1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trong văn xuôi võ thị hảo

110 361 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 283,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuộc thế hệ thứ hai của văn xuôi đơng đại, cùng với Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài ,… Võ Thị Hảo là một cây bút nữ tiêu biểu đã gây không ít sự chú ý trên diễn đàn văn học mà còn cả với bạ

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh

Trang 2

bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh

Trang 3

mục lục

Trang Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Phạm vi t liệu khảo sát 8

5 Phơng pháp nghiên cứu 8

6 Cấu trúc luận văn 8

Chơng 1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn xuôi Võ Thị Hảo

9 1.1 Vài nét về tiểu sử và hành trình sáng tạo văn học của Võ Thị Hảo 9

1.2 Mối quan hệ giữa quan niệm nghệ thuật về con ngời và nhân vật trong tác phẩm văn học

13 1.2.1 Con ngời và quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học 13

1.2.2 Nhân vật văn học 17

1.2.3 Quan hệ qua lại giữa quan niệm nghệ thuật về con ngời và nhân vật trong tác phẩm văn học

18 1.3 Một vài biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn xuôi Võ Thị Hảo

23 1.3.1 Con ngời với những khát khao hạnh phúc 23

Trang 4

1.3.2 Con ngời với những khát vọng và lầm lạc 26

1.3.3 Con ngời cô đơn, cô độc 30

Chơng 2 Các loại nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo 39

2.1 Tiêu chí phân loại nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo 39

2.2 Một vài loại nhân vật phổ biến trong văn xuôi Võ Thị Hảo 40

2.2.1 Nhân vật bi kịch 40

2.2.2 Nhân vật nổi loạn 57

2.2.3 Nhân vật chiêm nghiệm lịch sử 66

Chơng 3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo 71

3.1 Miêu tả nhân vật qua xung đột với môi trờng xung quanh 71

3.2 Thể hiện nhân vật qua việc miêu tả tâm lí của nhân vật 75

3.3 Sử dụng các yếu tố huyền ảo, phi lí 80

3.4 Xây dựng những tình huống truyện có ý nghĩa 85

3.5 Ngôn ngữ nhân vật 88

3.5.1 Ngôn ngữ đối thoại 89

3.5.2 Ngôn ngữ độc thoại 96

Kết luận 100

Tài liệu tham khảo 102

Trang 5

để thể hiện bề sâu, bề sau của cuộc sống con ngời hôm nay” Thực tế cho thấy, phụ nữ Việt Nam vốn rất có duyên với sáng tác văn chơng và không thể phủ nhận họ chính là một lực lợng sáng tác giàu nội lực đang bứt lên để

có những đóng góp rất rõ rệt về mặt nội dung cũng nh hình thức nghệ thuật trong văn học thời kì đổi mới Bên cạnh những cây bút tên tuổi một thời nh

Vũ Thị Thờng, Dơng Thu Hơng… là đội ngũ những cây bút nữ trẻ trung, sôi nổi, nhạy cảm, bản lĩnh trong sự tự thể hiện mình nh Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, YBan, Phan Thị Vàng Anh… Họ, với những nỗ lực của riêng mình, đang ngày một hoàn thiện và làm rạng rỡ hơn cho gơng mặt văn học Việt Nam đơng đại

1.2 Thuộc thế hệ thứ hai của văn xuôi đơng đại, cùng với Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài ,… Võ Thị Hảo là một cây bút nữ tiêu biểu đã gây không ít sự chú ý trên diễn đàn văn học mà còn cả với bạn đọc, những ngời yêu thích và quan tâm đến nền văn học nớc nhà Sự công bố khá liên tục những tập truyện ngắn, tiểu thuyết và cả kịch bản phim truyện trong khoảng

Trang 6

thời gian 20 năm qua đã phần nào chứng tỏ tài năng và vị trí của chị trong làng văn xuôi đơng đại Việt Nam Văn của Võ Thị Hảo thực sự chinh phục ngời đọc bằng ngòi bút “sắc sảo mà tinh tế”, “mạnh mẽ mà tài hoa” Chị là một cây bút nổi bật trong đội ngũ các nhà văn nữ chuyên tâm với hai chữ

“nhà văn” để khẳng định mình Để rồi trong khoảng ấy thời gian, chị cũng

đã kịp gặt hái đợc khá nhiều thành công với những giải thởng lớn nh:

- Giải thởng cuộc thi tiểu thuyết và truyện ngắn với tập Biển cứu rỗi,

2 Lịch sử vấn đề

Hoà cùng bối cảnh văn học Việt Nam từ 1986 đến nay, đặc biệt là trong dòng chảy văn học của các nhà văn nữ đơng đại, tác phẩm của Võ Thị Hảo ngày càng chiếm đợc nhiều cảm tình của độc giả Đã có khá nhiều bài viết về Võ Thị Hảo và những sáng tác của chị trên những trang báo: Văn

Trang 7

nghệ, An ninh thế giới, Nông thôn ngày nay, Phụ nữ… và một số trang báo

nh ở Nhật Bản

Trong số bài viết về văn xuôi Võ Thị Hảo có thể kể đến một số kiểu tiếp cận nh:

2.1 Những bài nghiên cứu tổng quan về văn xuôi Võ Thị Hảo

Đoàn Minh Tuấn trong bài giới thiệu tập truyện Biển cứu rỗi đã không

ngần ngại nhận xét về phạm vi phản ánh hiện thực trong truyện ngắn Võ Thị Hảo nh sau: “Có thể nói ở tập truyện này, chị tập trung ở hai cái nhìn: cái nhìn thứ nhất vào mặt trái của vầng trăng chiến tranh, cái nhìn thứ hai vào những con ngời nhỏ bé (số đông nhân loại) tồn tại trong im lặng” Thành

công của Võ Thị Hảo, ở tập truyện này, theo Đoàn Minh Tuấn chính là ở

“lối viết trữ tình để đạt hiệu quả nhận thức - một trong những đặc điểm của thể loại truyện ngắn hiện đại” [64, 4]

Thuỵ Khuê, trong bài “Võ Thị Hảo - Vầng trăng mồ côi”, nhận xét:

“Võ Thị Hảo thuộc thế hệ chối bỏ cổ tích, không tin vào thần thoại chiến

tr-ờng Chị viết với niềm tin của chị về một xã hội tan chiến nhng cha tàn chiến Ngời đọc có thể tìm thấy trong văn phong Võ Thị Hảo cái tàn nhẫn,

chất huyền thoại cơn ma Nguyễn Huy Thiệp, bóng mây Phạm Thị Hoài Cay

độc và ẩn dụ trở thành phong trào, thành phong cách thời đại, dấu ấn của thế

hệ này” [37]

Đọc truyện của Võ Thị Hảo, Nguyễn Lơng nhận xét: “ẩn sâu đằng sau những câu chữ trau chuốt là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con ngời, về cuộc đời và nhân tình thế thái Đọc truyện ngắn Võ Thị Hảo, ngời ta thờng buồn, một nỗi buồn có lẫn ngọt ngào và cay đắng ở trong nhiều truyện ngắn của Võ Thị Hảo, ngời ta cảm nhận đợc sự âu yếm mang chút thánh ca của tác giả khi nói về tình yêu (Khói mang màu nớc biển, Tiếng vạc đêm, Goá phụ đen) Còn lại là sự cảm thông của trái tim ngời đàn

bà khi nói về nỗi đau của ngời đồng giới (Biển cứu rỗi, Mắt miền Tây, Con

Trang 8

dại của đá, Bàn tay lạnh…)” Tác giả còn khẳng định: “Đọc hết 3 tập truyện

ngắn của Võ Thị Hảo có thể thấy rõ trách nhiệm công dân của ngời cầm bút trong nhà văn nữ này Đậm đặc trong mỗi trang văn của chị là sự lên án đối với những cái ác vẫn còn ẩn hiện đâu đó Mà đôi khi cái ác cũng chính là

sự thờ ơ với nỗi đau của đồng loại” [43, 210]

Trong bài viết “Những thông điệp từ lửa và nớc”, Trần Khánh Thành nhận xét về tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo: “Mở trang đầu đã gặp hai

chữ Giàn thiêu, ấn tợng chói và bỏng rát, ngột và xót xa đã xâm chiếm lòng tôi … Viết với Võ Thị Hảo là truyền lửa từ trái tim mình đến bạn đọc…” [58, 6] Thu Hà không ngần ngại khen Giàn thiêu là “Sự kết hợp tuyệt vời giữa chính

sử với huyền tích” [16]

Báo Ngời Đại biểu nhân dân nhận xét: “Giàn thiêu - mặc dù rất hấp

dẫn, nhng là một cuốn tiểu thuyết không dễ đọc Cũng nh những truyện ngắn của Võ Thị Hảo, cuốn tiểu thuyết này đang đi theo con đờng riêng của

nó, ngấm dần vào trái tim ngời ta và những tầng lớp ngữ nghĩa cũng nh những hình tợng nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này thờng trở đi trở lại và

ám ảnh ngời đọc” [5, 7]

Phạm Xuân Nguyên, trong lời giới thiệu cuốn tiểu thuyết Giàn thiêu,

viết: “Văn Võ Thị Hảo, không chỉ là những dòng chữ Không chỉ là truyện ngắn hay tiểu thuyết Văn Võ Thị Hảo có nhiều tầng hình tợng mà mỗi lần tiếp cận, ngời đọc lại ngạc nhiên thấy mình khám phá ra một lớp ngữ nghĩa khác ẩn mình sau những câu chữ Đó là lối văn đã đợc tác giả thổi linh hồn Linh hồn đó tạo nên những câu văn huyền ảo mê hoặc, thậm chí ma quái” [52, 8]

2.2 Những bài nghiên cứu về nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo

Điểm qua 12 truyện ngắn trong tập Biển cứu rỗi, Thụy Khuê nhận xét:

“12 truyện ngắn với bút pháp chắc nịch, những nhân vật rờn rợn, điên ngời,

Trang 9

trong không khí hậu chiến của một đất nớc ham sống, sợ chết, một đất nớc muốn vơn lên nhng cứ rũ ra, gục xuống, ôm bụng cời sặc sụa, cời ằng ặc trong bàn tay đùa dai của tử thần chơi trò ú tim bóp cổ” [37].

Bùi Việt Thắng, ngời chuyên tâm nghiên cứu về truyện ngắn, trong lời giới thiệu tập Truyện ngắn 4 cây bút nữ: Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo,

Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ cho rằng: “Văn Võ Thị Hảo có cái dập dìu của

những “chàng” những “nàng” Không khí truyện lúc tỏ, lúc mờ, câu chuyện đợc

kể lắm khi phiêu diêu… tất cả hoà trộn tạo nên cái đặc sắc riêng” [59, 7] Bên cạnh nhận xét về cách kể chuyện, tác giả còn chỉ rõ “Với Võ Thị Hảo việc tìm tòi tình huống truyện là có ý nghĩa nhất”

Tuy nhiên, dù là tình huống nào, ngời đọc cũng chung một cảm nhận

về những trang viết của Võ Thị Hảo vừa sắc sảo vừa thẫm đẫm chất nữ tính Giống nh sáng tác của nhiều nhà văn nữ đơng thời, nhân vật nữ chiếm vị trí

đáng kể trong các tác phẩm Võ Thị Hảo Qua Huyền thoại về tình yêu,

Nguyễn Văn Lu đã chỉ ra những vấn đề mà Võ Thị Hảo muốn gửi gắm qua những nhân vật nữ: “Tác giả dành cho trái tim ngời phụ nữ, cho số phận ngời phụ nữ lòng yêu thơng đau xót sâu sắc nhất Thân phận ngời phụ nữ trở thành tâm niệm thờng xuyên, da diết trong những trang viết Võ Thị Hảo” [28, 4]

Cùng chung suy nghĩ này với Nguyễn Văn Lu, Ngọc Anh trong bài viết

Đã đến lúc những ngời đàn bà nổi loạn, tìm thấy “trong truyện ngắn của Võ

Thị Hảo có những ngời đàn bà khổ vì yêu và khổ vì bị ruồng bỏ” [1, 6]

