Nghiên cứu Thơ mới trong bối cảnh văn hóa xã hội mà nó ra đời để thấy rằng đổi mới văn học là một nhu cầu bức thiết và sự hình thành, vận động củacái tôi trữ tình; sự đổi mới về thể thơ,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN ĐỨC MINH
NHỮNG ĐỔI MỚI CỦA THƠ MỚI LÃNG MẠN
1932 – 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN ĐỨC MINH
NHỮNG ĐỔI MỚI CỦA THƠ MỚI LÃNG MẠN
1932 – 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ LOẠI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: Mã số: 60.22.01.21
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Văn Đức
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của PGS TS Hà Văn Đức Các nội dung nghiên cứu và
các kết quả trong đề tài này là hoàn toàn trung thực và chưa công bố dưới bất
cứ hình thức nào trước đây Những dẫn chứng phục vụ cho việc so sánh, phântích được chính tác giả luận văn thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõtrong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các nhànghiên cứu đi trước đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nộidung luận văn của mình
Hà Nội, ngày 3 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Hà Văn Đức, người
thầy đã hướng dẫn tận tình, đưa ra những định hướng, góp ý, nhận xét trongsuốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Văn học, trườngĐại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc Gia Hà Nội tham giagiảng dạy các môn học trong chương trình đào tạo Thạc sĩ Văn học đã cungcấp kiến thức nền tảng cho luận văn
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã luônđộng viên, hỗ trợ và tạo động lực cho tôi trong quá trình tham gia chươngtrình học
Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn học viên lớp cao học Văn học
K58-2013 đã cùng tôi trao đổi, chia sẻ các kiến thức trong quá trình cùng học tập
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Minh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: THƠ MỚI LÀ SẢN PHẨM TẤT YẾU CỦA TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM 6
1.1 Bối cảnh ra đời Thơ mới 6
1.1.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị 6
1.1.2 Bối cảnh văn hóa xã hội 7
1.2 Thơ mới ra đời như một sản phẩm tất yếu của tiến trình hiện đại hóa văn học 9
1.2.1 Đổi mới văn học là nhu cầu bức thiết 9
1.2.2 Thơ mới là sản phẩm tất yếu của tiến trình hiện đại hóa văn học 11
Chương 2: NHỮNG ĐỔI MỚI CỦA THƠ MỚI LÃNG MẠN 1932 – 1945 TRÊN PHƯƠNG DIỆN THỂ THƠ, CÂU THƠ 15
2.1 Sự cách tân các thể thơ truyền thống 16
2.1.1 Từ thể thất ngôn trong thơ truyền thống đến thơ 7 tiếng trong Thơ mới 16
2.1.2 Những biến đổi của thể thơ 8 tiếng 24
2.1.3 Sự cách tân của thể thơ 5 tiếng 27
2.1.4 Những đổi mới của thể lục bát trong Thơ mới 29
2.2 Những thể nghiệm mới 34
2.2.1 Thơ tự do 34
2.2.2 Những dạng thức biểu đạt mới 36
Trang 6Chương 3: NHỮNG ĐỔI MỚI CỦA THƠ MỚI LÃNG MẠN 1932 – 1945
TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ THƠ 42
3.1 Qúa trình chuyển hóa từ thơ trữ tình điệu ngâm sang thơ trữ tình điệu nói 42
3.1.1 Những tiền đề thẩm mĩ 42
3.1.2 Sự xuất hiện của một thi pháp thơ mới 44
3.2 Sự năng động của ngôn ngữ thơ ca tiếng Việt 53
3.2.1 Tăng cường khả năng biểu đạt và giá trị biểu cảm 53
3.2.2 Nhạc tính trong ngôn ngữ thơ 57
3.3 Khuynh hướng lạ hóa trong ngôn ngữ thơ 59
3.4 Sự trở về với ngôn ngữ thơ truyền thống 61
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ mới là một phong trào, một trào lưu lớn trong văn học Việt Nam thế
kỉ XX Những thành tựu của Thơ mới không chỉ là minh chứng sống độngcho những biến cải lớn lao của cả một thời đoạn văn học mà đến lượt mình,chính Thơ mới đã tạo ra những tiền đề và động lực cho sự phát triển sau nàycủa thơ ca hiện đại Việc nghiên cứu Thơ mới cũng trải qua nhiều thăng trầmnhư chính đối tượng mà nó tiếp cận Cho đến nay, vấn đề tiếp cận Thơ mớinhư là đối tượng của văn học sử và lý luận văn học đã có một lịch sử nghiêncứu dày dặn Việc giới thiệu, phê bình Thơ mới đã có từ trước năm 1945 vớicác bài diễn thuyết, “bút chiến” trên một số báo, tạp chí và một số công trìnhđáng chú ý Tuy nhiên, có thể nói từ 1986 đến nay, các bài viết, công trìnhnghiên cứu, chuyên luận về Thơ mới thực sự nở rộ Các công trình trên tiếpcận về tác phẩm, tác giả hay toàn bộ phong trào Thơ mới từ nhiều góc độkhác nhau như thi pháp hay mối quan hệ văn hóa – văn học
1.2 Việc nghiên cứu về thể loại Thơ mới đã được đề cập trong một số bài viết
tuy nhiên vấn đề nghiên cứu những đổi mới về khía cạnh nghệ thuật của Thơmới lãng mạn 1932-1945 nhìn từ phương diện thể loại chưa được tập hợptrong một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh Nghiên cứu Thơ mới lãng mạn1932-1945 với những đổi mới nghệ thuật nhìn từ phương diện thể loại trongmột cái nhìn bao quát cả chặng đường lịch sử từ khi Thơ mới bắt đầu hìnhthành, phát triển cho đến khi phân hóa và kết thúc là một đề tài khoa học vừa
có nghĩa lý luận vừa có giàu tính thực tiễn
1.3 Nghiên cứu Thơ mới trong bối cảnh văn hóa xã hội mà nó ra đời để thấy
rằng đổi mới văn học là một nhu cầu bức thiết và sự hình thành, vận động củacái tôi trữ tình; sự đổi mới về thể thơ, ngôn ngữ thơ là một xu thế tất yếu trongtiến trình hiện đại hóa thơ ca nói riêng và văn học nói chung Hướng nghiêncứu này sẽ giúp chúng ta đặt đối tượng trong một tương quan rộng với cái
Trang 8nhìn bao quát để tiến tới nhận diện, lí giải các đặc điểm, yếu tố cấu thành củatừng chặng đường Thơ mới với những thành công và cả hạn chế của nó so vớinhững thể loại thơ truyền thống trước Thơ mới và những hình thức thơ ca sauThơ mới Đây chính là những tiền đề để tiến tới việc phác thảo tiến trình hiệnđại hóa thơ ca dân tộc qua một lát cắt đó là Thơ mới với một cái nhìn kháchquan, khoa học.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Trước năm 1945
Bài thơ Tình già của Phan Khôi được đăng trên tờ Phụ nữ tân văn vào
ngày 10 tháng 3 năm 1932 đã đánh dấu sự ra đời của phong trào Thơ mới.Đây cũng là giai đoạn có những nghiên cứu đầu tiên về Thơ mới Ngoài việc
liên tục in Thơ mới, các báo ở cả miền Bắc và miền Nam như Phụ nữ tân văn,
Phong hóa… đã cho đăng các bài “bút chiến” tranh luận thơ cũ – Thơ mới
cũng như một số bài giới thiệu, phê bình Thơ mới Ngoài các tác phẩm đượcxuất bản, đăng báo, các tác giả Thơ mới như: Phan Khôi, Thế Lữ, Lưu TrọngLư…, đều bày tỏ thái độ hưởng ứng Thơ mới Ngoài ra, các nhà nghiên cứu:Hoài Thanh, Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan, Lương Đức Thiệp, Dương QuảngHàm, Kiều Thanh Quế…, cũng đưa ra những ý kiến của mình thông quanhững bài trả lời qua lại trên các báo Thời kỳ này có một số công trình dài
hơi đáng chú ý là: Việt Nam thi ca luận (Lương Đức Thiệp), Thi nhân Việt
Nam (Hoài Thanh, Hoài Chân), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm) Các công trình trên đã manh nha đề cập
đến những đổi mới nghệ thuật của Thơ mới lãng mạn 1932-1945 trên phươngdiện thể loại ở việc phân biệt giữa thơ cũ – Thơ mới
2.2 Từ 1945 đến 1975
2.2.1 Miền Bắc
Các nghiên cứu về Thơ mới thời kỳ này không nhiều, chủ yếu đứngtrên quan điểm xem Thơ mới là tiêu cực, ủy mị, thiếu ý chí đấu tranh Ở góc
Trang 9độ phê phán, các ý kiến của Hoài Thanh trong tập Nói chuyện thơ kháng
chiến; Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn học Việt Nam hiện đại 1930 – 1954 của Vũ Đức Phúc; Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật của Hồng Chương… nhìn nội dung Thơ mới, cái tôi trữ tình cá
nhân trong Thơ mới chưa thật sự khách quan
Ba công trình tiêu biểu viết về Thơ mới thời kì này là: Phong trào “thơ
mới” 1932 – 1945 của Phan Cự Đệ (1966); Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức (1969); Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức (1974) Các tác giả đã lưu tâm
và nghiên cứu đến mặt hình thức của Thơ mới Các công trình trên đã ít nhiều
đề cập đến vấn đề thể loại của Thơ mới
2.2.2 Miền Nam
Nghiên cứu Thơ mới ở miền Nam thời kì này diễn ra khá sôi nổi Các
công trình tiêu biểu: Một thời lãng mạn trong thi ca Việt Nam của Hà Như Chi (1958); Việt Nam thi nhân tiền chiến của Nguyễn Tấn Long (1966); Bảng
