Các nhà thơ Nôm Đờng luật đã sử dụng một hệ thống từ ngữ hết sức phongphú và đa dạng trong tác phẩm của mình, nổi bật là việc sử dụng từ láy, dùng thànhngữ tục ngữ, cách nói dân gian, ng
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh - -
Vinh, 2008
Trang 2mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ Mới 1932-1945 xuất hiện nh một tất yếu lịch sử, giải phóng thơ Việt
Nam thoát khỏi những khuôn khổ mang tính quy phạm chặt chẽ của loại hình thơtrung đại Thơ mới 1932-1945 là cả một “phong trào” thơ rộng lớn, phong trào đó
đem lại cho thi đàn một không khí hết sức mới mẻ và sôi nổi nhiều tài năng vớinhững phẩm chất sáng tạo riêng hoàn thành bản giao hởng lãng mạn của phong tràothơ mới nhà phê bình Hoài Thanh quả quyết rằng: “Trong lịch sử thi ca Việt Namcha bao giờ có một thời đại phong phú nh thời đại này, cha bao giờ ngời ta thấyxuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng nh Lu Trọng L,hùng tráng nh Huy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp, ảo não nh Huy Cận,quê mùa nh Nguyễn Bính, kỳ dị nh Chế Lan Viên… và thiết tha rạo rực, băn khoăn và thiết tha rạo rực, băn khoăn
Đọc lại một số nhận định nh trên của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam có uy tín,chúng ta có thể hiểu tại sao Thơ Mới đã đợc nghiên cứu nhiều và sâu đến thế trong hơn nửa
kế kỷ qua Tuy vậy, không phải tất cả mọi điều vi mô nhất của phong trào Thơ Mới đều đã
đ-ợc nghiên cứu cạn kiệt Qua những ý kiến trên, chúng tôi thấy có thể tiến hành đề tài luận văn
về nhóm từ chỉ hơng vị trong Thơ Mới, vì chúng với các nhóm từ biểu thị màu sắc, âm thanh,
đây là một trong các nhóm từ đã góp phần làm nên nét đặc sắc trong nội dung và hình thứcbiểu hiện của các bài Thơ Mới
Tuy nhiên, phong trào Thơ Mới là bớc cách tân và phát triển trên cơ sở cốtcách của truyền thống thơ ca dân tộc Việt Khi khảo sát nhóm từ biểu thị hơng vịtrong Thơ Mới (1932 - 1945), còn cần so sánh đối chiếu với thơ trung đại Việt Nam để
từ đó thấy đợc sự tơng đồng (tiếp nối) và khác biệt (phát triển) trong cách dùng nhóm từnày ở hai thời kỳ khác nhau của thơ ca Việt Nam
1.2 Từ nhiều năm nay, nhiều tác giả và tác phẩm Thơ Mới (1932-1945) đã
đ-ợc dạy học trong nhà trờng Điều đó minh chứng rằng: Những giá trị đích thực vềcảm hứng sáng tạo và nghệ thuật biểu hiện của Thơ Mới đã đợc đánh giá và nhìnnhận một cách khách quan, khoa học và công bằng Đề tài khảo sát sâu về nhóm từbiểu thị hơng vị trong Thơ Mới là một cách đi nhằm góp phần vào công việc dạy -
Trang 3học về nghệ thuật sử dụng ngôn từ với những hiệu quả của nó trong các thi phẩmThơ Mới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thơ Mới và thơ Nôm Đờng luật trung đại là những mốc son quan trọng đánhdấu sự phát triển của thơ ca dân tộc Mỗi một phong trào văn học ra đời bao giờ cũngphản ánh những nhu cầu, đòi hỏi nhất định của xã hội, là tiếng nói của tầng lớp ngời vàmột giai cấp xã hội Thơ Nôm Đờng luật cũng là một trong những thể loại có thành tựulớn vào bậc nhất của văn học Việt Nam, có nhiều tác phẩm đợc tuyển chọn giảng dạytrong chơng trình ở nhiều cấp học