Đoàn Cầm Thi, trong bài Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đơng đại, nhận xét về nhân vật nữ của Võ Thị Hảo nh sau: "Với

truyện ngắn của Võ Thị Hảo, lần đầu tiên văn học Việt đặt câu hỏi trực tiếp

về cuộc sống tâm lí và tình dục của các nữ thanh niên xung phong Trờng Sơn trong và sau chiến tranh Đâu là những đòi hỏi nhục dục của họ? ở họ ham muốn, dồn nén, cuồng loạn đợc thể hiện nh thế nào?" " Võ Thị Hảo th-

Trang 10

ờng để cho các nhân vật nữ của mình diễn đạt trực tiếp nhu cầu nhục thể, và

đó chính là cái mới trong tác phẩm của chị" [60]

Trong bài viết về Võ Thị Hảo dới tiêu đề Võ Thị Hảo giữa những trang viết, trang đời, Lơng Thị Bích Ngọc nhận xét: “Dễ nhận thấy trong văn ch-

ơng của chị có một cái nhìn u ái và thiên vị đối với phái nữ Một cô gái sa ngã (Vũ điệu địa ngục), một ngời đàn bà nhẹ dạ (Ngời đàn ông duy nhất),

đến cả một con điếm hết thời (Biển cứu rỗi) - bao giờ chị cũng tìm cách biện

bạch để “bắt” ngời đọc phải yêu và cứu mạng họ” [48, 305]

Lại Nguyên Ân trong bài viết Tiểu thuyết và lịch sử đã có những nhận

xét khá xác đáng về nhân vật Từ Lộ: “Nhân vật Từ Lộ đã đợc tác giả Giàn thiêu thể hiện không phải nh một tấm gơng hay một bản thành tích công

đức, nghĩa là không phải nh nhân vật sử thi, mà nh một con ngời với số phận

và tính cách riêng của nó; nh những kinh nghiệm sống, nh những chiêm nghiệm về lẽ thành bại trong đời, nghĩa là một nhân vật tiểu thuyết Không thể nói nhân vật Từ Lộ ở tiểu thuyết này đợc xây dựng thành nhân vật tốt hay nhân vật xấu” [4]

Viết về nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo, còn có một số đề tài luận văn thạc sĩ Ngữ văn có khai thác tác phẩm của chị trong sự đối sánh với các tác giả nữ khác cùng thời, nhằm tìm ra hay khái quát lên một đặc điểm nào

đó mà họ quan tâm nh đề tài Nhân vật nữ trong truyện ngắn Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ ở đề tài này tác giả luận văn tập trung nghiên

cứu hình tợng nhân vật nữ trong truyện ngắn của 3 tác giả nữ trong đó có Võ Thị Hảo

Đào Thị Thu Hiền, với đề tài Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo, bớc đầu có sự khái quát một vài loại nhân vật trong truyện ngắn

của Võ Thị Hảo Tuy nhiên luận văn mới dừng lại ở việc điểm qua mà cha

hệ thống phân loại nhân vật một cách rõ rệt

Trang 11

Đề tài Một số đặc điểm nổi bật của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay của tác giả Nguyễn Thị Thu Hơng có sử dụng một số

truyện ngắn Võ Thị Hảo làm dẫn chứng chứng minh cho luận điểm: “Một số chủ đề nổi bật trong truyện ngắn các nhà văn nữ từ 1986 đến nay” Nhng đề tài cũng chỉ lớt qua một số tác phẩm mà thôi

Đề tài Con ngời cá nhân trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của

Nguyễn Thị Kim Hoa cũng có lấy một số tác phẩm của Võ Thị Hảo để chứng minh cho luận điểm của mình, nhng mới dừng lại ở khía cạnh con ng-

ời cá nhân chứ không đi vào vấn đề khái quát

Về truyện ngắn của Võ Thị Hảo nói riêng, còn có một số luận văn thạc

sĩ khai thác nh đề tài Đặc điểm truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam viết về tình yêu và hạnh phúc gia đình (Trần Thị Hồng Nhung), Nguyễn Thị

Oanh với đề tài Âm hởng nữ quyền trong truyện ngắn các nhà văn nữ thời kì

đổi mới ở các luận văn trên, các tác giả cũng mới chỉ phân tích một số tác

phẩm của Võ Thị Hảo phù hợp với đề tài của họ, mà không khai thác hết các tác phẩm của chị

Ngoài ra, văn xuôi Võ Thị Hảo còn đợc nhắc đến khi các nhà nghiên cứu văn học tập trung tìm hiểu về các mảng đề tài hay một xu hớng nào đó trong văn học Việt Nam đơng đại Ví dụ công trình của Nguyễn Thị Bình

“Về một hớng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây” có nhắc đến

Giàn thiêu “Liêu trai hiện đại Việt Nam” của Trần Lê Bảo cũng đã phân

tích lí giải một số truyện ngắn và tiểu thuyết Giàn thiêu của chị để chứng

minh cho luận điểm của mình

Thật khó có thể điểm hết ra đây những bài viết, bài nghiên cứu về văn xuôi Võ Thị Hảo một cách đầy đủ Nhng qua những gì đợc tiếp cận, chúng tôi có thể khẳng định chắc chắn đợc hai điều: Thứ nhất, cha có công trình nào nghiên cứu văn xuôi Võ Thị Hảo một cách toàn diện Thứ hai, cha có

Trang 12

công trình nào nghiên cứu nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo một cách

đầy đủ và có hệ thống

Trớc thực tế đó, nghiên cứu nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo có thể

đợc xem là bớc đi hợp lí, nhằm tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời của nhà văn, để hiểu thông điệp mà Võ Thị Hảo muốn nhắn gửi tới cuộc đời thông qua hệ thống nhân vật do tác giả sáng tạo ra

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

Lấy nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo làm đối tợng nghiên cứu, luận văn nhằm:

3.1 Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn xuôi Võ Thị Hảo.3.2 Sự chi phối của quan niệm nghệ thuật về con ngời tới thế giới nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo

3.3 Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo

4 Phạm vi t liệu khảo sát

4.1 Luận văn khảo sát các tập truyện ngắn và tiểu thuyết sau của Võ Thị Hảo:4.1.1 Các tập truyện ngắn

- Hồn trinh nữ, Nxb Phụ nữ, 2005.

- Goá phụ đen, Nxb Phụ nữ, 2005.

- Ngời sót lại của Rừng Cời, Nxb Phụ nữ, 2005.

4.1.2 Tiểu thuyết Giàn thiêu, Nxb Phụ nữ, 2007.

4.2 Nhằm làm nổi bật những nét riêng, độc đáo của văn xuôi Võ Thị Hảo ở phơng diện nhân vật, luận văn khảo sát thêm một số tác phẩm của Lí Lan, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ… và một số tác giả nữ khác cùng thời

5 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nhiều phơng pháp nh: Phơng pháp thống kê - phân loại, phơng pháp so sánh, đối chiếu, phơng pháp phân tích, tổng hợp…

Trang 13

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn xuôi Võ Thị HảoChơng 2 Các loại nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo

Chơng 3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo

Chơng 1

Quan niệm nghệ thuật về con ngời

trong văn xuôi Võ Thị Hảo

1.1 Vài nét về tiểu sử và hành trình sáng tạo văn học của Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo sinh năm 1956 tại Diễn Châu, Nghệ An Có lẽ sự cằn cỗi, khắc nghiệt của thiên nhiên đã làm cho những con ngời sinh ra trên mảnh

đất “gió lào” nóng bỏng này có một tính cách chịu đựng bền bỉ, kiên cờng

và dẻo dai Khi nói về quê hơng mình, Võ Thị Hảo đã có dịp thổ lộ: “Tôi cảm ơn những kỉ niệm mà đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc, vì chính chúng

đã tạo ra tôi” [10, 558] Làm nên Võ Thị Hảo - ngời viết những câu văn vừa

“bạo liệt” vừa “huyễn hoặc” có lẽ chính là cái vùng đất ấy - “nơi có tiếng cót két rợn ngời của những bụi tre và những câu chuyện về ma quỷ mà các ngời già và đám ngời lớn thì thầm kể cho nhau nghe trong đêm, cùng không khí khốc liệt của chiến tranh và bom đạn” [10, 558]

Mời sáu tuổi là sinh viên Văn khoa, Đại học Tổng hợp, Hà Nội Khát vọng và hoài bão văn chơng cùng với giấc mộng đẹp về tình yêu đã nuôi chị

Trang 14

lớn lên trong những năm tháng thanh xuân ấy Ra trờng, chị về công tác ở Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc Mời bảy năm công tác ở đó, với t cách là ngời biên tập, chị trở thành ngời biết tổ chức những bản thảo theo ý muốn và trở thành “bà đỡ” cho nhiều cuốn sách Võ Thị Hảo tâm sự rằng: “Sách trớc đây và bây giờ, đã an ủi tôi và dạy cho tôi quá nhiều điều” [63, 294] Dờng nh chính vì cái công việc của ngày mới ra trờng ấy là bớc khởi đầu tạo nên ngã rẽ của

Võ Thị Hảo chăng? Bởi vì chị “đã từng nghĩ và sẽ trở thành nhà thơ, nhng rồi chị lại viết văn và thành danh với văn xuôi”

“Cái thứ văn chơng đã trót dấn thân thì nó là “nghiệp” mất rồi Nó đeo bám và dờng nh là máu thịt của mình Ngay cả khi ngời chồng yêu quý của chị, ngời đàn ông mà chị đã tự nguyện kí thác, gửi gắm cả cuộc đời mình cũng không thể chịu nổi không khí văn chơng len lỏi vào đời sống của gia

đình, song chị vẫn lặng lẽ, bớng bỉnh để thu vén cho mình một góc riêng, để tôn thờ để rồi “sống” và “chết” vì nó Một gia đình với hai đứa con gái bé nhỏ, một ngời chồng mặc dù cùng học văn chơng ra nhng không dễ mấy khi thông cảm cho niềm đam mê của vợ, thêm vào đó là cuộc sống chật vật, khó khăn của những năm tháng đất nớc cha thoát khỏi bao cấp” [5, 553] Thế nhng vợt qua “cơn bĩ cực” ấy, chị viết nhiều, sáng tạo nhiều và bắt đầu xuất hiện chính thức và đều đặn vào thập niên 90 với cái tên Võ Thị Hảo trên văn

đàn trớc khi làm báo và nổi lên trên văn đàn bởi những tập truyện ngắn khác lạ nh: tập truyện Ngời sót lại của Rừng Cời, Hồn trinh nữ… Và, gần đây

(năm 2002), chị lại làm sửng sốt độc giả - những ngời yêu văn chơng bởi cuốn tiểu thuyết dã sử đậm chất “liêu trai” với cái tên mang cảm giác mạnh:

Giàn thiêu, và sắp tới là cuốn tiểu thuyết thứ hai: Dạ tiệc quỷ.

