Ở Miền Nam có Thanh Lãng Phê bình Văn học thế hệ 32, Phạm Thế Ngũ Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên - Tập 3… Từ 1986 đến nay: cùng với những giá trị tinh thần của quá khứ, Thơmới đư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ THU HIỀN
PHONG VỊ CỔ ĐIỂN TRONG THƠ MỚI LÃNG MẠN 1932 - 1945
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THANH NGA
NGHỆ AN - 2012
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 PHONG VỊ CỔ ĐIỂN TRONG THƠ MỚI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 6
1.1 Những tiền đề xã hội - thẩm mỹ tạo nên phong vị cổ điển trong nội dung của Thơ mới 6
1.1.1 Sự mất mát những giá trị một thời 6
1.1.2 Tình thế của con người hiện đại 8
1.2 Phong vị cổ điển trong Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945 nhìn từ phương diện cảm hứng 10
1.2.1 Phong vị cổ điển thể hiện qua cảm hứng yêu nước 10
1.2.2 Phong vị cổ điển thể hiện qua cảm hứng nhân đạo 17
1.2.3 Sự hoài niệm như một yếu tố “di truyền” từ văn chương cổ -trung đại 23
1.3 Phong vị cổ điển thể hiện trong những tâm sự mang tính chất cá nhân - cá thể 28
1.3.1 Quan niệm mang tính cổ điển về bổn phận với cộng đồng 28
1.3.2 Quan niệm mang tính cổ điển về bản lĩnh con người trong thế giới .33
Trang 31.3.3 Quan niệm mang tính cổ điển về tình yêu, tình bạn, hạnh phúc
lứa đôi 38
Trang 42.1 Sự vận dụng những thể loại cổ điển 45
2.1.1 Sự vận dụng nguyện vẹn thể loại 45
2.1.2 Phong vị cổ điển trong các thể loại “phi truyền thống” 50
2.2 Phong vị cổ điển thể hiện trên bình diện bút pháp 54
2.2.1 Ước lệ - tượng trưng 54
2.2.2 Sử dụng điển tích, điển cố 57
2.3 Phong vị cổ điển thể hiện trong việc lựa chọn và sử dụng thi liệu 60
2.3.1 Sự miêu tả thời gian 60
2.3.2 Sự miêu tả không gian 66
2.3.3 Miêu tả hình ảnh, chi tiết 70
Chương 3 MỘT SỐ NHÀ THƠ MANG ĐẬM PHONG VỊ CỔ ĐIỂN TRONG THƠ MỚI LÃNG MẠN 1932 - 1945 73
3.1 Quách Tấn 73
3.2 Phạm Huy Thông 81
3.3 Trường hợp ngoại lệ: Xuân Diệu - nhà thơ “mới nhất trong phong trào Thơ mới” 86
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ mới lãng mạn thời kỳ 1932 - 1945 đã đạt được những thành tựunổi bật, mang vóc dáng của “một thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh) và về cơbản đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa thơ Việt Nam Nghiên cứu Thơ mới làgóp phần khẳng định những thành tựu của nó cho thơ Việt Nam hiện đại
1.2 Có lẽ bắt đầu từ cuộc chiến mới cũ hồi thơ mới xuất hiện, vớinhững đánh giá của Hoài Thanh trong “một thời đại trong thi ca”, cho đếnnay, có vẻ như bạn đọc vẫn chủ yếu thiên về cái mới trong Thơ mới mà ítngười chú ý đến một đặc điểm khá thú vị mang tính tất yếu của Thơ mới lànhững giá trị truyền thống Nghiên cứu phong vị cổ điển của Thơ mới, theochúng tôi, không chỉ là làm rõ một nét phong cách quan trọng của trào lưunày, mà còn bổ sung những nhận thức lý luận về “sự di truyền thể loại” củathơ ca nói riêng và văn học nói chung
1.3 Hiện nay, Thơ mới được đưa vào giảng dạy ở các bậc học khánhiều Sự có mặt một số lượng tác giả lớn và tác phẩm tiêu biểu như vậy càngchứng tỏ người ta đã có cái nhìn đúng đắn về giá trị phong trào thơ ca này.Việc tìm hiểu phong vị cổ điển trong Thơ mới sẽ góp phần vào việc nhìnnhận, đánh giá những giá trị của Thơ mới ngày càng đầy đủ hơn, góp phầngiúp cho việc giảng dạy học tập mảng thơ này ngày càng hiệu quả hơn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Trong lịch sử thơ ca dân tộc, phong trào Thơ mới 1932 - 1945 là
một hiện tượng văn học đặc biệt Dưới những tác động của các điều kiện lịch
sử - xã hội đặc biệt, thơ mới trở thành hiện tượng văn học có số phận phứctạp, với hành trình khá gập ghềnh Ngay từ khi mới ra đời, Thơ mới đã đượcđón chào, biểu dương nồng nhiệt, nhưng một thời gian không lâu sau đó, Thơmới rơi vào tình trạng “đóng băng” trong sự im lặng của người đọc và giới
Trang 6nghiên cứu Tuy nhiên, sau những năm 1986, Thơ mới đã trở lại trong đờisống xã hội, trong lòng bạn đọc, trong tư duy của các nhà khoa học Việc tìmhiểu Thơ mới diễn ra một cách khẩn trương, sôi nổi, và thật không ngoa khinói rằng đã có một đội ngũ chuyên gia về thơ mới ra đời trong khoảng vàithập niên ngắn ngủi cuối thế kỉ trước Trong gần 80 năm, có khá nhiều côngtrình nghiên cứu về Thơ mới Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu có mộtcách tiếp cận, khám phá riêng, ở các giai đoạn khác nhau Chúng tôi xin điểmmột số công trình tiêu biêu nghiên cứu về Thơ mới:
Trước năm 1945: đây là thời kỳ đầu, việc nghiên cứu về Thơ mới chưa
nhiều Có thể kể tới Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Thi
Nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân… Đặc biệt, những bài giới
thiệu về mỗi nhà thơ là phần đặc sắc nhất Nó thực sự là những áng văn nghệthuật gây hứng thú cho độc giả và người nghiên cứu Các công trình nghiêncứu này chủ yếu tập trung làm nổi rõ thời đại cái “tôi” trong Thơ mới
Giai đoạn từ 1945 - 1985: vẫn tiếp tục xuất hiện một số nghiên cứu về
Thơ mới đó là các công trình của Phan Cự Đệ (Văn học lãng mạn Việt Nam
1930 - 1945), Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại), Huỳnh Lý, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn
Trác, Hoàng Dung (Lịch sử Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945) Ở Miền Nam có Thanh Lãng (Phê bình Văn học thế hệ 32), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên - Tập 3)…
Từ 1986 đến nay: cùng với những giá trị tinh thần của quá khứ, Thơmới được nhìn nhận lại một cách đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, thể hiện trong
các công trình nghiên cứu: Thơ mới và sự đổi mới thi pháp Thơ trữ tình Việt
Nam (Trần Đình Sử), Thơ mới những bước thăng trầm (Lê Đình Kỵ), Một thời đại trong thi ca (Hà Minh Đức), Con mắt Thơ (Đỗ Lai Thúy), Thơ mới, bình minh thơ Việt Nam (Nguyễn Quốc Túy), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (Huy Cận - Hà Minh Đức), Giảng văn văn học lãng mạn 1930 -
Trang 71945 (Văn Tâm)… trên tạp chí Văn học có khá nhiều bài viết về Thơ mới:
“Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam” (Phong Lê), “Kế thừa truyền thống dântộc trong đổi mới thơ ca qua kinh nghiệm lịch sử của phong trào Thơ mới”(Nguyễn Đăng Mạnh), “Loại hình câu Thơ mới” (Lê Tiến Dũng), “Thiênnhiên như một biểu hiện của cái tôi trữ tình trong Thơ mới” (Phan HuyDũng), “Bàn thêm về vai trò và tác dụng của Thơ mới nhân đọc phong tràoThơ mới của Phan Cự Đệ” (Nguyễn Đức Đàn), “Nói thêm về điểm khởi đầuphong trào Thơ mới 1932 - 1945” (Lại Nguyên Ân), “Trở lại ý kiến về phongtrào Thơ mới” (Nguyễn Quốc Túy)…; và chắc chắn phải tính thêm vào đâynhững luận án, chuyên luận của các chuyên gia khác về Thơ mới như PhanHuy Dũng, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Lê Thị Hồ Quang… Thời giannày, việc nghiên cứu Thơ mới toàn diện hơn, sâu sắc hơn Và do vậy, tầm vócThơ mới hiện ra đầy đủ hơn Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nào thực
sự quy mô bàn về phong vị cổ điển trong Thơ mới
2.2 Phong trào Thơ mới là cuộc cách tân, cách mạng thi ca Tuy nhiên
để đi đến thành công đó, Thơ mới đã biết kế thừa truyền thống một cách tíchcực Bởi truyền thống là những giá trị quý báu của cha ông gây dựng nên, lànền tảng, cơ sở vững chắc cho cái mới phát triển Nó có ý nghĩa quan trọng vôcùng đặc biệt Đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyền thống, về chất cổđiển trong Thơ mới Nhưng các công trình đó mới chỉ tìm hiểu một nhà thơ vànếu có trong phong trào Thơ mới còn chung chung chưa định danh rõ
Trong cuốn Tuyển tập (tập 2) của Trần Đình Sử mới chỉ ra được sự tìm
về quá khứ, những giá trị đã mất là sự vô vọng, sự bất lực trước quy luật, thờigian, là giây phút ngắn ngủi về cái đã mất trường tồn
Hà Minh Đức Tuyển tập (tập 2), cái truyền thống ấy chỉ được phác qua
ở một khía cạnh tình yêu quê hương đất nước
Luận văn Thạc sĩ của Lê Trung Kiệt có nhan đề Mùa cổ điển, tác phẩm
khép lại một thời thơ bảo vệ ngày 4 tháng 8 năm 1996 tại trường Đại học Sư
Trang 8phạm Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy xu hướng nhìn lại quá khứ vớimột thái độ khá tích cực, có nghĩa là ý thức tìm về truyền thống rất cao, cụ thể
là thơ Quách Tấn Tuy nhiên, bản thân luận văn của Lê Trung Kiệt cũng mớidừng lại ở mức độ của một tập thơ cụ thể của Quách Tấn mà chưa nhìn rộng
ra đến mức độ thể loại và cả quá trình thơ
Cũng nói về phong vị cổ điển, trong bài viết trên diendankienthuc.net
bàn luận về Nét cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận
đăng ngày 7/10/2011 cũng chỉ dừng lại tìm hiểu ở một bài thơ mà thôi
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, có thể nói rằng phong vị cổ điển truyền thống trong Thơ mới chưa thực sự được quan tâm, chú ý đúng mức.Ngoài một số công trình nói trên đến nay chưa có một công trình nghiên cứukhoa học nào đặt ra vấn đề tìm hiểu phong vị cổ điển trong Thơ mới lãng mạn
-1932 - 1945 Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Phong
vị cổ điển trong Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945” làm mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phong vị cổ điển trong thơ mới lãng mạn 1932 - 1945
3.2 Phạm vi khảo sát
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi khảo sát nhiều nguồn tư liệu,trong đó chủ yếu tập trung vào các bộ tuyển tập:
- Thi nhân Việt Nam - Hoài Chân, Hoài Thanh, Nxb Văn học, 2005
- Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Nxb Hội Nhà văn, 1998.