lược đồ văn học Việt Nam: Ba thế hệ của nền văn học mới 1862-1945 – 2 tập
của Thanh Lãng (1967); Từ thơ mới đến thơ tự do của Bằng Giang (1969)…
Từ những nghiên cứu này, vấn đề tiếp cận Thơ mới từ phương diện thể loại đãdần được hé mở
2.3 Từ 1975 đến nay
Có thể nói đây là thời kì nở rộ của lịch sử nghiên cứu Thơ mới, đặc biệt
là từ khi đất nước bước vào thời kì đổi mới (1986) Một số công trình có liên
quan đến vấn đề thể loại của Thơ mới: Thơ mới nhìn từ góc độ của cái tôi của
Đỗ Lai Thúy; Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành; Thơ mới những bước thăng trầm của Lê Đình Kỵ; Văn chương, tài
năng và phong cách của Hà Minh Đức;… Các công trình này đã đề cập đến
một số khía cạnh hình thức như: thể thơ, ngôn ngữ thơ Ở một số công trìnhkhác, trong quá trình nhận diện phong cách riêng của các nhà thơ trong phong
Trang 10trào Thơ mới, các tác giả đã ít nhiều đề cập đến vấn đề thể loại của Thơ mới:
Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên của Hồ Thế Hà; Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử của Chu Văn Sơn… Ngoài ra, các
tuyển tập, báo và tạp chí khoa học (Tạp chí Nghiên cứu Văn học) là nơi đăng
tải khá nhiều bài viết về cuộc đời tác giả, về Thơ mới và sự vận động của nó.Đáng chú ý là các bài viết của Trần Đình Sử, Mã Giang Lân, Vũ Tuấn Anh,Lưu Khánh Thơ, Lê Quang Hưng, Trần Nho Thìn, Lê Tiến Dũng, Phan HuyDũng, Nguyễn Đức Mậu… Đặc biệt, năm 2012, nhân dịp kỉ niệm 80 nămphong trào Thơ mới, nhiều hoạt động khoa học đã diễn ra trên phạm vi cả
nước Đáng chú ý là Hội thảo: Thơ mới và Tự lực văn đoàn, 80 năm nhìn lại
và Tọa đàm 80 năm phong trào Thơ mới thu hút được sự quan tâm của rất
nhiều học giả Vấn đề hình thức Thơ mới nhìn từ phương diện thể loại được
đặt ra trong một số bài viết của Trần Đình Sử: Mấy vấn đề thi pháp Thơ mới
như là một cuộc cách mạng trong thơ Việt; Hà Minh Đức: Thơ tình trong phong trào Thơ mới 1932 – 1945; Đỗ Lai Thúy: Thơ mới, thành công và thất bại của thành công…
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến việc mô tả, lý giải và khẳng định: Thơ mới cónhững đổi mới sâu sắc về mặt hình thức thơ trên phương diện thể loại so vớinhững hình thái thơ trước Thơ mới Qua đó nêu lên ý nghĩa của sự đổi mới đótrong tiến trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Những đổi mới của Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 nhìn từ phươngdiện thể loại bao gồm cả những yếu tố nội dung và hình thức Trong khuônkhổ luận văn của mình, chúng tôi chỉ dừng lại khảo sát những đổi mới về mặt
Trang 11hình thức của Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 trên hai phương diện cơ bản:Những đổi mới của thể thơ, câu thơ; Những đổi mới của ngôn ngữ thơ.
Văn bản khảo sát chính của luận văn là tuyển tập Thơ mới 1932 –
1945, Tác giả và tác phẩm (NXB Hội Nhà văn, 2001).
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu loại hình; phương pháp lịch sử xã hội
Thao tác: thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp…
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nộidung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thơ mới là sản phẩm tất yếu của tiến trình hiện đại hóa văn
học Việt Nam.
Chương 2: Những đổi mới của Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 trên
phương diện thể thơ, câu thơ.
Chương 3: Những đổi mới của Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 trên
phương diện ngôn ngữ thơ.
Trang 12Chương 1 THƠ MỚI LÀ SẢN PHẨM TẤT YẾU CỦA TIẾN TRÌNH
HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM
Văn học hiện đại là khái niệm được hiểu theo quan niệm đối sánh với
hình thái văn học trung đại, có nghĩa là chỉ một kiểu văn học khác thoát khỏi
hệ thống thi pháp văn học trung đại đã tồn tại 10 thế kỉ trước đó Sang thế kỉ
XX, nền văn học Việt Nam phát triển theo xu hướng hiện đại hóa: “Hiện đạihóa được hiểu là quá trình làm cho văn học thoát khỏi hệ thống thi pháp vănhọc trung đại và đổi mới theo hình thức văn học phương Tây, có thể hội nhậpvới nền văn học hiện đại thế giới” [5, tr 83] Là một hiện tượng văn hóa –lịch sử, sự xuất hiện của Thơ mới với tư cách một trào lưu văn học gắn liềnvới những tiền đề sâu xa trong đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa của xãhội Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945
1.1 Bối cảnh ra đời Thơ mới
Xã hội Việt Nam trong 45 năm đầu thế kỉ XX, đặc biệt là giai đoạn
1932 – 1945 biến đổi theo hướng hiện đại trên tất cả các phương diện: kinh tế,chính trị và văn hóa xã hội
1.1.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị
Biến động chính trị xã hội những năm đầu thế kỉ XX đã tạo nên mộtcộng đồng tiếp nhận mới Sau Đại chiến Thế giới thứ nhất, công cuộc khaithác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp diễn ra ồ ạt, tốc độ đô thị hóatăng nhanh, tầng lớp tư sản và tiểu tư sản phát triển Điều đó đã làm thay đổi
cơ cấu tổ chức xã hội nước ta Đồng thời, cùng với sự phổ biến của báo chí vàchữ quốc ngữ, xã hội Việt Nam thời kì này đã xuất hiện một thế hệ sáng tácmới, một cộng đồng tiếp nhận hoàn toàn khác với thời trung đại Đó là nhữngđối tượng đến với văn học không phải để tìm một tiếng nói tri âm, tỏ chí, tỏ
Trang 13lòng mà họ coi văn học là một phương tiện để giải phóng tình cảm, để khámphá bản thân và để giải trí Cộng đồng này đa số là cư dân thành thị, đượcgiáo dục trong nhà trường của Pháp, biết chữ quốc ngữ và tiếng Pháp, chịuảnh hưởng nhất định của nền văn hóa phương Tây Họ hầu như bị cắt đứt vớinền văn hóa truyền thống của bản địa bởi chính sách giáo dục lấy Tây họcthay cho Hán học của chính quyền thực dân Văn hóa phương Tây xâm nhậpvào mọi ngõ ngách trong đời sống sinh hoạt và tâm hồn của họ, nói như Hoài
Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam:
Chúng ta ở nhà Tây, đội mũ Tây, đi giày Tây, mặc áo Tây… Nói làm sao xiết những điều thay đổi về vật chất phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta… Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ và có ngày ta sẽ thấy nó thay đổi cả quan niệm của phương Đông Những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư tưởng mới [48, tr 16]
Cảm quan mới về vũ trụ, thị hiếu thẫm mĩ mới của cộng đồng này đãtrở thành động lực mới khiến cho văn học, trong đó có thơ ca không thểkhông thay đổi
1.1.2 Bối cảnh văn hóa xã hội
Những chính sách của thực dân Pháp và sự xâm nhập của nền văn hóaphương Tây cũng tạo nên một nhân tố mới trong hoạt động văn học: các chủthể sáng tác mới Chính sách dùng Tây học thay cho Hán học của thực dânPháp đã tạo nên một tầng lớp trí thức mới Nhờ tiếp xúc trực tiếp với nền vănhóa Pháp bằng tiếng Pháp và qua dịch thuật, một hoạt động phát triển rấtmạnh thời bấy giờ, những người cầm bút của giai đoạn văn học này có một
“phông” văn hóa hoàn toàn khác với chủ thể sáng tác của giai đoạn trước
Qua Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, tủ sách Âu Tây tư tưởng,…
nhiều tác phẩm của La Fontaine, Molie, Balzac, V Hugo, Lamartine,
Trang 14Baudelaire, Verlaine, Mallarmé, Gide…, đã được giới thiệu vào Việt Nam.
Tư tưởng Khai sáng của Rouseau, triết học của Nitso… cũng được biết đến.Dịch thuật đã trở thành một trạm trung chuyển, khiến cho chủ thể sáng tácgiai đoạn này có ý thức về một nền văn học thế giới và một phương pháp sángtác khác Lần đầu tiên, giới trí thức Việt Nam biết đến những trào lưu văn học
đã phát triển rộng khắp ở mọi nơi trên thế giới: phong trào Phục hưng, phongtrào Khai sáng, trào lưu lãng mạn chủ nghĩa, chủ nghĩa tượng trưng, chủnghĩa siêu thực, trào lưu hiện thực chủ nghĩa Người ta không chỉ biết đến vănhọc Pháp mà còn được tiếp xúc với văn học Nga, văn học Anh… Điều quantrọng nhất mà sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây mang lại là nó làm thayđổi thế giới quan và nhân sinh quan của lực lượng sáng tác Nói như Hoài
Thanh, một nguồn cảm xúc mới, dào dạt chưa từng có ở chốn nước non lặng
lẽ này đã đòi hỏi phá tung những ràng buộc của niêm luật thơ ca truyền thống.
