-

ợc sự độc đáo của cá nhân chủ thể sáng tạo với xu hớng phát triển của thơ ca nói chung Đánh giá về khuynh hớng phát triển của thơ Việt thế kỉ XX, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khẳng định: Thơ ca thê'kỉ XX chứng kiến hai khuynh hớng trái ngợc nhau trong việc vận dụng thể thơ Bên cạnh khuynh hớng tự do, giải thoát

Trang 35

khỏi các thể thơ cố định nghiêm ngặt lại có khuynh hớng từ thơ hiện đại quay về với truyền thống [35,tr.244] Trong số những nhà thơ đi theo khuynh hớng tự do

hóa, hiện đại hóa thơ ca có nhà thơ Thạch Quỳ Điều đó đợc thể hiện trong cách

tổ chức vần thơ, cách hiệp vần của ông Khảo sát 150 bài thơ Thạch Quỳ, chúng tôi thống kê đợc 1857 cặp vần Nếu tính trung bình, mỗi bài thơ Thạch Quỳ gồm khoảng 12 cặp vần, một con số khiêm tốn Trong thơ nói chung, thơ Thạch Quỳ nói riêng, tất cả các yếu tố trong cấu trúc âm tiết đều tham gia hiệp vần, tạo âm hởng hài hòa cho thơ nhng trong đó thì vai trò của thanh điệu, âm chính và âm cuối nổi lên nh là những yếu tố đắc dụng nhất Do vậy, khi đi vào khảo sát vần thơ Thạch Quỳ, chúng tôi sẽ không xem xét tất cả các yếu tố mà chỉ quan tâm ba yếu tố cơ bản nh đã nêu trên

Vần thơ muốn khảo sát dới góc độ ngôn ngữ học phải đợc ghi theo kí hiệu phiên âm quốc tế( API) Trong quá trình khảo sát, chúng tôi sử dụng cách ghi âm âm vị học nh trong các sách Ngữ âm tiếng Việt ở bậc đại học( chủ yếu

dựa vào cách ghi của Đoàn Thiện Thuật, 1977)

2.1.2.2 Sự thể hiện của các yếu tố tham gia hiệp vần trong thơ Thạch Quỳ

a Thanh điệu trong hiệp vần thơ Thạch Quỳ

- Tiểu dẫn

Trong các vần thơ, chức năng hòa âm của thanh điệu đợc biểu hiện ở chỗ các âm tiết tham gia hiệp vần với nhau bao giờ cũng mang trên mình nó hai thanh cùng âm điệu, hoặc là cùng bằng, hoặc là cùng trắc Hai âm tiết có thể

đồng nhất phần vần hoặc phần đoạn tính nhng thanh điệu không phân bố theo quy luật trên thì không thể bắt vần với nhau (theo quan niệm từ xa đến nay) vì

Trang 36

S.lợng 294 218 334 202 304 481 14 1857

Ví dụ:

(l) Ta lớn rồi đâu phải buổi thơ ngây

Khẽ gạch tròn đánh đáo dới hàng cây (Gạch vụn thành Vinh)

Trong hai câu thơ trên, ngây hiệp vần với cây, cùng thanh ngang (cao), thuộc

nhóm bằng

(2) Nắng trôi bóng nón đến gần

Nét cời thoáng giữa muôn vàn lá xanh (Ngủ ngày)

Ta có, gần hiệp vần với vàn, cùng thanh huyền (thấp), thuộc nhóm bằng.

(3) Còn em còn tôi ta còn cuộc chơi

Phong Nha độc mộc khúc khuỷu lới trời (Phong Nha)

Ta có, chơi hiệp vần với trời, cùng nhóm bằng nhng không cùng âm vực: chơi,

thanh ngang (cao) còn trời, thanh huyền (thấp).

(4) Điều tôi biết ngời xa đã biết

Cuộc phù du ớn lạnh ở da mình

Em trong sạch và anh tinh khiết

Muốn vào đời không có giấy khai sinh (Những quyển sách)

Ta có, biết hiệp vần với khiết, cùng thanh sắc(cao), nhóm trắc.

(5) Tra nay nắng, tôi về thăm dấu cũ

Vệt máu ngỡ khô rồi trên kiếm gỗ (Qua đền Công )

Ta có, cũ hiệp vần với gỗ, cùng thanh ngã (cao), nhóm trắc.

(6) Tôi về trong nôi quê/ Gió mềm trên lá cỏ

Những đám mây tuổi nhỏ/ Bay la đà trên đê (Hoa tháng t)

Ta có, cỏ hiệp vần với nhỏ, cùng thanh hỏi (thấp), nhóm trắc, và quê hiệp vần

với đê, cùng thanh ngang (cao), nhóm bằng.