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào ba nhiệm vụ cơ bản
4.1 Nhận diện phong vị cổ điển trong Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945 4.2 Phân tích phong vị cổ điển trong Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945thể hiện trên phương diện hình thức
Trang 94.3 Nhận diện một số nhà thơ mang đậm phong vị cổ điển trong Thơmới lãng mạn 1932 - 1945
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng và kết hợp nhiều phương phápnghiên cứu khác nhau, bao gồm:
6 Đóng góp của luận văn
- Nhìn nhận, đánh giá những phong vị cổ điển trong Thơ mới một cáchtương đối hệ thống
- Luận văn nếu được triển khai tốt, có thể làm tài liệu tham khảo choviệc giảng dạy Thơ mới trong nhà trường phổ thông
7 Cấu trúc của luận văn
Tương ứng với mục đích, nhiệm vụ đã đề ra, luận văn của chúng tôiđược cấu trúc thành 3 chương
Chương 1 Phong vị cổ điển trong Thơ mới nhìn từ phương diện
nội dung
Chương 2 Phong vị cổ điển trong Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945 thể
hiện trên phương diện hình thức
Chương 3 Một số nhà thơ mang đậm phong vị cổ điển trong Thơ mới
lãng mạn 1932 - 1945
Trang 10Chương 1 PHONG VỊ CỔ ĐIỂN TRONG THƠ MỚI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
1.1 Những tiền đề xã hội - thẩm mỹ tạo nên phong vị cổ điển trong nội dung của Thơ mới
1.1.1 Sự mất mát những giá trị một thời
Từ khi thực dân Pháp đem quân sang xâm lược nước ta và thiết lập chế
độ thực dân, lịch sử Việt Nam đứng trước một bước ngoặt vĩ đại Chế độphong kiến mục ruỗng giờ đây tan rã theo một xu thế không cưỡng được.Công cuộc bình định của thực dân rồi cũng dần hoàn tất sau khi chúng đã đàn
áp được các phong trào cứu nước theo đường lối của các sĩ phu Cần Vương
và các nhà nho Duy Tân Nền kinh tế tư bản từng bước hình thành với sự pháttriển của thương nghiệp, nông nghiệp, giao thông, bưu điện, các đô thị cũ biếnthành đô thị Âu hoá và các đô thị mới mọc lên mà ở đó tầng lớp thị dân ngàycàng trở nên đông đảo
Việc thay đổi - dù chưa triệt để - mô hình kết cấu kinh tế - xã hội, việctiếp xúc với nền văn minh, văn hóa phương tây hiển nhiên dẫn đến sự thayđổi trên hầu khắp các bình diện của đời sống, kể cả vật chất và tinh thần Trừmột vài trường hợp cực đoan hi hữu kiểu Nguyễn Đình Chiểu không dùng xàphòng Tây, không mặc áo Tây… phần lớn người Việt đều không cưỡng lạiđược, không đủ can đảm hoặc khả năng bảo thủ để ngoảnh mặt với những gìthuộc về phương Tây mà lại tiện lợi đối với đời sống thường nhật, cho dù,
“một cái đinh cũng mang trong mình nó ít nhiều quan niệm phương Tây”
(Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam) Không cứ là thanh niên
tân học, ngay cả các sĩ phu vốn xuất thân trong nền văn hóa Việt thuần khiết,chịu sâu sắc sự kiềm tỏa của tinh thần Nho học, cũng dần bỏ cái búi tóc đểmang một mái tóc húi cua cho gọn ghẽ, nhẹ nhàng hơn, cũng “ở nhà Tây, đi
Trang 11giày Tây, đội mũ Tây, mặc áo Tây (…) dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa,
xe đạp…” [9, 16]
Việc bãi bỏ dần để đi đến kết thúc chế độ khoa cử truyền thống kéotheo sự tàn lụi của văn chương truyền thống vốn phần lớn có nguồn gốc từnhu cầu tuyển chọn nhân tài và thực hiện chức năng giao tiếp trong lĩnh vựchành chính Các thể loại văn học mang chức năng nghệ thuật thuần túy, trong
đó có các thể thơ truyền thống cũng theo đó mà mất dần địa vị độc tôn, đếnmức nhà thơ Thành Nam đã phải ngậm ngùi chua xót trước cảnh người ta
“vứt bút lông đi nắm bút chì”, và ngậm ngùi: “Nào có ra gì cái chữ Nho, ôngnghè ông cống cũng nằm co”…
Nền giáo dục thay đổi với sự xuất hiện của các trường học Pháp - Việt,cho ra lò một tầng lớp trí thức Tây học sẵn lòng tiếp nhận văn hóa phươngTây Trong các trường học thanh niên học sinh bắt đầu say sưa với văn minhphương tây, với văn học phương Tây, trong đó có, và chủ yếu là văn học
Pháp Thay vì đọc những Tứ thư, Ngũ kinh, Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử…
bằng Hán văn, người trẻ hướng đến đọc những tác phẩm văn học Pháp nhưRousseau, Bernadin de St Piere, Rimbaud, Verlaine, Hugo, Balzac…
Chính những đổi mới trong sinh hoạt tư tưởng và sự tiếp xúc văn họclãng mạn Pháp đã dần dần đem đến cho người thanh niên tiểu tư sản thành thịnhững rung động mới Họ yêu thuơng, mơ mộng, vui buồn đã khác các cụ nhànho ngày xưa nhiều lắm Trong buổi diễn thuyết ở nhà Học hội Quy Nhơn hồi
tháng 6 năm 1934, Lưu Trọng Lư đã nói: “Các cụ ta ưa những màu đỏ choét,
ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì muôn hình trăm trạng, cái tình say đắm, cái tình
Trang 12thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu” [9, 17].
Sự dứt khoát, quyết liệt của Lưu Trọng Lư trong đoạn văn vừa dẫn trênđây là một thái độ cần thiết để đoạn tuyệt với quá khứ trong tình thế của cuộcđấu tranh một mất một còn giữa thơ mới và thơ cũ Và chính thái độ quyết liệt
ấy là hết sức cần thiết để nhanh chóng xác lập vị trí của “một cuộc hòa nhạctân kì” theo cách nói của Hoài Thanh; cần thiết vô cùng cho cuộc cách mạngthi ca Việt Tuy nhiên, trong thái độ ấy, khi đã có độ lùi thời gian, đứng ở một
vị trí khách quan mà quan sát, chúng ta dường như thấy ở đó thiếu đi một chút
sự bao dung, một chút độ lượng… Không thể phủ nhận quá khứ một cách triệt
để, nếu hiện tại không muốn phải trả giá Và may mắn là Lưu Trọng Lư, chỉ
là một phát ngôn nhất thời và hăm hở, còn trong thơ ông, cái duyên với truyềnthống vẫn được gìn giữ, dù đấy là cái duyên thầm kín Đành rằng là thế,nhưng qua cái hăm hở của họ Lưu, chúng ta cũng thấy được phần nào tình thế
bi đát của những giá trị truyền thống Việc xuất hiện phong vị cổ điển trongThơ mới, chính là những nỗ lực thầm kín, khắc khoải níu kéo những giá trị
ấy, cho dù, đôi khi, người làm thơ không hẳn ý thức được điều đó
Lộ trình Thơ đã được mở rộng bởi một số bậc nhân tài, thậm chí xuấtchúng những người đến sau không còn phải mất công tranh cãi để tự khẳngđịnh nữa mà dồn tâm lực vào việc học tập kinh nghiệm của thơ pháp, đặc biệt
là thơ lãng mạn, thơ tượng trưng để sáng tạo nên cái mới Tuy vậy, truyềnthống thơ phương Đông quý báu nhất là Đường thi cùng với thơ của các tác giả
cổ điển Việt Nam cũng được kế thừa một cách nghiêm túc Như vậy, sự mấtmát những giá trị một thời đã sản sinh ra những bậc thi tài, xây dựng một nềnthi ca mới làm rạng ngời nền thơ đất Việt mà vẫn mang đậm phong vị cổ điển
1.1.2 Tình thế của con người hiện đại
Sự phát triển của xã hội từ hình thái kinh tế này đến hình thái kinh tếkhác là một tất yếu của lịch sử Trong sự vận động chung ấy, con người sẽ
Trang 13ngày càng trở nên tinh khôn và nhân văn hơn Đời sống hiện đại, tinh thầnhiện đại, đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện mang lại cho loài người nói chung,con người nói riêng một sinh khí mới Tuy nhiên điều đó phải diễn ra trongmột quá trình mang tính chất quy luật Dân tộc Việt Nam hồi đầu thế kỉ XXkhông có cái may mắn ấy Để bước đến ngưỡng cửa của đời sống hiện đại,của tinh thần hiện đại, họ đã phải thực sự đối mặt với một cú shok, bởi nhữngchuyển biến bất thường của lịch sử Khác với các quốc gia phương Tâychuyển hóa từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại một cách hợp quy luật
và họ luôn dự sẵn tinh thần ứng phó với mọi biến động, việc chuyển qua thờihiện đại của Việt Nam hoàn toàn là một bất ngờ, một sự kiện không toan tính,không cả dự báo Đang là một xã hội phong kiến đã có lịch sử hàng ngànnăm, một quốc gia tiểu nông có lịch sử hàng vạn năm với tinh thần bảo thủ,ngoan cố, “nhất đán, một cơn gió từ phương Tây thổi tới”, khiến người ta gầnnhư bị rơi hẳn vào tình thế hiện đại Trong những mừng vui hẳn có lo âu,trong cái rộn ràng hẳn có những phấp phỏng, ngơ ngác Những giá trị bị đảolộn khiến con người trở nên bơ vơ, hoang mang đến tột cùng, nhất là vàonhững năm trước và trong chiến tranh thế giới thứ 2, hoặc thời kì sau Xô viếtNghệ Tĩnh Hàng triệu người đã chết theo nhiều cách, vì lòng yêu nước, vìđói, và cả những cái chết lãng nhách dưới hồ Trúc Bạch (không phải ngẫunhiên mà Thơ mới lại chính thức hình thành và phát triển ngay trong nhữngnăm khủng bố trắng) Lại nữa, người Việt tiếp nhận văn minh, nhưng lại làthứ văn minh được mang đến bằng tàu đồng, đại bác Nền văn minh được tiếpnhận với trong thân phận nô lệ, nhiều khi thành ra một thứ văn minh áp bức.Con người hiện đại nói chung và con người hiện đại trong văn chương thuở