Yếu tố tiếp theo tạo tiền đề thúc đẩy nhu cầu cách tân thơ ca đó là sự rađời và phát triển mạnh mẽ của một phương tiện phổ biến tác phẩm mới: báochí và các nhà xuất bản Tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ mở đầu cho nền
báo chí Việt Nam là tờ Gia Định báo ra mắt ngày 14 tháng 5 năm 1865 tại Sài Gòn Năm 1893, Đại Nam đồng văn nhật báo ra đời, là tờ báo đầu tiên bằng chữ Hán Năm 1913, tờ Đông Dương tạp chí do Scheneider làm chủ nhiệm,
Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, là tờ báo đầu tiên hoàn toàn bằng chữ quốcngữ Ngày 13/7/1917, chánh mật thám Đông Dương Louis Marty đứng tên
sáng lập và cho xuất bản số đầu tiên Nam phong tạp chí do Phạm Quỳnh làm
chủ bút Bắt đầu từ năm 1920, ở Hà Nội đã thực sự có những tờ báo quốc ngữ
do người Việt chủ trương Như vậy là chỉ trong vòng mười năm, báo chí Việtbằng chữ quốc ngữ đã có những bước phát triển vượt bậc Sự phát triển mạnh
mẽ của báo chí thời kì này đã góp phần làm thay đổi một cách toàn diện vănhóa tinh thần của xã hội Đặc biệt, có thể nói, báo chí chính là môi trường
Trang 15hoạt động chính, là bệ đỡ cho văn học viết bằng chữ quốc ngữ thời kì đầu.
Những tờ báo như Phong hóa, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Bảy,… là nơi đăng
tải, cập nhật những tác phẩm văn học mới nhất, là diễn đàn của nhiều tranhluận học thuật và tư tưởng quyết liệt nhất, là nơi phát hiện và nuôi dưỡng cáctài năng văn chương ngay từ những buổi đầu chập chững trên văn đàn Chínhbáo chí với những lợi thế đặc thù của mình đã giúp cho văn chương có khảnăng chuyển tải và tác động một cách nhanh nhạy, mạnh mẽ, sâu sắc đếncộng đồng người đọc để tạo nên những cuộc cách mạng chưa từng có tronglịch sử dân tộc trên phương diện văn hóa tư tưởng
1.2 Thơ mới ra đời như một sản phẩm tất yếu của tiến trình hiện đại hóa văn học
Hiện đại hóa văn học là một thuật ngữ có nội hàm phức tạp Trongkhuôn khổ luận văn này, chúng tôi có sự đồng thuận cao với ý kiến của nhànghiên cứu Lê Ngọc Trà: “Hiện đại hóa được hiểu như là quá trình gia nhậpvào quỹ đạo chung của các nền văn học đã được quốc tế hóa như quá trình hộinhập vào dòng chảy của các nền văn học tiên tiến đương đại trên thế giới” [6,
tr 71]
Đối với nền văn học Việt Nam, quá trình hiện đại hóa được biểu hiệntrước nhất bằng việc đưa văn học thoát khỏi sự chi phối của thi pháp văn họctrung đại Qúa trình này diễn ra trong giai đoạn đầu thế kỷ XX và đặc biệtmạnh mẽ vào thời 1932 – 1945 trên tất cả các lĩnh vực của văn học, trong đó
có thơ ca và Thơ mới là một hiện tượng nổi bật, thu hút tinh hoa của cả mộtthời đại văn học
1.2.1 Đổi mới văn học là nhu cầu bức thiết
Nhìn lại thơ Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1932 ta thấy cùng với sựsuy tàn của Hán học, sự thất thế của các nho sĩ là sự bế tắc của lối thơ ngâmvịnh, thù tạc, sự trói buộc và sáo mòn của hình thức thơ Đường luật Nói về
Trang 16thơ ca giai đoạn này, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhận định: “Bước sangđầu thế kỷ XX, thơ ca công khai rơi vào tình trạng mất sức sống về nội dung
và nghèo nàn về hình thức” [27, tr 114] Một vài nhà thơ như Tản Đà, TrầnTuấn Khải trở về cái gốc của thơ ca dân tộc, nhất là thơ ca dân gian, nhưngkhông dễ tìm được lối ra Nhà thơ Tố Hữu trả lời một bạn thơ nước ngoàiMireille Gansel để nói về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX: “Ở nướcchúng tôi trong giai đoạn này, nhìn một cách nào đó thì thơ không tồn tại nữa,chỉ có những châm ngôn, những chữ có sẵn mượn ở Hán Văn” Thơ ca lúcnày vay mượn nhiều điển cố, điển tích trong thơ cổ, thậm chí cả hình ảnh củathơ ca nước ngoài, nhất là thơ ca Trung Quốc Có những điều chỉ riêng cótrên đất nước chúng ta nhưng trong thơ lại xuất hiện rất nhiều những hình ảnhgắn với người và cảnh Trung Hoa Tình trạng đó là một dấu hiệu đòi hỏi sựđổi thay Thơ ca trung đại đã ở vào giai đoạn mạt kỳ và rộng hơn, nếp thẩm
mỹ xưa cũ của hệ tư tưởng và văn hóa phong kiến đang đòi hỏi sự thay thế
Trong bối cảnh suy thoái và bế tắc ấy, nhu cầu cách tân văn học nóichung cũng như thơ ca nói riêng là một nhu cầu tự thân Khi hình thức thơ catruyền thống không đủ sức truyền tải cảm thức mới mẻ của con người trướcmột cánh cửa mới đang bắt đầu mở ra, khi bản thân người sáng tác cũng đang
cố hết sức để tìm được một lối thoát cho thơ ca, đổi mới lúc này là một vấn đềbức thiết và tất yếu của văn học Việt Nam Tuy nhiên, những nỗ lực của cácnhà thơ cũ với những đại diện xuất sắc như Tản Đà, Trần Tuấn Khải vẫnkhông đủ để làm nên cuộc cách mạng Mà nhu cầu cách tân thi ca xuất phát từnguyên nhân sâu xa hơn của nhu cầu đổi mới văn học, trong đó có thơ ca,chính là sự biến đổi của đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa do cuộc xâm lượccủa thực dân và chế độ thuộc địa đem lại Những nhân tố mới trong đời sống
xã hội nảy sinh và ngày càng phát triển Lớp công chức, viên chức, học sinh,sinh viên hình thành một thế hệ mới của công chúng văn học Họ mang sức
Trang 17sống của tuổi trẻ, không chịu ảnh hưởng nặng nề của lễ giáo phong kiến, đượctiếp thu văn hóa phương Tây một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nên nếp tư duy
và thẩm mỹ của họ cũng đổi mới Nhà thơ Lưu Trọng Lư nhận xét: “Các cụ ta
ưa những màu đỏ chót, ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vìmột tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một
cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho làmát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái tình của các cụ thì chỉ là sựhôn nhân nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tìnhthoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình giây phút, cái tình ngànthu” Sự xuất hiện lớp công chúng mới ở thành thị với nhu cầu thẩm mĩ mớinày đòi hỏi văn học phải thay đổi để đáp ứng Họ cũng đồng thời là một chủthể sáng tác mới, một cộng đồng tiếp nhận mới với hình thức phổ biến tácphẩm mới và một phương pháp sáng tác mới như đã trình bày ở trên
1.2.2 Thơ mới là sản phẩm tất yếu của tiến trình hiện đại hóa văn học
Sự xuất hiện của Thơ mới nói như nhà nghiên cứu Phong Lê là một
“sắp xếp của lịch sử, một định mệnh, không thẻ khác” Chỉ đến thời điểm đómới có Thơ mới và về sau đó, Thơ mới không còn nữa khi tất cả đều đượcchuyển vào quỹ đạo của một nền thơ cách mạng Nhận định này hoàn toàn cóthể được chứng minh khi nhìn lại quá trình hình thành từng bước xác lập vị trícủa Thơ mới Nhu cầu thẩm mĩ của lớp công chúng thành thị chưa tìm thấy sựthỏa mãn ở thi ca đương thời đòi hỏi thơ ca lúc này phải làm một cuộc cáchmạng Ngay những nhà thơ giao thời của hai thế kỉ như Tản Đà cũng đã ýthức được nhu cầu cách tân Có thể nói, những tìm tòi, vượt thoát khỏi hìnhthức thơ cũ đã có trước khi Thơ mới xuất hiện Một số bài từ khúc của Tản Đànhư: Hoa rụng, Cảm thu, Tiễn thu… đã “phảng phất chút bâng khuâng, chútphóng túng của thời sau” (Hoài Thanh) Bài dịch Con ve sầu và con kiến từthơ La-phông-ten của Nguyễn Văn Vĩnh cũng là một thử nghiệm về hình thức
thơ mới Nhưng phải đến khi Phan Khôi đưa ra Một lối Thơ mới trình chánh
Trang 18giữa làng thơ đăng trên Phụ nữ tân văn số 122 ra ngày 10-3-1932, nhu cầu
làm một cuộc cách mạng về thi ca của công chúng yêu thơ mới thực sự đượcđánh thức Trong bài viết này, sau khi công kích và kết án thơ cũ một cáchnặng nề, Phan Khôi đã đề xuất một lối thơ mà ông đặt tên là Thơ mới: “Đem
ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bị bóbuộc bởi một niêm luật gì hết” và ông minh họa cho ý tưởng mới mẻ của
