Tìm hiểu thế giới nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh cho chúng ta thấy một quan niệm nghệ thuật mới mẻ về con người của văn học sau 1975, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới.. Các hiện tượng
Trang 1trờng đại học vinh
khoa ngữ văn
Lê Thị Lan Anh
Nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh
khoá luận tốt nghiệp đại học
chuyên nghành: văn học việt nam hiện đại
Trang 2khoá luận tốt nghiệp đại học
chuyên nghành: văn học việt nam hiện đại
Ngời hớng dẫn: T.S Lê Văn Dơng Ngời thực hiện: Lê Thị Lan Anh
Lớp: 44B4 - Văn
Vinh, 2007
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 6
5 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1 BẢO NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975 8
1.1 Những tiền đề về chính trị - xã hội, văn hoá - văn học liên quan chi phối văn hoc Việt Nam sau 1975 8
1.1.1 Những tiền đề về chính trị - xã hội 8
1.1.2 Tiền đề văn hoá - văn học 10
1.2 Những đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975 12
1.2.1 Đổi mới về tư duy nghệ thuật 14
1.2.2 Đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người 22
1.2.3 Đổi mới về nhân vật 30
1.2.4 Đổi mới về bút pháp, giọng điệu, ngôn ngữ 34
1.3 Bảo Ninh - một gương mặt mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975 38
1.3.1 Vài nét về tiểu sử 38
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 38
CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI BẢO NINH 41
2.1 Nhân vật người lính 41 2.1.1 Người lính dưới góc nhìn con người cá nhân 41
2.1.2 Người lính trong quan hệ với cộng đồng 62
2.2 Nhân vật phụ nữ 65
Trang 42.3 Những nhân vật khác trong các tác phẩm viết về cuộc sống
thời hậu chiến 73
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI BẢO NINH 79
3.1 Thể hiện nhân vật qua ngoại hình 79
3.2 Thể hiện tâm lý nhân vật qua việc sử dụng yếu tố tâm linh 82
3.3 Thể hiện nhân vật qua việc sử dụng ngôn ngữ 85
3.4 Thể hiện nhân vật qua việc tổ chức Không gian, thời gian 91
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong thế hệ nhà văn sau 1975, Bảo Ninh hiện lên như một gương mặt mới trên hành trình nhằm đổi mới văn học dân tộc Những sáng tác văn
xuôi của Bảo Ninh, đặc biệt là cuốn "Nỗi buồn chiến tranh" đạt giải nhất về
tiểu thuyết của Hội Nhà văn 1991, góp phần khẳng định thành tựu của công cuộc đổi mới văn học từ cuối thế kỷ XX đến nay.
1.2 Tìm hiểu thế giới nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh cho chúng ta thấy một quan niệm nghệ thuật mới mẻ về con người của văn học sau 1975, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới.
1.3 Văn học là "món ăn tinh thần" không thể thiếu được trong đời sống văn nghệ của quần chúng Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh còn góp phần giúp độc giả hiểu sâu hơn, cặn kẽ hơn hiện tượng văn học Bảo Ninh Đồng thời cũng định hướng cho bạn đọc đến với tác phẩm văn học từ sau 1975 gắn liền với các tên tuổi của Nguyễn Huy Thiệp, Quang Thiều, Lê Lựu, Ma văn Kháng…
2 Lịch sử vấn đề
Như chúng ta đã biết, văn xuôi của Bảo Ninh ra đời trong một giai đoạn văn học đặc biệt - giai đoạn đánh dấu bước chuyển mình của văn học Việt Nam thời chiến tranh sang thời văn học hậu chiến Vì vậy để hiểu được một cách sâu sắc, trung thực, toàn diện về nhiều lớp nội dung chứa đựng trong các tác phẩm của văn xuôi Bảo Ninh, chúng ta phải đặt và xem xét nó dưới nhiều góc độ, bối cảnh khác nhau.
2.1 Trước hết chúng ta phải xem xét vấn đề trong bối cảnh rộng của nó
- đó là bối cảnh của những cuộc tranh luận chưa ngã ngũ về đổi mới trong văn học Việt Nam từ sau 1975, phát triển hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp, cũng như chưa thật định hình chắc chắn Các hiện tượng văn học: tác giả, tác
Trang 6phẩm ra đời, sự khen chê chưa nhất quán - người khen hết mức, người chê hết lời, cụ thể là:
Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết "Thời kỳ văn học vừa qua và
xu thế phát triển" đã có thái độ tán thành, khen ngợi: "Thời kỳ văn học từ sau
1975 đã đặc biệt định hướng sắp tới Đến nay đã 15 năm nhưng vẫn còn là sớm để thấy hết chân giá trị của những tác phẩm ra đời và những tác giả xuất hiện được chú ý ở thời kỳ này - một thời kỳ phong phú các hiện tượng văn
học" (Báo Văn nghệ, số 15, 1990) Nhà văn Bùi Hiển cũng khẳng định: "Ngay
từ đầu những năm 80, đặc biệt là trong văn xuôi, sân khấu và điện ảnh đã bắt
đầu xuất hiện những sáng tác mang nhiều sắc thái mới" (Báo Văn nghệ, số 49,
tháng 12 năm 1989)
Nhưng bên cạnh đó một số ý kiến của các nhà nghiên cứu khác lại cho rằng đây là một bước thụt lùi của văn học Việt Nam, đặc biệt là đối với lĩnh vực thơ ca Trong lĩnh vực văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết), cũng có một số
ý kiến không tán thành, như một số bài phê bình đối với hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp, chẳng hạn đó là: "Một cây bút có tài, nhưng…" của Hồng Diệu, hay một số bài viết của Đỗ Văn Khang in trong tác phẩm: "Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp" (NXB Văn hoá Thông tin, H, 2001).
Mặt khác một số nhà văn và nhà nghiên cứu còn giữ thái độ trung hoà, chỉ dám nhận định dè dặt những đặc điểm, quy luật phát triển của văn học sau
1975, trên con đường tiếp cận, tìm hiểu và chiếm lĩnh đối tượng phức tạp này qua các bài viết nhỏ như: Lại Nguyên Ân với "Thử nhìn lại văn xuôi mười
năm qua" (Tạp chí Văn học, số 4, 1990); Nguyễn Đăng Mạnh với "Một cuộc nhận đường mới" (Tạp chí Văn học, số 4, 1995); Nguyễn Văn Long - "Thử xác định đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975" (Tạp
chí Cộng sản, số 6, 2001).
Khi đặt và xem xét vấn đề trong bối cảnh rộng của nó, ta không thể không nói đến đường lối văn nghệ của ĐCSVN qua các thời kỳ và đối với thời
Trang 7kỳ sau 1975, được cụ thể hoá và thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VI 1986 - đánh dấu thời kỳ đổi mới, mở cửa đất nước Đường lối văn nghệ của Đảng có tính chất định hướng cho các văn nghệ sỹ trên con đường sáng tạo nghệ thuật phục vụ quần chúng và các sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Từ đó, văn học dân tộc sau 1975 xuất hiện nhiều hiện tượng văn học phong phú và phức tạp Các hiện tượng văn học đặc biệt được chú ý nhiều gây ra những làn sóng tranh luận mạnh mẽ nhất là hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp, hiện tượng Bảo Ninh - tác giả của cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều vấn đề tranh luận.
Như vậy các tác phẩm văn xuôi Bảo Ninh, đặc biệt là cuốn tiểu thuyết
"Nỗi buồn chiến tranh" - là tác phẩm đạt giải nhất về tiểu thuyết của Hội Nhà
văn Việt Nam năm 1991 - là năm mà công cuộc đổi mới văn học sau 1975 đã
đi được một chặng đường là 5 năm, nhưng lại là thời kỳ cao điểm của các cuộc tranh luận và sự xuất hiện của hàng loạt các tác phẩm mới bắt đầu từ khoảng
thời gian 1989 - 1995: Tập "Ánh trăng" - được giải báo Văn nghệ 1991; tập truyện ngắn của Võ Thị Hảo với "Người sót lại của rừng cười", "Biển cứu
rỗi"…(NXB Hội Nhà văn 1995) cùng các tác phẩm được chọn lọc in trên Báo
Văn nghệ (1987- 1995).
2.2 Nếu chỉ xem xét lịch sử vấn đề trong bối cảnh rộng của đời sống văn học sau 1975, ta khó có thể tránh khỏi sự phiến diện trong cách nhìn nhận đánh giá vấn đề Vì vậy, khi tìm hiểu nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh, ta phải đặt và xem xét nó trong bối cảnh hẹp - đó chính là các góc nhìn khác nhau của những người nghiên cứu xuất phát trên các quan điểm khác nhau thông qua các bài viết cụ thể, mà do đó còn có một số ưu - nhược điểm , các mặt đúng - sai của nó
Bảo Ninh là một trong số những nhà văn có nhiều đóng góp trên hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Nghiên cứu về các sáng tác của Bảo Ninh đang thu hút sự quan tâm của người cầm bút bởi những đặc trưng về thể loại và nội
dung phản ánh Trong "Văn học Việt Nam thế kỷ XX", Bùi Việt Thắng khẳng
Trang 8định: "Bảo Ninh là một trong những nhà văn có duyên với truyện ngắn" [5,
337] Bích Thu trong "Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975" cũng xem
Bảo Ninh là một cây bút ấn tượng với người đọc [27, 32] Đi vào tìm hiểu
nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Bảo Ninh tác giả cuốn sách "Bình luận
truyện ngắn" chỉ ra truyện "Khắc dấu mạn thuyền" là kiểu tình huống tượng
trưng.
Bảo Ninh còn là tác giả của cuốn tiểu thuyết rất thành công về đề tài
chống Mỹ: "Thân phận của tình yêu" Nghiên cứu về đề tài chiến tranh trong
tác phẩm này trở thành mối quan tâm của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu và
người đọc Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong "Thi pháp hiện đại" đã khẳng định:
"Trong văn học mấy chục năm nay, có thể "Thân phận của tình yêu" là quyển
tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương nhất Có thể nói Phương là nhân vật phụ nữ đẹp nhất trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam" [9, 265] Tác giả nhấn mạnh: "Nỗi buồn chiến tranh thể hiện một điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài 35 năm(…), những cảnh tả chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác phẩm" [9, 265] Bên cạnh nỗi buồn chiến tranh là nỗi buồn về tình yêu, Đỗ Đức Hiểu nhận định: "Nỗi buồn chiến tranh và nỗi buồn tình yêu thấm vào nhau (…) tình yêu, chiến tranh, ba nhịp đó xen kẽ, đan chéo, gây chóng mặt, bàng hoàng, nhức nhối" [9, 266].