Những công trình nghiên cứu trớc đây về thơ Nôm Đờng luật cũng đã cónhiều nhng nhìn chung đều xuất phát từ góc độ, phạm vi tác giả, tác phẩm, cao hơn
là thể loại mà thôi Công trình nghiên cứu Thơ Nôm Đờng luật từ góc độ thể loại
của PTS Lã Nhâm Thìn Công trình này đã giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứunhững khía cạnh, góc nhìn khác nhau về thơ Nôm Đờng luật Công trình này đã cho
ta thấy cái hay, cái đẹp của những tác phẩm thơ Nôm Đờng luật trong sự phong phú
và đa dạng vốn có của thể loại Tác giả không những đề cập đến hệ thống chủ đề, đềtài, cảm hứng sáng tác của thi nhân Nôm Đờng luật mà còn đề cập rất kỹ về hệthống ngôn ngữ đợc sử dụng Đó sẽ là cơ sở để chúng ta tìm hiểu những từ chỉ hơng
vị trong thơ Nôm Đờng luật
Từ góc độ lý luận văn học, Nguyễn Thị Xuân Kiều cũng đã đề cập đến vấn đề
Phong cách ngôn ngữ thơ Tú Xơng (trong thơ Nôm Đờng luật) (Đại học Vinh
-2001) hay công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuý Hằng Giọng điệu thơ Nôm
Nguyễn Khuyến (Đại học Vinh - 2001), Giọng điệu thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng (Đại học Vinh - 2005) của Nguyễn Thị Thanh Trâm.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về thơ Nôm Đờng luật trung đại đã
đề cập những vấn đề lớn nhỏ về nội dung phản ánh cũng nh hình thức thể hiện trongthơ Cho dù các công trình nghiên cứu đã đề cập đến hệ thống ngôn ngữ nói chunghay ngôn ngữ sử dụng của từng tác giả riêng lẻ nhng tựu chung vẫn cha đề cập đến
từ chỉ hơng vị
Thơ Mới đợc tiếp cận ở nhiều bình diện khác nhau và đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về Thơ Mới giành đợc nhiều thành tựu khả quan, sau đây chúng tôi xin
điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Công trình lớn đầu tiên là Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh - Hoài Chân), tác
giả đã quan tâm đến đặc điểm của từng nhà thơ, cho ta thấy đợc sự phong phú và đadạng đợc thể hiện trong Thơ Mới, đặc biệt là đã chỉ ra cảm hứng sáng tác của các
Trang 4tác giả Thơ Mới Do hạn chế của thời đại mà công trình nghiên cứu này mới chỉ đặt
ra một cách khiêm tốn bằng con mắt chủ quan, mặc dù công trình nghiên cứu này
đợc đánh giá rất cao
Vào thời kỳ này cũng có nhiều bài viết trên báo chí, tạp chí xung quanh vấn đềThơ Mới, nhng họ nghiên cứu trên một lập trờng chính trị mang quan điểm nhất
định Tiêu biểu là bài viết của phái Nghệ thuật vị nghệ thuật, các tác giả chỉ quan
tâm đến trách nhiệm, vai trò của ngời làm nghệ thuật, mà cha chú ý đến giá trị đíchthực của nghệ thuật
Trớc Cách mạng tháng Tám, vấn đề Thơ Mới đợc nghiên cứu và nhắc đến ởnhiều bài viết nhng chỉ ở mức độ khái quát, cha đợc tách ra ở một vấn đề cụ thể đểphân tích và nghiên cứu