mình bằng bài thơ Tình già Người ta thường coi Tình già của Phan Khôi như
là sự mở đầu của Thơ mới bởi ở đó nói đến một kiểu tình yêu ngoài tình vợchồng mà là “nhân ngãi” (tức người tình) – đó là điều cấm kỵ đối với lễ giáophong kiến Mối tình chỉ là nhân ngãi đó với “hai mươi bốn năm xưa” và “haimươi bốn năm sau” mà đôi bạn tình gặp nhau vẫn còn nhận được ra nhau
“liếc đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi”… Cái mới đó, theo Hoài Thanh,khiến cho “số đông thanh niên trong nước bỗng thấy mở ra một góc trời vì cáitáo báo dấu diếm của mình đã được một bậc đàn anh trong văn giới côngnhiên thừa nhận” “Tiếng súng lệnh” của Phan Khôi đã làm dấy lên một cuộctranh luận cực kì quyết liệt trên diễn đàn văn học thời kì này: cuộc tranh luậngiữa Thơ mới và thơ cũ Lưu Trọng Lư là người đầu tiên hưởng ứng lời kêugọi của Phan Khôi và trực tiếp bày tỏ những lo lắng trước sự bế tắc của thi canước nhà
Thực tế là khi mới xuất hiện, Thơ mới hầu như chưa có hình hài cụ thể
Tình già của Phan Khôi chưa thực sự là một bài thơ xuất sắc nhưng nó cũng
đủ khuấy động văn đàn và nhận được sự ủng hộ nhiệt liệt của những trí thứcthế hệ mới Những cuộc diễn thuyết của Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư,
Đỗ Đình Vượng, Vũ Đình Liên, Trương Tửu liên tiếp xuất hiện Trên báo chíthường xuyên đăng tải những bài chỉ trích thơ cũ và bênh vực Thơ mới Báo
Phong hóa (số 4 ngày 22-9-1932), cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn
kếu gọi: “Bỏ luật, niêm, đổi, bỏ điển tích, sáo ngữ, nghĩa là tóm tắt, đừng bắtchước cổ nhân một cách nô lệ Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng”
Trang 19Bài báo của Phan Khôi sở dĩ làm dấy lên một phong trào đấu tranh sôinổi và quyết liệt như vậy bởi nó đã chạm vào nỗi bức xúc bấy lâu trước sựnhạt nhẽo và bế tắc của thơ ca, nó làm sống dậy nỗi khát khao được nói tiếngnói của lòng mình, được hòa mình vào quỹ đạo của văn chương hiện đại thếgiới trong tâm hồn thanh niên thế hệ mới Những bài Thơ mới đầu tiên củaPhan Khôi và Lưu Trọng Lư đã hé lộ một ánh sáng trên con đường dài củathơ ca, làm nhen lên một tia hi vọng, làm lóe sáng ý tưởng đầu tiên: muốn đổimới, trước hết phải phá bỏ niêm luật tù túng, phải giãi bày một cách thànhthật những cảm xúc của tâm hồn Ánh sáng hi vọng ấy tuy còn mong manh,con đường đổi mới thơ ca tuy còn đầy chông gai nhưng nó là những động lực
để làm thức dậy trong con người ta một niềm tin và ý chí đổi thay mãnh liệt.Lúc này, thơ mới không chỉ là tiếng nói của một số cá nhân tiêu biểu mà đó làkhuôn mặt tinh thần của cả một thế hệ xuất hiện trong một hoàn cảnh xã hộiđặc biệt Đó cũng là một hướng giải thoát bằng văn chương để bộc lộ tìnhcảm với quê hương đất nước, với cuộc sống qua nhiều cung bậc, sắc thái cảmxúc, tâm trạng khác nhau
Sự chống đỡ của phái thơ cũ càng làm cho không khí tranh luận quyếtliệt hơn nhưng sự yếu thế của những người bảo vệ thơ cũ càng củng cố thêm
vị trí niềm tin vào Thơ mới Từ trong cuộc tranh luận, Thơ mới được khẳngđịnh và ngày càng hoàn thiện, bước những bước vững chắc trên văn đàn đểtrở thành một hiện tượng thi ca độc đáo nhất trong lịch sử văn học dân tộc
Thơ mới ra đời vừa là nhu cầu nội tại của văn học – nhu cầu cách tânthơ ca khi thời đại đã thay đổi, vừa là sản phẩm của sự giao thoa văn hóa giữaphương Đông và phương Tây Quan trọng hơn, nó kết tinh trí tuệ, tâm hồncủa một thế hệ, một thời đại Thơ mới đã tạo ra một kiểu nhà thơ đặc trưngcủa thời đại Kiểu nhà thơ của Thơ mới là một hiện tượng lịch sử, một phạmtrù nghệ thuật mới Sự xuất hiện của cái tôi trữ tình cá nhân đã dần dầnchuyển thơ ca trung đại sang một loại hình thơ ca khác trước Thế hệ các nhàThơ mới có một quan niệm nghệ thuật thơ riêng Cho dù là những phát ngôn
Trang 20riêng lẻ của các nhà thơ nhưng vẫn mang ý nghĩa tuyên ngôn của cả một thế
hệ Kiểu nhà thơ này sẽ quy định toàn bộ hệ thống thi pháp Thơ mới, chi phốisáng tác từ đề tài đến hình tượng, cấu trúc và ngôn ngữ thơ
Cùng với sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật thi ca gắn với kiểunhà Thơ mới là một “nhãn quan thi pháp” mới Đó là những nguyên tắc hìnhthức bên trong của hình tượng, là hệ thống thi pháp cấu trúc nội tại của tácphẩm Sự xuất hiện của cái tôi mang hơi thở của thời đại làm thay đổi quanniệm về không gian và thời gian nghệ thuật Thơ mới phá vỡ không gian vũtrụ toàn khối để thiết lập nên một không gian cô lập, cô đơn Thời gian trongThơ mới không còn là thời gian theo chiều ước lệ vĩ mô (thiên thu, vạn đại…)
mà đó là thời gian cảm tính, mang dấu ấn của tâm trạng, cảm xúc Những đặcđiểm này đã tạo nên đặc trưng khác biệt của Thơ mới so với thơ trữ tình trungđại Hệ thống thi pháp mới là một động lực phát triển của Thơ mới trên conđường xác lập vị trí của mình trên văn đàn
Thơ mới đã thực sự tạo ra một bước ngoặt vô cùng quan trọng trongvăn học Việt Nam, đưa thơ ca Việt Nam tiến vào con đường hiện đại, bắt kịpvới con đường phát triển của thế giới và tạo nên tiền đề của sự phát triển thơdân tộc giai đoạn sau Nhìn rộng ra trong bối cảnh khu vực và quốc tế, sự rađời của Thơ mới Việt Nam cũng nằm trong quy luật tất yếu của sự vận độngtrong văn học phương Đông khi tiếp xúc với phương Tây Tương tự như vậy,
ở Trung Quốc, đặc điểm nổi bật nhất của Thơ mới là giải phóng cá tính,khẳng định cái tôi Con đường phát triển của Thơ mới Trung Quốc cũng đi từlãng mạn đến tượng trưng chủ nghĩa Sự tương đồng trong bước phát triển củacác nền văn học phương Đông này khẳng định thêm một điều: Thơ mớikhông hoàn toàn là sản phẩm của văn hóa phương Tây mà còn là kết quả tấtyếu của lịch sử Nó vừa là sự nỗ lực vươn lên của một nền văn học để bắt kịptầm quốc tế, vừa mang tính khu vực và đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 21Chương 2 NHỮNG ĐỔI MỚI CỦA THƠ MỚI LÃNG MẠN 1932 – 1945
TRÊN PHƯƠNG DIỆN THỂ THƠ, CÂU THƠ
Thể thơ, câu thơ là một yếu tố quan trọng thuộc về hình thức nghệ thuậtcủa tác phẩm trữ tình Nó mang trong mình những đặc trưng của thể loại, cóquan hệ hữu cơ với những nội dung được phản ánh đồng thời cho thấy kiểu tưduy và cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ cũng như những khuynh hướng, nhucầu thẩm mỹ và cơ tầng văn hóa tình cảm của con người trong thời đại mà thơ
ca ra đời Tùy theo nhu cầu thẩm mỹ và cơ tầng văn hóa của mỗi thời đại màhình thức thể thơ, câu thơ biến đổi Trong thơ cổ, cảm xúc được gợi lên bằngthuộc tính khách thể nên đặc điểm dễ nhận thấy đó là thể thơ, câu thơ tuântheo sự quy định nghiêm ngặt các thể thơ định sẵn, đặc biệt là thơ Đường luật.Những hình thức thơ này dường như tỏ ra bất lực trước những tâm trạng, cảmxúc phức tạp, ngổn ngang, nhiều chiều, nhiều biến động của con người thờiđại mới Vì vậy, trong thơ hiện đại, sự vận động của các thể thơ, câu thơ với
sự biến hóa và biên độ dao động cũng rất lớn Trong cuốn Tìm hiểu thơ, Mã
Giang Lân giới thiệu 12 thể thơ: thơ hai chữ, thơ ba chữ, thơ bốn chữ, thơnăm chữ, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát, thơ song thất lụcbát, truyện thơ – thơ dài và trường ca, một số bài thơ có dạng đặc biệt Quakhảo sát, thống kê, chúng tôi nhận thấy trong Thơ mới, 12 thể thơ này đềuxuất hiện Tuy nhiên, trong một số bài viết về Thơ mới, các tác giả đều thốngnhất khẳng định: thơ thất ngôn, ngũ ngôn và thơ tám chữ là những thể thơ phổ
biến và phát triển nhất của Thơ mới Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh
cho rằng: “Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh Không hẳn là cổ phong Cổphong ngày xưa đã thúc lại thành Đường luật Thất ngôn và ngũ ngôn bây giờlại do luật Đường giãn và nới ra cho nên êm tai hơn Cũng có lẽ nó ưa vần
Trang 22bằng hơn vần trắc Ca trù biến thành thơ tám chữ Thể thơ này ra đời từ trước
1936, nghĩa là trước khi ông Thao Thao đề xướng Yêu vận mất Phần nhiềuvần liên chân…” [48, tr 43] Dựa trên các ý kiến này, chúng tôi sẽ đi vào một
số thể thơ tiêu biểu thể hiện sự đổi mới của Thơ mới trên phương diện thể thơ,câu thơ
2.1 Sự cách tân các thể thơ truyền thống
Cuộc tranh luận Thơ mới – Thơ cũ đã có lúc ồn ào, gay gắt vào buổikhởi đầu với hơn mười cuộc tranh luận trong Nam ngoài Bắc nhưng căn bảnThơ mới đã thắng thế nhờ vào lao động nghệ thuật say mê của một thế hệngười làm thơ nặng lòng với đất nước Và trong khi tiến hành một cuộc cáchmạng thơ ca, Thơ mới vẫn không tách rời truyền thống thơ dân tộc Điều nàythể hiện rất rõ trong việc “các nhà Thơ mới đua đòi nhau học hỏi kinh nghiệm,tìm tòi và sáng tạo Họ học nước ngoài Họ học cả thơ cũ” [47, tr 43]
2.1.1 Từ thể thất ngôn trong thơ truyền thống đến thơ 7 tiếng trong Thơ mới
Trước hết cần phải khẳng định, thể thơ 7 tiếng là thể thơ phổ biến nhất trong Thơ mới Bảng thống kê thể thơ qua một số tuyển tập Thơ mới dưới đây cho thấy rõ điều đó:
TT
Thể thơ
Tuyểntập
2 tiếng
4 tiếng
5 tiếng
7 tiếng
8 tiếng
Lục bát
Song thất lục bát
Hợp thể và
tự do
Tổng số
1 Thi nhân Việt
Nam (Hoài Thanh
3 Thi nhân Việt
Nam tiền chiến
(Nguyễn Tấn Long)
Trang 23Trong thơ cổ điển, câu thơ 7 tiếng xuất hiện ở thể thất ngôn, cổ phong,
ở thể Đường luật và thể song thất lục bát Đến với Thơ mới, ở giai đoạn đầu
1932 – 1935, thể thất ngôn bát cú Đường luật có đổi mới về đường lối và ý
nhưng vì quá gò bó nên chỉ xuất hiện Quách Tấn với các tác phẩm Một tấm
lòng và Mùa cổ điển Giai đoạn này, thể song thất lục bát có 4 bài trong tập Tiếng sóng yêu đương (Huy Thông) và Mấy vần thơ (Thế Lữ)
Nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh trong bài viết Sự vận động của cái tôi
trữ tình và tiến trình thơ ca đăng trên Tạp chí văn học số 1 năm 1996 cho
rằng việc Thơ mới tìm về, cách tân thể thơ thất ngôn “là sự hòa giải tỉnh táocủa ý thức thể loại” Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với chữ “hòa giải” mà nhànghiên cứu Vũ Tuấn Anh Dùng ở đây bởi lẽ thơ Đường luật đã từng bị thửthách trong cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai trường phái Thơ cũ và Thơ mớinhững năm đầu thế kỷ XX Vào những năm 30 của thế kỷ XX, các nhà thơmới đa số có cái nhìn phê phán đối với thơ Đường luật Năm 1939, nhântưởng nhớ nhà thơ Tản Đà vừa mất, nhà thơ trẻ Xuân Diệu khi ấy phát biểu:
“Ta hãy tưởng lại thời ấy: các tiên nho đã mất, mà lòng kính phục thái quá
của hậu nho còn mãi mãi dõi theo Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí là
nơi người ta sưu tầm “thơ văn cổ”, những bài thơ khô khan, nhưng trang trọngđược mọi người bắt chước học theo Các thi sĩ muốn làm thơ nhưng không cóchuyện nói, đua nhau bước trên dấu chân các cụ xưa Một thứ văn chương đãtàn cuộc, bao giờ cũng còn lại những đồ đệ kiểu mẫu, lè nhè trong buổi hoànghôn Giữa lúc thơ Việt Nam khô khan ở trong dấu xe cũ, giữa lúc lối “thơNam Phong” trị vì một cách bệ vệ, dùng những tiếng lớn để nói nhữngchuyện con, diễn những ý sáo bằng những lời sáo hơn bội phần, giữa lúctrống rỗng và buồn tênh, Tản Đà đem tới một hồn thơ, Tản Đà cho văn họcViệt Nam một thi sĩ” [23, tr 180] Nhận định của Xuân Diệu – nhà thơ mớinhất trong số các nhà Thơ mới về thơ Đường luật là điều dễ hiểu bởi nói như
Trang 24Hoài Thanh, Xuân Diệu trình làng bằng bộ “y phục tối tân” nên tất nhiên ôngkhông chịu được bộ áo the khăn xếp của các cụ đồ xưa Sau đó hai năm, năm
1941, Hoài Thanh cũng lại lạc quan mà nói: “Thơ Đường luật vừa động đến là
tan” (Thi nhân Việt Nam) Hiện tượng thơ Đường luật bị các nhà Thơ mới phê
phán gay gắt hồi đầu thế kỷ XX bởi “mã nghệ thuật” của nó không phù hợpvới nhu cầu thẩm mỹ của thế hệ trí thức Thơ mới Trải qua hàng ngàn nămtổng kết, người xưa nhận thấy thể Đường luật phù hợp hơn cả với việc diễn tảcon người đạo lý, con người nhân cách theo quan niệm Nho giáo Thơ Đườngluật là thứ thơ ưu thời mẫn thế, thứ thơ cảm hoài, ngôn chí của con ngườinhân cách Chuyện đời, chuyện thế sự, nhân tình thế thái, tình đời đổi trắngthay đen, những câu chuyện thuận hay nghịch với đạo nghĩa nhà nho… đó lànguồn đề tài quen thuộc của thơ Đường luật “Cái tôi” trong thơ nhà nho làcon người nhận được nhân cách từ vũ trụ, có sứ mạng cao cả đối với xã hộinhân quần như bậc thiên sứ Nó tự lãnh nhận trách nhiệm cao cả là xây dựng vàbảo vệ trật tự cương thường, đạo lý trong xã hội Nhiệm vụ của thơ Đường luật
là chuyển tải cảm xúc của con người nhân cách ấy Nhưng trong những nămđầu thế kỷ XX, tầng lớp trí thức trẻ Tây học chịu ảnh hưởng của quan niệm conngười cá nhân phương Tây Họ muốn thể hiện những trạng thái xúc cảm củacon người cá nhân, thế tục, trần thế nên họ không tìm thấy ở thơ Đường luậtmột phương tiện thích hợp, trái lại cảm thấy gò bó, khuôn khổ, cũ kĩ Theo nhànghiên cứu Trần Nho Thìn, việc phê phán sự gò bó, cũ kĩ, mòn sáo của thơĐường luật đối với những nhà Thơ mới “không phải chỉ là câu chuyện phêphán một hình thức mà thực ra là phê phán một mẫu “cái tôi” trữ tình của thơĐường luật chỉ quẩn quanh cảm hoài, ngôn chí” [50, tr 620 – 621]
Để chuyển tải được những cảm hứng có tính chất thời đại, ví như đề tài
về tình yêu, về những cảm xúc cá nhân…, thơ Đường luật buộc phải có cáchtân hình thức nhằm khắc phục được mã nghệ thuật của mình Sự cách tân hình
Trang 25thức đặc biệt quan trọng của thơ Đường luật Quốc ngữ (và cũng chính là củathơ hiện đại nói chung) đó việc du nhập cách viết các dòng thơ tách biệt nhautheo kiểu Tây phương Thơ xưa (thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm) được viết liềnthành một khối văn bản chứ không chia tách thành các dòng riêng biệt nhưthơ hiện đại Lối viết tách bạch các câu thơ thành các dòng độc lập là hiệntượng mới mẻ của thơ viết bằng chữ quốc ngữ, chịu ảnh hưởng của cách viếtthơ phương Tây Sự tách dòng thơ theo lối Tây phương được người hiện đạivận dụng để viết thơ nói chung, trong đó có thơ Đường luật mở ra một thời kỳmới, cho phép nhà thơ có cái nhìn khác về vị trí câu thơ và người đọc tiếpnhận thơ giữa các dòng thơ, các khoảng trắng Nói về tầm quan trọng của yếu
tố khoảng trắng trong thơ, Đỗ Đức Hiểu viết: “Nhà nghiên cứu Pháp J.Côhennhận xét xác đáng rằng, về không gian (trên mặt giấy), đặc trưng của thơ là nóchiếm ít không gian hơn; trang in thơ có rất nhiều khoảng trắng, trắng giữadòng chữ, trắng ở bốn lề trang giấy Chất thơ tức là những rung động, nhữngcánh bay của tình cảm và tư tưởng, những xúc cảm của say mê…, do âm điệungôn từ tạo nên và chủ yếu nằm ở các khoảng trắng” [35, tr 70] Xét về sựtiếp nhận thuần túy thị giác, khi viết các câu thơ thành từng dòng theo kiểuthơ Tây phương, nhà thơ “tất có cảm giác về tính chất độc lập của từng câuthơ – dòng thơ, từ đó sẽ có ý tưởng về sự tự do riêng của chúng về độ dài, vềvận luật, về sự kết nối, con đường sáng tạo, đổi mới sẽ mở ra” [50, tr 622 –623] Đó là điều mà mà Hoài Thanh đã linh cảm thấy nhưng chưa nói rõ khiông dùng chữ “hình dáng” để mô tả hai câu thơ vắt dòng của Xuân Diệu
“những thể thơ, cũng như toàn thể xã hội Á Đông, muốn mưu lấy sinh tồn,không ít thì nhiều cũng phải thay đổi hình dáng” [48, tr 57]
Hôm nay tôi đã chết trong người.