ấy, thành ra rơi vào tình thế không chỗ nương tựa, không nơi bấu víu Nhiềukhi họ mang trong mình nỗi u uất của những bóng ma Hời trong thơ Chế LanViên, nỗi căm giận của con hổ trong thơ Thế Lữ hoặc nỗi cô đơn tột cùng của
Trang 14người kĩ nữ trong thơ Xuân Diệu Trên tinh thần đó, việc quay trở lại vớiphong vị cổ điển của các nhà thơ mới chính là một cách trở về với truyềnthống, nhằm tìm lại những giá trị đã mất và thỏa mãn khao khát tìm được mộtchỗ nương tựa cho cái tôi run rẩy, ngơ ngác mới phôi thai đã phải chứng kiến,phải chống chọi với những chống chếnh, nhiều khi là cả sỉ nhục, nhất là đốivới những người mà tinh thần tự trọng dân tộc là một yếu tố quan trọng trongđời sống tinh thần của họ Họ trở về lặng lẽ chiêm ngắm những ông đồ, họlắng nghe tiếng địch sông Ô để biết tâm hồn mình đã là những hàng thànhquách cũ Bởi lẽ đó, Thơ mới ra đời đánh dấu một bước ngoặt mới trong tưduy nghệ thuật của con người với đầy đủ những biểu hiện hiện đại của nó,Thơ mới đã tách ra khỏi tự nhiên, tách ra khỏi cộng đồng, tự giải phóng mình
ra khỏi mối ràng buộc khuôn phép như thời trung đại, nhưng Chính sự giảiphóng đó đã làm cho thế giới của con người được khám phá, mở rộng và ngàycàng phong phú thêm lên Cũng nhờ thế mà đòi hỏi ở con người hiện đại phải
có cách nhìn nhận về thế giới khác hẳn so với thời trung - cổ đại; ý thức vềcuộc sống muôn màu sắc hơn Nó góp phần tạo ra nhiều phong cách độc đáo,
đa dạng trong Thơ mới không còn chút e dè Nhưng thơ mới cũng là nơi cấtgiữ những gì còn có thể trong mênh mông thế giới phong vị cổ điển, xa xôi
mà gần gũi Đấy chính là nỗi khắc khoải của một thế hệ đối với những giá trịtốt đẹp xưa cũ
1.2 Phong vị cổ điển trong Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945 nhìn từ phương diện cảm hứng
1.2.1 Phong vị cổ điển thể hiện qua cảm hứng yêu nước
Thực ra, cảm hứng yêu nước là một trong hai nguồn cảm hứng cơ bản,xuyên suốt trong lịch sử văn học Việt Nam, từ những tác phẩm văn học dângian đến văn học trung đại, văn học hiện đại, và tinh thần ấy thường thể hiệnmột cách đậm, rõ nhất trong văn học của những thời kì đất nước bị xâm lăng
Trang 15Việt Nam trong những năm hoài thai và thành tựu của phong trào thơ mớicũng là một dân tộc đắm chìm trong nô lệ và cả dân tộc rên xiết dưới gót giàyxâm lược của thực dân Pháp Các nhà thơ mới là những thanh niên sinh ra,lớn lên trong nền văn minh được “khai hóa” bởi “nước mẹ đại Pháp”, trưởngthành nhờ chính nền văn minh ấy, xét đến cùng vẫn phải chịu một cách sâusắc ân huệ của văn minh Pháp Nhưng họ lại là người Việt Nam Với những
gì chung đúc từ hồn thiêng sông núi, với sự nhạy cảm, thậm chí là mẫn cảmcủa những người trẻ tuổi và giàu có trong tâm hồn, hiển nhiên họ thấm thíađược nỗi buồn vong quốc Tình cảm yêu nước thể hiện trong sáng tác của họ,với tư cách là một phạm trù mang ý nghĩa khách quan, là điều hợp quy luậtcủa ngày xưa, và của mai sau Nhưng, trong ý nghĩa chủ quan, một số các nhàthơ mới vẫn cấp cho tình cảm yêu nước khách quan kia vẻ đẹp của tinh thần
cổ điển Những vần thơ yêu nước của họ, bên cạnh sự chia sẻ cá nhân tưnhiên nhi nhiên, là những biểu hiện có dáng dấp của lối yêu nước cũ Khôngphải với tinh thần yêu nước là trung với vua, hết mình phục vụ cho triều đại,
vẻ đẹp cổ điển trong tinh thần yêu nước ở đây chính là sự hoài niệm nhữnggiá trị cũ, sự tìm về với những tấm gương danh nhân của đất nước, sự hướngtới những cá nhân xuất chúng… Nếu trước đó, Nguyễn Trãi và các nhà thơkhác đã thể hiện tình cảm yêu nước với sự ý thức về cõi bờ thiêng liêng, việc
ca ngợi những tấm gương hiền kiệt đời xưa, thì tinh thần ấy cũng phảng phấttrong thơ Thế Lữ, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Thông, Quách Tấn…
Người ta dường như thấy Quách Tấn luôn luôn muốn trở về với nhữngngày xưa để nhìn thấy một non sông đất nước với đầy đủ những gì thuộc vềhồn thiêng của nó, hoặc suy tư với những nỗi chia li của xưa xa để nói về sựloạn lạc của hiện tại Chẳng thế mà ông ca ngợi, sẻ chia với “con voi già bếnNgự”, ông mang trong mình giấc mộng Lê Hoàn, ông xót xa với Trần Khắc
Chung và Huyền Trân công chúa Trong Giấc mộng Lê Hoàn, tác giả viết:
Trang 16Ta sẽ đưa binh Nam đi vùng vẫy Khắp bốn phương, trời đất mịt mùng tối tăm Bầu trời mênh mang chuyển động tiếng loa gầm
… Binh Nam quốc như hải triều kiêu hãnh…
Trong những câu thơ trên, người đọc có thể liên tưởng đến những hìnhảnh hiệp, sĩ, quân vương tràn ngập trong văn học Trung Hoa, trong văn
chương Việt Hoài bão gửi gắm trong Giấc mộng Lê Hoàn vừa có cái hiên ngang của Phạm Ngũ Lão trong Thuật Hoài, vừa có cái da diết của Trương Hán Siêu trong Bạch Đằng giang phú, lại có cái ngậm ngùi, bất lực của Đặng Dung trong Cảm hoài… Ở Huyền Trân công chúa, đấy là tâm sự của hai nhân
vật chính trong tác phẩm, cũng là hai nhân vật chính của thiên tình sử diễm lệ
mà bi thương trong công cuộc mở mang bờ cõi của các vua Trần vào thời kìoanh liệt của hào khí Đông A Đọc vở kịch thơ này, người đọc có thể san sẻnhững cảm xúc cổ điển của tình yêu, nhưng cũng có thể nhìn thấy ở đó lòng
tự trọng dân tộc bị xúc phạm của Huyền Trân công chúa:
Ta chẳng muốn theo ai về Chiêm quốc!
Không! Không, ta chẳng hứng đi theo ai Vượt bao núi, bao non, bao từng nước Tới rừng hoang trông ngẩn lũ man di
Dù Chế vương ân cần hay cưỡng bách
…
Dù vua cha phải lôi đình nổi giận
Ta cũng không đặt bước xuống thuyền hoa Thôi trông cung Vân Hồng, lầu Ngọc Phấn Nơi các em ngày tháng nhớ thương ta
Trong đó ta thấy tâm sự của một người sắp phải xa rời cố quốc, mà nỗilòng nhớ nước của một mĩ nhân phải bỏ cả giang sơn, bỏ cả tình yêu của mình
để hiến thân cho một mưu toan chính trị Vẻ đẹp cổ điển chính là lòng hoài
Trang 17nhớ nước non, ở phút giây li biệt Và, trong tâm thức văn hóa - văn học truyềnthống, ta còn thấy ở đó tâm sự, tình thế của những nhân vật đã đi vào lịch sửvăn hóa, văn học Trung Hoa như những biểu tượng bền vững: nàng ChiêuQuân nơi cửa ải từ biệt xứ sở trên hành trình cống Hồ, phút biệt li của Tây Thi
và Phạm Lãi nhằm giúp Việt vương Câu Tiễn rửa mối hận trước Ngô vươngPhù Sai thời Đông Chu liệt quốc
Trong những thập niên thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa lần thứnhất và lần thứ hai, tiếng là “khai hóa”, là biến nước ta thành một nước côngnghiệp, nhưng về cơ bản, thực dân Pháp chỉ chú trọng phát triển những ngành
có lợi cho kinh tế mẫu quốc Thực chất của công cuộc khai thác ấy là họ khaithác thị trường lao động rẻ mạt và ra sức vơ vét tài nguyên làm giàu cho chínhquốc Người Việt Nam hẳn thấy đau lòng vì hiện tượng đất nước cứ kiệt quệmãi dần trong thân phận nô lệ Và vì thế, những nỗi đau lòng của Nguyễn Trãi
năm trăm năm trước trong Bình Ngô đại cáo được gợi lại trong không khí ảm
đạm của thời đại Mọi so sánh đều là khập khiễng, nhưng không thể không
thừa nhận rằng nỗi đau của Nguyễn Nhược Pháp trong Đi cống có dáng dấp
của nỗi đau mà Nguyễn Trãi từng cất tiếng trong áng văn bất hủ của mình vềnạn vơ vét, triều cống Điều đặc biệt là, sau khi miêu tả thái độ hung hăng củanhững tên tướng giặc chỉ huy đoàn người triều cống, tác giả đã viết những câu
da diết cuối bài, như một ước mơ về một thời thái bình thịnh trị:
Hỡi ai đi thẩn thơ miền núi Nhìn ngọn cây xanh gió thổi ào Tưởng lại cờ xa vàng chói lọi Nên yêu người cũ hồn trên cao.