Từ năm 1945 đến thời kỳ đổi mới, do hoàn cảnh lịch sử đặt ra nên đợc giớinghiên cứu quan tâm rất nhiều Mọi sự nghiên cứu đều kết án Thơ Mới, nhất là vềvấn đề con đờng thoát ly và thế giới tâm hồn Ngay Hoài Thanh nhà phê bình hếtsức ca ngợi Thơ Mới một thời, cũng đã có bài viết cho rằng Thơ Mới là tiêu cực.Tóm lại do hạn chế phơng pháp nghiên cứu, đồng thời do hoàn cảnh xã hội Việt Namtrong chiến tranh và sau chiến tranh, nên các nhà nghiên cứu, phê bình mới có một cáinhìn hạn chế, đánh giá nặng về ý nghĩa nội dung của từng tác phẩm riêng lẻ
Từ những năm đổi mới đến nay, các nhà nghiên cứu, phê bình đã có cái nhìntoàn diện và khoa học hơn về Thơ Mới Mở đầu cho một thành tựu xuất sắc là công
trình nghiên cứu của giáo s Trần Đình Sử Dẫn luận thi pháp học Đây là công trình
đã góp phần cung cấp cho chúng ta những tri thức nền, là cơ sở để hiểu đ ợc vai tròcủa thi pháp học, và nhất là định hớng cho phơng pháp nghiên cứu Tuy nhiên tácgiả cũng đi sâu nghiên cứu từng tác giả, từng giai đoạn cụ thể hay từng khuynh h-ớng sáng tạo nghệ thuật nào đó
Vấn đề Thơ Mới đợc đề cập khá nhiều và cũng đã đem đến cho chúng ta mộttrong những hớng tìm tòi với mục đích làm rõ giá trị nội dung của Thơ Mới Cần kể
đến một số công trình tiêu biểu, đó là Chân dung các nhà văn Việt Nam (tập 1) của
các tác giả Nguyễn Đăng Điệp-Văn Giá-Lê Quang Hng-Nguyễn Phợng - Chu Văn
Sơn, Tinh hoa Thơ Mới - thẩm bình và suy ngẫm do Lê Bá Hán chủ biên Những
công trình nghiên cứu này đã đem lại cho ngời tiếp cận thơ ca một cái nhìn cụ thể ởmột số tác phẩm, tác giả tiêu biểu Tuy nhiên, họ vẫn nghiên cứu mang tính chủquan, vấn đề mà luận văn đề ra trong Thơ Mới cha đợc đề cập đến
Công trình nghiên cứu đã đề cập đến yếu tố hơng vị trong Thơ Mới phải kể đến
Thi pháp hiện đại của GS Đỗ Đức Hiểu và Văn học lãng mạn 1932-1945 của Phan
Trang 5Cự Đệ (Nxb TPHCM, 1997) Đỗ Đức Hiểu đã nhận xét về Thơ Mới: “Đặc điểm củathơ lãng mạn là sự miêu tả cái đẹp bên ngoài, là những trận ma trữ tình, vần thơhùng tráng Những âm thanh ca hát, màu sắc chuyện trò, những hơng thơm kểchuyện” “Ngôn từ Thơ Mới là sự kết hợp nhịp nhàng của ngôn từ thơ Đông và Tây,
là sự tơng hợp âm thanh, màu sắc, hơng thơm, con ngời vũ trụ, các Đờng thi với thơPháp trên cơ sở ngôn từ Việt Nam, kết quả của sự tơng tác các nền văn hoá cổ điểm
và hiện đại” Phan Cự Đệ cũng cho rằng: Thơ Mới là sự tơng hợp giữa màu sắc, âmthanh và hơng vị Cách nhìn nhận đó đã có sự phát triển về hớng tiếp cận Tuy tácgiả cha có điều kiện tách các vấn đề ra thành một công trình nghiên cứu riêng để có
điều kiện đi sâu hơn về giá trị nội dung của Thơ Mới
Gần đây có nhiều công trình nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ, Khảo sát nhóm từ
biểu thị màu sắc trong Thơ Mới 1932-1945, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngọc
Quỳnh (Đại học Vinh, 2001), tiếp đến là luận văn thạc sĩ của Tống Cầm Ren Khảo
sát nhóm từ biểu thị âm thanh trong Thơ Mới 1932-1945 (Đại học Vinh, 2002).