Nghiên cứu về "Thân phận của tình yêu" ở góc độ thi pháp, tác giả Trần Quốc Huấn trong Tạp chí Văn học, số 3 - 1991 đã quan tâm đến thiên truyện
từ điểm nhìn chiến tranh: "Toàn bộ tác phẩm là các nhìn ngoái lại, thờ thẩn, đăm đắm của một người lính khi đã tàn cuộc Cái nhìn dằng dặc đầy phân tán nhưng không hề lơ đãng Điểm nhìn có góc độ rộng, song khá tập trung" [10, 85].
Trên Tạp chí Văn học, số 6 - 1991, với bài viết "Văn xuôi gần đây và
quan niệm về con người", Bùi Việt Thắng đã đưa ra nhận định hết sức xác
đáng về quan niệm nhân cách con người trong tiểu thuyết "Thân phận của tình
Trang 9yêu" Ông viết: "Cái phần được của Thân phận của tình yêu chính là ở chỗ tác
giả khao khát có những nhân cách như Kiên trong cuộc đời vốn còn rất hỗn độn này Một nhân cách như Kiên mới dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào quá khứ, mới dám đối diện với hiện tại, rất công bằng mà khám xét lịch sử cao hơn nữa
là đối diện với chính mình, rồi sám hối, tranh đấu và vượt lên" [25, 19]
Hoàng Ngọc Hiến cũng từng khẳng định: "Với Thân phận tình yêu" của
Bảo Ninh, cùng với sự xuất hiện của một nhà tiểu thuyết, loáng thoáng bóng dáng của một lều triết học Cõi chập chờn bất định là cõi đắc địa của tiểu thuyết Bảo Ninh mới mon men bước vào cõi này, đã không ít độc giả ngỡ
ngàng đọc tác phẩm của anh Có lẽ họ chưa quen đọc tiểu thuyết " (Tạp chí
Văn học, số 4 - 1995) Tác giả Nguyễn Khải trong "Hãy nhìn sự chuyển hoá
văn học bằng đôi mắt thưởng thức và thái độ khoan dung" lại viết: "Nỗi buồn
chiến tranh" của Bảo Ninh làm tôi chú ý không phải vì đó là cái nhìn duy nhất
mà là thêm một cái nhìn về chiến tranh Cái nhìn này có mặt hay mặt dở Nhưng không nên phủ nhận hoàn toàn sự đóng góp của nó Nếu Bảo Ninh tiếp tục viết về đề tài này thì: Qua dư luận, qua ý kiến của công chúng - tôi tin anh
sẽ viết tốt Văn Bảo Ninh tuy không phải tất cả là hay nhưng có những
chương viết rất quyến rũ" (Tạp chí Văn học, số 4 - 1995) Gần đây cũng trên báo Văn nghệ trẻ, số 39 -2006, trong bài viết "Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
phong phú về lượng", khi bàn về tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tác giả
Nguyễn Trường Lịch cho rằng tiểu thuyết Việt Nam không nằm ngoài dòng chảy của tiểu thuyết thế giới, ông đưa ra một số tác phẩm tiêu biểu, trong đó là
tiểu thuyết "Nỗi buồn của chiến tranh" Tác giả viết: "Nỗi buồn chiến tranh"
của Bảo Ninh với độ dài của thời gian, điểm nhìn mới mẻ của chiến tranh trong quá khứ giúp nhà văn mạnh dạn nhận rõ cuộc chiến tranh không chỉ mang âm điệu hào hùng thắng lợi mà còn đượm nét đau thương bi tráng trong những ngôi nhà, nơi ngõ phố vắng vẻ hoặc làng quê núi đồi quạnh hiu, qua từng nỗi bất hạnh cô đơn của bao người con gái nhỏ hậu phương đêm đêm
Trang 10không ánh đèn mỏi mắt chờ đợi" [12, 3] Nguyễn Trường Lịch còn phát hiện
những mới mẻ ở cuốn tiểu thuyết này: "Điểm mới nhất trong kết cấu Thân
phận của tình yêu là ở chỗ tác giả lấy trục thời gian chi phối mọi hành động
xuyên suốt các tính cách nhân vật, trải rộng các vung không gian mênh mông của chiến trường từ Bắc chí Nam " [12, 3].
Như vậy chưa có một công trình nào thể hiện cái nhìn tổng quát, toàn diện, có hệ thống, chuyên sâu trong việc nghiên cứu thế giới nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh Vì thế, có một cái nhìn hệ thống về đề tài nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh là một vấn đề cần thiết.
Luận văn của chúng tôi được thực hiện trên cơ sở tiếp thu thành tựu của những người đi trước, nhìn nhận những mặt thiếu sót chưa thoả đáng của các bài viết để đi sâu khảo sát, tìm hiểu vấn đề nhằm đưa ra một quan điểm, một cách nhìn riêng của chúng tôi Hy vọng rằng đề tài sẽ mang đến một ý nghĩa khoa học và thực tiễn hữu ích.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Khảo sát toàn diện nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh.
3.2 Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh qua những truyện ngắn và tiểu thuyết cụ thể.
3.3 Qua khảo sát thế giới nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh chỉ ra những nét mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của Bảo Ninh, nghiên cứu những nét mới về nghệ thuật của truyện ngắn và tiểu thuyết trên góc độ lý thuyết và thực tiễn của văn xuôi Việt Nam sau 1975.
4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khoá luận của chúng tôi chủ yếu khảo sát nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Bảo Ninh được in trong 3 cuốn:
- "Truyện ngắn Bảo Ninh" do Nhà xuất bản Công an Nhân dân ấn hành năm 2002.
Trang 11- "Bảo Ninh lan man trong lúc kẹt xe những truyện ngắn hay nhất và mới nhất" của Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2005.
- Tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" của Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2005.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp khảo sát, thống kê - phân loại.
- Phương pháp miêu tả, phân tích.
- Phương pháp so sánh đối chiếu.
Ở đề tài này phương pháp so sánh, đối chiếu được chú trọng nhằm tìm
ra những cách tân của văn xuôi Bảo Ninh sau 1975 trên cả hai bình diện lý thuyết và thực tiễn, làm rõ đặc điểm của thế giới nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh so với các nhà văn trước đó và cùng thời.
5 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1: Bảo Ninh trong bối cảnh đổi mới văn xuôi Việt Nam sau
1975.
Chương 2: Thế giới nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh.
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh.
Trang 12CHƯƠNG 1 BẢO NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI VĂN XUÔI
VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Những tiền đề về chính trị - xã hội, văn hoá - văn học liên quan chi phối văn hoc Việt Nam sau 1975
1.1.1 Những tiền đề về chính trị - xã hội
Văn học là một hiện tượng lịch sử xã hội, được sinh thành, phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, văn học trở thành tấm gương phản chiếu đời sống xã hội Nhưng với tư cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, sự phản ánh của văn học cũng mang một nét mới Ngoài nội dung khách quan đời sống được phản ánh, nhà văn còn phải biểu hiện thái độ chủ quan của mình Nên một tác phẩm văn chương chỉ phản ánh mặt khách quan của đời sống thì chưa đủ mà phải biểu hiện thái độ của nhà văn trước cuộc sống, thái
độ đó có thể là đồng tình, biểu dương, ca ngợi, phê phán, châm biếm…Đó cũng là giá trị nhân đạo, là tấm lòng, là trái tim của nhà văn trước đời sống.
Trên ý nghĩa văn học là một hiện tượng lịch sử xã hội luôn được sinh thành, phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định, thì văn học luôn chịu sự chi phối, ảnh hưởng của nhiều yếu tố chính trị - xã hội trong bối cảnh lịch sử đó Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói "Xã hội nào thì văn nghệ nấy" Lịch sử xã hội luôn luôn chi phối ảnh hưởng đến văn học đó là một quy luật Văn học Việt Nam sau 1975 cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
Với thắng lợi vĩ đại trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ từ 1954 - 1975 hoàn toàn kết thúc thắng lợi Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội Chiến tranh kết thúc, đất nước được độc lập thống nhất, nhân dân bước
Trang 13vào thời kỳ hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cảc nước Cuộc sống của dân tộc và của mỗi gia đình dần dần trở lại với những quy luật bình thường của nó, con người trở lại với muôn mặt đời thường Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước, xã hội, con người Việt Nam đang phải đối phó với những khó khăn chồng chất và không ít thử thách hiểm nghèo của thời kỳ hậu chiến, của nền kinh tế thị trường để đứng vững và hơn thế nữa để tạo được những biến đổi to lớn, toàn diện sâu sắc nhất là từ khi công cuộc đổi mới được
mở ra cho đến nay Nền văn học như một tấm gương tinh thần của cuộc sống,
có chung vận mệnh và đồng hành cùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch
sử Từ sau 1975 nền văn học cũng phải đứng trước những khó khăn, thách thức gay gắt và đã có những biến đổi sâu rộng trên mọi mặt của quá trình văn học.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc đã mở ra một cuộc cách mạng mới - cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước, yêu cầu đổi mới về mọi mặt của đất nước được đặt ra và trở thành vấn đề bức thiết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) là Đại hội đánh dấu sự đổi mới toàn diện của Đảng ta.
Đại hội VI đề ra đường lối đổi mới toàn diện mọi mặt: Kinh tế, văn hoá, chính trị, ngoại giao…Đại hội VI của Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội và mở ra thời
kỳ mới cho cách mạng Việt Nam Đại hội VI đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Viêt Nam.
Với Đại hội này, Đảng ta kêu gọi toàn Đảng, toàn dân đổi mới tư duy nhìn thẳng vào hiện thực đất nước và đời sống nhân dân để đề ra đương lối đúng đắn Đây là thời kỳ chúng ta xác định đúng đắn hướng đi của đất nước,
mở đầu một thời kỳ đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đây cũng là thời kỳ mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng
Trang 14xã hội chủ nghĩa , xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp Có thể nói nhờ công cuộc đổi mới mà Đảng ta đã tiến hành hơn 20 năm qua nên mọi mặt của đất nước đã được thay đổi: Chính trị ổn định, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên khá cơ bản, văn hoá xã hội cũng vì thế có được sự phát triển mạnh
mẽ và đổi mới sâu sắc.
1.1.2 Tiền đề văn hoá - văn học
Đường lối đổi mới toàn diện mà Đại hội VI đã đề ra đã mở đường cho
sự đổi mới trong văn học Đặc biệt trong hai ngày 6 - 10 và 7 - 10 - 1987 ông Nguyễn Văn Linh nguyên Tổng Bí thư của Đảng tuy rất bận rộn với những công việc cần làm ngay của Đảng và Nhà nước, nhưng đã chăm chú lắng nghe phát biểu của văn nghệ sĩ tiêu biểu của cả nước Sau khi nghe những lời tâm
sự, những băn khoăn thắc mắc của giới văn nghệ sĩ, ông đã có những ý kiến phát biểu nhằm khuyến khích các văn nghệ sĩ cần phải đổi mới tư duy nghệ thuật nhìn thẳng vào hiện thực cuộc sống, có quyền nói thẳng, nói thật các vấn
đề miễn là nhà văn phải đứng trên lập trường quan điểm của toàn Đảng, toàn dân khi phản ánh vấn đề với hiện thực Vậy nên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã thay mặt Đảng kêu gọi văn nghệ sĩ phải thay đổi cách viết cho phù hợp với hoàn cảnh dân tộc, bởi hiện thực cuộc sống luôn thay đổi mà " Văn học vốn là tấm gương phản chiếu thời đại", còn nhà văn là "Người thư kí trung thành của thời đại" (Banzack).