Với công việc thờng nhật, chị là một nhà báo và đan cài vào đó là những đêm dài chị trăn trở với những tác phẩm văn học - đứa con tinh thần của mình, mà ở đó chị phải đối mặt với những cảnh đời éo le và bất hạnh, với những số phận đắng cay với bao sự nhọc nhằn… Là một nhà báo, chị có tiếng là thẳng tính và công bằng Khi có ngời hỏi chị “Báo hay văn là chỗ để

Trang 15

chị trút bỏ nỗi muộn phiền”? Võ Thị Hảo đã không ngần ngại trả lời rằng:

“Tôi viết không để trút bỏ muộn phiền Nỗi muộn phiền của tôi trở thành quá nhỏ bé trớc những đau khổ và lòng yêu lớn của kiếp ngời, trớc những

đồng bào của chúng ta Báo là tiếng nói trực diện là trách nhiệm trực tiếp

đối với đời sống hàng ngày Văn là nơi thổ lộ những khát vọng, những nỗi

đau lớn của kiếp ngời Khi trách nhiệm, lòng yêu và nỗi đau đến, nỗi muộn phiền tự ra đi” [67]

Song hành cùng những tác động của hoàn cảnh kể trên là hàng loạt các truyện ngắn đợc đăng trên các báo và tuyển tập truyện ngắn Đến năm 2005, Nhà xuất bản Phụ nữ đã tập hợp các sáng tác của chị và cho xuất bản thành

4 tập truyện ngắn là: Hồn trinh nữ, Ngời sót lại của Rừng Cời, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, Goá phụ đen và một tiểu thuyết: Giàn thiêu Mặc dù vào nghề viết văn cha lâu, nhng Võ Thị Hảo đã nhanh chóng

đợc ngời đọc biết đến “Chị đợc xếp vào hàng những cây bút sắc sảo và giàu nữ tính Những thân phận đàn bà, những con ngời nhỏ bé trớc bão lũ cuộc

đời, “những gì rất riêng mà chẳng riêng t chút nào”… là điều mà chị luôn trăn trở trên các trang viết của mình” [27, 238]

Trong 4 tập truyện ngắn gồm 52 truyện đã đợc Nxb Phụ nữ và Công ty

Võ Thị tập hợp lại và cho ra mắt bạn đọc vào năm 2005, chúng ta thấy văn

Võ Thị Hảo hớng đến rất nhiều những số phận, những mảnh đời khác nhau,

mà tập trung lại ở đề tài viết về chiến tranh nhng chiến tranh ở thời hậu chiến Chiến tranh đã qua song nỗi đau còn đó Nó hiện hữu ngay trong từng con ngời vừa bớc qua cuộc chiến và còn bao trùm lên cả gia đình, ngời thân của họ nơi hậu phơng và tệ hại hơn nó hằn sâu vào tâm trí những ngời con

đất Việt Đó là: Ngời sót lại của Rừng Cời, Biển cứu rỗi, Trận gió màu xanh rêu, Giây neo trần gian, Hồn trinh nữ, Vầng trăng mồ côi, Đêm Vu lan Mặc

dù chỉ qua một vài tác phẩm nhng Võ Thị Hảo đã đem lại cho ngời đọc sự thật về một xã hội “tan chiến nhng cha tàn chiến” Đó vẫn luôn là "những

Trang 16

cuộc chiến còn nhức nhối bên trong" mà không phải ngày một ngày hai có thể xoá nhoà ngay đợc Phần lớn truyện ngắn của Võ Thị Hảo dờng nh đều nghiêng về phái nữ nhiều hơn Và, Võ Thị Hảo đã luôn cảm thông, sẻ chia cùng với số phận của họ (bằng tấm lòng của ngời phụ nữ) cùng những con ngời với những khát vọng về một tình yêu trọn vẹn, một cuộc sống gia đình bình dị Ngọc Anh đã từng khái quát rằng: “Truyện ngắn Võ Thị Hảo có những ngời đàn bà khổ vì yêu và khổ vì bị ruồng bỏ” Đó là những tác phẩm nh: Vờn yêu, Phiên chợ ngời cùi, Tim vỡ, Giọt buồn Giáng sinh, Làn môi

đồng trinh, Khát của muôn đời, Khói mang màu nớc biển, Ngậm cời, Miền bọt, Nàng tiên xanh xao, Bàn tay lạnh, Hành trang của ngời đàn bà Âu Lạc, Nữ hoàng cô đơn, Tiếng vạc đêm, Khăn choàng sơng, Goá phụ đen, Con dại của đá, Phút chối Chúa, Máu của lá, Mắt miền Tây Võ Thị Hảo còn muốn

đa ngời đọc khám phá đời sống muôn vẻ trong cái hàng ngày, trong các quan hệ thế sự và đời t nh: Tình yêu mây trắng, Mùi chuột, Ngời chăn bò thần thánh, Chuỗi ngời đi trong đầm lầy, Dệt cỏ, Đêm bớm ma, Gió hoang, Giấc cú, Chuông vọng cuối chiều, Đờng về trần, Ngời gánh nớc thuê, Vũ

điệu địa ngục, Ngời đàn ông duy nhất, Ngày không mút tay, Bán cốt, Dệt

cỏ Ngoài ra, còn có các chơng nh Lãnh cung, Nghiệp chớng, Hành cớc, Báo oán, Thiền s, Đầu thai, Giải thoát, Lửa mà mỗi chơng đợc coi là một

truyện ngắn viết về các nhân vật lịch sử đợc Võ Thị Hảo trích ra từ cuốn tiểu thuyết Giàn thiêu.

Năm 2002, khi cuốn tiểu thuyết Giàn thiêu xuất hiện trớc công chúng,

Võ Thị Hảo đợc coi là ngời đã có “cuộc bứt phá khi rẽ ra khỏi lối đi quen chân với chính mình, tạo ra những tầng suy t không bằng phẳng, một giọng

điệu tự nhiên và bình dị hơn" Võ Thị Hảo đạt giải của cuộc thi tiểu thuyết thờng niên do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2004 với một sự kết hợp giữa “kiến thức chính sử với giã sử, những giai thoại, huyền tích dân gian

Trang 17

hoà trộn với trí tởng tợng của nhà văn… tất cả đã tạo nên bức tranh sống

động về một giai đoạn trong triều Lý, vừa hiện thực vừa huyền ảo …” [68].Mới đây nhất, tháng 11 năm 2006, Nhà xuất bản Hội Nhà văn cho ra mắt bạn đọc cuốn Kịch bản phim truyện của chị Cuốn Kịch bản phim truyện này đã đợc Nghệ sĩ nhân dân - Đạo diễn điện ảnh Huy Thành - Chủ tịch Hội Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh nhận xét: “Đây là lần đầu tiên tôi

đợc đọc kịch bản phim của một nhà văn Việt Nam viết rất có nghề (điện

ảnh), độc đáo cả về chủ đề, câu chuyện, bối cảnh, cấu trúc và nhân vật Ngôn ngữ điện ảnh nhuần nhuyễn với những chi tiết hiển thị đắt giá Đặc biệt cả 3 kịch bản đều mênh mang không khí tâm linh huyền bí rất quyến

rũ, rất văn chơng… những nét riêng biệt trong các tác phẩm văn học của nhà văn Võ Thị Hảo” [25, 8]

Nh vậy, với thời gian trên dới 20 năm của nghiệp viết văn, Võ Thị Hảo

đã để lại trong lòng ngời đọc “những tâm sự day dứt không nguôi về số phận con ngời, về cuộc đời và nhân tình thế thái” Đọc văn của Võ Thị Hảo chúng

ta thờng buồn, một nỗi buồn có lẫn ngọt ngào và cay đắng Đằng sau những

số phận của những con ngời biết đau, biết yêu, biết nhân hậu là gơng mặt của đất nớc, là những số phận của ngời dân nớc Việt sau nửa thế kỷ chiến tranh “Một hiện thực nghiệt ngã đợc trở đi trên lối văn ảo - thực và câu chữ ngọt ngào, dịu nhẹ Một vị ngọt ban đầu để trả lại sự đắng chát của hiện thực Một sự dịu nhẹ làm duyên của phái nữ để kìm nén để bao bọc trong cái nhìn mạnh mẽ, có khi đến quyết liệt đối với cuộc sống” [48, 304] Thế nhng dờng nh không thể khác đợc Văn là ngời Văn của Võ Thị Hảo phản

ánh hiện thực một cách nghiệt ngã, nhng ngời đọc lại không nhìn thấy sự cay nghiệt của ngời viết “Lan toả trên những trang viết, một tấm lòng nhân ái của một ngời đàn bà cầm bút hết lòng yêu cuộc sống và con ngời” [48, 304] Có lần Võ Thị Hảo tâm sự rằng “sứ mệnh của nhà văn là chia sẻ niềm vui, nỗi

đau và sự thức tỉnh lơng tri” [63, 296]

Trang 18

1.2 Mối quan hệ giữa quan niệm nghệ thuật về con ngời và nhân vật trong tác phẩm văn học

1.2.1 Con ngời và quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học

1.2.1.1 Là ngời quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu văn học, chúng ta không thể bỏ qua câu trả lời: Đối tợng của văn học là gì? Để trả lời chính xác nhất và khái quát nhất, chúng ta phải biết văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con ngời mà nền tảng triết học và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là t tởng nhân bản Theo Nguyễn Văn Long:

“Con ngời vừa là điểm xuất phát, là đối tợng khám phá chủ yếu, vừa là cái

đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thớc đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử” [40, 16]

Không có một ranh giới nào đợc đa ra làm hạn định cho phạm vi phản

ánh của tác phẩm văn học Với đặc thù của nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng dung chứa thật nhiều những phạm vi của tự nhiên, xã hội và khả năng diễn đạt t duy của con ngời Nhng phản ánh gì đi nữa cũng chỉ để thể hiện cái nhìn của tác giả về con ngời Phạm vi phản ánh đó có thể là toàn bộ thế giới khách quan, song thế giới khách quan ấy phải đợc nhìn nhận trên bình diện các quan hệ đời sống của con ngời Nhà văn nhận thức về hiện thực đời sống trong mối quan hệ với con ngời, lấy con ngời làm phơng tiện

để đánh giá hiện thực và qua đánh giá hiện thực nhằm mục đích tìm hiểu con ngời Nh vậy, con ngời là đối tợng đặc trng nhất và luôn giữ vị trí trung tâm trong các sáng tác văn học của mọi thời đại

Lấy con ngời làm đối tợng phản ánh, khác với các khoa học, văn học không chia nhỏ con ngời ra theo từng tiêu chí để “nghiên cứu” Vợt lên trên

điều đó, văn học nhìn con ngời trong “tính chất tổng hợp và vẹn toàn của cuộc sống”, tái hiện con ngời với tất cả bộ mặt “cụ thể, cảm tính, cá biệt” Con ngời trong sáng tác văn học không hoàn toàn trùng khít với con ngời ngoài cuộc đời Nó vừa là con ngời của đời sống nhng đồng thời phải cao

Trang 19

hơn con ngời của đời sống Con ngời ngoài cuộc đời luôn tồn tại ở dạng thô mộc nhất, đa dạng nhất để khi vào tác phẩm sẽ chuyển thành con ngời dới cấp độ của hình tợng nghệ thuật.

1.2.1.2 Ngày nay theo thi pháp học hiện đại, quan niệm nghệ thuật về con ngời đợc hiểu nh là “sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con ngời đã đợc hoá thân thành các nguyên tắc, phơng tiện, biện pháp hình thức thể hiện con ngời trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tợng nhân vật trong đó” [56, 41] Có nghĩa là quan niệm nghệ thuật về con ngời

đợc hiểu nh là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con ngời vốn có của hiện thực, chứ không phải là những nhận xét sơ sài, thoáng qua hay những nhận

định vu vơ mà đó phải là những cảm nhận (sự cảm nhận ấy phải bằng cả trái tim và khối óc), những cách lí giải và cắt nghĩa về nó sao cho hiện thực ở trong đó đợc thể hiện rõ hơn, toàn vẹn hơn và phù hợp với hiện thực mà nó tồn tại Mỗi một nhà văn lớn bao giờ cũng có một nguyên tắc cho riêng mình

để chiếm lĩnh và lí giải hiện thực Nhà văn lớn là ngời có đợc một quan niệm nghệ thuật độc đáo, đem lại cho độc giả một cái nhìn mới về cuộc sống

Con ngời bao giờ cũng là đối tợng nhận thức, khám phá của mọi nền văn học Bởi xét đến lí tởng “chân, thiện, mĩ” mà văn chơng muôn đời hớng tới chính là nỗ lực để cho đời sống con ngời tốt đẹp hơn Theo Trần Đình Sử: “Tất cả những gì liên quan đến con ngời, thuộc về con ngời đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học Từ các mặt xã hội đến các thuộc tính tự nhiên, từ hữu thức đến vô thức, từ dã man đến văn minh, từ tội ác

đến đạo đức, từ quá khứ đến tơng lai, từ thất vọng đến hi vọng, hễ thuộc

về con ngời thì văn học biểu hiện” [56, 42] Sáng tạo văn học bao giờ cũng gắn với quan niệm nghệ thuật về con ngời Mỗi nền văn học bao giờ cũng là con đẻ của thời đại với những bối cảnh lịch sử, văn hoá, t t-ởng riêng, cho nên, quan niệm nghệ thuật về con ngời cũng là “một sản phẩm lịch sử”, “sản phẩm của văn hoá t tởng” Nhng nếu chỉ chịu sự quy