Với việc điểm qua một số công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến đềtài, chúng tôi có thể khẳng định rằng những từ biểu thị hơng vị trong Thơ Mới1932-1945 là đối tợng cha đợc tác giả nào khảo sát và miêu tả một cách có hệthống, đặc biệt trong sự đối sánh ở thơ Nôm Đờng luật trung đại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phong trào Thơ Mới đã đem lại cho các nhà thơ một cảm hứng mới mẻ, độc
đáo, cảm hứng hớng ngoại bằng tất cả các giác quan của mình qua việc sử dụng hệthống từ ngữ trong đó nhóm từ chỉ hơng vị góp phần quan trọng
Thông qua việc đi sâu khảo sát nhóm từ biểu thị hơng vị đợc dùng trong cácthi phẩm Thơ Mới (có so sánh đối chiếu với nhóm từ này trong thơ Nôm Đ ờng luậttrung đại) để thấy đợc tính tiếp nối và cách tân của nghệ thuật sử dụng từ ngữ củaThơ Mới so với thơ trung đại Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Thống kê, phân loại số lợng và tần số sử dụng các từ biểu thị hơng vịtrong thơ Nôm Đờng luật và trong Thơ Mới (1932 - 1945)
3.2.2 So sánh, định lợng và định tính của nhóm từ này trong thơ Nôm Đờngluật và Thơ Mới để góp phần xác định tính tiếp nối và sự đổi mới phát triển của thơViệt Nam
3.2.3 Phân tích nội dung ngữ nghĩa và giá trị biểu đạt của các từ biểu thị
h-ơng vị trong Thơ Mới
Trang 63.3 Đối tợng nghiên cứu
Khảo sát 213 bài Thơ Nôm Đờng luật trung đại (in trong sách Thơ Nôm
4.1 Phơng pháp thống kê phân loại đợc thực hiện khi làm ngữ liệu từ thi phẩm
và khi làm th mục tham khảo
4.2 Phơng pháp so sánh đối chiếu đợc sử dụng khi so sánh về số lợt dùng vàtần số xuất hiện của từ ngữ biểu thị hơng vị trong Thơ Mới là thơ Nôm Đờng luậttrung đại từ đó chỉ ra sự khác biệt về số lợng và ngữ nghĩa giữa chúng
4.3 Phơng pháp phân tích miêu tả đợc dùng khi đánh giá xác định vai trò ngữnghĩa và ý nghĩa thi pháp của nhóm từ biểu thị hơng vị trong Thơ Mới
4.4 Phơng pháp quy nạp tổng đợc sử dụng khi áp dụng phần lịch sử vấn đề,tiểu kết và phần kết luận của luận văn
5 Đóng góp của luận văn
Bằng việc đi sâu khảo sát nhóm từ biểu thị hơng vị đợc dùng trong các thiphẩm Thơ Mới (có so sánh đối chiếu với nhóm từ này trong thơ Nôm Đờng luậttrung đại), đề tài góp phần chứng minh tính tiếp nối và cách tân của nghệ thuật sửdụng từ ngữ của Thơ Mới so với thơ trung đại Việt Nam
6 Kết cấu của luận văn
Chơng 1: Một số giới thuyết về đề tài
Chơng 2: Nhóm từ biểu thị hơng vị trong Thơ Mới
(So sánh với thơ Nôm Đờng luật trung đại)Chơng 3: Vai trò ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị hơng vị trong Thơ Mới
Trang 7Chơng 1 một số giới thuyết về đề tài 1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật
Chúng ta biết rằng ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản: chức năng làm công cụgiao tiếp và chức năng làm công cụ để tiến hành t duy trừu tợng Cho dù xã hội cóhiện đại đến đâu thì không thể thiếu đi một thứ công cụ chung để trao đổi với nhau
đó chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con
ng-ời… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Ngôn ngữ không chỉ có chức năng làm công cụ giao tiếp mà đồng thời lại làmchất liệu cho các loại hình nghệ thuật Vậy khái niệm “ngôn ngữ nghệ thuật” đợchiểu nh thế nào? Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì ngôn ngữ nghệ thuật sẽ là tiếng nóiriêng, thông điệp riêng của các loại hình nghệ thuật khác nhau nh: kiến trúc, hộihọa, sân khấu, điện ảnh… và thiết tha rạo rực, băn khoăn không phải chỉ riêng cho một thứ nghệ thuật - văn học.Hiểu theo nghĩa hẹp, gắn với loại hình nghệ thuật văn chơng, ngôn ngữ nghệ thuật
đợc hiểu là nghệ thuật của ngôn từ Vậy chất liệu của loại hình nghệ thuật văn ch
-ơng là ngôn ngữ Để tìm hiểu, đánh giá sự sáng tạo của nhà văn, nhà thơ thì phảithông qua chất liệu ngôn ngữ Về đối tợng đặc thù này trong giới nghiên cứu và phêbình đang tồn tại các khái niệm khác nhau nh: ngôn ngữ văn chơng, ngôn ngữ vănhọc, ngôn từ nghệ thuật
Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ “ngôn ngữ văn học” là khái niệm dùng để chỉmột cách bao quát các hiện tợng ngôn ngữ đợc dùng một cách chuẩn mực trong vănhọc Với danh từ “ngôn ngữ văn học” đợc hiểu không riêng gì ngôn ngữ của vănhọc, mà theo một nghĩa khái quát, mọi thứ ngôn ngữ đợc trau dồi, dù có địa vịchính thức hay không, đợc cả cộng đồng ngôn ngữ sử dụng Ngôn ngữ trong tácphẩm văn học, theo quy ớc đợc gọi là ngôn ngữ văn chơng Các đặc trng của nó baogồm: tính hệ thống, tính chính xác, tính hình tợng, tính truyền cảm, tính cá thể hoá
và tính hàm súc
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi có quan niệm hẹp hơn, ngôn ngữ văn học là “ngôn ngữ mang tínhnghệ thuật đợc dùng trong văn học” là công cụ, chất liệu cơ bản để xây dựng hình t-ợng nghệ thuật văn học và giao tiếp nghệ thuật, nên văn học đợc gọi là nghệ thuậtngôn từ Đặc trng của ngôn từ nghệ thuật bị quy định bởi nhiệm vụ chiếm lĩnh thếgiới về mặt tinh thần Tiêu biểu cho ngôn từ nghệ thuật là sử dụng không ngừngchức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ để làm sao thể hiện một cách có hiệu quả nhất ý
định, mục đích của tác giả Chính vì thế mà ngôn ngữ văn học luôn luôn đợc phát
Trang 8triển và làm giàu, ngôn ngữ ngày một trở nên phong phú và đa dạng qua sự sáng tạocủa nhà nghệ sĩ.
Thuật ngữ ngôn từ nghệ thuật lại đợc các nhà lý luận văn học sử dụng để địnhdanh chất liệu văn học Khái niệm ngôn ngữ và ngôn từ cũng đợc khu biệt một cách
rõ ràng Ngôn từ là sự sáng tạo nổi bật của mọi lời nói sống động, lời nói đó ngời tadùng làm chất liệu để sáng tác văn học Ngôn ngữ là tổng thể tất cả các đơn vị, ph-
ơng tiện, các kết hợp mà lời nói sử dụng
Tóm lại, khi nhắc đến khái niệm ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ văn chơng hayngôn từ nghệ thuật cũng chỉ nói đến ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, nội hàm củakhái niệm ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ đợc dùng trong các tác phẩm văn chơng
và xem xét nó trên các bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, kể cả phong cách
1.1.2 Một số đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ
Trớc khi đi vào tìm hiểu ngôn ngữ thơ chúng tôi muốn làm rõ cách hiểu về thơ,vậy thơ là gì? Không riêng gì ở Việt Nam mà trên thế giới đã có nhiều cách địnhnghĩa về thơ khác nhau
Bakhtine cho rằng: Thơ là tiếng nói bộc bạch Nhà thơ Bungari Blaga Dimitrova viết
trong Ngày phán xử cuối cùng: “Ôi! Nếu tôi biết thơ là gì thì cả đời tôi, tôi chẳng
đau khổ thế này”
Đã không ít các nhà thơ Việt Nam thử định nghĩa về thơ: “Thơ là tiếng vọngcủa tâm hồn”, “thơ là sự thể hiện sâu sắc tâm trạng”, nhóm “Xuân thu nhã tập” chorằng: “Thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu” Tố Hữu quan niệm:
“Thơ là cái nhụy của cuộc sống” Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cũng đã định nghĩa:
“Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản” Tuy các định nghĩa cha khái quát
đợc một cách đầy đủ nhng đã cho ta thấy thơ không chỉ là hiện tợng ngôn ngữ họcthuần túy mà chủ yếu là hiện tợng giao tiếp nghệ thuật Từ góc nhìn ngôn ngữ, Hữu
Đạt cho rằng: Thơ là một thể loại của văn học đợc trình bày bằng hình thức ngắngọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âmriêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất dớicác hình tợng nghệ thuật Có lẽ định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đợc xem là chung nhất:
“Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, nhữngcảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”.Vậy ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ nh thế nào? Ngôn ngữ thơ thoát thai từ ngônngữ đời sống, nhng chung quy không phải là ngôn ngữ hàng ngày Đó là ngôn ngữcủa một tiếng nói khác, một ngôn ngữ xây dựng trên một ngôn ngữ Để hiểu rõ hơn
Trang 9chúng tôi xin đợc trình bày một số đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ nh sau.
a Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ
Khác với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có đặc trng giàu tính nhạc Mà tínhnhạc lại đợc tạo bởi nhiều yếu tố: kết cấu ngữ pháp, từ vựng… và thiết tha rạo rực, băn khoăn đặc biệt là vần, thanh
điệu và nhịp điệu Cùng khai thác ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ đời sống, song chỉ
có thơ mới có nhạc, trong văn xuôi các đặc tính thanh học của ngôn ngữ không đợc
tổ chức (nh cao độ, cờng độ, trờng độ… và thiết tha rạo rực, băn khoăn) thì ngợc lại với thơ các đặc tính ấy, đợc tổchức một cách chặt chẽ, có dụng ý, và các đơn vị âm thanh cũng đợc phát huy mộtcách tối đa (nguyên âm và phụ âm) Các thuộc tính ấy đợc lu giữ, truyền đạt trongkhi tổ chức các quá trình thi ca, làm nên tiết tấu cho thơ
Theo các nhà nghiên cứu, tính nhạc đợc thể hiện trong thơ thông qua các mặtsau: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp
Sự cân đối là sự tơng xứng hài hoà giữa các dòng thơ Đối với nhà thơ hiện đại,
có lẽ yêu cầu này không khắt khe Tuy vậy, nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quảnghệ thuật của phép đối xứng trong thơ của mình
Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi độ caogiữa hai nhóm thanh điệu, các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới đã vận dụng đặc
điểm này một cách tối u
Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự trùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cú
Có thể khẳng định rằng nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngônngữ thơ Chính dới hiệu quả của tiết tấu và vần này mà chất liệu ngôn ngữ thơ cónét riêng rất tiêu biểu giống nh tiết tấu và hoà thanh trong âm nhạc Chính bởi ngônngữ thơ có tính nhạc mà thơ đã trở thành phần lời cho nhiều ca khúc
b Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ đời sống nhng lại đợc chọn lọc, tinh giản đến mứcsúc tích nhất Chúng đợc tổ chức chặt chẽ, có khoảng ngắt có vần điệu… và thiết tha rạo rực, băn khoăn và có quyluật phối âm riêng tuỳ thuộc vào từng ngôn ngữ
Đến với thơ ngời đọc không chỉ chiếm lĩnh về nội dung mà còn chiếm lĩnh cảhình thức là nhờ cách tổ chức ngôn ngữ đặc biệt của nó Thơ ca có cách nói cáchdiễn đạt riêng, khác với văn xuôi và lời ăn tiếng nói hàng ngày Mỗi cá nhân có một
sở trờng khác nhau, do quá trình phát triển hay do cá tính, phong cách, trình độ vàcách rèn luyện khác nhau, đặc biệt đối với những nhà thơ tài năng thì họ không thểkhông có một kho từ vựng riêng, có cách ngắt nhịp và đặt câu khác biệt, từ đó mà
họ tạo nên một phong cách, cá tính của riêng mình
Khác với văn xuôi, thơ ca là một thể loại chỉ dùng một lợng hữu hạn các đơn vị
Trang 10ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống xã hội, đồng thời cũng có điều kiện
ký thác đợc nỗi niềm của bản thân Chính vậy, mà thơ cần đến một loại ngôn ngữ
đặc biệt với độ “tinh luyện” cao, đòi hỏi sự công phu trau chuốt và sức sáng tạokhông ngừng của của thi nhân
Do quy mô của tác phẩm, thơ ca thờng sử dụng từ ngữ hết sức “tiết kiệm”, tuynhiên sự tiết kiệm đó phải có giá trị nghệ thuật, tính hàm súc cũng có nghĩa là phảichính xác, giàu hình tợng, và có tính truyền cảm, thông qua đó mà thể hiện đợcphong cách của ngời nghệ sĩ