Cờ vàng là biểu tượng của các triều đại Việt Nam, của dân tộc ViệtNam thời trung đại, màu vàng gắn với uy quyền của các triều đại, cũng là gắnvới hồn thiêng sông núi Và vì thế, mặc dù tác giả đã mượn một câu của Trần
Trọng Kim trong Việt Nam sử lược: “Lệ cống thì phải chọn nho sĩ, thầy thuốc,
Trang 18thầy bói, thầy toán số và thợ thuyền mỗ hạng ba người, cùng các đồ sản vậtnhư sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu và các vật lạ”, như chỉ để nói một câuchuyện trong quá khứ, nhưng thực ra, trong nỗi hoài niệm màu cờ vàng ấy,chúng ta biết tấm lòng tác giả đang hướng về hiện tại Sự thể hiện một cáchthầm kín ấy càng cho chúng ta thấy sự khắc khoải của nhà thơ Của một thế
hệ đối với đất nước, trong những tín hiệu nghệ thuật đậm phong vị cổ điển
Tương tự, bài Nàng Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống là một khúc
bi ca, không phải chỉ về một người chồng, một người yêu, mà qua đó, là tìnhcảm của tác giả dành cho quốc gia dân tộc:
Nhà tan, nước mất, chàng đi thôi Thiếp nén lòng đau khóc nghẹn lời Chậm bước đành nương mình bóng Phật Mảng tin trông ngóng nhạn chưn giời Chuông đồng canh vắng, hồn mê sảng Giăng lạnh, đêm thâu, cú đổ hồi Thê thảm chàng đi, về có vậy!
Thiếp chờ ai nữa, hỡi chàng ôi!
Trong sự hoài niệm về linh hồn cố quốc ấy của Nguyễn Nhược Pháp,
và, bên cạnh đó là Chế Lan Viên, Huy Thông, Thế Lữ, Quách Tấn, Vũ ĐìnhLiên… chúng ta có thể thấy được mối liên hệ với truyền thống của nhữnghoài niệm Đường thi, những xót xa của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi,Đặng Dung, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến
Nhất là Nguyễn Khuyến trong Quốc kêu cảm tác:
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ
Ấy hồn Thục đế thác bao giờ Năm canh máu chảy đêm hè vắng Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
Trang 19Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ Đêm ngày giục giã kêu ai đó Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.
Huy Thông đã đem vào thơ một cảm hứng lịch sử hùng mạnh, thiết tha.Hơi thở khoẻ, khí thở mạnh âm hưởng thơ vang dội, da diết Cảm hứng lịch
sử hào hùng gắn liền với những sự kiện, nhân vật anh hùng trong lịch sử vàtâm hồn lành mạnh khoẻ khoắn của nhà thơ Cảm hứng thi ca đó đem lại baohưng phấn, bao tin cậy Nhưng một mặt khác lịch sử lại được khai thác và đếntrong thơ với những điệu buồn ai oán của tâm trạng những người dân mấtnước Làm sao có thể vui được khi lịch sử của dân tộc trong chặng đườnghiện tại đang ngưng đọng trên những trang buồn, trang tăm tối Quá khứ trởthành một biểu tượng so sánh để ngưỡng mộ, nuối tiếc và ai oán Cảm hứnglịch sử ở các nhà thơ mới được nuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương, đấtnước, dân tộc Các nhà thơ không tìm đến lịch sử để khai thác những chuyện
kỳ lạ, hoặc lấy lịch sử làm cái cớ để mà thêu dệt, tô điểm những tưởng tượngchủ quan Trở về với lịch sử là thoát ly hiện tại, cách hiểu thông thường đóchưa nói được hết tâm trạng của các nhà thơ trong phong trào Thơ mới Trở
về với quá khứ lịch sử là một thái độ với hiện tại, một phản ứng với nhữngước mơ không được thực hiện, một tâm trạng xót xa trong liên tưởng so sánh.Nói như Chế Lan Viên “Khi đã buồn hiện tại Thì quay về tháp xưa” Điêu tàncủa Chế Lan Viên là tấm lòng yêu nước được biểu hiện kín đáo và thiết thaqua một hiện tượng lịch sử, Chế Lan Viên đã từng ghi nhận tính chất chungcủa cảm hứng lịch sử bi thiết “Điêu tàn có riêng gì cho nước Chiêm Thànhyêu mến của tôi đâu” Điêu tàn là những trang viết xúc động, đau thương, vò
xé về mặt đất nước đã điêu tàn hay đang điêu tàn Quá khứ được tái hiện vớinhững trang huy hoàng của một đất nước ở một thời thịnh trị với bao cungđiện đền đài lộng lẫy, những chiến tượng uy nghiêm, những cung nữ với xiêm
y nhẹ nhàng lả lướt Hiện tại cũng khắc sâu bao đau thương với những vết
Trang 20tích đã mai một dần nhưng vẫn còn rỉ máu Trong Điêu tàn trí tưởng tượng vàcảm hứng thi ca nồng nàn và thiết tha về đất nước, con người
Cảm hứng lịch sử trong thơ ca ở giai đoạn này như những lời hối tiếc,những tiếng thở dài về cái mất cái còn trong cuộc đời hôm qua và hôm nay
Vũ Đình Liên để một phần tâm hồn của mình lưu luyến với những cảnh xưa
“Lòng ta là những hàng thành quách cũ” Mực tàu, giấy đỏ, câu đối tết…những nét tinh hoa của một thời với hình ảnh một ông đồ xưa dần trở thành xa
lạ trong cảnh đời hiện tại “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu, bây giờ?”.Huy Cận gắn liền cảm hứng lịch sử với những hình ảnh của quê hương đấtnước Một buổi chiều xưa, một nét đẹp xưa, tất cả dường như không còn nữa.Quá khứ trở về trong hồi tưởng, trong đường nét của thời gian “Ngập ngừngmép núi quanh co/ Lưng đèo quán dựng mưa lò mái ngang”, trong những hìnhảnh buồn ngưng đọng
Đồn xa quằn quại bóng cờ Phấp phơ buồn tự thuở xưa thổi về Ngàn năm sực tỉnh lê thê
Trên thành son nhạt - chiều tơ cúi đầu
Hiện tại trong thơ Huy Cận nhiều buồn tủi, quá khứ trong thơ Huy Cậncũng đượm buồn Nỗi buồn không nhức nhối tê tái mà toả lan trong khônggian, thời gian, thấm vào cuộc sống và thiên nhiên, vào tâm hồn của đất nước.Thơ Huy Cận có một nỗi buồn xưa, nỗi buồn như không có nguyên nhân,không đong được trong những tâm trạng đầy vơi nhưng cũng không biết baogiờ kết thúc Khi ta nhìn một ngôi miếu cổ, một bến đò xưa, một đám mây xa,thì dường như lại gặp bảng lảng hồn xưa trở về Phải chăng đấy là hồn quêhương, hồn non nước đang ngậm ngùi trong nỗi đau muôn thuở không hề tan
đi được
Hỡi mây trắng, hỡi nước buồn, gió cũ Sao chiều nay ảo não vị sơ xưa
Trang 21Lòng ta nữa cũng trở về một chỗ Trong nỗi đau thương vương tụ bao giờ
Thơ Huy Cận thấm đượm một cảm hứng lịch sử đi ngoài dòng sự kiệncủa lịch sử Nhiều nhà thơ khác lại tìm đến những câu chuyện xưa nổi tiếng:những truyền thuyết, những dã sử… Huy Thông say mê với những chủ đề
lịch sử Dù cảm hứng hào hùng (Tiếng địch sông Ô) hay bi thiết (Huyền Trân
công chúa) Huy Thông vẫn một niềm trân trọng với những trang viết đẹp
trong lịch sử Tình yêu dân tộc vẫn là một chuẩn mực vững chắc nhất để phânbiệt đánh giá cái đúng, cái sai trong triều dâng của lịch sử Cách khai tháckhác nhau, người thích những thiên tình sử, người thích những khúc tráng ca,người vay mượn câu chuyện sử ở nước khác, nhưng nói chung đề tài về lịch
sử dân tộc, không xa lạ với tình yêu quê hương đất nước Trong truyện thơ
Mỵ Châu Trọng Thuỷ, Xuân Diệu chủ yếu miêu tả mối tình giữa Mỵ ChâuTrọng Thuỷ một tình yêu đau đớn, xót xa Cái chết của đôi trai gái này vì yêuđương tuyệt vọng hay hối hận? Người con gái với tình yêu quá tin cậy và sayđắm để đến nỗi bị phản bội, cũng đã nhận ra lầm lỗi của mình
Phá tan đất nước, giết cha già Cũng chỉ vì con, con yếu đuối Tội này tâu lưỡi gươm linh Muôn kiếp xin vua đừng xá tội.