định của lịch sử, xã hội và văn hoá thì văn học không thể phong phú đợc Mỗi nhân vật còn là sáng tạo tinh thần độc đáo không lặp lại của nhà văn, vì thế quan niệm nghệ thuật về con ngời tất nhiên cũng “mang dấu

ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn đầy cá tính phát hiện độc đáo của nghệ sĩ” Quan niệm nghệ thuật về con ngời là yếu tố cơ bản, then chốt của một nền văn học Sự đổi mới và đa dạng của văn

Trang 20

học trớc hết là đổi mới và đa dạng trong quan niệm nghệ thuật về con ời.

ng-Nền văn học trớc 1975 là nền văn học sử thi Đối tợng mà văn học quan tâm là những con ngời mang tầm vóc lớn lao của thời đại Con ngời anh hùng, con ngời cộng đồng là khám phá lớn của văn học thời chống Mỹ

Đó là những con ngời u tú của thời đại, mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp, những lí tởng lớn lao Con ngời trớc 1975 cũng là những con ngời chính trị, luôn quên mình vì tập thể, vì sự nghiệp chung, tràn đầy ý chí, tràn ngập niềm tin vào con đờng mình lựa chọn Họ không tồn tại với t cách là con ngời cá nhân mà là con ngời tập thể, con ngời dân tộc, “con ngời bị khoác bộ áo xã hội” Và nhà văn miêu tả con ngời cũng là cách để thể hiện, khái quát lịch sử Nhìn con ngời dới góc độ sử thi, văn học trớc 1975 đã viết nên những trang anh hùng ca bất tử về con ngời Việt Nam yêu nớc

Sau 1975, đặc biệt là sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn chơng đã thực sự thay đổi Trở về với cuộc sống đời thờng, con ngời có điều kiện quan tâm nhiều đến gia đình, bản thân và những lợi ích cá nhân cũng từ đó mà đợc chú trọng Vì vậy, bây giờ con ngời đợc khám phá dới góc độ cá nhân, con ngời tồn tại một cách

độc lập với thân phận riêng, cá tính riêng, tâm t riêng Con ngời hôm nay là những con ngời phức tạp, nhiều mâu thuẫn, không trùng khít với chính mình Trần Đình Sử có lí khi nhận xét: “Đặc điểm nổi bật nhất của văn học mời năm này là con ngời đang đợc nhìn nhận, xem xét, lí giải theo nhiều h-ớng, nhiều chiều” Nguyễn Văn Long nhận xét một cách tổng quát xu hớng dân chủ của văn học ta gần đây trong cách nhìn và khám phá con ngời:

“Con ngời trong văn học hôm nay đợc nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con ngời với xã hội, con ngời với lịch sử, con ngời của gia đình, gia tộc, con ngời với phong tục, với thiên nhiên, với những ngời khác và với chính mình Con ngời cũng đợc văn học khám phá, soi chiều ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống t

Trang 21

tởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thờng, con ngời cụ thể, cá biệt và con ngời trong tính nhân loại phổ quát” [40, 16].

Cũng cần phải nói ngay rằng, quan niệm nghệ thuật về con ngời là khái niệm của lí luận văn học hiện đại Trớc khi có nó, các nhà văn vẫn sáng tác với những quan niệm của riêng mình, các tác phẩm ra đời khi đó vẫn là những cảm nhận của họ về đời sống con ngời Những cách cảm nhận, cách hiểu ấy về con ngời chi phối đến sự sáng tạo của họ, chỉ có điều họ cha biết, cha xem và cha gọi đó là quan niệm nghệ thuật về con ngời mà thôi Đến khi quan niệm nghệ thuật về con ngời đã đợc đúc rút thành lí thuyết, cha hẳn tất cả các nhà văn đều định hình đợc cho mình một quan niệm, một cách hiểu về con ngời lúc sáng tác Nhng dù thế nào đi nữa thì quan niệm nghệ thuật về con ngời vẫn là cái không thể thiếu và có vai trò quan trọng khi sáng tác văn chơng

Nh vậy, khám phá con ngời cá nhân là đặc điểm nổi bật của văn học sau

1975 Ngời đầu tiên dũng cảm trình bày một quan niệm mới về con ngời là Nguyễn Minh Châu Với quyết tâm đi tìm “những hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con ngời”, Nguyễn Minh Châu đã khám phá những tầng vỉa mới, mạch ngầm mới về con ngời Qua những trang viết của ông, con ngời hiện lên với những số phận riêng, đau đớn bi kịch với thế giới nội tâm phong phú, bí

ẩn, phức tạp Tiếp đó là Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng…cũng có những biến đổi sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con ngời

Quan niệm nghệ thuật về con ngời là nhân tố quan trọng, nó vừa chi phối

sự sáng tạo của nhà văn, vừa chi phối sự tiếp nhận của độc giả

1.2.2 Nhân vật văn học

“Nói đến nhân vật văn học là nói đến con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phơng tiện văn học” [42, 277] Hay nhân vật là “con ngời cụ thể đợc miêu tả trong tác phẩm văn học” Nhng đó không phải là con ngời thực ngoài đời đợc mô phỏng một cách y nguyên mà nó là kết quả

Trang 22

sáng tạo của nhà văn Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “nhân vật văn học là

một đơn vị nghệ thuật đầy tính ớc lệ, không thể đồng nhất nó với con ngời

có thật trong đời sống” [18, 235] Trong văn học, thế giới nhân vật đợc biểu hiện rất phong phú Đó có thể là ma quỷ, thiên thần, có thể là con ngời hay

đồ vật…Nhân vật có thể có tên riêng nh Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha, cũng

có thể không có tên riêng nh thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều Nhng chung quy lại, thế giới nhân vật trong tác phẩm bao giờ cũng thể hiện

đời sống đa dạng của con ngời

Trớc 1975, nhân vật trong văn xuôi Việt Nam thờng bị chi phối bởi “áp lực” sử thi và cảm hứng lãng mạn nên các nhà văn xây dựng cho mình những nhân vật với cái đẹp toàn thiện, toàn mĩ, nhân vật đợc bao bọc bởi

“bầu không khí vô trùng” nhằm ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ít

có nhân vật nào lại có những dằn vặt, cô đơn, tính toán Không gian đời t,

đời thờng của nhân vật không đợc nhà văn chú ý thể hiện mà đợc xây dựng theo nguyên tắc phân tuyến: địch - ta, xấu - tốt, thấp hèn - cao cả Về cơ bản, các tuyến nhân vật trùng khít với chức năng xã hội mà nhà văn định khoác cho nhân vật đó Nói đúng hơn, dù cách thức xây dựng nhân vật trong văn học 1945 - 1975 có khác nhau đến đâu đi chăng nữa thì cuối cùng chúng đều mang tính quy phạm: ta thắng, địch thua; cái mới thắng cái cũ Sau 1975 mà nhất là sau 1986 có nhiều thay đổi đáng chú ý: nhân vật văn học không nằm trong thế khép kín và đợc định sẵn về số phận mà luôn mang tính bất ngờ Với t duy tiểu thuyết, nhân vật hiện lên một cách chân thực hơn, xen kẽ giữa các mặt đối lập tốt - xấu; cao cả - thấp hèn; thiên thần với ác quỷ… thế giới nhân vật trong các tác phẩm cũng không có sự phân tuyến rành mạch giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện, không gian đời t, đời thờng đợc các tác giả khai thác triệt để khi thể hiện nhân vật, yếu tố nội tâm nhân vật đợc các nhà văn đi sâu khám phá để phát hiện ra những biến thái tinh vi trong đời sống tâm hồn con ngời Từ đó văn học nói chung, văn xuôi nói riêng ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của

Trang 23

đời sống xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá số phận con ngời Văn xuôi Việt Nam sau 1975 khám phá con ngời trong chính bề sâu của nó với nhiều hình thức khác nhau.

1.2.3 Quan hệ qua lại giữa quan niệm nghệ thuật về con ngời và nhân vật trong tác phẩm văn học

Cái thời “Văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận/ Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” dần đợc thay thế, việc yêu cầu sáng tác để cổ vũ chiến đấu và chiến thắng không còn là vấn đề gay gắt, sự thể hiện đời sống không còn bị bó buộc bởi hoàn cảnh, bởi t tởng “chỉ đạo” nữa, mà đề tài giờ

đây đợc mở rộng ra rất nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh của cuộc sống Nhà văn đã nhìn sâu vào con ngời và đặt họ vào “tổng hoà các mối quan hệ xã hội” để soi xét, phân tích, đánh giá Sự mở rộng đề tài, nhất là đề tài thế sự,

đời t đợc chú ý dẫn đến việc điều chỉnh quan niệm nghệ thuật về con ngời hay nói cách khác là chính quan niệm nghệ thuật về con ngời đợc đổi mới khiến ngời viết phải mở rộng chân trời tìm kiếm của mình đến những góc khuất, những vùng “cấm địa” trớc đây mà chúng ta cha đợc bớc tới hay

đúng hơn là không thể bớc tới Có thể nói đây là thời kì mà trong văn học con ngời đợc soi chiếu, đợc nhìn ngắm từ rất nhiều phía, từ nhiều góc độ Và chính từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời khiến cho hệ thống nhân vật trong văn xuôi có “sự đổi thay về nguồn gốc, tính cách, số phận” Lúc này các nhân vật trong văn xuôi đã tự ý thức đợc về mình, về cuộc sống xung quanh mình và qua đó nhận ra những phải - trái, tốt - xấu, chân lí - lầm lạc … mà đặc biệt là sự giác ngộ ý thức cá nhân

Nh chúng ta đã biết, sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân luôn gắn liền với

sự ra đời của xã hội hiện đại ở Việt Nam, do chế độ phong kiến kéo dài,

đời sống xã hội về căn bản là đời sống tiểu nông, nên ý thức cá nhân có phần nào đó kém phát triển và phải chờ đến những năm 30 của thế kỷ XX, khi t tởng phơng Tây xâm nhập vào nớc ta, lúc bấy giờ cái tôi cá nhân mới

Trang 24

có cơ hội đợc thể hiện mình, “nó nổi lên nh một giá trị trong Thơ mới, Tự lực văn đoàn, trong văn học hiện thực phê phán”

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, do yêu cầu của lịch sử lúc bấy giờ, chủ nghĩa tập thể đợc coi trọng, con ngời cá nhân bị đẩy xuống hàng thứ yếu và có những lúc vắng bóng Bớc vào thời kì đổi mới, ý thức cá nhân đợc thức tỉnh một cách mạnh mẽ và sâu sắc trong văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau 1986 nh trong các sáng tác của Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Lê Minh Khuê… Trong văn học, ý thức cá nhân thể hiện ở thái độ và bản lĩnh “dám sống cho mình, theo quan điểm của mình” Đồng thời với ý thức giác ngộ ý thức cá nhân, nhân vật còn có thái độ nhận thức lại lịch sử

để qua đó nhận thức rõ hơn nữa về bản thân mình Trong quá trình nhận thức đó, “họ nhìn ra giới hạn của thời đã qua, nhận thấy sự ấu trĩ của mình trong quá khứ và muốn bày tỏ những nỗi niềm, tâm trạng của mình để nhẹ lòng bớc tiếp” Và đằng sau những lời tự bạch ấy ta bắt gặp đâu đây sự đổi thay trong quan niệm, lẽ sống của nhân vật Điều này thể hiện rõ nhất trong

Mảnh đất lắm ngời nhiều ma, Thợng đế thì cời, Ba ngời khác …

Và việc nhận thức lại quá khứ không chỉ gắn với những tác phẩm miêu tả cuộc sống thờng nhật mà còn xuất hiện trong những tác phẩm viết về chủ

đề chiến tranh nh Ăn mày vãng, Nỗi buồn chiến tranh, Ngời sót lại của Rừng Cời…

Sống trong môi trờng “không có gì thuộc về con ngời mà xa lạ đối với tôi” (Mác), nhân vật có điều kiện để soi ngắm mình, tự thú với lòng mình để rồi một lúc nào đó họ tự sám hối với bản thân, hối hận với những gì đã qua

mà cha kịp làm Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Lão Khổ

trong tiểu thuyết cùng tên của Tạ Duy Anh là những nhân vật tiêu biểu cho màu sắc tự thú và sám hối trong tiểu thuyết đơng đại Nhà văn thờng để nhân vật trải qua nhiều biến cố, đặt nhân vật nằm “cheo leo” giữa hai bờ

Trang 25

thiện - ác, dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật vào bên trong và miêu tả tâm lí nhân vật theo lối ngợc sáng để làm hiện lên toàn bộ những dằn vặt, băn khoăn và khát vọng hoàn thiện nhân cách của con ngời.