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi.
(Xuân Diệu, Ý thu)
Trang 26Sự “phục hưng” của lối thơ xưa trong một bài Thơ mới đã có nhiềubiến thể Vì “những chỗ ngắt hơi không nhất định” và vì “cái lối dùng chữ rớt
đã được nhập tịch đường hoàng” mà hai câu thất ngôn của Xuân Diệu trở nênmềm hơn, nhạc điệu câu thơ cũng khác
Mỗi bài thơ luật là một thực thể khép kín, dung lượng cố định, khôngthể nới rộng được nên đối với các nhà Thơ mới, thơ Đường luật không những
gò bó mà còn hạn chế về dung lượng Trong thời hiện đại, khuôn khổ chật hẹpnày lại càng khó khăn cho việc diễn đạt các tư tưởng cảm xúc mới Các nhàThơ mới do đó không những cảm thấy sự không thích hợp của các biểutượng, ngôn từ sáo cũ, của niêm luật mà còn muốn phá vỡ khuôn khổ hạn hẹpcủa luật Đường, muốn đem đến cho thể thơ này một dung lượng lớn hơn bằngmột số biện pháp kĩ thuật Đó là việc dùng thể thơ tứ tuyệt để tổ chức thànhbài thơ dài Nguyên tắc của kĩ thuật này là gắn nối các bài tứ tuyệt lại sao chomỗi bài tứ tuyệt trở thành một khổ thơ tuy độc lập nhưng lại gắn kết với nhau.Nhiều nhà Thơ mới đã viết một số bài thơ dài bảy chữ tách từng khổ bốn câu,
tiêu biểu có thể kể đến Thế Lữ với bài thơ Giây phút chạnh lòng, Xuân Diệu với Đây mùa thu tới và Hàn Mặc Tử với Đây thôn Vĩ Dạ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Trang 27Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
(Hàn Mặc Tử, Đây thôn Vĩ Dạ)
Thất ngôn trung đại (bát cú, tứ tuyệt) không có khổ thơ tồn tại như mộtđơn vị cấu trúc của bài thơ mà tuân theo bố cục quy định sẵn của thể loại: đề -thực – luận – kết Có thể nói, “Chỉ đến Thơ mới khổ thơ mới tồn tại như mộtđơn vị cấu trúc của ngôn ngữ loại thể của một bài thơ nói chung” [51, tr 41]
Bài thơ 7 tiếng trường thiên đã thay thế hẳn thất ngôn tứ tuyệt và bát cú
Đường luật để có những bài thơ xuất sắc như Thu và Xuân của Chế Lan Viên,
Nắng mới của Lưu Trọng Lư, Tình trai của Xuân Diệu và Tràng giang của
Huy Cận:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu…
(Huy Cận, Tràng giang)
Vẫn theo lối thất ngôn và mỗi khổ thơ 4 câu theo lối tứ tuyệt nhưng cáitrật tự đề - thực – luật – kết hay khai – thừa – chuyển – hợp mà ít ai trong cácthi nhân cổ điển dám phá bỏ đã không còn nữa Ở đây, “không chỉ hồn mà cảxác của thơ cũ đã hóa thân thành Thơ mới” [45, tr 138]
Trang 28Thể thơ 7 tiếng trong Thơ mới không hạn định về số dòng, số câu trongmột bài thơ nhưng thường thấy 4 dòng làm thành một khổ Giai đoạn đầu, cácbài Thơ mới viết theo thể 7 tiếng thường dài, nhiều khổ, tiểu biểu là Thế Lữ
với Giây phút chạnh lòng (9 khổ, 36 dòng); Vẻ đẹp thoáng qua (7 khổ, 28 dòng) Về sau, ngoài thể Hành (Thâm Tâm – Tống biệt hành…), phần nhiều thể thơ 7 tiếng ổn định ở 4 khổ 16 dòng (Huy Cận – Tràng giang; Nguyễn Bính – Cô hái mơ; Tế Hanh – Vu vơ…)
Đến với Thơ mới, thể thơ thất ngôn được nâng lên qua những sự cáchtân về câu thơ, vần điệu Câu thơ 7 tiếng trong Thơ mới gần như là câu thơ
tự do, không còn bị ràng buộc chặt chẽ về niêm luật:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm Say người như rượu tối tân hôn;
Như hương thấm tận qua xương tuỷ,
Âm điệu, thần tiên, thấm tận hồn.
(Xuân Diệu, Huyền diệu)
Trong thơ cổ, đơn vị dòng thơ thường trùng với đơn vị câu thơ và trungthành với khuôn khổ sẵn có Đến Thơ mới, một câu thơ chưa chắc gói gọntrong một dòng thơ mà có thể trải dài trong hai hay nhiều dòng thơ Vì vậy,nhìn tổng thể, trong Thơ mới, số dòng thơ tăng lên nhưng số câu thơ giảmxuống và câu thơ trở nên phức tạp hơn, nhịp thơ cũng từ đó mà linh hoạt,sống động hơn Lý giải điều này, Hoài Thanh cho rằng: “dòng tư tưởng quásôi nổi không thể đi theo đường có sẵn Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu vănphải lung lay” [48, tr 120] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, độ dàingắn của câu thơ, bài thơ tuân theo quy luật “hơi” của tác giả mà tạo nên:
“Theo tôi, thơ không phải theo quy luật chữ mà theo quy luật “hơi” của tácgiả tức là thể thơ phải là tiếng nói tình cảm mà tác giả muốn diễn đạt” [49, tr
Trang 29151] Điều này dẫn tới trong Thơ mới có những trường hợp dòng thơ lớn hơncâu thơ nghĩa là một dòng thơ có nhiều câu thơ:
Đường nắng Trong đâu tiếng nói cười Bay ra, rộn rã ghẹo bên tai
Ngừng chân, rẽ lá tìm Im phắc:
Vàng rọi lưa thưa, chẳng mấy người.
(Thế Lữ, Trưa)
Trái lại, cũng có trường hợp, câu thơ lớn hơn dòng thơ, câu thơ bắc cầu
mà nhiều dòng thơ mới tạo thành một câu thơ:
Anh đi đường anh, tôi đường tôi, Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
[…]
Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy Giam hãm thân trong cảnh nặng nề, Vẫn để hồn theo người lận đận;
Vẫn hằng trông ngóng bước anh đi.