Tấn thảm kịch của đất nước phải chịu đựng cũng là tấn bi kịch củangười con gái
1.2.2 Phong vị cổ điển thể hiện qua cảm hứng nhân đạo
Văn chương Việt Nam có hai truyền thống lớn: yêu nước và nhân đạo.Truyền thống ấy phát triển xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử và đến thời kỳhiện đại biến chuyển trong nhiều sắc thái biểu hiện Cảm hứng nhân đạo củaphong trào thơ mới từ lâu ít được quan tâm khai thác Tuy thoát ly, lãng mạn,lấy cái tôi làm điểm xuất phát và trung tâm của mọi cảm hứng sáng tạo Thơ
Trang 22mới vẫn xác lập được cảm hứng nhân đạo trong những mối quan hệ sâu sắcgiữa nhà thơ với cuộc đời Cái chất phong vị cổ điển cũng được biểu hiện rõ
từ đây
Những nhà thơ trong phong trào thơ mới gồm những gương mặt tiêubiểu nhất đó là Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Anh Thơ… đều là những tri thứcnghèo Nhà thơ mới lãng mạn bậc nhất luôn gắn với mộng tưởng, những giấc
mơ đẹp cũng phải có lúc chua chát tự thú:
Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt Cơm áo không đùa với khách thơ.
Và Xuân Diệu đã hiện thực biết bao khi tác giả hiểu rõ “chúng ta naytrong cuộc thế ao tù”
Thơ của Hàn Mặc Tử có nhiều trăng, hoa, nhạc, hương nhưng thật xót
xa khi có thể tìm thấy trong thơ ông một ý tưởng hiện thực chua chát:
Trời hỡi làm sao cho khỏi đói Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Nhà thơ lãng mạn siêu thoát luôn nguyện cầu đến những đấng siêunhân đã phải đặt câu hỏi thiết thực về sự tồn tại Chỉ qua hai trường hợp trênchúng ta đã thấy khoảng cách giữa họ và cuộc đời được thu ngắn lại biết bao
và đặc biệt là khoảng cách với những người lao động nghèo khổ Có thể tưduy, cảm xúc của nhà thơ mới có lúc ở “tháp nghỉ, đài thơ” xa xôi nhưng về
cơ bản cuộc sống của họ cũng nằm trong cùng tầng mạnh với những ngườiluôn phải lo toan để kiếm sống Cũng vì thế mà tình thương của họ vớinhững người nghèo khổ được biểu hiện chân thành, sâu sắc, mang đậmphong vị cổ điển
Vũ Đình Liên như cảm thấy sung sướng khi được những người đói rét,trẻ em côi cút, bạn lầm than đói khát xem ông là “thi sĩ của những người thântàn ma dại”
Trang 23Rồi hết cả bầy rách rưới đui mù
Từ ông lão già cho đến đứa trẻ thơ Dứt tiếng hát đều kêu lên cảm khái
“Anh là thi sĩ của những người thân tàn ma dại”.
Vũ Đình Liên đã sáng tạo được một hình tượng cụ thể mang đậmdấu ấn của cuộc đời và gây nhiều xúc động Ông đồ tượng trưng chongười trí thức phong kiến lạc lõng và thất thế với thời buổi mới phải kiếmsống vất vả
Đó cũng là hình ảnh đẹp của một thời đang bị xoá mờ trong cuộc sốngthành thị đua chen:
Ông đồ vẫn ngồi đấy, Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?
Thời gian trôi chảy trên từng dòng thơ và biết bao thương cảm của VũĐình Liên với những số phận vất vả và đặc biệt là tình cảm xót xa trướcnhững biến đổi của cuộc đời Hình ảnh ông đồ khắc khoải gợi nhớ thương vàođến chốn sâu thẳm của tiềm thức như tiếng gọi đò trong thơ Tú Xương trướccảnh “vật đổi sao dời” Có lẽ hình ảnh nhân vật mà các nhà thơ nói đến nhiều
là người con gái giang hồ Các nhà Thơ mới đã nêu lên được nhiều tâm trạngđau khổ của người phụ nữ lâm vào cảnh đời bi kịch Phan Văn Dật đã để chongười con gái đau khổ có ý thức bảo vệ phần hồn trong trắng mặc dù thân thểphải chịu tủi nhục giày xéo trong cảnh bùn nhơ Bi Xuân Nương đã xót xa nóivới khách:
Trang 24Hãy bằng lòng mình em Hồn em tha cho nó.
(Bi Xuân Nương)
Đó cũng là tâm trạng cô gái trong thơ Thái Can:
Thân em thật đã bùn than lắm Lòng quyết em còn giữ tiết trinh.
Xuân Diệu trong bài Lời kỹ nữ đã miêu tả sâu sắc nỗi lòng cô đơn củangười kỹ nữ:
Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn Chớ để riêng em phải gặp lòng em.
Mối quan hệ du khách - người kỹ nữ - nhà thơ được thể hiện trong mốitương quan đặc biệt Xuân Diệu đã hoàn toàn hoá thân và đồng nhất vớingười kỹ nữ khi nhà thơ phát hiện thấy những điểm tương đồng giữa nhà thơ
và người kỹ nữ Cả hai cùng đem lời thơ, tiếng hát đến với cuộc sống chânthành, thiết tha nhưng đều gặp sự thiếu chung tình: “Tình du khách thuyềnqua không buộc chặt” Xuân Diệu đã mạnh dạn tìm thấy sự đồng cảm ởnhững đối tượng mà cuộc đời cho là “xướng ca vô loài” Trên đề tài này, cácnhà thơ mới tuy chưa chỉ ra được hướng giải thoát cho người con gái giang hồ
như Tố Hữu với Tiếng hát sông Hương Nhưng về giá trị nhân đạo biểu hiện
ở sự thông cảm, đồng cảm thì các nhà thơ mới đã tạo hiệu quả đặc biệt
Các nhà thơ mới đặc biệt quan tâm với đời sống ở những miền quê.Những bức tranh chân thực miêu tả cảnh làng quê trong thơ Anh Thơ, Bàng
Bá Lân, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ Đặc biệt nhấn mạnh đến truyền thống
và vẻ đẹp của quê hương qua những phong tục, tập quán, hội hè và quan hệthuần khiết hơn giữa người với người so với chốn thành thị đua chen Điềuđáng quý là các nhà thơ đã không có cái nhìn của người ngoài cuộc Ngay từtrong buổi hoa niêm, Tế Hanh đã bộc lộ tấm lòng của mình qua lời con đường
Trang 25quê luôn biết “chia sẻ cùng người nỗi ấm no” và cả “nỗi buồn lo khi mùamàng mất” với sự hoà đồng chân thật:
Tôi thân tê tái trong da thịt Hương đất hương đồng chẳng ngót tuôn.
(Lời con đường quê)
Anh Thơ với những bức tranh quê đã miêu tả được nhiều hình ảnh chânthực của làng quê Việt Nam Có niềm vui và cũng có những nỗi lòng xót xakhi mùa màng hạn hán:
Rồi chiều đến khi mặt trời lặn đỏ Mây phương Đoài tắm rực một bên sông Các cô gái đua nhau thăm ruộng cỏ Cuộn dây gầu chán nản tát đồng không.
(Đại hạn)
Mỗi nhà thơ mới dường như đều có một miền quê để ngợi ca trong thơ
và nhiều người lại có một làng quê cụ thể với nhiều gắn bó, yêu thương,không có những ngăn cách khó vượt qua Một số tác giả nói đến làng quê như
sự trở về cội nguồn, ở đây có thể tiếp sức về tinh thần và cũng ở đây có thểchia sẻ với biết bao vui buồn cùng làng quê Xuân Tâm quan sát cảnh laođộng vất vả ở nông thôn và không khỏi chạnh lòng xót xa:
Những tiếng vồ sâu đập đất dày Đất khô dội tiếng nắng lung lay Nông phu thất vọng đưa tay mỏi Lau suốt mồ hôi tắm mặt mày
Họ có kiêng gì lửa chín da Đoàn người lam lũ, cụm năm ba
Họ dâng thân thể cho trời đất
Từ thuở thanh xuân đến tuổi già
Trang 26Qua sự phân tích trên ta thấy, các nhà thơ mới đã tạo dựng được một sốhình ảnh chân thực với ngòi bút nhân đạo và tấm lòng thương cảm chân tình.
Họ hướng về nguồn cội, kế thừa của những người đi trước Với tình cảm đó
đã xuất hiện ở trong văn học cổ - trung đại Đến Thơ mới có sự thay đổi chút
ít Điều đó chứng tỏ rằng phong vị cổ điển được thể hiện qua cảm hứng nhânđạo Tình yêu thương con người, sự cảm thông cho những số phận bất hạnh,nghèo khổ… trong văn học thời nào cũng có Đó là truyền thống quý báu củacon người Việt Nam ta Thơ mới còn bộc lộ sâu sắc ở phần tự nhận thứcnhững đau khổ xót xa về thân phận Cảm hứng nhân đạo trong văn chươngthường được xác lập chủ yếu là ở tình cảm yêu thương trân trọng con người.Người xưa đã nói “Thương người như thể thương thân” tìm hiểu đến cộinguồn thì phần thương thân thật sự quan trọng Những nhà thơ trong phongtrào Thơ mới đã cảm nhận sâu sắc về thân phận những tri thức, những nhà thơtrong xã hội thực dân phong kiến Họ có những hoài bão khát vọng và khátvọng cháy bỏng nhất là mơ ước tự do, và được sống cho đúng với bản sắc vànhân cách của mình Chế Lan Viên đã nói lên cái bi kịch của cá nhân bị xôđẩy trong vòng đời và như tìm thấy nét tương đồng giữa con người nhỏ bé vớibiển cả mênh mông:
Hy vọng! Nghi ngờ! Điên cuồng! Cảm hứng!
Biển nằm nghe thổn thức giữa tâm can
Thời gian trôi chảy nhưng không gian lại dường như bất động, không
hề thay đổi, không thể khác đi Nhà thơ như ở vào trạng thái cầm tù về tinhthần và mơ ước
Ôi ta muốn trong cõi trời tư tưởng Với thời gian thay đổi cả không gian.