Đặc biệt ở văn xuôi thời kì này, chúng ta bắt gặp dày đặc những kiểu nhân vật bi kịch với nhiều nguyên nhân khác nhau nh: nhân vật là nạn nhân của hoàn cảnh, đó là do hoàn cảnh chiến tranh đa đẩy, do t duy lỗi thời, cổ

hũ, là nạn nhân của môi trờng sống tha hoá và khả năng tự vệ kém cỏi trớc những áp lực của đời sống… Điều đó đợc thể hiện khá rõ trong sáng tác của Bảo Ninh, Lê Lựu, Tạ Duy Anh, Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ… Tất nhiên, không phải hễ cứ ai là nạn nhân của hoàn cảnh trên cũng đều là bi kịch Chỉ có những ai nhận thức đợc tình trạng của mình, nhận thấy đợc sự đau đớn và đắng cay của thân phận thì lúc đó mới xuất hiện loại nhân vật bi kịch

Khi nhân vật bị khuất phục trớc hoàn cảnh, mà hoàn cảnh ở đây là một môi trờng sống đầy cạm bẫy, nó không gắn liền với sự hạn chế, ấu trĩ trong quan niệm, nhận thức nhng hoàn cảnh đẩy đa, cản trở con ngời vơn lên, luôn tìm cách nhấn chìm ý chí của con ngời Trớc tình thế “đơn thơng độc mã” nhân vật rơi vào bi quan, chán nản, thậm chí phải đầu hàng, buông xuôi cho

số phận Trong văn xuôi, đặc biệt là trong tiểu thuyết từ 1986 đến nay, các tác giả đã nêu lên cái ác có khi nảy sinh ngay từ những ngời một thời là

đồng đội của nhau, do cuộc sống mu sinh, hay do lòng tham của một số kẻ hám danh hám lợi, dục vọng thấp hèn mà có thể làm tất cả, bất chấp ngời thân, đồng đội của mình Mà đáng sợ nhất là cái ác lại có khuôn mặt na ná cái tốt, mợn danh cái tốt, nhân danh lợi ích tập thể, cộng đồng Loại nhân vật này đợc miêu tả khá sinh động trong Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần, Chỉ còn một lần, Cuộc đời dài lắm của Chu Lai; Đám cới không có giấy giá thú, Ngợc dòng nớc lũ của Ma Văn Kháng …

Trang 26

Bi kịch của con ngời có thể là do hoàn cảnh, có thể là do cái ác hãm hại nhng cũng có thể bi kịch còn nằm ngay trong những con ngời thiếu bản lĩnh, không thắng nổi chính bản thân mình Nhân vật Giang Minh Sài trong

Thời xa vắng của Lê Lựu, Vạn trong Bến không chồng của Dơng Hớng

chính là những nhân vật bi kịch vì bị trói buộc trong những lời nguyền, trong các quan niệm cũ kĩ Một biểu hiện khác của bi kịch này là sự mù quáng của cá nhân trớc sự xô đẩy của thời cuộc mà Tạ Khổ trong tiểu thuyết

Lão Khổ là một mẫu hình tiêu biểu.

Trong hoàn cảnh “thực h lẫn lộn” nh vậy, con ngời bị tha hoá và biến chất cũng là điều dễ hiểu Chính vì thế mà loại nhân vật tha hoá và bị tha hoá cũng xuất hiện nhiều trong văn xuôi thời kì này Môi trờng và hoàn cảnh là những nhân tố tác động trực tiếp đến con ngời khiến con ngời dễ bị tha hoá Có kẻ tha hoá vì quyền lực và h vinh nh Ba Sơng trong Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, có kẻ do thời thế nh anh bộ đội trong Ba ngời khác của

Tô Hoài… Trong cái nhìn của các nhà văn, sống trong một môi trờng phi nhân tính, suy đồi, con ngời nếu không giữ đợc thiên lơng tất sẽ bị tha hoá

Đặc biệt trong xã hội đơng đại này con ngời bị tha hoá do quyền lực và lòng tham chiếm nguyên nhân chủ yếu Nhu cầu muốn hởng thụ là nguyên nhân khiến nhiều ngời trợt dài trên con đờng tội lỗi Sự tha hoá của những

kẻ có trong tay quyền lực và tìm mọi cách giữ vững quyền lực đợc miêu tả khá kĩ trong Đám cới không có giấy giá thú, Ngợc dòng nớc lũ của Ma Văn

Kháng hay trong Mảnh đất lắm ngời nhiều ma của Nguyễn Khắc Trờng…

Chúng ta thấy rằng vào những năm đầu đổi mới, các nhà văn thờng miêu tả

sự tha hoá qua một số nhân vật tiêu biểu thì trong văn xuôi đầu thế kỉ XXI, nhiều nhà văn lại có ý hớng miêu tả sự tha hoá diễn ra ở quy mô rộng lớn hơn nhiều Trong Cõi ngời rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Đi tìm

Trang 27

nhân vật của Tạ Duy Anh, Luật đời và cha con của Nguyễn Bắc Sơn… “tha

hoá đang có nguy cơ trở thành căn bệnh trầm kha của thời hiện đại” [12].Khi miêu tả cuộc sống sâu rộng và đa tầng, chúng ta không chỉ thấy hiện lên những nhân vật, những con ngời tha hoá về nhân tính mà còn bị bất bình thờng về cấu trúc tâm lí, sinh lí, dị dạng về hình hài Họ có thể gặp phải hoàn cảnh nh vậy do bẩm sinh, hoăc có thể do hoàn cảnh đa đẩy Và để biểu đạt sự đa tạp và nhiều chiều của đời sống, nhiều nhà văn đã xây dựng kiểu nhân vật huyền thoại nh Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Ngời Sông Mê

của Châu Diên, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Bà mẹ trong Thơng nhớ đồng quê của Nguyễn Huy Thiệp…

1.3 Một vài biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn xuôi Võ Thị Hảo

1.3.1 Con ngời với những khát khao hạnh phúc

Có ai đó đã nói "hạnh phúc là do cách ngời ta quan niệm và lựa chọn" không phải là không có lí Hạnh phúc là do quan niệm của mỗi ngời và hớng tới hạnh phúc là điều mà con ngời hằng mơ ớc Có ngời cho rằng hạnh phúc

là sự thanh thản, có ngời lại xem đó là sự thành đạt trong cuộc sống Nhng không thể phủ nhận rằng con ngời ai cũng muốn mình có đợc hạnh phúc Những sáng tác của nhà văn Võ Thị Hảo cũng chứa đầy những kiếm tìm hạnh phúc mà chị gửi gắm qua nhân vật của mình Một trong những lí do để các sáng tác của Võ Thị Hảo gây đợc sự chú ý, sự đồng cảm sâu sắc của ngời đọc

là tác phẩm của chị luôn ẩn chứa những con ngời vơn tới sự kiếm tìm hạnh phúc, sự ấm áp của tình đời, tình ngời

Trong các sáng tác của mình, Võ Thị Hảo dờng nh nói về ngời phụ nữ nhiều hơn với những trái tim khao khát yêu thơng, ớc vọng đợc chở che, mong ớc hoà hợp và hạnh phúc cho cả cuộc đời Những nhân vật phụ nữ trong sáng tác của chị thờng là ngời chịu nhiều thiệt thòi nhất, họ luôn cố

Trang 28

gắng làm tất cả những gì có thể để mong có đợc một điều gì đó bình yên cho mình và cho gia đình bé nhỏ của mình Đó là Trang (Bàn tay lạnh), một

ngời con gái khao khát có đợc một tình yêu chân thành, bình dị Bởi trong lòng Trang nặng trĩu nỗi ám ảnh về mẹ và chị của mình Có lần Trang tâm

sự với bạn: “Mẹ chị không hạnh phúc Chị gái của chị cũng đã không hạnh phúc Ngời hàng xóm của chị cũng không hạnh phúc Vì thế, chị phải hạnh phúc, chị không đợc phép sai lầm Gia đình chị không thể thêm ngời đàn bà bất hạnh thứ ba Vì thế, em thấy không, chị rất thận trọng trong khi chọn ngời yêu” [22, 69] Chính vì thế mà Trang luôn mong ớc tìm đợc một ngời

đàn ông “bay cùng tầng” với mình để có đợc hạnh phúc Với chị ai bay cùng tầng với mình, chị sẽ yêu Trang thận trọng nh thế cũng chỉ vì chị không muốn mình bất hạnh, mà phải là ngời hạnh phúc Chị cũng rất muốn yêu và

đợc yêu, bởi trái tim ngời con gái nào cũng vậy, họ cũng muốn tìm cho mình một chỗ dựa để ẩn náu, để sẻ chia và quan trọng hơn là để tựa vào vai anh những lúc mỏi mệt Trong Trang ngọn lửa yêu vẫn luôn rực cháy bởi chị không hề giấu niềm mong ớc đó Chị thổ lộ: “Không phải chị không muốn yêu đâu Những tối thứ bảy, thấy từng đôi dập dìu, chị cũng buồn nhng em biết không, đàn ông bay là là trên mặt đất Còn chị thì bay trên cao Bao giờ gặp một ngời con trai bay cùng tầng, thì lúc đó Em tởng chị không khao khát đợc một ai đó buộc mình phải quy hàng một cách ngọt ngào sao?” [22, 66]

Trong văn Võ Thị Hảo, ta luôn bắt gặp những ngời phụ nữ nhiệt tình, mạnh mẽ, khát khao về một tình yêu đích thực nh Hạnh trong Tiếng vạc

đêm, Thuận trong Goá phụ đen, Hải trong Mắt miền Tây Tất cả những

ng-ời phụ nữ ấy, mỗi ngng-ời một địa vị khác nhau, mỗi hoàn cảnh khác nhau song cuối cùng đều hớng tới một tình yêu chân thành, một hạnh phúc bình dị không hề siêu thực Trải qua nhiều mối tình song Thuận (Goá phụ đen) vẫn

cha thể tìm đợc một ngời đàn ông mà cô thấy bình yên khi ở bên Chính vì thế, cô luôn mơ ớc gặp đợc một ngời đàn ông đáng tin cậy để trao gửi cuộc

Trang 29

đời Hạnh (Tiếng vạc đêm) cũng thế Trải qua một đời chồng, cô thấy mình

chới với, cô đơn trên đờng đời Cô mơ ớc có đợc một ngời đàn ông để an ủi, cảm thông, sẻ chia những nỗi niềm trong cuộc sống Hải (Mắt miền Tây)

cần lắm một mái ấm gia đình Chị yêu Tuấn bằng cả tình yêu của một ngời con gái đối với ngời con trai, lại xen lẫn cả sự quan tâm chăm sóc của một ngời chị, ngời mẹ đối với ngời em, ngời con Bằng tình yêu mụ mị của mình, Hải luôn mong rằng một ngày không xa Tuấn sẽ khác, sẽ thay đổi tính cách,

sẽ trở về với chị để chị có đợc một “gia đình bé mọn”