Mặt khác hiện thực cuộc sống thay đổi đã dẫn đến nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu thưởng thức văn của công chúng cũng thay đổi Trong hoàn cảnh đất nước hoà bình, công chúng hôm nay không dễ gì bằng lòng với những tác phẩm văn học dễ giãi một chiều, mà đòi hỏi nhà văn viết về tác phẩm toàn diện hơn Cuộc sống hiện thực bây giờ không chỉ là chiến đấu và lao động như trong văn học 1945 - 1975 nữa mà là mọi vấn đề bề bộn, đa dạng, phức tạp của cuộc sống xã hội Chính vì vậy bạn đọc của chúng ta muốn hiểu thực tại không chỉ có thế mà người đọc muốn hiểu toàn bộ hiện thực cuộc sống với bộ mặt đa
Trang 15diện, đa chiều của nó, cũng như con người trong mối quan hệ nhiều chiều, phức tạp chứ không phải theo lối miêu tả xuôi chiều đơn giản.
Văn học vẫn tiếp tục viết về chiến tranh nhưng người đọc muốn hiểu mọi vấn đề về cuộc chiến kể cả mặt trái của nó, buộc nhà văn không thể viết theo lối cũ nữa - nghĩa là viết thiên về chiến thắng, về cái anh hùng vĩ đại của dân tộc Những tác phẩm vẫn viết theo lối tư duy cũ không còn sức hấp dẫn đối với độc giả vì hoàn cảnh xã hội đã thay đổi và tâm lí bạn đọc cũng vậy Lý luận văn học Macxit đã khẳng định: "Người đọc như một yếu tố bên trong của quá trình sáng tác văn học" Đối với nhà văn, người đọc bao giờ cũng là hiện thân của nhu cầu xã hội Trong mọi trường hợp mỗi khi nói đến người đọc nhà văn đều cảm thấy họ: "yêu cầu", "đòi hỏi", "tin cậy", "hứng thú", "hồi hộp",
"trông chờ"…còn nhà văn thì : "đáp ứng", "lý giải", "tác động", "lôi cuốn",
"thuyết phục", "giúp đỡ", "truyền đạt", "phơi bày", "cho thấy"…Đó chính là mối quan hệ giữa người đọc và nhà văn mà nó có ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sáng tác văn học Văn học sau 1975 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét: "Sau 1975 bỗng dưng xuất hiện một tình trạng rất lạ: sự lạnh nhạt hẳn đi trong công chúng và sáng tác Người đọc mới hôm qua còn mặn mà là thế, bỗng dưng quay lưng lại với anh, họ không thèm đọc anh nữa Sách anh viết ra hăm hở dày cộm, nằm mốc meo trên các quầy sách Người ta bỏ anh, người ta đi đọc sách Tây và đọc Nguyễn Du" [17, 9] Còn Chế Lan Viên thì cho rằng: "Sách thì nhiều mà không có tác phẩm" Nguyễn Tuân lại khẳng định : Văn học giai đoạn này hình như có một khoảng "chân không văn học ".
Tất cả những điều kiện trên buộc nhà văn - người nghệ sĩ cầm bút phải thay đổi cách viết, cách xây dựng hình tượng nhân vật, đặc biệt là quan niệm nghệ thuật về con người…Điều này lí giải tại sao trong văn học dân tộc sau
1975 lại xuất hiện các hiện tượng "lạ" như: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Bảo Ninh…Nền văn xuôi sau 1975 vì vậy cần quan
Trang 16tâm đến con người một cách toàn diện hơn, không chỉ đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong lao động và công tác mà cả trong cuộc sống bình thường hàng ngày; không chỉ con người xã hội mà cả con người riêng tư, con người tự nhiên; không chỉ tư tưởng, quan niệm mà cả tình cảm, tâm lí; không chỉ đời sống hữu thức mà cả những cái thoáng qua bất chợt, mơ hồ trong đời sống vô thức…
Văn xuôi đang bước vào một chặng đường mới với những thành tựu đáng phấn khởi Nó tập trung giải quyết hàng loạt những vấn đề mới của chủ nghĩa xã hội trong chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ, đồng thời trang trải món nợ tinh thần đối với hai cuộc chiến tranh dân tộc Văn xuôi cũng đang
có những tìm tòi, khám phá đáng khích lệ, những đóng góp mới về mặt thể loại và phong cách thể hiện Trong bước đường đi lên phía trước không khỏi
có những hạn chế và thử nghiệm chưa thành công.
1.2 Những đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975
Năm 1975 trở thành mốc chấm dứt một giai đoạn lịch sử của dân tộc để chuyển sang một vận hội mới Đối với văn học, bối cảnh mới tạo nên những chấn động sâu xa trong ý thức nghệ thuật Từ một nền văn học đấu tranh của chiến tranh, của những yêu cầu nghiêm ngặt của chính trị, tư tưởng toàn bộ nền văn học với những kinh nghiệm tích luỹ được không phải chỉ là 40 năm cách mạng mà trên cả chặng đường dài lịch sử văn học dân tộc, đang có những nhu cầu mới - nhu cầu trở lại với sự sáng tạo trong dân chủ - nhu cầu sống trong mọi vấn đề của đời sống con người để tìm kiếm và thiết lập những giá trị phong phú của tinh thần con người.
Nhưng những nhu cầu và cả những tiền đề của đổi mới văn học sẽ khó trở thành hiện thực hoặc nếu có trở thành hiện thực thì cũng không có được diện mạo và tư thế như ta đang thấy Nó cần có một yếu tố thúc đẩy mang tính quyết định Đó là sự dân chủ hoá về mặt chính trị - xã hội, cho nên không phải ngẫu nhiên mà trong chẳng đường nối tiếp của nền văn học 1945 - 1975, cái
Trang 17mốc của đổi mới văn học được tính từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 Tính từ đó văn học mang một màu sắc khác, một tinh thần khác để có thể nói:
"Bắt đầu một giai đoạn khác" Giai đoạn mới này không cắt lìa mà vẫn tiếp nối nhưng cũng không phải là sự tiếp nối tự nhiên bình thường mà là sự tiếp nối vừa mang tính kế thừa, vừa có sự phủ định biện chứng Trên tinh thần biện chứng ấy của đổi mới, văn học sẽ được nhìn nhận khách quan hơn, đồng thời tranh cãi về chuyện "phủ định hay không phủ định" cũng có thể có lời giải đáp hợp lí Chính Ăngghen đã từng nhấn mạnh sự phủ định biện chứng như một chân lí tuyệt đối, khách quan "Đối với triết học biện chứng thì không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả Nó chỉ ra tính chất quá độ của mọi sự vật và đối với nó không có gì có thể đứng vững được ngoài quá trình không ngừng của sự sinh thành và tiêu vong, của sự tiến triển vô tận từ thấp đến cao…Tính chất cách mạng của nó là tuyệt đối - đó là cái tuyệt đối duy nhất được triết học biện chứng thừa nhận".
Đổi mới văn học được khởi đầu từ 1986 là sự tự ý thức của văn học trên chặng đường mới của lịch sử và của chính nó Văn học Việt Nam sau 1975 đã
có sự đổi mới rõ rệt, người ta đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh hoạ và yêu cầu văn nghệ phải được cởi trói, đổi mới, đổi khác Hành trình của đổi mới văn xuôi gắn liền với tiến trình vận động của đổi mới văn học dân tộc Theo các nhà nghiên cứu, văn học Việt Nam 30 năm qua đã trải qua 3 chặng đường, có sự nối tiếp không đứt đoạn: từ 1975 - 1985 là giai đoạn chuyển tiếp
từ văn học sử thi thời chiến tranh sang nền nền văn học thời hậu chiến; từ
1986 đến đầu thập kỷ 90 là thời kỳ văn học đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ gắn liền với chặng đường đầu của công cuộc đổi mới đất nước; từ 1993 đến nay văn học trở lại với quy luật bình thường và hướng sự quan tâm nhiều hơn đến sự cách tân nghệ thuật.
Nhìn vào chặng đường đổi mới của văn học dân tộc có thể thấy sự đổi mới của văn xuôi nghệ thuật thể hiện trên các phương diện sau:
Trang 181.2.1 Đổi mới về tư duy nghệ thuật
Tư duy nghệ thuật là "dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật…Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định Sự chuyển hoá tư duy này tạo nên đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó Tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ Phương tiện của nó
là các biểu tượng ,tượng trưng có thể trực quan được Cơ sở của nó là tình cảm Dấu hiệu của tư duy nghệ thuật là ngoài tính giả định, tính ước lệ nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật ngoài đời sống cụ thể cảm tính mang nội dung khả nhiên, có thể cảm thấy theo xác suất, khả năng và tất yếu" [6, 381].
Trong nền văn học Việt Nam 1945 - 1975, tư duy nghệ thuật chiếm ưu thế là tư duy sử thi Tư duy này chi phối đặc điểm văn học trên các phương diện: đề tài, con người, nhà văn, giọng điệu …Nhưng sau 1975, trong nền văn học việt Nam bắt đầu có hiện tượng: tư duy sử thi đang đần dần chuyển sang
tư duy tiểu thuyết và đến nay tư duy tiểu thuyết đã khẳng định được vị trí của mình trong loại hình nghệ thuật ngôn từ này.