(7) Núi sụp xuống và ngời trong đáy vực

Nữ thần thoại của đời ta có thực

Ta có, vực hiệp vần với thực, cùng thanh nặng( thấp), nhóm trắc.

(8) Dòng sông trắng ngoài kia/ Cánh buồm nâu cuối bãi

Cây ngô rồi cây cải / Bờ dâu líu ríu xanh

Trang 37

Ta có, bãi hiệp vần với cải, cùng nhóm trắc nhng khác âm vực: bãi, thanh ngã

(cao), còn cải, thanh hỏi( thấp).

(9) Đồng Cốm Khê cơn lũ lớn đi qua

Trứng ếch nở bầm đen trên ruộng mạ.

Ta có, qua hiệp vần với mạ, đồng nhất phần đoạn tính nhng thanh điệu không

cùng âm điệu: qua, thanh ngang( bằng), còn mạ, thanh nặng( trắc) Cách bố trí

thanh điệu kiểu này chúng tôi xếp vào loại đặc biệt( có 14 trờng hợp)

sự coi trọng nguyên tắc bố trí thanh điệu trong vần thơ vẫn là t tởng chủ đạo trong cách hiệp vần của Thạch Quỳ Điều đó đợc thể hiện ở các số liệu sau đây:

có 1843 cặp vần trên tổng số 1857 cặp thực hiện nguyên tắc bố trí thanh điệu cùng tuyền điệu, trong đó, nhóm bằng có 856 cặp vần, chiếm gần 46,4%; nhóm trắc có 987 cặp vần, chiếm gần 53,5% Trong nhóm bằng, cùng thanh ngang (cao) hiệp vần có 294 cặp vần, chiếm khoảng 15,9%; cùng thanh huyền (thấp) hiệp vần có 218 cặp vần, chiếm khoảng 11,8%; thanh ngang (cao) và thanh huyền (thấp) hiệp vần có 344 cặp vần, chiếm khoảng 18,6% Trong nhóm trắc, cùng thanh ngã hoặc thanh sắc (cao) hiệp vần có 202 cặp vần, chiếm khoảng 10,9%; cùng thanh hỏi hoặc thanh nặng (thấp) hiệp vần có 304 cặp vần, chiếm khoảng 16,4%; thanh ngã hoặc thanh sắc (cao) và thanh hỏi hoặc thanh nặng (thấp) hiệp vần có 481 cặp vần, chiếm gần 26,1% Xét trong từng nhóm chúng tôi nhận thấy, cùng thanh ngang (cao) hoặc cùng thanh huyền (thấp) hiệp vần chiếm tỉ lệ lớn hơn thanh ngang (cao) và thanh huyền (thấp) hiệp vần Với nhóm

Trang 38

trắc cũng có tình hình tơng tự: cùng thanh ngã và thanh sắc (cao) hoặc cùng thanh hỏi và thanh nặng (thấp) hiệp vần cũng có tỉ lệ lớn hơn thanh sắc, thanh ngã (cao) hiệp vần với thanh hỏi, thanh nặng (thấp) Xu thế phối thanh nh trên trong thơ Thạch Quỳ xuất phát từ hai lí do sau đây: l/ Do sự chế định của nguyên tắc cùng tuyền điệu (và đồng thời cùng âm vực thanh điệu) mà Thạch Quỳ đã tuân thủ một cách nghiêm ngặt, 2/ Do thơ Thạch Quỳ có quá nhiều vần thông và vần ép, nghĩa là các yếu tố đoạn tính trong phần vần ở mỗi cặp vần có sự khác nhau, phá vỡ sự hòa âm nên để tăng cờng tính đồng nhất cho các cặp vần thì việc

bố trí thanh điệu trong hiệp vần phải đồng nhất tuyệt đối, nghĩa là vừa cùng tuyền điệu vừa cùng âm vực Chẳng hạn: Chớ tởng trái tim mình dễ dãi / Cứ đều

đều nhịp đập thế thôi/ Chớ tởng trái tim rồi sẽ/ Theo thời gian năm tháng cũng dần nguôi (Trái tim) Khổ thơ này có hai cặp vần là dãi/ sẽ (vần ép) và thôi/ nguôi (vần thông); do phần đoạn tính trong mỗi cặp vần khác nhau quá lớn