Thảo (Ngời sót lại của Rừng Cời) luôn mong muốn đợc hạnh phúc bên

ngời đàn ông mà mình yêu thơng Cô muốn đợc sống trong tình yêu đích thực chứ không phải là tình yêu của sự bù đắp, thơng hại “bằng nghĩa chứ không phải bằng tình” mà Thành đang dành cho cô Khao khát hạnh phúc, khát khao cháy bỏng ngày đợc trở về, đợc gặp mặt ngời yêu và chính niềm tin, nỗi khát khao đến cháy lòng ngày trở về đợc cùng Thành hoàn thành ý niệm của hai đứa chính là “một trong những đốm lửa sáng nhất giục giã cô

cố nhoài ra khỏi cuộc sống hoang dã chốn rừng sâu” [23, 102] Thảo rất cần tình yêu, hạnh phúc song đó tuyệt đối không phải là trách nhiệm Chính vì thế mà hạnh phúc đối với Thảo cũng mãi chỉ là khát vọng mà thôi

Khát khao hạnh phúc dờng nh là điều luôn thờng trực trong mỗi ngời,

kể cả cô gái điếm hết thời (Biển cứu rỗi) cũng vậy Đi hết quãng đời của

ng-ời con gái, cô gái ấy chợt nhận ra mình cần có một chỗ dựa, một chốn nơng thân, một ngời đàn ông để cảm thông, chia sẻ Và, đó cũng là điều thổn thức trên mỗi trang viết của Võ Thị Hảo Hạnh phúc không chỉ là ớc muốn của những con ngời bình thờng mà đối với cả những con ngời không may mắn bị tàn tật nh Hằng (Làn môi đồng trinh), Rân (Ngời đàn ông duy nhất),

Tâm (Máu của lá) cũng không kém phần cháy bỏng Rân ngày ngày ôm

cây đàn vỡ, lăn bánh xe trên những nẻo đờng để hát rong song trong tâm ởng anh không lúc nào nguôi nỗi khắc khoải một niềm mơ ớc: “Một ngày nào đó, ngời đàn bà anh yêu sẽ trở về, sẽ tin cậy, yêu thơng ngả đầu trên

Trang 30

t-ngực anh” Tâm trong Máu của lá cũng khát khao có đợc sự cảm thông,

thấu hiểu và yêu thơng Ngời anh trai của Tâm đã tự viết th mạo nhận là

ng-ời yêu để em gái đợc an ủi Khi chết anh đã trăng trối lại với đồng đội: “Cậu không có em gái tàn tật, không hiểu đợc Mắt con bé rng rng Nó cần những lời yêu ngọt ngào nh cần nớc” [23, 143] Ngời bạn của anh trai Tâm đã tiếp tục viết th để an ủi Chính tấm lòng vị tha, những cánh tay chìa ra cho một

kẻ sắp chìm khiến Tâm tin rằng “Phía chân trời có thể có một chú lùn Nếu

có, chú sinh ra là để cho em” [23, 152 - 153] Hay Hằng (Làn môi đồng trinh) cũng là một cô bé tàn tật nhng có trái tim thánh thiện, trong sáng Cô

khát khao có đợc một tình yêu đẹp, một ngời đàn ông mang đến cho cô cảm xúc ngọt ngào của những nụ hôn mà loài ngời đợc hởng, bởi vì “đã hai mơi chín tuổi rồi mà cha hề biết đến một nụ hôn!” Đó là một ao ớc rất đỗi bình

dị mà bất cứ ai cũng ao ớc Hằng vẫn luôn mơ ớc có đợc một ngời đàn ông

đến với em, đem tình yêu đến cho em dù chỉ là một lần thôi rồi em sẽ chết, vì em ý thức đợc sự tồn tại của mình trên cõi đời này: “Ngời đàn ông thiên thần ơi! Hãy mang em đi! Mang đi khỏi cuộc đời này Hãy mang em đi, ban cho em một lần hạnh phúc ” [21, 97 - 96] Dờng nh niềm tin của Hằng lúc này là câu nói xa xa của bà vọng đến “nếu ngửa bàn tay ra trong một trận ma mà hứng ngay đợc đúng mời giọt không phải là chín và mời một

đâu nhé, thì sẽ lấy đợc chồng sang, sẽ suốt đời đợc yêu chiều, sung sớng” [21, 88] Vì thế, khi những cơn ma đến Hằng rất vui, em cố xoè bàn tay của mình ra để hứng những giọt ma trong lòng bàn tay mình với tia hi vọng sẽ

có một phép màu nào đó xuất hiện

1.3.2 Con ngời với những khát vọng và lầm lạc

Con ngời sinh ra trong cuộc đời này ai cũng có những khát khao vơn tới sự toàn thiện, toàn mỹ Để có đợc hạnh phúc, con ngời phải luôn tự hoàn thiện mình bằng cách tìm kiếm cho mình những bớc đi hợp lí Con đờng đi ấy

có thể thành công với ngời này nhng cũng có thể thất bại với ngời khác Nhng không thể phủ nhận rằng tự vợt lên khỏi hoàn cảnh sống, không chấp nhận sự

Trang 31

áp đặt của hoàn cảnh, của số phận là một trong những đặc điểm nổi bật của phần nhiều các nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo.

Đọc văn Võ Thị Hảo ta bắt gặp những con ngời luôn tìm cách vơn tới hạnh phúc, khao khát và hi vọng một cuộc sống tốt đẹp đến với mình Và để

đạt đợc điều đó với họ là cả một sự nỗ lực kiếm tìm Nhân vật Sải trong Con dại của đá là một ngời con gái có khát vọng vợt qua rất nhiều những ràng

buộc của cuộc sống Là một cô gái thôn bản với những định kiến luật lệ, nàng khao khát một tình yêu cháy bỏng tự do Mới đến tuổi dậy thì cô đã mang trong mình hoài bão trong trắng về một tơng lai tơi đẹp Cô ngây thơ, trong trắng nh vẻ hoang sơ của núi rừng Sải luôn mờng tợng ra cảnh “ba tháng nữa, nàng sẽ về trình con ma nhà Hùng De Tim nàng đập rộn Nàng

sẽ làm vợ ngời nàng yêu” [22, 187] Vô t xen lẫn chút e ngại, đợc lấy ngời mình yêu là một hạnh phúc tuyệt vời và là mơ ớc của bao ngời con gái khác Khát vọng trong sáng là thế, êm đẹp là thế, vậy mà Sải lại rơi vào bi kịch tình yêu do chính mình tạo ra Yêu Hùng De, chàng lính biên phòng, ngời con trai mà tất cả các cô gái bản đều ao ớc, song Sải không cỡng lại đợc sự

mê hoặc bởi vị mặn mang mùi của biển từ Cáo Tờ Quẩy, một gã đàn ông buôn chuyến đã có vợ, Sải đã phản bội lại tình yêu của Hùng De và cũng chính là phản bội tình yêu của mình chỉ qua những phút giây nông nổi, nhẹ dạ Những phút giây lầm lạc đã biến một cô gái vô t của ngày hôm qua thành kẻ “tội đồ” của ngày hôm nay mà khó có thể tha thứ Sự lầm lạc của Sải khiến nàng luôn day dứt Và, kết quả là ngay trong đêm tân hôn cùng Hùng De, nàng không thể nào là ngời hạnh phúc nh ý nghĩ trớc đây của mình bởi trong nàng chứa đầy nỗi ân hận, giằng xé của lỗi lầm đã qua Chối

từ hạnh phúc ngay trong đêm tân hôn, nàng đã tự thú với chồng rồi chạy trốn thật xa, chạy trốn khỏi tội lỗi, khỏi sự dằn vặt về tâm hồn Sải không muốn lu lại nơi mà mỗi bớc chân nàng qua sẽ in dấu của tội lỗi Và, thoáng trong sự sám hối, Sải nhận ra rằng:“Ta đã là đứa con gái ngu dại Ta sống, chân ta cũng sẽ giẫm bẩn đá” [22, 204]

Trang 32

Là một cô gái tội nghiệp ngây thơ và cả tin, nếu nh trớc đây Sải không mơ ớc đến những “vì sao” trong tởng tợng qua lời nói của Cáo Tờ Quẩy, không bị quyến rũ bởi vị mặn của biển, đến cụm san hô màu trắng thì giờ

đây nàng đâu phải có một kết thúc đau đớn đến nh vậy Từng mơ ớc và khát khao có đợc một cuộc sống hạnh phúc bên Hùng De, vậy mà Sải đã không vợt qua đợc sự cám dỗ tội lỗi mà Cáo Tờ Quẩy vẽ ra trớc mắt nàng Sự ân hận muộn màng song âu cùng là điều cần thiết đối với một ngời con gái nh Sải

Từ Lộ là một ngời con trai có chí, đợc sinh ra và lớn lên trong một gia

đình gia giáo Nếu nh gia đình chàng không gặp nạn thì chàng đã có thể hạnh phúc với ngời con gái chàng yêu là tiểu th Nhuệ Anh Nhng gia đình gặp tai biến, một chàng trai hết mực có hiếu với mẹ cha nh chàng không thể khoanh tay đứng nhìn Đau khổ, uất ức, căm thù luôn thờng trực khiến chàng dứt tình với Nhuệ Anh để đi theo con đờng khổ hạnh, hòng tìm học pháp thuật hơn ngời để trả thù cho mẹ cha Oán thù trả xong, Từ Lộ cảm thấy trong lòng trống trải Ngời yêu vì chàng cũng đã quyên sinh Tất cả những ngời thơng yêu nhất giờ không còn ai bên chàng Vậy là những gì mà chàng cố công theo đuổi giờ bỗng nhiên thừa thãi Cha biết phải làm gì thì bỗng nhiên một khát vọng nữa lại đến, chàng sẽ đem hết pháp thuật mà mình học đợc ở Tây Trúc để giáo hoá chúng sinh, mong làm đợc những việc

có nghĩa giúp đời “Song khi đã trở thành vị đại s núi Sài đức cao trọng vọng, đợc khám phá từ cái nhìn bên trong để thấy đợc những ích kỉ nhỏ nhen phàm tục Đơng khi đợc chúng sinh tôn sùng vì công giáo hoá và chữa bệnh cho họ, đại s bỗng nhận ra việc thao túng lòng tin của họ sao mà dễ dàng đến thế Và, càng khuyên họ coi khinh vật dục, chịu đựng mọi khổ ải hiện kiếp để hởng sung sớng nơi niết bàn, đại s càng nghi ngờ lòng tin của chính mình Ngài cảm thấy lên Niết Bàn càng đi càng xa, vậy mà ngẫm ra chính mình còn cha kịp có một ngày sống cho mình Ngài thấy bọn quyền quý hởng xa hoa, làm đủ thứ bậy bạ, lại đợc quyền thay trời biến thiên hạ

Trang 33

thành trò chơi trong tay mình, lại có quyền dựa danh đức Phật để tự an ủi và lấp liếm tội ác Ngài tự thấy dù mình đã nhiều công tu dỡng, đã đạt tới bậc cao trai giới, vậy mà nhìn sâu vào bản thân, ngài không dám chắc trong lòng không còn ớc ao lầu son gác tía, không luôn mờng tợng hình dáng ngời đàn

bà đã cùng mình ân ái duy nhất một lần Ngài tự hỏi mình đang làm gì? Chẳng phải mình hằng đêm nghiến chặt răng trên dờng đá lạnh, cắn nát một bên tay để diệt lửa dục, thề sẽ tu nên đắc đạo để kiếp sau trở thành ngời có quyền lực nhất thiên hạ, để bảo vệ ngời thân, để cứu giúp thiên hạ, vậy mà cuối cùng vị đại s ấy đã làm đợc gì trong khi chúng sinh thì nhất mực tin theo còn Ngài đang tìm cách chuyển kiếp? [4] Những đau đớn, thơng yêu

và lầm lạc của Từ Lộ cũng là những đau đớn, yêu thơng của cả kiếp ngời Ngời ta có thể làm tất cả, hi sinh hết thảy cho chuyện oán thù, cho quyền lực, nhng khi đạt đợc rồi, lòng họ lại vô cùng trỗng rỗng Bị cuốn theo những quy luật nghiệt ngã của cuộc đời, những chính nhân trong lịch sử hoặc là bị hoàn cảnh, bị khát vọng, bị ham muốn khuất phục, đè bẹp, hoặc là vơn lên, thoát ra để trở về với chính mình ỷ Lan, Đạo Hạnh Thần Tông đều không vợt qua đợc những ham muốn, không tránh đợc sự oán thù Đạo Hạnh lên ngôi, muốn làm “một đấng quân vơng biết đoái nhìn đến nỗi oán khổ của con sâu, cái kiến” Nhng rốt cuộc, điều duy nhất mà nhà vua làm đợc chỉ là “thả sức cho những kẻ công thần tung tác, kiêu ngạo, sống phè phỡn trên xơng máu và mồ hôi dân lành” hay “ngày này qua tháng khác tự để cho mình đợc ru ngủ trên tay những kẻ dối trá lừa mị, để cho những mối dờng cột trong triều dần bị chặt đứt ” Trong con mắt của thần dân, Đạo Hạnh chỉ là “một ông vua cha thông thạo phép tắc trị nớc” Khát vọng của vị vua trẻ là lớn lao song khi đạt đợc rồi họ không sao thoát ra khỏi những cám dỗ của vật dục, khiến khi chết đi rồi trong lòng Thần Tông cũng chỉ kịp nhận ra mình một lần nữa lại chọn nhầm đờng