Trước hết ở phương diện đề tài Nếu như tư duy sử thi nền văn học 1945
- 1975 hướng ngòi bút của nhà văn nghiêng về phản ánh những sự kiện trọng đại của dân tộc, gắn liền với số phận và vận mệnh dân tộc cộng đồng, đại diện
cho mơ ước của tập thể thời đại (nhân vật Núp, Tnú trong "Đất nước đứng lên
" của Nguyên Ngọc, Chị Út Tịch trong "Người mẹ cầm súng" của Nguyễn Thi,
Chị Sứ trong "Hòn Đất" của Anh Đức… ) Thì ngược lại tư duy tiểu thuyết lại
hướng ngòi bút của nhà văn nghiêng về phản ánh các vấn đề đời tư, đời thường, thế sự đạo đức…Nghĩa là phản ánh các vấn đề của từng số phận cá nhân con người với những khía cạnh phức tạp của nó Từ đó mà văn học sau
1975 thực sự muốn nêu lên những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh rộng lớn Không chỉ dừng lại những vấn đề chiến đấu, xây dựng như trong văn học 1945
Trang 19- 1975, tất nhiên đề tài chiến đấu, xây dựng thì văn học sau 1975 vẫn đề cập, nhưng nhà văn khi đề cập đến vấn đề này cũng viết khác đi - nó không còn là
đề tài chính của văn học sau 1975 nữa và nếu có viết thì nó cũng được viết khác đi theo sự nhận thức lại cuộc kháng chiến, cuộc xây dựng xã hội chủ
nghĩa của dân tộc ta trong những năm tháng đã qua Tác phẩm "Thiên đường
mù" của Dương Thu Hương là một ví dụ Nguyên Ngọc đã có nhận xét xác
đáng: "Có một điều thú vị, hành trình văn học của ta mấy năm qua từ cố gắng rút ra khỏi đề tài số phận chung của cộng đồng, đồng nhất để đi đến hiện thực
xã hội ngổn ngang với nhiều tính chất hiện thực vồn vã rồi tiếp tục đi sâu vào thế giới bên trong, thế giới riêng của từng thế giới con người - hành trình ấy không phải là một hành trình thu hẹp dần phạm vi quan tâm của văn học Ngược lại đó là hành trình mở ra ngày càng rộng hơn, phong phú đa dạng hơn của văn học" [17, 13] Tất cả những điều đó làm cho văn học đời hơn, thực hơn và mỗi con người là một tiểu vũ trụ để nhà văn thoả sức khám phá, tìm
hiểu và thể hiện thành những tác phẩm đặc sắc "Nỗi buồn chiến tranh" của
Bảo Ninh cũng là một minh chứng cho điều này.
Ai cũng biết văn học 1945 -1975 được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Nó đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử giao phó là tìm hiểu, khám phá ngợi ca những nét đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của nhân dân trong chiến đấu và xây dựng Riêng mảng đề tài về chiến tranh cách mạng của văn học 1945 - 1975 thì nó đã đứng vào hàng tiên phong của văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay Văn học phát triển trong 30 năm đất nước có chiến tranh, với hoàn cảnh ấy thì việc phản ánh cuộc sống và thể hiện con người lúc này chưa thật toàn diện
Do yêu cầu của cách mạng - nhiệm vụ cổ vũ, động viên nhân dân đến với chiến trường, đến với công trường, nông trường cho nên nhiều mặt của cuộc sống và có những sự thật còn phải đề cập tới một cách dè dặt Văn học sau
1975 đã bổ cứu những mặt khuyết điểm của văn học 1945 -1975 Bên cạnh
Trang 20biểu dương, ca ngợi những mặt anh hùng của cách mạng, các tác phẩm còn
đề cập đến các mặt khác như: tiêu cực nội bộ, những tổn thất trong chiến tranh; những cái buồn cái bi trong cuộc sống, những chuyện đời tư, đời thường, chuyện tình yêu, tình dục…Những tâm tư, nguyện vọng số phận của các nhân Hay nói cách khác, với tư duy tiểu thuyết thì mọi vấn đề của cuộc sống đều là đề tài của văn học Văn học giai đoạn này nở rộ các tác phẩm, đặc biệt là những tác phẩm viết về đề tài đời tư, đời thường, về số phận cá
nhân như: Cô thợ nhuộm trong "Thợ nhuộm tóc", người tàn tật hát rong trong
"Người đàn ông duy nhất'', người thầy giáo trong "Ông giáo trường", hay
"Tướng về hưu" của Nguyễn Huy Thiệp - từ vinh quang trận mạc trở về với
đời thường không dễ gì tìm thấy chỗ đứng trong cuộc sống xô bồ vụn vặt với những quan niệm và giá trị hoàn toàn khác, thấm thía một "Nỗi buồn chiến
tranh" của Bảo Ninh, đào sâu một số phận một dòng họ ("Mảnh đất lắm
người nhiều ma", "Chuyện làng tôi", "Lời nguyền 200 năm" …).
Nếu nhìn vào hành trình đổi mới văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay qua những chặng đường và thành tựu của nó ta sẽ thấy rõ sự thay đổi về
tư duy nghệ thuật(chủ yếu qua truyện ngắn và tiểu thuyết).
Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng trước nhu cầu" đổi mới
tư duy tiểu thuyết" Tiểu thuyết Việt Nam những năm tiền đổi mới (1975 - 1985) vẫn theo đà quay "quán tính" nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng, cảm hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể trong tư
duy nghệ thuật của nhà văn như: "Họ đã sống như thế"(Nguyễn Trí Huân),
"Miền cháy "(Nguyễn Minh Châu), "Trong cơn lốc" (Khuất Quang Thụy),
"Đồng bạc trắng hoa xoè" (Ma Văn kháng)…Chỉ khi bước vào thời kỳ đổi
mới trong không khí dân chủ của đời sống văn học, văn xuôi Việt Nam mới thực sự đổi mới tư duy nghệ thuật Từ sau 1986 đó là sự khởi sắc của văn xuôi trong đó tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo, bộc lộ ưu thế của mình trong cách "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói đúng sự thật";
Trang 21bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người trong vận động và phát triển, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của công
chúng đương đại: "Thời xa vắng" (Lê Lựu); "Thiên sứ" (Phạm Thị Hoài);
"Mưa mùa hạ", "Mùa lá rụng trong vườn" (Ma Văn Kháng ); "Thời gian của người", "Một cõi nhân gian bé tí" (Nguyễn Khải); "Đất trắng" (Nguyễn
Trọng Oánh); "Cõi người rung chuông tận thế" (Hồ Anh Thái); "Đi tìm nhân
vật", "Thiên thần sám hối" ( Tạ Duy Anh).
Từ sau 1975 - 1980 là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của thời kỳ hậu chiến Tính chất chuyển tiếp này thể hiển rõ cả đề tài, cảm hứng và cả các phương thức nghệ thuật, cả quy luật vận động của văn học Ở nửa cuối thập kỷ 70, nền văn học
về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật với những cảm hứng chủ đạo trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước Khuynh hướng sử thi vẫn được tiếp tục nhưng mờ nhạt dần với một loạt tiểu thuyết, kí sự, hồi kí về
chiến tranh Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu như: "Năm 75 họ đã sống
như thế" (Nguyễn Trí Huân); "Họ cùng thời với những ai" (Thái Bá Lợi);
"Tháng 3 Tây Nguyên '' (Nguyễn Khải); "Đất trắng" (Nguyễn Trọng Oánh);
"Miền cháy" (Nguyễn Minh Châu)…Cố nhiên văn xuôi sử thi ra đời sau
1975 cũng có những nét khác biệt nhất định so với loại hình ấy ở giai đoạn trước Bên cạnh nhu cầu tái hiện lịch sử, nhà văn có điều kiện tập trung vào xây dựng tính cách nhân vật, phân tích và lí giải về các sự kiện biến cố Từ đỉnh cao của chiến thắng trọn vẹn, nhìn lại và tái hiện những khó khăn, tổn thất thậm chí cả những thất bại tạm thời của ta trong chiến tranh cũng chính
là cách khẳng định những giá trị lớn lao của sự hy sinh và ý nghĩa vĩ đại của
sự chiến thắng Bên cạnh đó một số cây bút đã đề cập kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong bối cảnh giao thời từ chiến tranh sang hoà bình, mà cuộc sống ở mọi nơi hiện lên không chỉ có niềm vui của hoà bình - chiến thắng -
đoàn tụ mà còn có bao sự phức tạp, khó khăn nảy sinh (tiểu thuyết "Những
Trang 22khoảng cách còn lại" của Nguyễn Mạnh Tuấn, "Miền cháy" của Nguyễn
Minh Châu) Bước vào những năm đầu của thập kỷ 80, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn chồng chất và rơi vào khủng hoảng trầm trọng, nên văn học cũng chững lại và cũng không ít nhà văn lâm vào bối rối, không tìm ra phương hướng sáng tác Ý thức nghệ thuật của số đông người viết và công chúng chưa kịp chuyển biến kịp thời với thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận vốn quen thuộc trong thời kỳ trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc Đây là khoảng thời gian mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi là: "khoảng chân không " trong văn học Nhưng cũng chính trong những năm này đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu của đời sống văn học, với những trăn trở, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở một số nhà văn có mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống và có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình Những tìm tòi bước đầu ấy đã mở ra cho văn học những hướng tiếp cận mới về hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là cái hiện thực đời thường với những vấn đề đạo đức - thế sự, đang tồn tại nổi cộm đòi hỏi văn học phải nhận thức, khám phá.
Từ 1986 đến đầu những năm 90, là giai đoạn văn học đổi mới thực sự, tập trung vào mô tả hiện thực với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật Văn xuôi viết về con người và cuộc sống với tất cả những mặt tôt, xấu của nó Có thể
kể các tác phẩm như: "Bến không chồng" (Dương Hướng); "Đám cưới
không có giấy giá thú", "Mùa lá rụng trong vườn" (Ma Văn Kháng); "Cỏ lau", "Mùa trái cóc ở miền Nam" (Nguyễn Minh châu); "Thân phận tình yêu" (Bảo Ninh)…Các cây bút này đã đi vào thể hiện các khía cạnh của đời
sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan xen nên cuộc sống đời thường phức tạp So với trước đây, nhiệt tình phê phán của văn học giai đoạn này dữ dội hơn rất nhiều Đặc điểm nổi bật trong văn học là khuynh hướng đấu tranh phê phán xã hội, duyệt lại những sai làm của quá khứ - cái mà người ta nói là khuynh hướng văn học phơi bày tố cáo Cố nhiên cảm hứng phê phán cũng
Trang 23có lúc đẩy tới cực đoan, lệch lạc và người viết bộc lộ một cái nhìn ảm đạm hoài nghi thiên lệch.
Quả thật, sự xuất hiện của cảm hứng sự thật khi viết về con người cuộc sống là một tất yếu, đồng thời là điều tất yếu mà văn học cần phải vượt qua
để tìm đến những chiều sâu mới Sự phơi bày, kể lể, ngợi ca con người đã đến lúc người đọc đòi hỏi một chiều khác hơn, người ta chờ ở nhà văn qua sự vận động xã hội phức tạp đó đưa đến cho người ta những tổng kết nhân văn sâu sắc và lâu dài qua hình tượng nghệ thuật.
Từ cuối những năm 90 đến nay, trong xu thế đi tới sự ổn định xã hội, văn học về cơ bản cũng trở lại với những quy luật mang tính bình thường nhưng không xa rời những định hướng tư duy đã hình thành từ những năm
80 Nếu như trước đó động lực thúc đẩy văn học đổi mới là do nhu cầu đổi mới xã hội và khát vọng dân chủ - đó cũng chính là nội dung cốt lõi của văn học trong chặng đường đầu thời kỳ đổi mới, thì khoảng 10 năm trở lại đây, văn học quan tâm nhiều hơn đến sự đổi mới của chính nó mặc dù vẫn không
đi lệch khỏi xu hướng dân chủ hoá Đây là lúc văn học cũng như văn xuôi trở về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, đồng thời có ý thức và nhu cầu
tự đổi mới về hình thức nghệ thuật, phương thức thể hiện cũng như tư duy nghệ thuật Có thể tìm thấy những thể nghiệm mạnh bạo để cách tân tiểu
thuyết trong hàng loạt các tiểu thuyết gần đây như: "Thiên sứ" (Phạm Thị Hoài); "Hồ Quý Ly" (Nguyễn Xuân Khánh); "Cơ hội của chúa" (Nguyễn Việt Hà); "Giàn thiêu" (Võ Thị Hảo); "Cõi người rung chuông tận thế" (Hồ Anh Thái); "Mảnh đất lắm người nhiều ma" (Nguyễn Khắc Trường); "Nỗi
buồn chiến tranh " (Bảo Ninh)….