(Thay đổi)
Rõ ràng, cảm hứng nhân đạo được các nhà thơ mới thể hiện trên nhiềucung bậc, nhiều trạng thái khác nhau Điều đó chứng tỏ rằng, phong vị cổ điểncàng được biểu hiện đầy sắc màu hơn
Trang 271.2.3 Sự hoài niệm như một yếu tố “di truyền” từ văn chương cổ trung đại
-Hoài niệm là một cảm xúc, đôi khi, thậm chí còn là bệnh lí, liên quanđến việc khao khát những gì thuộc về quá khứ và thường là lí tưởng hóa nhữngđiều đó Xét về góc độ tâm lí, hoài niệm là một hiện tượng tự nhiên trong đờisống của con người Xét từ phương diện mĩ học, hoài niệm là một thứ cảm xúcthẩm mĩ phổ biến trong đời sống nghệ thuật, nhất là trong văn học
Trong văn học truyền thống, nhất là phương đông, hoài niệm là một thứcảm hứng thường trực Điều này có thể giải thích bằng nhiều nguyên nhân.Trước hết, hoài niệm ở đây thường có nguồn gốc từ các đặc điểm của đời sốngvăn hóa, tư tưởng Xuất phát từ triết lí giáo dục và văn chương cử tử, ta thấyhoài niệm trước hết là một trạng thái ý thức thường trực trong đời sống tinhthần của các nhà nho - lực lượng chủ yếu làm nên diện mạo văn chương cổđiển Nền giáo dục Nho học, trên tư tưởng tôn quân, luôn không muốn bất cứmột nhân vật hiện thực nào vượt qua vị chủ nhân của họ - các vị hoàng đếđương thời về mọi mặt, vậy nên, khi muốn thể hiện một điều gì đó như là sựtụng ca, hoặc mong muốn, người ta thường tìm trong sử sách những tấm gươngxưa để thể hiện Nói về triều đại thịnh trị, về những vị chúa anh minh, thường
là Nghiêu, Thuấn, cần động viên lòng trung thành hay can đảm của mọi người,các bậc vua chúa, các văn nhân, hay các nhân vật trong sử sách đều nhắc đếnngười xưa: Gia Cát Lượng ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị, Hoàng Trunglấy Mã Viện làm gương… Ở Việt Nam, Nguyễn Trãi ví mình với Bá Di, Thúc
Tề, ước mơ “dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng”…, Nguyễn Khuyến nhìn ĐàoTiềm mà thẹn… Thậm chí, nếu nói về một chỗ thấp kém nào đó, người ta hoàntoàn có thể viện dẫn người xưa để bào chữa cho người hôm nay Khi có ngườichỉ trích Lưu Bị chỉ là một tay dệt chiếu bán dép, người ta sẵn sàng nói rằngHán Cao Tổ (Lưu Bang, người khởi dựng nhà Hán) cũng chỉ xuất thân đìnhtrưởng, Hàn Tín chỉ là kẻ chui qua háng gã đồ tể…
Trang 28Trong các kì thi tuyển chọn nhân tài cho đất nước, ở Trung Quốc xưacũng như ở Việt Nam, có phần thi kinh sử Phần thi bắt buộc các nho sĩ phảinắm chắc kiến thức lịch sử, và thêm đó là biết vận dụng nó một cách linh hoạttrong sáng tác Điều này khiến cho tâm lí sùng cổ trở nên một tâm lí thườngtrực trong văn học Đến đây phải tính đến hiện tượng chuyển hóa chức nănghành chức sang chức năng nghệ thuật của các thể loại văn trường quy, vănhành chính.
Thêm nữa, ở Việt Nam và Trung Quốc - quốc gia mà văn học cổ ViệtNam chịu nhiều ảnh hưởng nhất, trong suốt thời trung đại luôn luôn chứngkiến những biến động vĩ đại của lịch sử, nhất là hưng vong triều đại Hầu nhưbất cứ triều đại nào cũng vậy, sau thời kì thịnh vượng ắt đến thời suy vong,loạn lạc Trong thời kì sa sút ấy, những nhà nho có lương tâm luôn luôn khaokhát được thấy cảnh thái bình Nhưng do ràng buộc của nhiều yếu tố, họ đànhchỉ còn biết nhắc đến những ngày xưa để bày tỏ thái độ chán ngán hiện tạimột cách thầm kín Trong tình hình đó, văn học Việt Nam và văn học TrungQuốc tự mang trong mình nó truyền thống hoài niệm
Đối với cuộc sống nói chung, và nhất là trong văn hóa văn học, sựphát triển chỉ có thể bền vững trong mối quan hệ chặt chẽ với truyền thống.Một thời đại văn học, dù mang trong mình tinh thần hiện đại và khát vọngđoạn tuyệt với truyền thống, đến mức nào thì vẫn mang trong mình nhữngyếu tố của truyền thống (R.Barthes gọi là sự trì kéo của quá khứ) Thơ mớicũng vậy, mặc dù mang trong mình khát vọng cách tân thơ Việt, nhưng nó làcuộc cách mạng liền sau văn học trung đại, hẳn nhiên nó chứa nhiều yếu tố
di truyền của văn học trung đại, và hoài niệm chính là một trong những yếu
tố di truyền đó
Các nhà thơ mới vừa thuở ban đầu hăm hở với cái tôi mới mẻ, khỏekhoắn và luôn khát khao khẳng định bản ngã, ước nguyện được giải phóng,khẳng định năng lực cá nhân, trong tình yêu, trong tình bạn… Họ say sưa với
Trang 29những gì thuộc về nhu cầu thiết yếu và chính đáng trong đời sống tinh thầncủa con người hiện đại Nhưng đến một lúc nào đó, có thể là đã thỏa mãn saukhi say sưa với những chiến thắng ban đầu, cái tôi ấy giật mình nhìn ra thếgiới chung quanh và giật mình thấy mình bơ vơ, lạc lõng trong một trườngsống nhiều điểm xa lạ, một trường sống không có sự sẻ chia, cứu rỗi Và, họđành phải trở về tìm nơi an ủi trong quá khứ vàng son, trong những giá trị đãmất Hiển nhiên, bên cạnh lí do ấy, lòng hoài niệm của các nhà thơ mới còn
có nguyên nhân sâu xa từ lòng yêu đất nước, yêu xứ sở Người ta có thể thấytrên những con đường trốn chạy thực tại, bên cạnh việc tìm đến “một tinh cầugiá lạnh/ một vì sao trơ trọi cuối trời xa” (Xuân Diệu), tìm đến với tiếng sáoThiên Thai (Thế Lữ), vào những cuộc say bất tận (Vũ Hoàng Chương)… làhành trình trở về với lễ tiết, phong tục, với văn hóa dân gian (Nguyễn Bính,Đoàn Văn Cừ), với những nét “đẹp xưa”, “buồn xưa”, những vàng son mộtthuở (Quách Tấn, Vũ Đình Liên, Huy Thông, Phan Khắc Khoan, Nguyễn HuyTưởng, Yến Lan, Tân Phương, Phan Văn Dật )
Trong thơ Nguyễn Bính, ngoài những gì thuộc về cái quê mùa, chấtphác là những hình ảnh mang tính biểu tượng cho giá trị một thời:
(Giấc mơ anh lái đò)
Trong thơ Thâm Tâm, ấy là hồn xưa Thăng Long phảng phất:
Thăng Long đất lớn chí tung hoành Bang bạc gương hồ ánh mắt xanh
… Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Trang 30Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
(Vọng nhân hành)
Vũ Đình Liên vẫn được người đời, được bạn đọc biết đến như là mộthiện tượng đặc biệt của phong trào Thơ mới: chỉ với một bài thơ, ông đã vựcdậy nỗi buồn một thời đại, vực dậy nỗi niềm của ngàn đời, và cũng chỉ mộtbài thơ, ông đã trở thành nhân vật không thể không nhắc đến trong làng thơ
mới Có người đã so sánh Thâm Tâm của Thơ mới với Tống Biệt hành cùng Thôi Hiệu của Đường thi với Hoàng Hạc lâu, và chúng ta cũng có thể nhìn
Vũ Đình Liên bằng một cái nhìn như thế mà không hề có gì gọi là ưu ái.(Trong nền thơ ca thời Đường, nếu như Đỗ Phủ, Lí Bạch, Bạch Cư Dị… viếtrất nhiều, và bên cạnh chất lượng thơ, thì số lượng cũng góp phần làm nên giátrị của họ Thôi Hiệu thì có phần khác, ông viết không nhiều, và hầu như chỉ
được biết đến qua kiệt tác Hoàng Hạc lâu, nhưng chỉ với đó, ông cũng có một
chỗ ngồi trang trọng trong chiếu thơ thời đại, và bài thơ ấy cũng là bài thơ
không thể không nhắc đến khi làm một tuyển tập về thơ Đường) Ông đồ
không chỉ là một bài thơ, đấy là một thế giới vàng son được tái hiện, một biểutượng giá trị mang tính chất thành quách hàng ngàn năm của đất nước ViệtNam, Trung Hoa và nhiều quốc gia phương Đông Đã có rất nhiều ý kiến của
nhiều thế hệ dành cho Ông đồ những lời nhận xét hết sức trân trọng, như là
một bài thơ mẫu mực cho tinh thần hướng về những giá trị trong quá khứ theochiều nhận thức lí tưởng hóa
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Quách Tấn thuộc số ít nhà thơmới tiêu biểu đang còn nhiều gian díu với “mùa cổ điển” Điều đó thể hiệntrên nhiều phương diện mà luận văn sẽ còn bàn tới trong các phần tiếp theo.Tới đây, chúng ta có thể nói về một nét tiêu biểu trong tấm lòng hoài niệmcủa nhà thơ, một nét tâm trạng hết sức gần gũi với hơi thơ Đường Tống, thơ
Việt cổ - trung đại Bài Về thăm nhà cảm tác chẳng hạn:
Quê người rong ruổi bấy nhiêu lâu Vườn cũ về thăm cảnh dãi dầu
Trang 31Trống trải ba gian nhà nhện choán Ngửa nghiêng bốn mặt dậu bìm leo Cội tùng bóng ngả song rơi lệ Ngõ trúc mây che cuốc giục sầu Lặng lẽ bên thềm ôn chuyện cũ Giựt mình ngỡ đến chốn nào đâu?