Cũng là khát vọng của một chàng trai mới lớn, muốn đem sức trẻ của mình ra chiến trận hòng mong đất nớc nhanh chóng bình yên để trở về với

Trang 34

gia đình, ngời yêu Song cuộc chiến với những chiến công vang dội, những phần thởng vua ban cùng sơn hào hải vị nơi cung đình khiến chàng trai trẻ với khát vọng cao đẹp ngày nào giờ đây đã lầm đờng lạc bớc bởi quyền uy Quá say mê với chiến công, chàng quên mất điều quan trọng là: những chiến công ấy của chàng càng vang dội bao nhiêu thì ngời yêu của chàng càng đau

đớn tuyệt vọng bấy nhiêu Đến khi chàng trai trở về với gia đình, xóm làng và trớc sự phản ứng gay gắt của ngời vợ mới cới, chàng mới hiểu ra con đờng mà mình đi là sai lệch, nhng tất cả hoá ra đều đã quá muộn

Vũ điệu địa ngục là một truyện ngắn viết về cô gái Thuỳ Châu xinh đẹp

với khát vọng có việc làm ổn định để nuôi mẹ, đợc cống hiến trí tuệ của mình cho xã hội, ấy vậy mà trong cô chứa đầy nỗi thất vọng bởi cô sinh “bất phùng thời” Tốt nghiệp đại học là niềm hạnh phúc, niềm vui đối với nhiều ngời Với Thuỳ Châu cũng thế Nhng khốn khổ thay vì sinh nhầm thời nên

ba năm sau khi tốt nghiệp, cô vẫn cha xin đợc việc làm Ba năm lê thân hết chỗ này đến chỗ khác mà vẫn thất nghiệp, Thuỳ Châu đã kịp rút ra bài học xin việc vẫn là vấn đề “đầu tiên” Không có tiền không thể xin nổi một công việc dù là bình thờng nhất Sự thật của thời đại cô đang sống đã chặn đứng mọi ớc mơ của ngời con gái mới lớn Trớc đây, Thuỳ Châu luôn nghĩ mình

sẽ đi làm để có tiền, vậy mà giờ đây phải có tiền thì mới có việc làm, một sự thật quả là ngợc đời đối với khát vọng của Thuỳ Châu Đau đớn cho Thuỳ Châu vì nhà cô rất nghèo, lấy đâu ra tiền để đi xin việc? Hoàn cảnh khó khăn buộc Thuỳ Châu phải nghĩ cách và cách đó đã đến trong sự tuyệt vọng của cô: bán máu Với Thuỳ Châu bây giờ chỉ có cách ấy mà thôi Nhng máu của cô cũng không thể đáp ứng đủ hầu bao của những kẻ có quyền Nó “còn quá ít so với hầu bao căng ních của thiên hạ” [21,152] Xã hội mà cô đang sống với đầy rẫy cạm bẫy xấu xa, đê hèn của một số ngời mà chỉ qua một lần gợi ý thẳng thừng của kẻ "đứng đầu một cơ quan khá giả" nọ, Thuỳ Châu đã đánh đổi sự trong trắng của mình ấy vậy mà cuối cùng cô cũng chỉ

là kẻ thất nghiệp Không việc làm, mặc cảm về sự thất tiết, mang trong mình

Trang 35

căn bệnh suy tuỷ do phải bán máu quá nhiều lần, đau đớn, tuyệt vọng, Thuỳ Châu tìm đến cái chết

nó Viết về sự cô đơn của con ngời, các nhà văn không chỉ thể hiện nỗi cô

đơn ấy mà còn ý thức lí giải ngọn nguồn của sự cô đơn ở những con ngời cụ thể Điều này cho thấy một sự đổi mới đáng ghi nhận trong việc khám phá con ngời của các nhà văn đơng đại, mà Võ Thị Hảo là một trong những nhà văn nh thế

Những nhân vật bất hạnh với thân phận cô đơn, cô độc có thể là những con ngời lạc môi trờng sống Đó có thể là những ngời một thời đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trờng nay trở về với cuộc sống thời bình nhng cha kịp thích nghi nên cảm thấy chới với Phải chăng những thiếu thốn, khó khăn nơi chiến trờng đã hằn sâu vào tâm chí họ, để giờ đây khi bớc vào cuộc sống mới họ lại khó thích nghi? Thảo (Ngời sót lại của Rừng Cời) là một con ng-

ời nh thế Chiến tranh cớp đi tuổi xuân, nhan sắc, hình hài, sức khoẻ khi trở

về với cuộc sống thời bình và đối diện với nó - một hoàn cảnh sống mới với nhịp sống sôi động hơn khiến Thảo không khỏi bỡ ngỡ, chông chênh, thấy mình quá lạc lõng Dù đã rất cố gắng, Thảo vẫn thấy mình thật khó thích nghi, để rồi cô đau xót tự nhận rằng “mình thật là quỷnh”, thật khó nhập cuộc Cô sống khác với những ngời bạn học cùng lớp Họ cời vô t nhng cô thì lại cời với "những nụ cời thật hiếm hoi" Họ ngủ cũng mơ nhng trong mơ của họ luôn thờng trực với "đôi môi cời thanh thản, mặt ửng hồng" Thảo chợt chạnh lòng khi thấy giấc mơ của họ khác xa giấc mơ của đồng đội cô hồi còn sống Khi ngủ Thảo cũng mơ nhng "với hai loại giấc mơ: một loại

Trang 36

giấc mơ thời thơ bé, cô thấy may mắn nhất là nhặt đợc cặp ba lá, khá nữa là nhặt đợc trứng vịt đẻ rơi Còn trong giấc mơ tuổi thanh xuân, cô chỉ thấy tóc rụng nh trút, rụng đầy khuôn ngực đã bị đâm nát của chị Thắm, và từ trong

đám tóc ấy lẩy ra hai giọt nớc mắt trong veo và rắn câng nh thuỷ tinh, đập mãi không vỡ" [23, 97]

Không chỉ cô đơn trong cuộc sống thờng nhật mà Thảo còn cô đơn ngay trong cả những giấc mơ Không thể hoà nhập vào tập thể, nơi môi tr-ờng cô đang sống, Thảo thấy mình lạc lõng ngay cả những lúc đi cùng ngời yêu Cô nh chợt nhận ra rằng mình không hợp với anh Hai ngời đi bên nhau

mà cô vẫn cảm giác nh nó rất gợng gạo Nỗi cô đơn, hay đúng hơn là cảm giác cô đơn luôn xâm chiếm, bủa vây lấy Thảo Nỗi ám ảnh vì mình đã cùng

đồng đội trải qua nỗi cô đơn đặc quánh nơi rừng sâu cha thể nào thoát ra khỏi đầu Thảo, giờ đây Thảo luôn sợ mọi ngời nhìn mình với con mắt thơng hại Vì thế, càng thu mình lại, cái cảm giác cô đơn ở Thảo càng lấn sâu.Cũng là trở về sau chiến tranh, ngời lính trong Biển cứu rỗi lại có một

nỗi cô đơn khác, cô đơn ngay trong ngày đoàn tụ gia đình Anh khát thèm một gia đình hạnh phúc, một ngời vợ mà anh luôn mờng tợng nh nàng Tô Thị khi thấy anh về sẽ giang tay ra : "Mình đấy ?" và cả đứa con gái nhỏ nữa cũng theo mẹ ra đón bố với cặp mắt ngây thơ ấy vậy mà khi trở về gia đình chẳng ai ra đón Anh thấy: "Trong căn nhà lá tối mờ có đến ba đứa trẻ lít nhít trứng gà, trứng vịt với ba khuôn mặt hoàn toàn khác nhau" [23, 39] Anh đã ghê tởm Anh xa lánh cái gia đình ấy Anh không thể chấp nhận một gia đình nh thế và lại càng không thể tha thứ cho ngời vợ của mình để rồi lựa chọn sự ra đi Chấp nhận làm một ngời gác đảo đèn cũng có nghĩa là anh chấp nhận trở thành một kẻ cô đơn giữa đảo xa hoang vắng Có những nỗi cô đơn do hoàn cảnh mang lại, nhng cũng có những nỗi cô đơn do chính bản thân tạo ra Và ở đây ngời lính binh nhì cũng vậy, anh cô đơn một phần là

do chính anh Nếu nh ngời lính ấy sẵn lòng vị tha cho lỗi lầm của vợ, thì anh

Trang 37

đã không phải cô đơn ngay giữa đồng loại Nỗi tự ái lớn hơn lòng khoan dung khiến anh trở thành kẻ cô độc.

Có những ngời cô đơn, cô độc vì lạc lõng giữa cuộc đời nh Rân (Ngời

đàn ông duy nhất) - ngời "có khuôn mặt đàn ông tuyệt đẹp nh lực sĩ ném

đĩa nhng lại chỉ có đôi chân của đứa bé ba tuổi trắng muốt, chảy thõng" Rân cô đơn ngay chính trong ngôi nhà của mình Khi bị mắng là "đồ của nợ", Rân bỏ nhà đi lang thang kiếm sống bằng một chiếc đàn ghi ta trên chiếc xe lăn chỉ vì muốn khẳng định: "Con đã ra đi, đã sống và chết bằng

đôi bàn tay của mình" Giữa phố chợ ồn ào, Rân vẫn luôn thu mình lại bởi anh rất cô đơn Chẳng có ai hiểu anh, chẳng ai có thể biết đợc ẩn sau cái hình hài tật nguyền ấy là một ngời đàn ông, một trái tim đàn ông sẵn lòng che chở cho một ngời đàn bà bất hạnh trong "đôi cánh bé nhỏ nhng là đôi cánh tay ngời đàn ông thực sự"

Trang (Bàn tay lạnh) đã không thể có đợc một mái ấm gia đình, không

thể hoà mình đợc với một ngời đàn ông nào nữa khi trái tim chị đã bị lạnh giá vì một trò đùa cợt của tình yêu do Thẩm và các bạn cùng lớp của chị vô tình tạo nên Chính vì thế, Ngời Đẹp một thời của trờng thuở nào giờ đây vẫn một mình lẻ bóng Chị không phải không có ai theo đuổi mà bởi vì chị không thể nào quên cái tối thứ bảy của ngày ấy, trong chị lúc nào cũng chất

đầy nỗi tổn thất khó vơi: "Có những loài cây chịu đợc sơng, ma bão và nắng Nhng có những loài cây bị gục từ những giọt sơng muối đầu tiên và không bao giờ dậy đợc nữa Không hiểu sao chị cứ đinh ninh rằng trái tim mình chỉ

là một sợi dây tơ và dây ấy đã bị giằng đứt quá sớm" [22, 65]

Hạnh và Thụ (Tiếng vạc đêm) cũng là những con ngời cô đơn trong

hạnh phúc lứa đôi Hai ngời có cảm tình với nhau, song lại không thể đến

đ-ợc với nhau vì những lí do vặt vãnh không đáng có ở bên ngời đàn bà nào Thụ cũng thấy cô đơn Chỉ đến khi gặp Hạnh anh mới cảm nhận đợc điều gì