Sự chuyển biến trong tư duy tiểu thuyết đã xoá bỏ sự ám ảnh của chủ nghĩa đề tài Hiện thực chỉ là cái nền cho sự diễn biến những việc đời, những
số phận, những trạng thái tinh thần Tiểu thuyết đi sâu khấm phá con người, truy tìm cái ẩn mật của bản ngã Tiểu thuyết đang ngày càng khẳng định vị
Trang 24thế "cột sống" của nền văn học, có vai trò quyết định diện mạo văn học, bởi
nó như nhà văn Nguyên Ngọc đã nói: "Tiểu thuyết không chỉ là một thể loại văn học, hơn thế rất nhiều, đó là một bước phát triển quan trọng và cơ bản trong tư duy con người về thế giới, là thời đại mới trong tư duy con người
Có thể kể những đặc điểm của tư duy ấy là tính không tất định của cuộc sống, phi tuyến tính, thoát khỏi tư duy cơ giới vốn coi những điều hợp lý như một
cỗ máy, biết nguyên nhân thì rõ hậu quả, cái trước cái sau" [17, 9].
Bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn cũng có những cách tân lớn trong tư duy và đạt được nhiều thành tựu Vì vậy có thể nói, văn học sau 1975 là "thời của tiểu thuyết", "thời của truyện ngắn" Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã đạt được những thành tựu rực rỡ, với sự bổ sung của những cây bút trẻ - thế
hệ nhà văn có duyên với truyện ngắn: Ngyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo…Bên cạnh đó là sự "hồi xuân", "tái xuất" của những cây bút thế hệ trên lục tuần như: Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Xuân Thiều, Lê Tri Kỷ …họ không bị xơ cứng theo tuổi tác trái lại càng hăm hở viết, viết bằng sự lựa chọn câu chữ chặt chẽ, viết bằng cảm xúc sâu lắng.
Bước đột phá đầu tiên của truyện ngắn sau 1975 là tác phẩm gây nhiều
tranh luận của nhà văn quân đội: Thái Bá Lợi, "Hai người trở lại trung đoàn"
(1976) đã từ bỏ lối viết đơn giản, một chiều về cuộc sống và con người, tác giả đã mạnh dạn trình bày tính chất ngày càng trở nên phức tạp của cuộc sống và con người thời đại được thử thách qua ngọn lửa chiến tranh và chuẩn
bị nhân cách để bước vào đời sống bình thường, hoà bình Giờ đây con người được phát hiện, thể hiện trên bình diện đạo đức, trong tiến trình hình thành nhân cách mới với những thử thách thầm lặng nhưng không kém phần gay go phức tạp Dựa vào đặc trưng của thể loại truyện ngắn là "cưa lấy một khúc của đời sống'', tìm ra những "tình huống tiêu biểu" tác giả đã chú trọng khai
Trang 25thác cái thời khắc thử thách của con người khi nhân vật Thanh bị hiểu lầm, mất tình cảm và niềm tin đối với Mây và phải im lặng Trong chiến tranh cuộc sống bị dồn nén, tập trung vào một hành động vì mục đích cao cả vì thế khó có thể biện bạch thanh minh những chuyện tế nhị về danh dự, tình yêu Con người công dân nghĩa vụ là cao cả nhất, sau này khi Trí "lộ mặt" phản bội tình yêu đối với Mây, sự tỉnh ngộ của nhân vật nữ, sự trở lại đàng hoàng
và cao thượng của Thanh, hồi kết của câu chuyện vẫn còn vị đắng chát của nhân tình thế thái, nhưng vẫn đậm chất nhân văn của con người Việt Nam: Trọng chữ tín, chữ nghĩa Khi truyện ngắn in ra không phải không có ý kiến phê phán tác giả là đã chú trọng vào phần khiếm khuyết của con nguời (nhân vật Trí) trong khi bản thân Trí là một người anh hùng trong chiến tranh Đúng là như vậy: người ta có thể là anh hùng trong lửa đạn nhưng lại có thể
là kẻ hèn nhát trong tình yêu, tình bạn, tình đồng chí Cũng như không ít kẻ giờ đây đứng trước vành móng ngựa, rơi vào vòng lao lí, khi trước đó trong chiến tranh giải phóng là những người cán bộ đảng viên mẫu mực, cuộc sống
có nhiều cách sàng lọc, thử thách phẩm giá con người.
Truyện ngắn sau 1975 còn chú trọng nghiên cứu thực trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh - đó là một hiện thực phức tạp đa dạng đan xen mặt sáng, tối trong đời sống cũng như những đổi thay tất nhiên trong nhận thức, tình
cảm của con người Truyện ngắn "Lời cuối trong kịch bản" (1980) của Lê
Hoàng được viết theo xu hướng này: Một cô gái là một diễn viên nghệ thuật không chuyên, trong chiến tranh đã gặp một chàng trai (người lính) Họ đã hứa hẹn: "Em sẽ chờ anh cho đến khi hết chiến tranh" Hoà bình 20 năm cô gái vẫn chờ người yêu mình nhưng chàng trai đã không trở về (bị mất tích)
Cô được chọn đóng vai một cô gái tiễn người yêu ra trận chống quân xâm lược, bộ phim được kết thúc bằng lời thoại như cô gái đã nói với người yêu mình năm xưa, nhưng cô gái đã từ chối nói lời cuối cùng đó vì lí do riêng tư, thầm kín ấy Ông đạo diễn và nhiều người khác không hiểu được hành động
Trang 26của cô gái, bộ phim vì thế có nguy cơ không hoàn thành Giá trị nhân văn của câu chuyện này là ở chỗ: Thế hệ cô gái đã hy sinh tuổi xuân vì sự nghiệp, họ không luyến tiếc Nhưng các thế hệ sau họ không phải sống như thế thì tốt hơn - nghĩa là không phải mất mát chờ đợi vô vọng, nghĩa là được sống với tuổi xuân, với tình yêu của mình Nhà văn nhờ ngọn gió lành của công cuộc đổi mới đã có thể nhìn thẳng vào sự thật, viết về mọi sự thật như văn hào LepTônstôi từng nói: "Nhân vật mà tôi yêu thích nhất, tâm huyết nhất khi viết - đó là sự thật" Sau 1980 trong văn học đương đại hình thành khuynh hướng văn xuôi thế sự đời tư, mà các nhà nghiên cứu gọi bằng văn xuôi đời thường cùng tồn tại bên văn xuôi sử thi Truyện ngắn có thể viết về mọi chuyện, và có điều kiện đi sâu vào các trạng huống tinh thần tinh tế trong thế
giới tâm linh của con người (như "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành"
của Nguyễn Minh Châu) Âm hưởng phê phán - sự phê phán trên tinh thần nhân văn, cầu thị vang lên mạnh mẽ trong nhiều tác phẩm của các nhà văn:
"Người không đi cùng chuyến tàu" của Nguyễn Quang Thân, "Bức tranh "
của Nguyễn Minh Châu, "Gió từ miền cát" của Nguyễn Xuân Thiều…Nhưng
nó là phê phán để xây dựng cái mới, để thanh lọc tâm hồn con người.
So với tiểu thuyết, truyện ngắn sau 1975 đã thực sự khởi sắc, các nhà văn đã có những tìm tòi nghệ thuật làm cho thể loại "nhỏ" có sức chứa, hay nói cách khác là có khả năng khái quát nghệ thuật đời sống theo chiều sâu Qua đó cũng chính trong giai đoạn này đã khẳng định được nhiều cây bút truyện ngắn có phong cách tiêu biểu như: Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê…
1.2.2 Đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là "sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hoá thân thành các nguyên tắc, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó" [6, 273].
Trang 27Con người là đối tượng khám phá và tái hiện trung tâm của văn học chân chính Quan niệm con người vẫn được coi là thước đo sự tiến bộ nghệ thuật từ xưa đến nay Khi nói về văn học Phục hưng người ta nói đến Bôcaxiô như một bậc tiên phong vì ông là một trong những nhà văn đầu tiên
bằng tác phẩm của mình (Mười ngày - 1350) đã đưa ra một quan niệm mới
mẻ, tiến bộ con người (con người của cuộc sống trần thế, con người có ý thức chấp nhận cuộc đời và số phận ở cả phần may lẫn phần rủi, con người với những hành vi có ý thức và bản năng…) Trong lịch sử văn học Việt Nam, khi đánh giá cao thiên tài Nguyễn Du là trước hết ghi nhận chủ nghĩa nhân đạo của ông trong quan niệm mới mẻ về con người (con người với khát vọng
về tình yêu cá nhân, quan niệm về chữ trinh…) Tới thời kỳ hiện đại nếu được phép dẫn chứng một trường hợp nhất thiết phải nêu tên Nam Cao Bởi
vì quan niệm con người được thể hiện trong sáng tác thời kỳ đó vẫn có ý nghĩa đối với những người cầm bút hôm nay Những vấn đề nhức nhối của Nam Cao không xa lạ đối với chúng ta: Con người là gì? Họ tồn tại ra sao? Đáng bi quan hay lạc quan trước con người? Con người có số phận?
Văn xuôi Việt Nam sau 1975 như nhiều người nhận xét, đã "áp sát" tới cuộc sống và con người, bước đầu đem đến cho bạn đọc một cảm nhận trung thành về thực tại Nếu như đối tượng chủ yếu của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 -1975 là những con người mới, con người chỉ có tính giai cấp, tính giai cấp này nó quy định mọi phẩm chất khác của con người Họ là những mẫu hình lý tưởng cả một thời kỳ vinh quang, oanh liệt; những con người của
sự nghiệp chung xả thân vì nghĩa lớn, họ đại diện trọn vẹn cho vẻ đẹp của đất nước - cho lý tưởng khí phách của thời đại Dưới ngòi bút của nhà văn, họ hiện lên với vẻ đẹp hoàn thiện, hoàn mĩ; ít có nhân vật chính diện nào lại có những dằn vặt, cô đơn, đau đớn trong tính toán thiệt hơn, mất còn Vì thế con người cá nhân chưa trở thành đối tượng thẩm mĩ của văn học 1945 - 1975 Không gian đời tư, đời thường của nhân vật là cái mà con người phải dứt
Trang 28khoát từ bỏ Trong tác phẩm có sự phân tuyến rạch ròi dứt khoát giữa hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện, không thể có sự lẫn lộn, nhập nhằng giữa tốt và xấu, cao cả và thấp hèn, cái tiến bộ và cái lạc hậu, cái thiện và cái
ác, cái mới và cái cũ…(các nhân vật trong: "Hòn Đất" - Anh Đức, "Mảnh
trăng cuối rừng" - Nguyễn Minh Châu, "Đất nước đứng lên " - Nguyên
Ngọc…).