(dãi/sẽ) hoặc có sự khác nhau chút ít (thôi/ nguôi) nên thanh điệu buộc phải

đồng nhất hoàn toàn để phát huy chức năng tăng cờng sự hòa âm cho từng cặp vần Hoặc: Chúng tôi ngồi yên lặng dới hàng cây/ Dới cao vợi sao dày nh nếp nổ/ Tay em gái gỡ dần từng nốt cỏ/ Trên gấu quần ớt đẫm của anh trai (Tiễn em

trai đi vào, tiễn em gái đi ra) Các cặp vần cỏ/ nổ, cây/trai là những vần thông

nên thanh điệu phải đồng nhất hoàn toàn để tăng cờng sự hòa âm cho các cặp vần đó Bên cạnh xu hớng phối thanh trong các cặp vần theo nguyên tắc cùng tuyền điệu và cùng âm vực (cao hoặc thấp) thì có một xu hớng bố trí các thanh

điệu hiệp vần cùng tuyền điệu nhng khác âm vực Cách bố trí thanh điệu trong các cặp vần cùng nhóm bằng hoặc nhóm trắc nhng các thanh khác nhau về âm vực, nghĩa là bằng- cao hiệp vần với bằng- thấp, trắc- cao hiệp vần với trắc- thấp Cách này khai thác sự đối lập trầm/ bổng của thanh điệu nhằm góp phần tạo âm hởng cho câu thơ, bài thơ Mặt khác, có đến 32 bài thơ lục bát trong số những bài thơ chọn khảo sát mà vần trong thơ lục bát có thanh điệu nhóm bằng nhng các thanh tham gia hiệp vần phải đối lập âm vực nên số vần cùng tuyền điệu nh-

ng khác âm vực có số lợng lớn là tất yếu

Chẳng hạn: Cháu nghe màu nắng hiện lên/ Tiếng đôi guốc gộc quai mềm sợi mây/ Dáng ông trên mảnh ruộng cày/ Bà phơi áo, dáng bàn tay lần lần (Cô

Trang 39

tôi) Trong bốn câu thơ trên, các cặp vần lên/ mềm, mây/ cày, cày/ tay có thanh

điệu nhóm bằng nhng khác âm vực: thanh ngang là thanh cao, còn thanh huyền

là thanh thấp Cách phân bố thanh điệu trong các cặp vần này bị chế định bởi thể thơ lục bát

+ Trong thơ Thạch Quỳ, chúng tôi cũng bắt gặp hiện tợng hiệp vần không cùng nhóm thanh bằng- trắc, nghĩa là vi phạm nguyên tắc cùng tuyền điệu Trong 1857 cặp vần có 14 cặp thanh điệu hiệp vần không theo nguyên tắc cùng tuyền điệu Đó là các cặp vần lá/ cha, mạ/sa, đâu/dầu, cày/xoáy, /ại/ai, lại/ bay, dại/ tơi, cha/ nữa, đây/ giày, điện/ lên, núi/ tôi, cạn/ than, nhỏ/ vô, / dữ Chẳng

hạn: Mây trắng ngang đầu không trở lại/Lá vàng ngập đất chẳng chờ ai (Mây

trắng mùa thu) Ta thấy, lại hiệp vần với ai, âm tiết lại, thanh nặng (trắc) còn ở

âm tiết ai, thanh ngang (bằng) không cùng tuyền điệu Sự vi phạm nguyên tắc

này có lẽ xuất phát từ lí do nội dung: vần là sự vận động ngôn ngữ để biểu đạt nội dung Hai âm tiết hiệp vần lại/ ai trong hai câu thơ cố tình vi phạm nguyên

tắc thanh điệu cùng tuyền điệu là để tạo thế đối cho hai câu thơ thể hiện thế đối tơng đơng trong t tởng, trong tình cảm của nhà thơ Hơn nữa, trong thực tế, hiện tợng hiệp vần không cùng nhóm bằng- trắc của thanh điệu từng xuất hiện khá phổ biến trong thành ngữ, tục ngữ ngời Việt Chẳng hạn: đắt chè hơn rẻ cá, tiền trao cháo múc, Trong thơ hiện đại, hiện tợng hiệp vần kiểu này cũng đợc một

số nhà thơ sử dụng Chẳng hạn, trong thơ Xuân Quỳnh: Không có chân có cánh/

Mà lại gọi là sông/ Không có lá có cành/ Sao gọi là ngọn gió (Vì sao?) Trong

thơ Chính Hữu, ta cũng bắt gặp cách hiệp vần nh thế: Nắm cơm bẻ nửa/ Là chia nhau một tra nắng, một chiều ma (Giá từng thớc đất) Nh vậy, hiệu quả hòa