Chúng ta có thể thấy bài thơ Đường luật chỉn chu này đã gần gũi hơn vớiđời sống, ở chỗ tác giả đã đưa vào đó những chi tiết của đời thường, thôn dã -kiểu đời thường, thôn dã của những vùng quê Việt Nam Tuy nhiên, có thể thấy
về cơ bản, tâm trạng hoài nhớ ấy vẫn theo mô típ truyền thống Sự lạc lõng, côquạnh của tác giả gợi nhớ nỗi xa xót tha hương của đường thi, trong thơ Đỗ
Phủ, Thôi Hiệu…, nhất là bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương:
Thiếu tiểu li gia lão đại hồi Hương âm vô cải mấn mao tồi Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.
(Trẻ đi, già trở lại nhà Giọng quê không đổi, tóc đà khác bao Trẻ con nhìn lạ không chào
Cười rằng khách ở chốn nào lại chơi).
Nhìn chung, hoài niệm như một yếu tố tâm lí nói chung của con ngườitrong mọi thời đại, và là cảm hứng khá phổ biến của thi ca Tuy vậy, tinh thầnhoài niệm thể hiện trong thơ mới, bởi trong một khoảng thời gian vừa dứtkhỏi cái cũ, lại gặp phải thời buổi đầy những phong ba bão tố, cái tôi của conngười buộc phải tìm về với dĩ vãng, với những gì thuộc về giá trị của mộtthời Và vì thế, phong vị cổ điển thể hiện trong niềm hoài nhớ ấy, là điều hoàntoàn có thực về nội dung Và thậm chí, như sau này chúng ta sẽ thấy, cả trênphương diện hình thức nghệ thuật
Trang 321.3 Phong vị cổ điển thể hiện trong những tâm sự mang tính chất
cá nhân - cá thể
1.3.1 Quan niệm mang tính cổ điển về bổn phận với cộng đồng
Nền văn minh nông nghiệp lúa nước cộng tinh thần nho giáo thống trịhàng ngàn năm với những mặt tích cực của nó, đã hình thành một nét rất cơbản trong nhân cách người phương Đông nói chung, trong đó có Trung Hoa
và Việt Nam Trong suốt ngàn năm phong kiến, con người cá nhân cá thể hầunhư không có diện mạo riêng mà chỉ sống với phận vị của mình trong mốiquan hệ với cộng đồng từ gia đình, làng xóm đến quốc gia Thơ mới ra đờivới nhu cầu tha thiết là được giải phóng cái tôi cá nhân ra khỏi mọi lề luật,giáo lí, thành kiến để con người được sống thực là người theo cách nói hiệnđại Đã có nhiều ý kiến trước đây phê phán Thơ mới chỉ biết khiến chọnngười ủy mị, chui vào cố thủ trong tổ kén cá nhân, bàng quan và nhiều khi vôtrách nhiệm với cộng đồng Trên đại thể, quả Thơ mới có để lỏng tình cảmcủa mình theo đuổi những câu chuyện cá nhân và nhiều khi sự thoát li của họkhiến không ít người đã giác ngộ cảm thấy khó chịu, cảm thấy ở đó có điều gìbất ổn Thêm nữa, thế cuộc không cho phép nhìn nhận Thơ mới đến mọi ngócngách ngoài cái diện mạo ủy mị, chán chường kia Những phê phán dành cho
nó không chỉ là câu chuyện của văn chương, mà nhiều khi cần ngầm hiểu nhưmột hành động răn đe cho những tâm trạng hay toan tính khác trệch ra ngoàiđường ray mà cả con tàu lớn cộng đồng đang hối hả vận hành Và như vậy,trong khi gạt bỏ những điều bất lợi cho tình thế trước mắt, người ta đã vô tìnhphủ nhận tất cả, giống như vì một vài lá úa mà đốn cả thân cây Thực sự thì
không cần phải mất công tìm tòi, khảo cứu lâu dài, mở cuốn Thi nhân Việt
Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân, chúng ta đã có thể thấy, trong hơn bốn
mươi gương mặt được lựa chọn, đã có không ít tác giả, với mức độ đậm nhạtkhác nhau, thể hiện trách nhiệm, bổn phận với cộng đồng Tuy nhiên, khác
Trang 33với thơ ca cách mạng sau này, con người bổn phận trong Thơ mới có rất nhiềuđiểm gần gũi với tinh thần trách nhiệm cổ điển.
Tinh thần trách nhiệm cổ điển trong Thơ mới thể hiện trước hết ởnhững cảm xúc, tình cảm trước vận mệnh của quốc gia, dân tộc Và điều này,sau khi Thơ mới được phục nguyên giá trị, đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra.Đấy là lòng yêu nước ngậm ngùi xa xăm Trên thực tế, lòng yêu nước của cácnhà thơ mới có ngậm ngùi, có xa xăm, nhưng đấy là cái ngậm ngùi xa xăm kếthừa từ truyền thống, từ văn chương cổ điển Trong sự biến thiên của thời đại,các thi nhân xưa đã cũng từng thể hiện nhiều khi, rất kín đáo những tình cảmcủa mình trước cộng đồng, bao gồm cả sơn hà xã tắc và sinh linh trăm họ ĐỗPhủ đã từng thốt bao lời cảm thán trước cảnh lầm than trong loạn An - Sử;Trần Nguyên Đán đã từng thở than: “Tam vạn quyển thư vô dụng xứ/ Bạchđầu không phụ ái dân tâm” (Đọc sách triệu trang mà bất lực/ Bạc đầu xin phụ
nỗi thương dân - Nhâm dần lục nguyệt tác); Đặng Dung thác hận niềm “Trí
chủ hữu hoài phù địa trục/ Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà” (Giúp chúa những
mong xoay trục đất/ Gột giáp sông trời khó vạch mây - Cảm hoài); Nguyễn
Khuyến trở về với ao thu bé nhỏ và ngắm trời xanh mông lung… Nói tóm lại,những nhà Nho, những bậc quan lại ưu tú trong thi ca cổ điển luôn luôn kíthác tâm sự bất lực, sự day dứt về trách nhiệm cộng đồng trong cây bút, mộtkhi không đủ sức cầm thanh kiếm, hoặc thanh kiếm trong tay họ trở nên bấtlực vì một lí do nào đó Truyền thống ấy được Thơ mới tiếp nhận một cách tựnhiên Việc tìm đến một nơi nào đó để tạo ra một nỗi an ủi trong tâm hồn bấtlực của mình trong Thơ mới: một tháp chăm, một dòng tràng giang, một mảnhvườn xưa, một ông đồ hay một khách chinh phu, một thành quách cũ của ChếLan Viên, Huy Cận, Quách Tấn, Thanh Tịnh, Vũ Đình Liên…, trên mộtphương diện nào đó, có những nét tương đồng với những tâm sự của Đỗ Phủ,Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến… trong văn chương cổ, ở chừng mực nào đó,
có thể thấy chất “cô trung” phảng phất Ở đấy vừa có sự tương đồng loại hình
Trang 34(những điểm tương đồng trong tình thế bi đát của thực tại) vừa mang tínhcách của yếu tố di truyền thể loại.
Trên những bình diện cụ thể, có thể thấy, Thơ mới vẫn có những điểm
kế thừa những di sản của văn chương cổ - trung đại Một số cái tôi thơ mới có
vẻ như rất có ý thức về vai trò, trách nhiệm của cá nhân trước lịch sử, trướcthời cuộc Đấy là sự thể hiện khí phách anh hùng, chất tráng sĩ Hoàn toàn cóthể thấy điều đó trong ước vọng của những hiệp khách giang hồ, những dũng
sĩ trong các truyền thuyết, các tích truyện, các tiểu thuyết cổ điển TrungQuốc, hoặc trong các truyện thơ, ngâm khúc của Việt Nam xưa Chúng ta thử
đọc lại bài Tống biệt hành của Thâm Tâm:
Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy Một giã gia đình một dửng dưng
- Li khách! Li khách! Con đường nhỏ Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
Ta biết người buồn chiều hôm trước Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay Giờ chưa mùa thu tươi lắm thay
Trang 35Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Bài thơ đã được nhiều người nói đến, và giá trị của nó đã được giớinghiên cứu đánh giá khá thống nhất Đấy là một trong những kiệt tác củaThơ mới, bởi sự độc đáo về cả tâm trạng, tư tưởng và cả những dấu hiệuthi pháp Đây là một bài hành nói về tâm trạng của một người ra đi Vàmặc dù nội dung tác phẩm không nói rõ người ấy ra đi vì cớ gì ngoài haichữ “chí lớn”, nhưng có lẽ người đọc trước sau đều ngầm hiểu người đi tự
ý thức một trách nhiệm nào đó rất nặng nề đối với cộng đồng Và ý thứctrách nhiệm của nhân vật trữ tình đối với cộng đồng lại càng thấm thíahơn khi thể hành cùng không gian thơ cho ta thấy tâm trạng, tình thế củamột người chinh phụ, một Kinh Kha, Dự Nhượng…, một tấm lòng quyếttâm và hoài bão
Không gian ấy, tâm sự ấy, ý chí ấy cũng xuất hiện trong thơ Thế Lữ:
Ta là một khách chinh phu Dấn bước truân chuyên khắp hải hồ
Mũ lợt bốn trời sương nắng gội Phong trần quen biết mặt âu lo
Vất vả bao từng, chi xá kể?
Gian lao như lửa rèn tâm chí Bấy lâu non nước mải xông pha Chưa phút dừng chân, chưa lúc nghỉ
Trang 36… Đang độ nam nhi vui trẻ hoài Sầu tư bi thiết gác bên tai Trái tim chỉ rộn khi căm tức Ghét lũ vô nhân, giận nỗi đời
…
Ta đi theo đuổi bước tương lai
Để lại bên sông kẻ ngậm ngùi Chí nặng bốn phương trời nước rộng
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.