Ngược lại trong văn học sau 1975, con người trong tác phẩm văn học là tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp trong xã hội, không có sự ưu ái phân biệt với một hạng người nào, mọi người đều bình đẳng trước trang viết của nhà văn Các nhà văn Việt Nam sau 1975 đã phá vỡ cái nhìn một chiều tĩnh tại để tạo
ra cái nhìn phức tạp hơn, đa diện hơn và vì thế sâu sắc hơn về con người Nếu như con người trong văn học 1945 - 1975 là con người công dân nguyên phiến, đơn trị thì con người văn học sau 1975 là con người cá nhân đa trị, lưỡng cực, không trùng khít với địa vị xã hội của mình, không thể biết hết, không thể biết trước, đầy bí ẩn Đấy là con người đa đoan, đa sự, nhiều ưu tư lắm bi kịch, đầy lo âu, dễ sa ngã, khủng hoảng niềm tin…Con người được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, con người của cõi tâm linh, vô thức, con người với những dục vọng, bản năng Những mẫu số chung là nhấn mạnh sự không hoàn thiện của con người trong một xã hội đầy bất trắc.
1.2.2.1 Con người đa trị
Con người xuất hiện trong hàng loạt các tác phẩm văn xuôi sau 1975 là con người trần thế với tất cả chất tự nhiên của nó: ánh sáng và bóng tối, cao
cả và thấp hèn, ý thức và vô thức… Cái sang trọng đi kèm với cái nhếch nhác, cái trong suốt đi kèm với cái phàm tục Thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạp của con người chịu sự chi phối của hai lực lượng vừa đối lập lại vừa hoà đồng, vừa chối bỏ lại vừa chung sống với nhau, bởi "con người không bao giờ trùng khít với chính nó" (Bakhtin) Các nhà văn nhìn nhận con người
từ trạng thái lưỡng hoá trong tính cách Đấy là con người vừa mang trong
Trang 29mình "tí tri thức / tí thợ cày, tí điếm / tí con buôn, tí cán bộ / tí thằng hề, tí phật và ma / mỗi thứ tí ti "(Nguyễn Duy).
Văn xuôi sau 1975 thường nghiêng về khám phá con người ở phần khuất tối Nhà văn không còn nhìn cuộc sống theo lối "chưng cất", ở đó chỉ hiện lên những khuôn mặt đẹp đẽ, những tính cách "vô trùng" mà tạo nên những tác phẩm mang dáng dấp của một tổng phổ nhiều bè, đầy nghịch âm Thế giới nhân vật văn xuôi sau 1975 không phân tuyến, họ đều bình đẳng, đều là con người mang trong mình mầm mống tình cảm con người Con người trong văn học sau 1975 nhìn nhận phần thấp kém trong con người như một lẽ tất nhiên Vì vậy cái ác, cái xấu vẫn núp bóng trong những nhân vật chính diện Các nhà văn sau 1975 chú trọng khai thác đặc điểm này: các nhân vật như lão Khúng, Quỳ, Lực, anh hoạ sĩ trong tác phẩm của Nguyễn Minh
Châu; nhân vật Hai Hùng trong "Ăn mày dĩ vãng" của Chu Lai; Quang
Trung, Trương Chi, Nguyễn Huệ của Nguyễn Huy Thiệp… đều được nhìn nhận xây dựng như vậy Điều này cũng cho phép ta nghĩ rằng: Nhân vật Kiên cũng không phải phải là một "quái thai" hay là một hiện tượng "dị thường",
"không có thật" của hiện thực cũng như của văn học.
Hầu hết con người trong văn xuôi sau 1975 luôn mấp mé bên ranh giới
giữa thiện và ác "Thiên thần sám hối" của Tạ Duy Anh viết về nỗi đau làm
người và chưa được làm người qua câu chuyện của một hài nhi đang lựa chọn có nên làm người hay không, bởi lẽ ba ngày cuối nằm trong bụng mẹ nó
đã được nghe những câu chuyện nhơ nhuốc, đau khổ, táng tận lương tâm của cõi người qua miệng các mệnh phụ chờ sinh.
Trong tác phẩm "Nỗi buồn chiến tranh " của Bảo Ninh, con người hiện
lên ở sự chiến đấu trả thù cho đồng đội "đánh trận trả thù" và đôi lúc quá say
mê với khói lửa chiến trận đã trở thành công cụ của chiến tranh, bị cuốn vào vòng quay vô hình của chiến tranh và tất nhiên không còn khả năng tự chủ với mình nữa chỉ còn bạo lực tàn khốc với chết chóc và đau thương Qua tác
Trang 30phẩm này Bảo Ninh đã dũng cảm và trung thực chỉ ra cái ác, cái mất mát và gian khổ mặt trái của chiến tranh, một cuộc chiến tranh chưa hề biết tới.
"Mười lẻ một đêm" của Hồ Anh Thái vẽ nên một bức tranh màu xám về
nhân tình thế thái Cõi người trong văn Hồ Anh Thái đã trở thành một sa mạc mênh mông, hoang vắng của dục vọng và lòng ích kỷ Qua tác phẩm người ta thấy rõ bộ mặt của Hà Nội và Sài Gòn với sự "giàu sỗi" của giới tri thức, sự kệch cỡm của những "phòng khách", sự tẻ nhạt của lớp thị dân, thói trưởng giả của giới thượng lưu Các nhân vật không có con người hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu Những điều tử tế, những kẻ tử tế cũng bất thành nhân dạng, cũng như thanh củi khô cháy leo lét Trong những trang văn xuôi sau 1975, cuộc đời hiện lên, hầu hết là một "cõi rung chuông tận thế'' Thảng hoặc có những trang văn hiền lành, hồn hậu như Nguyễn Ngọc Tư hay Mạc Can thì cũng gây nên nỗi buồn đắng xót vì những phận người dở dang lầm lũi.
Quan niệm về sự đa trị của con người giúp nhà văn khám phá những hạn chế, những góc khuất trong bề sâu tâm hồn Nhân vật vì thế hiện lên không "dẹt", "phẳng" mà góc cạnh nhiều chiều… viết về con người không hoàn thiện không phải là để ghét bỏ hay nhục mạ con người mà để hiểu, khoan dung và thông cảm với những lẻ loi, yếu đuối, sa ngã của con người những nhận xét về con người của các nhà văn sau 1975, ẩn sâu trong vẻ tàn nhẫn chính là niềm xót thương con người, là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
1.2.2.2 Con người tâm linh
Văn chương đương đại khắc hoạ con người không chỉ ở tính cách ở những điều có thể giải thích được bằng lí tính mà còn khám phá con người ở cõi tâm linh, huyền ảo, khám phá những dòng ý thức đan xen vào nhau như một ma trận cực kì phức tạp của thế giới bên trong con người.
"Tâm linh là khả năng đoán trước những điều sắp xảy ra theo quan niệm duy tâm" (Từ điển tiếng Việt) Khoa học ngày càng phát triển, con người
Trang 31càng có thêm sức mạnh thâm nhập vào những bí mật của thế giới nội tâm con người Nhưng mặt khác con người dường như cũng bất lực trước bí ẩn của vũ trụ và đặc biệt của thế giới tâm linh Thực ra yếu tố tâm linh, giấc mộng, điềm báo, không phải là những điều lạ lẫm, hoàn toàn mới mẻ Trước đây trong văn học thường xuất hiện dưới dạng những tiên đoán, những dự cảm, linh tính…song vấn đề này vẫn chưa thực sự được chú trong văn xuôi thời kháng chiến Văn xuôi sau 1975 đã xoá bỏ cách nhìn con người duy lý, hành động theo sự mách bảo của ý thức hoặc theo kinh nghiệm của cuộc sống; thay vào đó là khám phá vùng tâm linh bí ẩn để thấy cái biến động sâu xa, chập chờn và có lúc mờ nhoè ở vùng ranh giới giữa ý thức và vô thức, lý trí
và tâm linh Vì vậy có thể nói, văn xuôi sau đổi mới đi sâu thể hiện yếu tố tâm linh trong đời sống tâm hồn con người Việt Nam, là cả một sự phát hiện, khám phá đầy nhân tính trong quan niệm nghệ thuật về con người đương đại Văn xuôi bắt đầu tiếp cận với thế giới đằng sau thế giới hiện thực, cố gắng thoát ra khỏi kiểu "phản ánh hiện thực" được hiểu một cách thông tục của văn xuôi trước đây Với quan niệm nghệ thuật mới, họ đã có ý thức thay đổi hình thức biểu đạt Ngòi bút của nhà văn khơi sâu vào cõi tâm linh, vô
thức của con người, khai thác" con người ở bên trong con người" ("Chim én
bay" của Nguyễn Trí Huân), "Góc tăm tối cuối cùng" của Khuất Quang
Thụy, "Ăn mày dĩ vãng" của Chu Lai, "Cõi người rung chuông tận thế" của
Hồ Anh Thái, "Thiên sứ" của Phạm Thị Hoài, "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh, "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành" của Nguyễn Minh
Châu…).
Tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh kể về cuộc chiến
tranh đã qua, "một cuộc chiến tranh chưa từng được biết tới" được tái hiện qua tâm linh của nhân vật Kiên Từ những cảm giác, mộng mị, hoang tưởng của Kiên, hiện lên một vũ trụ chiến tranh ngột ngạt Tâm trạng buồn bã, cô đơn mất niềm tin - những tình cảm bị coi là "tiêu cực", chưa bao giờ tồn tại
Trang 32trong văn học chiến tranh chính thống được Bảo Ninh mô tả một cách tinh tế Cuộc chiến tranh của Kiên huyền ảo hoang đường, vương vấn bóng cô hồn, ngào ngạt khói hồn ma, vang vọng tiếng vọng của loài ma núi…Mặt khác, chiến tranh được tái hiện lại qua ký ức kì lạ của Kiên như một cỗ máy với sức tàn phá, huỷ diệt, đầy rẫy những hy sinh tổn thất Đó là sự thật của chiến tranh ẩn kín đằng sau yếu tố tâm linh Trong "nỗi buồn chiến tranh", Kiên và đồng đội anh đã hơn một lần nghe thấy tiếng chuyện trò, đàn hát, những tiếng khóc dội lên từ tầng sâu của cánh rừng đại ngàn.