(Thế Lữ, Giây phút chạnh lòng)
Chữ “tuy” chỉ có thể xuất hiện ở cuối câu đầu tiên của một khổ tứ tuyệtkhi đã là Thơ mới khiến nó không còn là một thực thể độc lập, khép kín nhưmột bài thất ngôn tứ tuyệt trong thơ truyền thống mà trở thành một phần củabài thơ với sự liền mạch, kết dính Điều này cho thấy hiệu quả của sự liềnmạch và dãn rộng đến vô cùng của thể thất ngôn tứ tuyệt trong hình hài thể 7tiếng của Thơ mới
Trong Thơ mới, thể thơ 7 tiếng đã đạt đến sự hoàn chỉnh, tạo ra đượcnhiều kiệt tác Nhiều bài thơ trong số đó cho đến tận hôm nay vẫn được công
chúng nhớ đến và yêu thích: Nguyệt cầm (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Thu (Chế Lan Viên), Mưa xuân
Trang 30(Nguyễn Bính), Tống biệt hành (Thâm Tâm)… Việc Thơ mới tìm về, cách tân
thể thơ thất ngôn Đường luật truyền thống để trở thành thể thơ 7 tiếng hiệnđại là xu hướng tiếp thu quá khứ để phản ánh chân thực con người đương thờivới những quan điểm, nhu cầu thẩm mỹ mới Qúa trình đó cũng phản ánh sựvận động của thơ ca theo hướng hiện đại hóa khi kết hợp giữa yếu tố truyềnthống với những yếu tố tiếp nhận mới từ phương Tây để đưa đến sự hoànchỉnh của thể loại Đến lúc này, người ta nhận thấy hệ thống thơ Đường luậtvới những niêm luật chặt chẽ đã không còn phù hợp với cái tôi trữ tình tiểu tưsản phương Tây, song thơ Đường luật vốn biểu trưng cho cái đẹp hài hòa, cânđối, phù hợp với quan niệm thẩm mĩ truyền thống của dân tộc, lại là thể loạithường được dùng để diễn tả cái tôi trữ tình nên thể thơ 7 tiếng được các nhàThơ mới ưa dùng
2.1.2 Những biến đổi của thể thơ 8 tiếng
Thể thơ 8 tiếng chiếm tỉ lệ khá lớn trong Thơ mới Ở Thi nhân Việt
Nam, thơ 8 tiếng có 43/168 bài (tỉ lệ 25,6%); ở tuyển tập Thơ mới 1932 –
1945, Tác giả tác phẩm có 241/1084 bài (tỉ lệ 22,23%); ở Việt Nam thi nhân tiền chiến có 497/1509 bài (tỉ lệ 32,94%)
Nói về thể thơ 8 tiếng của Thơ mới, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thểthơ này thoát thai từ Hát nói Hát nói là thể tài phối hợp giữa thơ và nhạc củangười Việt Hát nói đã tồn tại từ lâu nhưng được Nguyễn Công Trứ (1778 –1859) nâng lên thành một thể tài của văn chương bác học và tiếp tục được cácthi sĩ cuối thể kỉ XIX như Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Lâm, Chu
Mạnh Trinh hoàn thiện Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam nhận định: “Ca
trù biến thành thơ tám chữ Thể thơ này ra đời từ trước 1936, nghĩa là trướckhi ông Thao Thao đề xướng Yêu vận mất, phần nhiều vần liên châu” Nhànghiên cứu Nguyễn Lộc cũng có ý kiến tương tự: “Hát nói của Nguyễn CôngTrứ và các nhà thơ khác trong giai đoạn nửa đầu và nửa cuối thế kỉ XIX còn
Trang 31là cơ sở để hình thành thể thơ mới tám chữ trong giai đoạn những năm 30 củathế kỉ này (thế kỉ XX)”
Sự ảnh hưởng của Hát nói đối với thể thơ 8 tiếng của Thơ mới thể hiệntrong tiết điệu câu thơ Hát nói thường được ngắt làm 3 tiết điệu với khuônnhịp 3/2/3 hoặc 3/3/2 hoặc có thể rút gọn lại thành nhịp 3/5 Điều này thườngthấy trong tiết điệu của những bài Thơ mới viết bằng thể thơ 8 tiếng:
Một buổi trưa/ không biết/ ở thời nào (3/2/3) Như buổi trưa/ nhè nhẹ/ trong ca dao (3/2/3)
Có cu gáy/ có bướm vàng nữa chứ (3/5 hoặc 3/3/2)
Mà đôi lứa/ đứng bên vườn/ tình tự (3/3/2)
(Huy Cận, Đi giữa đường thơm)
Luật bằng – trắc và cách gieo vần của Hát nói cũng được thể hiện trongThơ mới:
Vàng đẹp quá (T), giăng tơ (B) và xối chỉ (T) Trời mênh mông (B) nên rất đỗi (T) nhớ nhung (B) Chiều buồn buồn (B) giữa hương sắc (T) tưng bừng (B) Như nắng xế (T) nằm trong vườn (B) mờ thuỷ (T).
(Huy Cận, Hòa điệu)
Em sợ lắm Giá băng tràn mọi nẻo, Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
(Xuân Diệu, Lời kỹ nữ)
Không chỉ tiếp thu những đặc điểm của thể Hát nói trong thơ ca truyềnthống, một số ý kiến cho rằng thể thơ 8 tiếng trong Thơ mới đã sáng tạo dựatrên nguồn ảnh hưởng của thơ phương Tây Lam Giang, Vũ Tiến Phúc nhậnđịnh: “Đa số thanh niên hấp thụ Tây học đã tiếp xúc với một nguồn thơ khác
Trang 32thơ Đường Câu thơ alexandrin 12 âm của Pháp đã ảnh hưởng nhiều đến việctăng số chữ trong câu thơ Việt” Theo ý kiến của hai nhà nghiên cứu trên,chính thơ Pháp đã cấp kinh nghiệm để thêm số chữ cho câu thơ tiếng Việt vàthể thơ 8 tiếng của Thơ mới bắt nguồn từ thơ Pháp Theo nhà nghiên cứu TrầnNho Thìn, “khó mà phán định rằng thể thơ tám chữ đích xác thuộc về nguồngốc nào, nội hay ngoại” và đây cũng là vấn đề còn tiếp tục phải xem xét kĩlưỡng hơn trước khi đưa ra kết luận cuối cùng Vấn đề đặt ra ở đây là trongthời kỳ chuyển biến theo hướng hiện đại hóa, các thể thơ truyền thống và
“ngoại nhập” đã được sử dụng một cách rộng rãi như là sự thăm dò, thểnghiệm nhằm tìm ra những thể loại thích hợp nhất để thỏa mãn nhu cầu thẩm
mĩ của cái tôi trữ tình đương thời trên tinh thần dân chủ, cởi mở Qủa thật,quan sát nhiều bài thơ 8 tiếng của Thơ mới, chúng tôi nhận thấy cách gieo vầnliền, vần gián cách, vần ôm, vần hỗn hợp… của các thể thơ này có nhiều sựtương đồng so với cách gieo vần của thơ Pháp:
Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời
Gió ngừng reo trên hồ xa rào rạt
Mùa xuân còn, hết? Khách đa tình ơi!
(Thế Lữ, Hoài xuân)
Về cấu trúc, các bài thơ viết theo thể 8 tiếng của Thơ mới không hạnđịnh số dòng, chia đoạn như trong Hát nói mà dài ngắn tùy ý, gần gũi vớicách tổ chức bài thơ của phương Tây Xuân Diệu có nhiều bài thơ 8 tiếng viết
theo lối kết cấu này: Yêu (15 dòng), Dối trá (63 dòng)…
So với thể thơ 7 tiếng và lục bát, thể 8 tiếng trong Thơ mới xuất hiệnmuộn hơn Khoảng giữa năm 1933, thể 8 tiếng mới xuất hiện và thành công
với Nhớ rừng của Thế Lữ Theo nhà nghiên cứu Phong Lê, chính Thế Lữ là
người có công cách tân, cho sự hình thành cái mới, đúng với nghĩa của nó:
Trang 33“… Thế Lữ trong Nhớ rừng với thể tám chữ thênh thang, phóng khoáng
mượn của ca trù nhưng lại không phải là ca trù và dứt ra khỏi mọi vương vấncủa thất ngôn tứ tuyệt hoặc bát cú” [45, tr 136]:
Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm
(Thế Lữ, Nhớ rừng)
Tuy xuất hiện muộn nhưng có thể nói đây là thể thơ được sử dụng phổ
biến và đem lại thành công của Thơ mới với những tác phẩm xuất sắc: Lời kỹ
nữ (Xuân Diệu), Tiếng địch sông Ô (Huy Thông)… Nhiều nhà thơ đã lựa
chọn thể 8 chữ làm thể thơ chính cho những sáng tác của mình để vừa sử
dụng vừa tiếp tục cách tân, sáng tạo: tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên có 32/36 bài 8 tiếng; tập Bức tranh quê của Anh Thơ có 44/45 bài 8 tiếng… Lý
giải cho sự thành công cũng như phổ biến của thể thơ 8 tiếng trong Thơ mớiphải kể đến việc thể thơ này đã đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của cái tôiThơ mới Thơ mới là hình thức giãi bày tâm trạng, bộc lộ cái tôi cá nhân vớinhững xúc cảm đa dạng, nhiều chiều và do đó nó đã gặp gỡ và dễ dàng tiếpthu thể Hát nói truyền thống và cách tân để trở thành thể thơ 8 tiếng hiện đại.Thể thơ 8 tiếng với sự phóng túng của câu, chữ, linh hoạt của vần điệu, nhịpđiệu… cộng với giọng thơ mang tính chất lời kể, giãi bày tự sự nên có khảnăng bao chứa hiện thực cuộc sống và thích hợp để cái tôi trữ tình bày tỏ, phôdiễn cảm xúc và cá tính của mình
2.1.3 Sự cách tân của thể thơ 5 tiếng
Thơ 5 tiếng là hình thức phổ biến trong văn học dân gian và thể ngũngôn truyền thống Đến với Thơ mới, thơ luật đã hoàn toàn bị phá vỡ mà hòatan vào không khí tự do đương thời để trở thành thơ trường thiên 5 tiếng Số
Trang 34dòng thơ nhiều hơn, dung lượng bài thơ được mở rộng kéo theo sự giãn nởkhông ngừng của mạch thơ, tứ thơ với thanh điệu nhịp nhàng, mềm mại Khinhững quy định về luật bằng trắc, vần, niêm, đối, nhịp của thể ngũ ngôn trongthơ cổ không còn, thi nhân được tự do bày tỏ cảm xúc của mình Cách chiakhổ trong Thơ mới không hề tùy tiện mà nó phụ thuộc vào cách gieo vầnmang đặc trưng Thơ mới Tùy theo cách gieo vần: từng cặp một chéo nhau,
ôm nhau hoặc gián cách… mà mỗi bài thơ được chia thành các khổ 4 hoặc 5câu linh hoạt Điều này chưa có trong thơ cổ:
Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô?