đó gần gũi và ấm áp Còn Hạnh cũng đã trải qua một đời chồng và cũng

Trang 38

không hạnh phúc Giờ đây khi gặp Thụ, đợc tựa vào vai anh, cô thấy ấm áp, bình an Vậy mà Hạnh cũng lại trốn chạy Thụ, trốn chạy tình yêu của mình

để cuối cùng hai con ngời cô đơn ấy cũng không thể nào có đợc hạnh phúc Tâm (Máu của lá), tật nguyền, đơn độc, âm thầm sống với những Rôchetxtơ

trong tiểu thuyết, sống với những bức th của một ngời con trai giấu mặt chỉ

kí tên M

Những con ngời lầm lũi, cô đơn với nhiều cảnh đời thật thơng tâm cũng hiện lên rất rõ trong văn xuôi Võ Thị Hảo Đó là ngời đàn bà tội nghiệp có tên là Diễm và ông Tiếu trong Ngời gánh nớc thuê Họ là hai ngời

già lẫm lũi, sống đơn độc, tủi phận của kiếp ngời Họ cô đơn giữa cuộc đời, giữa chính cộng đồng mình khi nơi đó thiếu sự cảm thông, sẻ chia giữa con ngời với con ngời Cuộc sống vốn xô bồ với bao nỗi bon chen xuôi ngợc, có

lẽ vì thế mà con ngời ít có thời gian dành cho nhau, thông cảm và sẻ chia với nhau Cho nên khi sức tàn, lực kiệt, bà Diễm, ông Tiếu vẫn phải làm công việc nặng nhọc quá sức mình Ngày ngày họ phải đặt hai thùng nớc nặng lên

đôi vai già còm cõi để lấy những đồng tiền lẻ nơi nhà giàu ấy vậy mà họ còn bị mọi ngời xa lánh, ghẻ lạnh nh xa lánh một thứ dịch bệnh, khiến họ đã cô đơn trong cảnh không gia đình, không con cái lại còn tủi thân trong cộng

đồng mình ý thức đợc nỗi cô đơn ấy, bà Diễm và ông Tiếu càng cảm thông với nhau hơn, họ làm bạn với nhau mong đi hết quãng đời còn lại Thế nhng ngời đời vốn hiềm khích và ác ý Đã không cảm thông với nỗi niềm của hai con ngời cô độc ấy, nhiều ngời còn lấy đó làm trò đùa để trêu trọc họ ông Tiếu phải chết một cách tức tởi, buồn bã Bà Diễm đã cô đơn nay vì thế lại càng cô đơn lẻ loi hơn nữa Hay ả Tuynh trong Dệt cỏ cũng là ngời đàn bà

cô đơn trong cuộc đời Chồng chết, “thằng Phục con ả đi lính về vào Trại

th-ơng binh từ năm 1975 với một mảnh đạn nhỏ trong đầu và thỉnh thoảng lên cơn động kinh Năm năm sau Phục phải vào trại tâm thần” [24, 18], rồi sau

Trang 39

đó thì biệt tích để lại bà đơn côi trên cõi đời không nơi bấu víu, nơng tựa những lúc ốm đau Bà sống những mong đợc xã hội quan tâm, đền bù cho những cống hiến và mất mát của con trai bà Thế nhng “ả Tuynh chết trên giờng, khô gầy nh con mắm, trong lòng vẫn thầm mong món tiền trợ cấp thơng tật hàng tháng của thằng Phục” [24, 22] mà đâu thấy Ước mơ có đợc chút tiền trợ cấp để bà mua những viên thuốc đau bụng, khỏi đau rồi bà sẽ dành chút tiền còn lại “đi khắp chợ cùng quê tìm thằng Phục về, mua quần áo mặc cho nó, dắt nó đến một bác sĩ giỏi, chữa cho nó hết khùng rồi cới vợ cho ả

có cháu bồng” [24, 22] Đó vẫn mãi chỉ là ớc mơ theo ngời đàn bà nghèo khổ

ấy xuống mồ

Lão Nhát (Vầng trăng mồ côi) là một con ngời đáng trân trọng Vậy

mà cái chết của lão sẽ mãi là niềm uẩn ức khôn nguôi của cả ngời sống lẫn ngời chết Lão bị ngời đời xa lánh vì hiểu nhầm Không ai cảm thông và hiểu lão, dân làng luôn nhìn lão bằng con mắt thiếu thiện cảm và dè chừng Thậm chí có ngời còn căm thù lão, mà lão đâu có tội gì, chỉ tại cái số lão thật đặc biệt nh ông thầy bói trớc đây từng tiên đoán: “Số thằng này thật lạ! Thật lạ cái số thằng này” [23, 27] Không làm gì nên tội nhng lão lại bị cả làng xa lánh và ghẻ lạnh, chỉ duy nhất có một đứa trẻ con trong làng là hiểu lão Nhng làm sao đứa trẻ ấy có thể minh oan cho lão đợc khi nó là trẻ con,

mà đã là trẻ con thì ngời lớn làm sao tin đợc? Cái nhìn sắc lạnh của ngời đời khiến lão đành dời xa ngôi làng mình đang sống để lên đồi dựng một túp lều

ở tạm Ngày ngày lão Nhát sống lầm lũi cùng một con chó làm bạn giữa núi

đồi hoang vắng, không ngời thân, không bà con chòm xóm Luôn nặng trĩu một nỗi buồn, song lão vẫn sống, sống không phải để trả thù mà là để hi sinh Lão vẫn âm thầm dõi theo dân làng và theo dõi cuộc chiến của dân tộc,

để rồi một hôm lão âm thầm lấy cái chết của mình để bảo vệ dân làng - nơi

mà lẽ ra lão phải ghét bỏ và căm giận Lão Nhát chết rồi vẫn là kẻ cô độc khi không ai thấy đợc ở trong con ngời khắc khổ ấy cả một tấm lòng luôn h-

Trang 40

ớng về làng xóm của mình, hi sinh mạng sống của mình để giữ toàn mạng sống cho dân làng Mãi mãi sự hi sinh của lão vẫn là sự hi sinh trong thầm lặng mà thôi nh chính cuộc đời của lão vậy Suốt cuộc đời lão cũng chỉ là một "vầng trăng mồ côi".

Thần Tông (xa kia là Từ Lộ) vốn là một chàng trai đa sầu, đa cảm Vì mối thù của gia đình, chàng quyết dứt tình với Nhuệ Anh - một tiểu th khuê các, con nhà gia giáo Trên đờng cùng Minh Không và Giác Hải khua tích trợng mòn vẹn, lội sông, băng đèo sang Tây Trúc tìm thầy học

đạo báo thù cho cha, Từ Lộ đã không còn là chàng nữa Thoảng qua, suốt dọc cuộc hành trình là nỗi nhớ da diết về những kỉ niệm trong tình yêu với Nhuệ Anh, song chuyện oán thù ngày đêm đeo đẳng, nhắc nhở chàng phải quyết tâm dứt bỏ Nhng đau đớn hơn là ở chỗ, mời ba năm nếm mật nằm gai, bao phen phải liều cả mạng sống để học đạo pháp thần thông khổ cực, cắn răng khổ luyện những mong báo thù, lúc trở về Từ Lộ thất vọng khi thấy kẻ thù mà chàng đã dành một nửa cuộc đời để căm giận,

để nuôi chí thì giờ đây hắn đã tự kiệt quệ, tự huỷ hoại Bao nhiêu phép thuật mà chàng phải chịu khổ nhục mới luyện đợc giờ đây chẳng thể dùng đợc vào việc gì nữa Thế mới hay có những oán thù nhiều khi tự nó hoá giải mà đâu cần phải trả thù? Thù đợc trả song Từ Lộ cũng không còn là chàng nữa Tình yêu với Nhuệ Anh cũng chỉ còn là kỉ niệm Ai bảo Từ lộ không cô đơn? Và cả khi Từ Lộ trở thành đại s Từ Đạo Hạnh rồi sau đó đầu thai làm vua Thần Tông với ớc muốn mình có thể làm đợc

điều gì đó cho dân cho nớc Nhng mục đích không thành, vị vua trẻ cũng chỉ đau trong nỗi đau của mình, cô đơn không ai chia sẻ Khi mắc phải căn bệnh ác, chốn hoàng cung trở nên lạnh lẽo, rốt cục chàng cũng chỉ là một vị vua cô độc mà thôi

Ngạn La, Từ Đạo Hạnh, ỷ Lan Thái hậu, Hoàng Thái hậu họ Dơng đều

là những nhân vật cô đơn trong chính nỗi đau của mình Họ vốn dĩ là những con ngời rất đỗi đời thờng, với những khát khao ớc mơ rất bình dị về cuộc sống, về tình yêu Vậy mà bằng cách này hay cách khác, hoặc trực tiếp hay gián tiếp trớc sự xô đẩy hỗn loạn của quyền lực, trớc một thế giới va đập bạo liệt giữa thiện và ác, tốt và xấu họ đã không còn là mình

Từ một cô bé hái dâu, ỷ Lan bớc lên ngôi Nguyên Phi, rồi đợc tôn lên Hoàng Thái phi Cuộc đời nàng, và cũng là bi kịch của nàng bắt đầu từ đây

Có quyền lực trong tay, nàng trở nên ham muốn quyền lực Vì muốn là

“ng-ời đàn bà duy nhất mà sử sách phải lu truyền mãi mãi”, vì thích “chỉ với một

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngọc Anh (10/7/2003), “Đã đến lúc những ngời đàn bà nổi loạn”, Nông thôn ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đã đến lúc những ngời đàn bà nổi loạn”
2. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đơng đại nhìn từ phơng diện thể loại”, Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đơng đại nhìn từ phơng diện thể loại”, "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Lại Nguyên Ân (31/10/2005), “Tiểu thuyết và lịch sử”, Viet Nam Net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết và lịch sử”
5. Báo An ninh thế giới (2005), “Còn điều chi em mải miết đi tìm”, Giàn thiêu, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh thế giới" (2005), “Còn điều chi em mải miết đi tìm”, "Giàn thiêu
Tác giả: Báo An ninh thế giới
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
6. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 - những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 - những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Diễm Chi (7/2005), “Tôi là ngời nô lệ cho gia đình” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), Phụ nữ chủ nhật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi là ngời nô lệ cho gia đình” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo)
8. Phan Cự Đệ (1986), “Mấy vấn đề lí luận của văn xuôi hiện nay”, Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lí luận của văn xuôi hiện nay”, "Văn học
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1986
9. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2005), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chủ biên", 2005), "Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Minh Đức (2005), “Tôi không định mê hoặc…” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), Giàn thiêu, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi không định mê hoặc…” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), "Giàn thiêu
Tác giả: Minh Đức
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
11. Hà Minh Đức (chủ biên, 2000), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chủ biên", 2000), "Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Hà Minh Đức (2002), “Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới”, Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới”, "Văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2002
13. Lu Hà (23/10/2007), “Tôi có văn chơng để ẩn náu” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), http: // www.evan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi có văn chơng để ẩn náu
14. Minh Hà (2005), “Tôi vốn là ngời đàn bà thích đợc che chở” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), Hồn trinh nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi vốn là ngời đàn bà thích đợc che chở” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), "Hồn trinh nữ
Tác giả: Minh Hà
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
15. Nhị Hà (2005), “Tôi ngồi bệt trên đất, và viết” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), Hồn trinh nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi ngồi bệt trên đất, và viết” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), "Hồn trinh nữ
Tác giả: Nhị Hà
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
16. Thu Hà (6/11/2004), “Tôi biết mình không đợc phép quay đầu” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), http: // www.evan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi biết mình không đợc phép quay đầu
17. Phùng Hữu Hải (2006), “Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau 1975”, http: // www.evan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau 1975
Tác giả: Phùng Hữu Hải
Năm: 2006
18. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên, 2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng chủ biên", 2006), "Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Trần Mạnh Hào (29/6/2004), “Nhà văn Võ Thị Hảo: Kiêu ngạo chẳng có gì là xấu” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo), Viet Nam Net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Võ Thị Hảo: Kiêu ngạo chẳng có gì là xấu” (Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo)
20. Võ Thị Hảo (2005), Biển cứu rỗi , Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển cứu rỗi
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w