Còn trong "Tấm ván phóng dao" của Mạc Can, với những mảnh vụn kí
ức hỗn độn hiện về, nhân vật nhờ vậy lúc được nhìn cận cảnh, trực diện, lúc lại được đẩy ra xa trên bối cảnh diện rộng của hồi ức có tính bao quát; lúc trí nhớ bám vào tình tiết, sự kiện, khi thì lại đào vào cõi suy tư, tâm trạng, cảm xúc Đánh mất ý niệm về thời gian, ông già đã để cho ký ức lúc chập chờn bảng lãng khói sương, lúc chói gắt dữ dội đi về xen ngang thì hiện tại.
Như vậy, qua yếu tố tâm linh trong các tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay tồn tại dưới các dạng biểu hiện khác nhau đã được nhà văn khám phá ở chiều sâu mà trước đó văn học chưa đạt tới Nhìn chung, việc khám phá sâu vào lĩnh vực tâm linh, mở ra những miền phong phú, bí ẩn khôn cùng của con người chính là xuất phát từ một quan niệm không đơn giản, xuôi chiều về con người, từ ý muốn khám phá con người ở nhiều bậc thang giá trị, ở những toạ độ ứng xử khác nhau.
1.2.2.3 Con người tự nhiên bản năng
Văn xuôi sau 1975 không chỉ phát hiện ra "con người đa trị", "con người tâm linh" mà còn phát hiện con người tự nhiên, bản năng trong quan niệm nghệ thuật về con người Không phải đến văn xuôi sau 1975, con người
tự nhiên bản năng mới xuất hiện Những sáng tác của Nam cao, Vũ Trọng Phụng đã bước đầu khám phá về nó Nhưng chỉ đến văn xuôi sau 1975, các nhà văn mới nhìn nhận con người với những khát vọng bản năng như một
Trang 33điều bình thường tất yếu, có ở tất cả mọi người chứ không phải có ở những nhân vật tiêu cực xấu xí, bệnh hoạn trong văn học trước đây (Chí Phèo, Trương Rự, Phó Đoan trong tác phẩm Nam Cao, Vũ Trọng Phụng…) Con người được khám phá từ bản năng làm mẹ, bản năng tình duc…
Trong tiểu thuyết "Bến không chồng" của Dương Hướng, những người
đàn bà chờ chồng và chờ người yêu ra trận, dày vò điên cuồng bởi ước mơ làm mẹ Họ sẵn sàng chấp nhận tất cả - ngoại tình, loạn luân, giả làm gái điếm - để thể hiện được ước mơ đó Khi ngày chiến thắng, những người lính của họ không trở về hoặc có trở về nhưng thương tật hay vô sinh Cứ như thế
đó là phương tiện hữu hiệu nhất giúp họ chống lại viễn cảnh của nỗi chết, sự tàn phá, chiến tranh Bản năng làm mẹ, làm vợ luôn ngự trị trong tâm hồn hai người chinh phụ trẻ - An và Mật sống chung với nhau dưới một mái nhà tranh Nhiều cuộc chiến qua đi , họ chờ, "chờ đến phát ốm" Không thể có con nhưng thiên hướng làm mẹ và làm vợ luôn day dứt: "Mấy hôm trước em cũng nằm mơ Em thấy anh ấy về và (…) em có mang, lúc tỉnh dậy sờ bụng
cứ thấy khang khác(…) giá có đứa con thì họ đi đến bao giờ cũng được".
Võ Thị Hảo trong "Người sót lại của rừng cười" viết về một cảnh ngộ
thương tâm của người nữ thanh niên xung phong thời chống Mỹ, những con người đã "từng qua chiến tranh, trải qua nỗi cô đơn đặc quánh" Cô đơn, thiếu thốn nhất là thiếu hơi hướng của đàn ông đã khiến các cô mắc bệnh cười Một lần gặp một anh lính, cô thì xông vào "ôm chặt", cô thì "vừa cười vừa khóc, tay dứt tóc và xé quần áo".
Trong thời gian gần đây tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam chú trọng
khám phá con người tự nhiên bản năng gắn với tình dục "Bến không chồng"
của Dương Hướng tả con người trong sự mâu thuẫn, dày vò giữa lí trí và bản năng Vạn - một chiến sĩ Điện Biên trở về làng và nhận nuôi bé Hạnh, con gái một đồng đội đã hy sinh và Nhân - người đàn bà anh đã yêu thương nhưng không dám cưới Hai mươi năm sau, khi chồng Hạnh trở về từ chiến
Trang 34trường chống Mỹ, vinh quang nhưng bất lực, Hạnh đến với Vạn trong một đêm thác loạn: "Da thịt đàn bà nần nấn trong vòng tay và hơi thở đầy dục vọng phả vào mặt Vạn (…) Vạn buông thả thân xác tự do gây tội lỗi, tự do rên xiết trên thân thể rừng rực của người đàn bà Lần đầu tiên trong đời Vạn thấy sung sướng cực độ và quên hẳn mình" Hạnh bỏ làng và nhiều năm sau trở về với đứa con đã có với Vạn và ngay sau đó chứng kiến một bi kịch mới: xấu hổ, nhục nhã, Vạn đã tìm cho mình cái chết.
Trong "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh, chiến tranh tình yêu, tình
dục được tác giả khai thác trong mối liên quan trực tiếp với văn học thông qua mối ràng buộc tay ba giữa Kiên, Phương và cha Kiên trong khung cảnh những ngày đầu chống Mỹ Với Kiên, Phương là tất cả: Tình bạn, tình yêu tuổi trẻ, tình mẫu tử - "Kiên gối đầu lên tay cô, áp chặt mình vào cô Như một cậu bé con (…) cô như một người chị, một người mẹ trẻ, cô lùa tay vào tóc anh vuốt nhè nhẹ…" và sau này là nàng Thơ của anh - "tất cả những nhân vật
nữ mà anh say mê trong sáng tác của mình rút cuộc vẫn chỉ là những giấc mơ
về Phương".
1.2.3 Đổi mới về nhân vật
Nhân vật là yếu tố hàng đầu của tác phẩm văn học, là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Các nhà văn sau 1975 khi xây dựng nhân vật cũng có rất nhiều đổi mới Nếu như trong văn học 1945 - 1975 với tư duy sử thi và cảm hứng lãng mạn, các nhà văn xây dựng các nhân vật với cái đẹp toàn thiện, toàn mĩ, nhân vật được bao bọc trong "bầu không khí
vô trùng" nhằm ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ít có nhân vật nào lại
có những dằn vặt, cô đơn, tính toán; không gian đời tư, đời thường của nhân vật không được nhà văn chú ý thể hiện Trong thế giới nhân vật có sự phân tuyến rạch ròi, dứt khoát giữa hai tuyến nhân vật: Chính diện và phản diện; không có sự đan xen lẫn lộn giữa các mặt tốt - xấu, thiện - ác, cao cả - thấp
hèn, tiến bộ - lạc hậu (nhân vật chị Sứ trong "Hòn Đất" của Anh Đức, Nguyệt
Trang 35- Lãm trong "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu, Núp - Tnú trong "Đất nước đứng lên" của Nguyên Ngọc…).
Ngược lại văn học sau 1975 với tư duy tiểu thuyết, nhân vật hiện lên một cách chân thực hơn, xen kẽ giữa các mặt đối lập: tốt - xấu, cao cả - thấp hèn, thiên thần với ác quỷ… Thế giới nhân vật trong các tác phẩm cũng không có sự phân tuyến rành mạch giữa nhân vật chính diện và phản diện, không gian đời tư, đời thường được các tác giả khai thác triệt để khi thể hiện nhân vật, yếu tố nội tâm nhân vật được các nhà văn đi sâu khám phá để phát hiện ra những biến thái tinh vi trong tâm hồn con người Từ đó văn học nói chung, văn xuôi nói riêng ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh đời sống xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá số phận con người Văn xuôi Việt Nam sau 1975 khám phá con người trong chính bề sâu của nó với nhiều hình thức khác nhau
1.2.3.1 Chối từ nhân vật điển hình
Quan điểm truyền thống về nhân vật cho rằng có thể có "nhiều con người trong một con người", con người có những đại diện Văn xuôi việt Nam đã có những điển hình bất hủ như: Xuân tóc đỏ, Chí Phèo; Chị Sứ, Chị
Út Tịch, Núp, Tnú…Còn bây giờ các nhà văn lại quan niệm con người phong phú đến mức mỗi cá nhân không ai có thể thay thế được nó, và nó cũng quá riêng biệt để khó có thể làm tốt chúc năng thay thế một ai đó Hình như trong văn xuôi bây giờ không có điển hình, bởi lẽ "chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời, mỗi số phận chứa một phần lịch sử "(Eptusenko) Nhân vật không còn đầy đặn, được nhìn nhận theo chiều dài phát triển tính cách, mà chỉ là những khoảng khắc ngắn ngủi, những mảnh vỡ của tâm trạng, những dòng ý thức và những mảng tiềm thức đan xen vào nhau của thế giới trong con người.
Chính vì thế văn xuôi đương đại xuất hiện một loạt những nhân vật dị biệt hoặc kì ảo: Quan lùn (gợi hình ảnh quỷ lùn) - người chỉ tôn thờ sức mạnh của các nguyên tắc và ý chí, bé Hon - Thiên sứ pha lê đến trần gian chỉ để
Trang 36"ban phát nụ cười và môi hôn thơm ngậy mùi sữa ", Hoài - cô bé mãi mãi 14 tuổi, không chịu làm người lớn vì không chấp nhận "thế giới phụ thảm của
người lớn", thằng người không mặt - kẻ bị tẩy trắng hết cá tính (Thiên sứ), Mai Trừng (Cõi người rung chuông tận thế) có khả năng phát "điện trường" cực mạnh mỗi khi kẻ ác đứng gần, linh hồn của Hoa, Hương, Khánh (Người
Sông Mê), Từ Lộ, Dã Nhân, chàng Cá bơn (Giàn thiêu), Kính (Thoạt kỳ thuỷ) - một con bệnh tâm thần chỉ thích nhìn máu chảy…Ở đây cái cá biệt,
cái "phi sử thi" là đặc điểm chính, nhân vật không còn có khá năng đại diện cho một tầng lớp người.
Trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến
tranh), Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái không thấy bóng dáng
của nhân vật điển hình mang tầm khái quát cho mọi tính cách lớn lao trong đời sống, mà đại đa số đám người u tối, dị nghịch về cả thể xác lẫn tinh thần
và khá nhiều người điên Nhân vật đôi khi chỉ được phác qua một vài dáng nét mơ hồ
Trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương nhân vật có khi chỉ là hình ảnh một kẻ điên loạn với giấc mơ của mình, một con cú trôi dọc triền sông
(Thoạt kỳ thuỷ) Tác phẩm mở đầu và kết thúc lửng lơ, mờ ảo, hư hoặc
Người đọc thảng thốt vì không thể phân định đâu là thực, đâu là hư, đâu là nguyên nhân của hàng loạt cái chết trong tác phẩm
Nhân vật chỉ là bóng dáng hư ảo "Hoàn cảnh" trong các tác phẩm của những nhà văn này không những chẳng có gì là điển hình, mà còn không xác định, luôn tuỳ tiện phân tán, nhiều lúc mất tăm vào hai bờ thực ảo.