(Tiếng gọi bên sông) Dường như cùng nằm trong trường nghĩa với Tống biệt hành, Tiếng
địch sông Ô, Tiếng gọi bên sông là bản nhạc lòng của một khách chinh phu,
một người ra đi vì nghĩa lớn, vì trách nhiệm với cộng đồng, một người trai mà
“Trái tim chỉ rộn khi căm tức/ Ghét lũ vô nhân, giận nỗi đời” Chúng ta biếtrằng, Thế Lữ ngay từ những buổi đầu mới xuất hiện, đã cho thấy một tấm
lòng với cộng đồng Bài Nhớ rừng là một bài thơ hay của ông, cho thấy nỗi
căm hận của một người biết tự trọng, biết thương yêu và khao khát tự dotrong hoàn cảnh mất nước, “bị giam cầm, tù hãm”
Ngoài ra, cũng như việc ca ngợi những tấm gương tiền nhân trong vănthơ cổ, ý thức trách nhiệm với cộng đồng trong Thơ mới còn là sự bày tỏ tấmlòng ngưỡng mộ, sự tụng ca hay cảm thông, chia sẻ đối với những tấm gươnganh hùng, những người có chí lớn, những người dám hi sinh hạnh phúc cánhân của mình cho sự nghiệp chung Những bà Trưng, Huyền Trân côngchúa, Phan Bội Châu hoàn toàn xứng đáng được các nhà thơ mới ca tụng,cũng như các bậc tiền bối đã ca tụng những tấm gương sáng của họ
Vậy là đã thực sự có một ý thức trách nhiệm kiểu truyền thống đối vớicộng đồng trong Thơ mới Ý thức trách nhiệm ấy có nhiều dạng thức biểu
Trang 37hiện khác nhau: quay về với những giá trị truyền thống, hành động với khíphách anh hùng, với tâm tình tráng sĩ, ca ngợi những người tận hiếu chocộng đồng…
1.3.2 Quan niệm mang tính cổ điển về bản lĩnh con người trong thế giới
Như đã nói ở trên, trong văn học phương Tây, ngay từ thời cổ đại, conngười cá nhân đã xuất hiện Đặc biệt đến thời phục hưng, cái tôi cá nhân cómặt một cách tự giác, tự tin bề thế Cái đáng nói đến trong thời đại phục hưng
là chủ nghĩa nhân văn Nó đã đem lại nhiều quan niệm mới mẻ, góp tiếng nóimới vào trong văn học Chủ nghĩa nhân văn đề cao con người, coi con người
là trung tâm của vũ trụ, là thực thể tồn tại đẹp đẽ nhất của muôn loài Đây lànhận thức mới Chính vì ý thức được nó, chủ nghĩa nhân văn thời phục hưng
là sự giải phóng con người khỏi sự ràng buộc trong xã hội Trên cơ sở đó conngười có điều kiện vươn lên sáng tạo ra những giá trị văn hóa mà cho đến nayvẫn còn giá trị
Ở Việt Nam, trong phạm vi văn hóa, sự ý thức về cái tôi, bản lĩnh conngười trong thế giới hơi muộn màng Nhưng khi Thơ mới ra đời đánh dấu mộtbước ngoặt mới trong tư duy nghệ thuật của con người Khác với con ngườitrong thơ cổ, con người Thơ mới tách ra khỏi tự nhiên, tách ra khỏi cộngđồng xét ở phần cơ bản nhất Lúc này, con người ý thức về bản thân như làchủ thể quan hệ với thiên nhiên và xã hội như là khách thể, như là đối tượngtác động của mình Có thể nói rằng, chưa bao giờ như trong thơ mới bản lĩnh
con người trong thế giới được khẳng định như thế: “Chưa bao giờ người ta
thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu” [9, 34] Thơ mới lãng
mạn ra đời cũng mang theo một cái tôi cá nhân, một cái tôi cá thể hóa trong
Trang 38cảm xúc và thẩm mỹ Trong một chừng mực nào đó, cái tôi trong Thơ mới
đã nói lên được một nhu cầu về mặt tình cảm, phát huy bản ngã, tự do cánhân, khẳng định bản lĩnh con người trong thế giới Đây là kết quả của sựgặp gỡ giữa Thơ mới và văn học phương Tây Chính sự giải phóng đó làmcho thế giới nội tâm của con người được khám phá, mở rộng và ngày càngphong phú thêm lên Nó góp phần tạo ra nhiều phong cách độc đáo, đa dạngtrong Thơ mới
Tuy nhiên, bởi sợi dây truyền thống không thể mất hẳn trong vănchương cũng như không thể mất hẳn trong Thơ mới, nên dù có thể hiện bảnlĩnh cá nhân theo cách của thời đại chữ tôi, đây đó vẫn còn thấy thấp thoánghình ảnh của những cá nhân theo kiểu con người cá nhân trong văn học cổ -trung đại Theo quan điểm nghiên cứu loại hình học, về cơ bản, trong văn thơbác học cổ, con người cá nhân thực sự ít phổ biến Tuy nhiên, sự khẳng địnhbản lĩnh, bản ngã của những cá nhân trong khuôn khổ các phạm trù đạo đứctruyền thống vẫn xuất hiện, thậm chí là một nét độc đáo, tiêu biểu Chúng ta
đã thấy, ngay trong văn học Việt Nam, những hình tượng tác giả lừng lữngvới bản ngã của mình, thể hiện trong khát vọng khẳng định tầm vóc, ở sựnghiệp kinh bang tế thế, hoặc khát vọng thâu nhận vào trong mình mọi tinhtúy của cuộc sống Lịch sử văn học dân tộc đã từng chứng kiến một PhạmNgũ Lão “hoành sóc giang san káp kỉ thâu”, vậy mà vẫn “tu thính nhân gianthuyết Vũ Hầu”; một Trương Hán Siêu “Sớm gõ thuyền chừ nguyên tương/Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt/ Cửu giang ngũ hồ tam Ngô Bách Việt… ĐầmVân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều/ Mà tráng sĩ bốn phương vẫncòn tha thiết” Tinh thần ấy, ý chí ấy không chịu tắt lụi trong Thơ mới vậynên, bên cạnh khát vọng khẳng định, giải phóng bản ngã con người hiện đại,kiểu “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta”,hay “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trămnăm”… thì vẫn còn đó một chí nguyện khẳng định bản ngã kiểu tráng sĩ
Trang 39truyền thống trong thơ Thâm Tâm, thơ Thế Lữ… Và đây là tâm thế ta đã từnggặp trong thơ Lí Bạch, phú của Trương Hán Siêu, thơ Nguyễn Trãi:
Lại chơi hòn non nước Chẳng mọc cánh mà bay Bạn bè thôi bỏ hết
Ngất ngưởng vọng hải đài Ngó lên trời xanh ngắt:
Cheo leo quán sông Ngân Phải chăng chàng Lí Bạch Ngồi chuốc chén đêm ngày
… Đứng trên Vọng Hải đài Ngỡ tới Hoàng Hạc Lâu Tuyệt thay hòn non nước Hồn Thôi Hiệu ở đâu?
(Ngũ Hành sơn, hậu Bích Khê)
Kiểu thi sĩ - tráng sĩ, thi sĩ với khát vọng tiêu dao, bầu rượu túi thơngắm trời mây, non nước trong Thơ mới vừa dẫn trên đây chính là hậu duệcủa những kiểu thi sĩ truyền thống mà chúng ta có thể thấy trong thơ Đường,Tống, trong thơ Việt Bên cạnh đó, trong Thơ mới chúng ta còn có thể thấykiểu thi sĩ tài tử - cuồng phong, cũng là kiểu nhà thơ ta thường chỉ thấy trongvăn chương cổ điển - kiểu Lí Bạch, Cao Bá Quát Nói đến kiểu thi sĩ nàytrong Thơ mới có lẽ không thể không nói đến Vũ Hoàng Chương
Lâu nay người ta vẫn biết đến Vũ Hoàng Chương như một tác giả tiêubiểu của “trường phái” thơ say trong Thơ mới Trước đây tác giả này đã từng
bị phê phán, đả kích khá nặng nề khi người ta đồng thời phê phán Thơ mới
Và, có lẽ bởi phần nào chìm đắm vào ái tình, vào những cơn say tưởng chừng
vô vọng, cùng sự xuất hiện của những biểu tượng, những chi tiết ít nhiều
Trang 40mang tính trụy lạc trong thơ mà người ta nhiều khi còn e dè trong việc khẳngđịnh tác giả này Tuy nhiên, nếu xuất phát từ một điểm thật sâu xa và với cáinhìn độ lượng, chúng ta thấy phía trong của sự “trụy lạc” ấy là một cốt cáchđáng khâm phục và một số phận bi đát Cũng như những thi sĩ tài tử trong vănchương cổ, Vũ Hoàng Chương hẳn từng nếm mùi thất bại, mùi bi kịch bởinhìn thấy mâu thuẫn giữa khát vọng và hiện thực trong đời sống cá nhân
mình Điều này được tác giả gửi gắm trong bài Ngoài ba mươi tuổi:
Nằm say, nhựa tỏa cảnh siêu siêu Giường thấp, nghe rơi xuống tịch liêu
Sự nghiệp, nào đâu? Trưa, nắng xế.
Hoa phai thề ước, lá tàn yêu Ngoài ba mươi tuổi, duyên còn, hết?
Một ván cờ thua, ngả bóng chiều.
Ai khóc đời ai trên bấc lụi?
Đây mùa thu sớm lửa dần thiêu.
Bài thơ trên cho thấy tâm sự của một người, bên cạnh những mất mát,thiệt thòi trong tình cảm cá nhân, cụ thể là tình yêu, tình duyên, còn là nỗithất vọng về công danh, sự nghiệp Đây là tâm trạng rất điển hình trong vănchương cổ điển, nơi con người luôn ý thức một cách riết róng về nợ côngdanh, về chí nam nhi Vậy nên, dù đã múa giáo non sông trải mấy thu, và dù,
sự thực là đã lập rất nhiều chiến công, nhưng Phạm Ngũ Lão vẫn ôm lòngthẹn bởi nợ công danh chưa trả hết Đến như Đặng Dung thì nỗi hổ thẹn ấytrở thành nỗi hận Rồi Nguyễn Hữu Chỉnh, rồi Phạm Thái, rồi Cao BáQuát… tất cả những con người ấy đều mang trong mình khát vọng nhưnhững thứ tội nợ
Bất đắc chí, không thỏa được khát vọng làm một điều gì đó để khẳngđịnh bản lĩnh, giá trị của mình, việc trở nên sầu bi, mượn rượu, mượn trà đểquên đi tâm sự chát chua trong lòng là điều không khó hiểu Ấy vậy nên Tú