(Lưu Trọng Lư, Tiếng thu)
Trong Thơ mới, thể thơ 5 tiếng được sử dụng ít nhưng lại để nhiều bài
thơ hay mà Tiếng thu của Lưu Trọng Lư là một trong số đó Không còn là bài
tứ tuyệt truyền thống với vẻn vẹn 4 câu 20 tiếng, bài thơ có 9 câu thơ với cáchchia khổ tự do và tổ chức câu thơ rất mới: khổ đầu 5 dòng, khổ sau 4 dòng.Cách chia khổ như trên phù hợp với cách gieo vần của bài thơ và phù hợp vớicảm xúc, tâm trạng của chủ thể trữ tình trong không gian rừng thu
Giống với cách tổ chức bài thơ của thể thơ 7 tiếng, nhiều bài thơ 5 tiếngtrong Thơ mới được chia thành nhiều khổ thơ, mỗi khổ thơ có 4 câu thơ,
Trang 35mang dáng dấp của một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Nhưng nếu như các bài tứtuyệt truyền thống là một thực thể khép kín thì mỗi khổ thơ trong bài trườngthiên 5 tiếng của thơ mới được gắn kết với nhau bằng mạch thơ dài hơi, thểhiện sự vận động trong dòng xúc cảm của chủ thể trữ tình:
Đôi mắt em lặng buồn Nhìn thôi mà chẳng nói, Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng
Yêu hết một mùa đông Không một lần đã nói, Nhìn nhau buồn vời vợi
Có nói cũng không cùng…
(Lưu Trọng Lư, Một mùa đông)
2.1.4 Những đổi mới của thể lục bát trong Thơ mới
Bên cạnh giọng điệu lãng mạn kiểu thị thành mới những vần thơ rấtmới kiểu phương Tây như của Xuân Diệu, Thơ mới cũng rất thành công vớiđiệu thơ truyền thống qua các thể thơ dân gian, trong đó có thể lục bát Lụcbát vốn là thể thơ được người bình dân dùng để làm thành những bài ca dao,phong dao vừa để kể chuyện giãi bày, vừa để bộc lộ tâm tư, tình cảm, nayđược các nhà Thơ mới tìm đến với sự hòa điệu sâu sắc
Trước hết, sự có mặt của thể thơ lục bát trong Thơ mới có một ý nghĩa
vô cùng đặc biệt bởi nó được kế thừa từ sự thể nghiệm của những nhà thơtrước Thơ mới của văn học giai đoạn giao thời đầu thế kỉ XX Trong lịch sử,thơ lục bát vốn được sử dụng để sáng tác những tác phẩm tự sự có dung lượnglớn Theo nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn, các nhà nho dùng thơ lục bát để
viết diễn ca (Thiên Nam ngữ lục có độ dài tới hơn 8000 dòng lục và bát), viết
Trang 36truyện thơ dài hàng ngàn câu thơ (Truyện Nôm khuyết danh Phạm Công –
Cúc Hoa có khoảng 4000 dòng lục và bát) nhưng “việc nhà thơ dùng thể lục
bát để sáng tác thành một bài thơ trữ tình thì hình như chưa thấy có trong lịchsử” bởi lẽ “sứ mệnh trữ tình thời trung đại đã có thơ cổ thể, Đường luật, từ,hát nói đảm nhiệm” [50, tr 629] Những năm đầu thế kỉ XX, trên bước đườngtìm tòi, khai thác khả năng thể hiện của các thể thơ truyền thống, các nhà thơthời kỳ này đã mở ra “triển vọng trữ tình” (chữ dùng của Trần Nho Thìn) tolớn của thể lục bát Bắt đầu là những bài phong dao rất tài hoa, điêu luyện,ngắn gọn như là các câu ca dao, các câu hát đối đáp nam nữ, sau đó các nhàthơ đầu thế kỉ đã thể nghiệm viết những bài thơ trữ tình dài hơi khá thànhcông Người có công trong việc mở rộng khả năng trữ tình của lục bát phải kểđến “nhà thơ của hai thế kỉ” Tản Đà Những bài thơ lục bát của Tản Đà như
Thương ai, Nhớ ai viết trong khoảng từ 1912 đến 1915 với sự lặp lại một
nhóm từ như để mở rộng dung lượng bài thơ:
Thương ai điêu đứng phong trần, Thương ai án tuyết song huỳnh luống công.
Công lênh vụng bước tao phùng, Trời xanh đã chán, má hồng khôn yên.
Thương ai tủi liễn oan đào, Thương ai đi đứng ra vào hổ ngươi…
(Tản Đà, Thương ai)
Không bàn đến truyện thơ là những tác phẩm kết hợp tự sự và trữ tình,
sự xuất hiện của những bài thơ trữ tình lục bát nhằm đảm nhiệm việc diễn đạttâm tình của con người cá nhân những năm đầu thế kỉ XX là điều trước đây
chưa từng biết đến Thề non nước của Tản Đà, Tình quê của Tương Phố…, là
những bài lục bát thành công xuất hiện những năm 20 của thế kỉ XX:
Vô đây là cõi trời Nam,
Trang 37Bâng khuâng nhớ Bắc muôn vàn khôn khuây.
Nhớ ngày đông giá lạnh tay, Nhớ thu sang ngọn gió may lạnh lùng…
(Tương Phố, Tình quê)
Bài thơ trên vẫn được cấu tứ theo quan hệ cảnh – tình của thơ truyềnthống song vấn đề là thể lục bát đã được dùng để viết cả một bài thơ trọn vẹn.Thời kỳ này, thơ lục bát còn được các nhà thơ dùng để tập dịch các bài thơĐường luật và các bài thơ Pháp Riêng đối với thơ Đường luật, lục bát dịchcủa Tản Đà đã chứng minh “khả năng to lớn của nó đối với việc xây dựngmột bài thơ hoàn chỉnh” [50, tr 631]
Đến với Thơ mới, các nhà thơ đã bắt nhịp nhanh và không ngừng sángtạo để đưa thể thơ lục bát đến với quỹ đạo thi pháp hiện đại Không chỉ làngười có công cách tân thể thơ 8 tiếng, kiểu dạng câu lục bát ngắt đoạn, vắtdòng theo lối thơ phương Tây của Thế Lữ cũng được coi là một thể nghiệmtáo bạo có tinh chất khai phá:
Trời cao, xanh ngắt - Ô kìa Đôi con hạc trắng bay về Bồng lai.
(Thế Lữ, Tiếng sáo Thiên Thai)
Lối viết này tiếp tục được các nhà Thơ mới sử dụng nhằm đem đến sựmới mẻ cho thể thơ lục bát:
Mùa thi sắp tới! – Em thơ!
Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau!
(Xuân Diệu, Mùa thi)
Thơ mới với những bài thơ viết theo thể lục bát nổi lên với những sángtác giữa một bên là Huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu, Thanh Tịnh và một bên làNguyễn Bính Hai nhóm tác giả này cũng chính là đại diện cho hai khuynh
Trang 38hướng vận động, phát triển của lục bát Thơ mới: khuynh hướng hiện đại hóa
và khuynh hướng trở về với ca dao
Với khuynh hướng hiện đại hóa, các nhà Thơ mới sử dụng nhịp điệunhẹ nhàng, uyển chuyển, ngân vang của những câu thơ lục bát để diễn tảtrạng thái cảm xúc buồn thương, bâng khuâng kéo dài của cái tôi trữ tình
bơ vơ, vô định:
Nắng chia nửa bãi; chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau;
Em ơi! Hãy ngủ anh hầu quạt đây
Lòng anh mở với quạt này;
Trăm con chim mộng về bay đầu giường
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thuỳ dương mấy bờ
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ
- Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu, Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi
(Huy Cận, Ngậm ngùi)
Ngậm ngùi – một bài lục bát “ưu trội” (chữ dùng của Hà Minh Đức) và
là một trong hai bài thơ hay nhất của Huy Cận Ở bài thơ này, cách ngắt nhịpcủa câu thơ lục bát có nhiều dáng vẻ mới lạ với các dấu chấm cảm, dấu bachấm… để tăng hiệu quả biểu đạt của từng câu thơ và của cả bài thơ
Nằm trong xu hướng hiện đại hóa lục bát, một số nhà thơ còn đem đếnThơ mới những cách tân về hình thức, kết cấu trên những cấp độ câu thơ, bàithơ Trần Huyền Trân đã đưa lối thơ bậc thang – kiểu thơ thường gặp ở Mai-a-cốp-xki vào trong thơ lục bát:
Trang 39Đi gần hạnh phúc là đi xa đường
(Trần Huyền Trân, Với Tản Đà)
Đoạn thơ trên thực chất là hai cặp lục bát nhưng hai câu lục, mỗi câu đãđược tách làm hai dòng để thể hiện cái ngắt quãng, ngập ngừng trong xúc cảmcủa chủ thể trữ tình
Nguyễn Bính lại thành công ở những bài lục bát có chất dân gian gần với
ca dao Từ hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu đến lối diễn đạt của Nguyễn Bính đềumang phong vị ca dao với cách nhìn, cách cảm của một “người nhà quê”:
Hôm qua em đi tỉnh về Đợi em ở mãi con đê đầu làng Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!
[…]
Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
(Nguyễn Bính, Chân quê)
Nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị cho rằng: “Các nhà văn học được văntrong truyện cổ tích và học được thơ trong ca dao” Theo chúng tôi, NguyễnBính là một trường hợp điển hình cho việc “học thơ trong ca dao” của các nhàthơ hiện đại Học ca dao nhưng không mô phỏng, phóng tác ca dao mà