1.2.3.2 Gia tăng tính phi lí, huyền ảo - một cách khám phá nội tâm nhân vật
Đi sâu khám phá thế giới nội tâm đầy ảo diệu của con người, các thủ pháp miêu tả giống như thật tỏ ra bất lực Không phải đến bây giờ văn xuôi Việt Nam mới xuất hiện tính phi lí huyền ảo Chỉ có điều bây giờ chúng đậm đặc hơn và không đơn thuần chỉ là một phương diện nghệ thuật có tác dụng
Trang 37làm tăng khả năng lôi cuốn người đọc vào cõi "hiện thực" hư cấu của câu chuyện, mà là quan niệm của tác giả về con người Trong văn xuôi đương đại, dường như các nhà văn đều sử dụng dạng tình huống những giấc mơ, giấc chiêm bao để khám phá và giải mã thế giới tâm linh của con người.
Thủ pháp này thể hiện rõ trong các tác phẩm: "Nỗi buồn chiến tranh" (Bảo Ninh), "Ăn mày dĩ vãng" (Chu Lai), "Người đi vắng" (Nguyễn Bình Phương), "Thiên Sứ" (Phạm Thị Hoài), "Thiên thần sám hối" (Tạ Duy Anh)
… Trong các giấc mơ con người sống trong thế giới phi lí, huyền ảo, không
có thật, nhưng cũng chính từ đó mà bộc lộ ra cái phần tiềm thức ẩn khuất không dễ gì nhìn thấy được trong đời thực.
Các nhà văn khám phá con người bằng cách xây dựng các nhân vật
huyền thoại "Thiên Sứ" xây dựng một số nhân vật mang dáng dấp của nhân
vật chức năng trong văn học huyền thoại dân gian (Bé Hon, Quang Lùn, Hoài), mang bóng dáng của lực lượng thần kỳ - một kiểu nhân vật của truyện
cổ tích
Bé Hon - Thiên Sứ pha lê cũng như nhân vật bụt, tiên của truyện cổ tích thần kỳ, muốn cứu rỗi nhân loại, muốn thức dậy con người trong tình yêu, sự khao khát cái đẹp nhân bản, trong trắng Quang Lùn mang bóng dáng của những "quỷ lùn " trên sân khấu kịch phương Tây, là nhân vật đại diện cho loại người lí trí, "làm việc theo chương trình định sẵn"
Tất cả dung hoà tạo thành một hỗn thế phức tạp phi truyền thống.
1.2.3.3 Nhân vật như những biểu tượng có khả năng khái quát và gợi nghĩa cao
Nhân vật trong văn xuôi đương đại tuy không được xây dựng theo hành trình số phận xuyên suốt, mà chỉ nhiều mảnh vỡ, nhiều lát cắt ghép lại nhưng lại có tính biểu tượng cao Hầu như tiểu thuyết, truyện ngắn nào cũng tạo ra được rất nhiều những biểu tượng nghệ thuật có sức khái quát và khả năng gợi nghĩa Biểu tượng có khi là những hình ảnh của cuộc sống trần thế hằng ngày
Trang 38cất cánh mà thành, có khi là những mẫu số, những mẫu gốc có sẵn từ truyền thống văn hoá của việt Nam và trên thế giới Hình tượng thiên sứ trong tác phẩm cùng tên được lấy ra từ các huyền thoại có tính tôn giáo Bào thai trong
"Thiên thần sám hối" đi ra từ quan niệm hài nhi - sinh thể sống trong cách
nhìn và đo tính một đời con người của Á Đông cổ truyền Con cá (Máu và
đôi mắt cá), ngón tay tật nguyền viết chữ, tấm ván… Trong "Tấm ván phóng dao" là một tập hợp biểu tượng đặc sắc, trong đó biểu tượng đầu tiên đi ra từ
cách ví von thường ngày (lạnh tanh máu cá, lờ đờ như mắt cá ươn…) Hình
ảnh con cú trong "Thoạt kỳ thuỷ" phải chăng là sự hiện thân cho sự cảnh báo
về những chết chóc không lường trước được của con người.
1.2.4 Đổi mới về bút pháp, giọng điệu, ngôn ngữ
1.2.4.1 Đổi mới về bút pháp, giọng điệu
Giọng điệu là một trong những yếu tố làm nên âm hưởng chủ đạo của tác phẩm văn học cũng như của cả một giai đoạn văn học Ở giai đoạn văn học 1945 -1975 do một trong những đặc trưng nổi bật của giai đoạn văn học này là văn học được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, cho nên văn học 1945 - 1975 mang đậm âm hưởng anh hùng ca, đi kèm với thái độ ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng Giọng văn ở các tác phẩm chủ yếu là giọng trữ tình ngọt ngào đằm thắm, hay giọng hào hùng lạc quan phơi phới Nhà văn nhân danh cộng đồng mà ngợi ca, tự hào về những con người, những thế hệ làm rạng danh lịch sử dân tộc.
Ngược lại văn học sau 1975 có nhiều nét mới Nếu trước đây giọng văn nặng về kể tả thì bây giờ nó lại nặng về lí giải, phân tích, đánh giá cuộc sống, phân tích tâm lí, tính cách con người… Và giọng văn này lại chiếm ưu thế trong các sáng tác của các nhà văn sau 1975 Vì nhà văn đi sâu vào phân tích
lí giải nội tâm con người, nên lúc này nội tâm con người trở thành những đối tượng khám phá chủ yếu của văn học Mặt khác văn học sau 1975 vẫn có giọng ngợi ca hào hùng, nhưng đan xen với giọng khác Nhiều trang văn có
Trang 39giọng buồn, bi ai, khi tác giả đề cập đến những mất mát của chiến tranh, những số phận của con người, những tiêu cực xã hội, nên giọng văn trở nên trầm tĩnh hơn sâu lắng hơn…Tính đơn giọng dần dần nhường chỗ cho tính đa thanh, phức điệu, giọng độc thoại dần dần chuyển sang đối thoại.
Về bút pháp: Khuynh hướng hiện đại hoá trong văn xuôi hiện nay - một trong những đặc điểm bút pháp của nó là: trầm tĩnh hơn, tỉnh táo hơn, bớt đi cái vẻ say sưa nồng nhiệt so với nhiều tác phẩm trước đây viết về cách mạng
và kháng chiến Nó đã tạo được một khoảng cách nhất định đối với đối tượng miêu tả, do đó nó bình thản hơn, trí tuệ hơn, thấm đượm hơn một giọng điệu phê phán bình giá trên cơ sở một cái nhìn thiên về bề sâu tâm tưởng Tuy nhiên không vì thế mà lạnh lùng khô héo, mà trái lại giọng điệu lời văn vẫn thấm đượm một hơi ấm nhân tình.
1.2.4.2 Đổi mới về ngôn ngữ
Ở giai đoạn văn học 1945 - 1975 do nhận thức văn học là công cụ vận động tuyên truyền quần chúng công - nông - binh nên hình thức ngôn từ của văn xuôi giai đoạn này cũng có những nét riêng Lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân trở thành cội nguồn kho tàng để nhà văn khai thác, các hình thức câu văn trong sáng giản dị, mang nhiều đặc điểm của văn học bình dân, nên ngôn ngữ được bình dân hoá.
Đến ngôn ngữ văn xuôi sau 1975 nhất là từ sau đổi mới đã có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tiếp tục hiện đại hoá, "sự thống nhất đất nước cũng đồng thời với quá trình tăng tốc, thống nhất của ngôn ngữ văn học" [5, 870]
Đi qua cuộc chiến, văn học đã đề cập đến những mất mát hy sinh vô bờ bến của dân tộc mà trước đó còn phải nén lại cho chiến thắng Những lo toan đời thường, sự thất bại của cơ chế quản lý kinh tế lỗi thời, sự nghèo nèn của nông nghiệp và nông thôn, nỗi trăn trở cho việc tìm đường cải cách kinh tế - xã hội
đã đặt nhà văn trước những câu hỏi lớn Công cuộc đổi mới mở ra đã là một câu trả lời đầy thuyết phục và lôi cuốn Sau phút chốc ngỡ ngàng, các văn
Trang 40nghệ sĩ đã nhận ra đường đi của chính mình và tích cực tham gia vào sự nghiệp đổi mới cao cả Các nhà văn thuộc thế hệ chiến tranh đã tự đổi mới,
cả một thế hệ nhà văn trẻ cũng đã xuất hiện từ công cuộc đổi mới Họ là chủ thể của những đóng góp mới cho ngôn ngữ văn học, trước hết là văn xuôi Trong văn xuôi thể loại truyện ngắn là tưng bừng nhất, có thể nói là chưa bao giờ ngôn ngữ văn học Việt Nam đạt được tốc độ như thế cho thể loại này Những tên tuổi rất mới lần đầu tiên xuất hiện, nhưng đã nhanh chóng quen thuộc với độc giả: Tạ Duy Anh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Hoài, Lê Minh Khuê,Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo…Đặc biệt là các cây bút nữ rất đông đảo và sâu sắc Cấu trúc truyện ngắn có nhiều thay đổi được hiện đại hoá cho nên ngôn ngữ của các tác giả cũng thay đổi Do chỗ đề tài và cốt truyện đều gắn với những vấn đề nóng hổi của cuộc sống, cho nên ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ của các nhân vật (ngôn ngữ đối thoại, độc thoại) rất sinh động, trung thực có nhiều cái mới và cập nhật.
Thực tế cuộc sống đi qua nhân vật là một thứ ngôn ngữ giản dị của cuộc sống đời thường, nhờ đó mà khoảng cách giữa công chúng và nhà văn xích lại gần nhau rất nhiều Ngôn ngữ truyện ngắn rất tự nhiên không có dấu hiệu
áp đặt, việc tổ chức cuộc thi viết truyện cực ngắn cho thấy năng lực ngôn ngữ trong biểu đạt của thể loại này và sức sáng tạo ngôn ngữ của các tác giả Riêng về mặt ngôn ngữ các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã có nhiều cái mới Thay cho lối viết dài trong miêu tả và lập luận, Nguyễn Huy Thiệp
là tác giả viết câu ngắn với tỉ lệ rất cao: "Ngôn ngữ trần thuật của tác giả có
vẻ như rất khô khan nhưng sắc sảo, góc cạnh nó đanh lại nhất là trong các phát ngôn có tính miêu tả và nhận định Ngôn ngữ đối thoại trong các truyện thưa thớt, nhưng khả năng biểu hiện rất đậm đặc" [5, 871] Ở một cực khác, ngôn ngữ trong các truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh lại giàu chất thơ, có
truyện cực ngắn như: "Hoa muộn", thì thật sự là một bài thơ Tất cả những