âm của thanh điệu đâu chỉ hoàn toàn do nguyên tắc phân bố cùng tuyền điệu chi phối Quy luật phân bố thanh điệu cùng tuyền điệu nh đã nói ở trên có vai trò to lớn trong việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ nhng hoàn toàn không phải là duy nhất Có chăng, nó chỉ là nguyên tắc duy nhất đối với các thể thơ truyền thống nh lục bát, song thất lục bát, thơ Đờng luật còn thơ ca hiện đại, các cặp vần không cùng tuyền điệu cũng có thể tạo nên sự hòa âm cho các cặp vần

+ Trong khá nhiều trờng hợp, thanh điệu trong hiệp vần phát huy vai trò chủ đạo trong sự hòa âm cho các cặp vần Đó là những cặp vần có khuôn âm tiết

Trang 40

giống nhau hoàn toàn, nghĩa là giống cả âm đầu và phần vần Trong những trờng hợp này, thanh điệu đã thể hiện vai trò tăng cờng sự khác biệt cho các âm tiết hiệp vần để khỏi rơi vào tình trạng lặp từ (âm tiết) Đó là các cặp vần trong các

âm tiết đỏ/đó, đèn/đen, cháy/ chạy, đâu/ đầu, đông/ đồng, mơ/ mờ, vang/ vàng, la/ là, hồn/ hôn, Chẳng hạn, cặp vần trong hai âm tiết đèn/ đen: Chân song hiện lên màu đen/ Vầng trán nhà thơ im lặng trong đêm tối không đèn (Mùa thu

2 Cùng âm cuối là phụ âm tắc vang /- m/ (m) 161 8,6%

3 Cùng âm cuối là phụ âm tắc vang /- n/ (n) 191 10,2%

4 Cùng âm cuối là phụ âm tắc vang /- ɲ/ (nh) 163 8,7%

5 Cùng âm cuối là phụ âm tắc vang /- η/ (ng) 226 12,1%

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtote( 2007), Nghệ thuật thi ca, Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà dịch, Đoàn Tử Huyến hiệu đính, Nxb Lao động, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Đoàn Tử Huyến
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
2. Hoài Anh( 2001), Chân dung thơ, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung thơ
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
3. Lại Nguyên Ân( 1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
4. Võ Bình( 1975), Bàn thêm về vần thơ, Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vần thơ
Tác giả: Võ Bình
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1975
5. Võ Bình( 1985), Vần trong thơ lục bát, Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần trong thơ lục bát
Tác giả: Võ Bình
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1985
6. Nguyễn Phan Cảnh(2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2001
7. Mai ngọc Chừ( 1984), Nguyên tắc ngừng nhịp trong thơ ca Việt Nam, Ngôn ng÷, sè 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc ngừng nhịp trong thơ ca Việt Nam
8. Mai Ngọc Chừ( 2005), Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hoá thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
9. Hữu Đạt( 1998), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
10. Hà Minh Đức( 1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1974
11. Dơng Quảng Hàm( 1943), Việt Nam văn học sử yếu, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dơng Quảng Hàm
Nhà XB: Bộ quốc gia giáo dục xuất bản
Năm: 1943
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi( 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
13. Hồ Văn Hải( 2008), Thơ lục bát Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hoá thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lục bát Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hồ Văn Hải
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2008
14. Lê Anh Hiền( 1973), Vần thơ và cái nền của nó trong thơ ca Việt Nam, Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ và cái nền của nó trong thơ ca Việt Nam
Tác giả: Lê Anh Hiền
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1973
15. Đỗ Đức Hiểu( 2000), Thi pháp thơ hiện đại, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
16. Thái Doãn Hiểu( 2001), Thạch Quỳ- ngời nuôi mộng ảo giữa chiêm bao, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Quỳ- ngời nuôi mộng ảo giữa chiêm bao
Tác giả: Thái Doãn Hiểu
Nhà XB: Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
17. Lu Hiệp( 2008), Văn tâm điêu long, Phan Ngọc dịch và giới thiệu, Nxb Lao động, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn tâm điêu long
Tác giả: Lu Hiệp
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2008
18. Bùi Công Hùng( 1988), Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1988
19. Bùi Công Hùng( 2006), Quá trình sáng tạo thi ca, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình sáng tạo thi ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
20. Đoàn Trọng Huy( 2006), Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, Nxb Đại học s phạm Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Đoàn Trọng Huy
Nhà XB: Nxb Đại học s phạm Hà Nội
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w