Để miêu tả bức tranh hiện thực, văn xuôi làm việc trớc hết bằng các thao táckết hợp Văn xuôi các thông báo bao giờ cũng đợc dùng để nhắc gợi đến ngữ cảnh,chứ hoàn toàn không phải để giải thích các đơn vị trong mã ngôn ngữ Nếu nh trongvăn xuôi kỵ sự tồn tại một cách tiềm tàng, trong ý thức ngôn ngữ của chúng ta, chứkhông xuất hiện trên thông báo thì ngợc lại đó cũng là thủ pháp làm việc của thơ,trong thơ tính tơng đồng của các ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo,nhà thơ đã t duy trên chất liệu ngôn ngữ một cách khá đặc thù, “thơ phải đợc ý ởngoài lời, trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của ngời làm thơ Cho nên ýthừa hơn lời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn ý thì công phu mà vẫn dụng Cònnhiều ý hết mà lời thì không đáng ngời làm thơ vậy” (Ngô Lôi Pháp) Khác vớingôn ngữ văn xuôi cần sự chính xác, tờng minh, ngôn ngữ thơ lại cần phải có sự đanghĩa, cần phải có sự tiềm ẩn sâu xa
Theo Tômasépki, ngôn ngữ thơ không dày đặc nh trong văn xuôi mà chia rathành phần ngắn hay dài theo âm luật Các thành phần này đợc chia ra thành câuthơ và thông thờng lại chia thành các dòng thơ nhỏ hơn
Nh chúng ta đã biết, đặc trng nổi bật của ngôn ngữ thơ ca, xét về mặt ngôn ngữhọc là ở sự tổ chức âm thanh một cách hài hoà và có quy luật chặt chẽ Do đó ngônngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh và có nhạc điệu Theo nhà thơ Sóng Hồng: “Thơ làmột hình thái nghệ thuật cao quý tinh vi… và thiết tha rạo rực, băn khoăn thơ là tình cảm và lý trí kết hợp mộtcách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy đợc diễn đạt bằngnhững hình tợng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhịp điệu khác th-ờng” Chính vì vậy mà thơ đem lại một đặc trng cũng rất nổi bật là tính truyền cảmcao
Tóm lại thơ là sự tổ chức ngôn ngữ trên cơ sở của hệ thống nhịp điệu, tính chấttối đa về nghĩa trên một đơn vị diện tích ngôn ngữ hẹp nhất, sắc thái chủ quan củangời viết trong mức độ cần thiết đã tạo cho ngôn ngữ thơ ca có những phẩm chất
đặc biệt Nhờ những phẩm chất đó mà ngôn ngữ thơ ca có khả năng vô tận trong
Trang 11việc miêu tả những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới tâm hồn con ngời.
1.2 Về thơ Nôm Đờng luật trung đại Việt Nam
1.2.1 Sơ lợc quá trình phát triển thơ Nôm Đờng luật trung đại
Có thể khẳng định rằng: Hệ thống thể loại văn học chữ Hán có trớc thể loạivăn học chữ Nôm Lý do là chữ Hán đợc sử dụng nh một công cụ có sẵn để tổ chứcchính quyền, phục vụ cho hoạt động chính trị, xã hội, bang giao mà các thể loại vănhọc đợc hình thành Do đó thể loại văn học trung đại ngoài chức năng văn học còn
có chức năng ngoài văn học Hai hệ thống này thoạt nhìn thì trái ngợc nhau, nhng
nó lại tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau cùng phát triển tạo thành một hệ thốngthể loại văn học trung đại hoàn chỉnh
Thơ Nôm Đờng luật đợc bắt đầu từ thế kỷ XIII nhng thời kỳ này chỉ mới là bớc
đi đầu tiên, cha có một thành tựu nào đáng kể Phải đến thế kỷ XV thơ Nôm Đờngluật mới thực sự phát triển
Từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hơng thơ Nôm Đờng luật ở vào giai đoạn phát
triển rực rỡ Nguyễn Trãi có công lớn đầu tiên cho việc xây dựng lối thơ này Quốc
âm thi tập ra đời là một minh chứng để khẳng định cho sự xuất hiện một thể thơ
mới: Thơ Nôm Đờng luật Thơ Nôm Đờng luật thực chất bắt nguồn từ một thể thơcủa Trung Quốc đó là thơ Đờng luật, đã mất đi sự gò bó khi đợc các nhà thơ ViệtNam cải tiến một cách triệt để tạo thành một thể thơ của dân tộc mình Nguyễn Trãi
đã ghi ấn vào văn học dân tộc thông qua sự phá cách trong sáng tác của mình Cụ
thể: Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc âm thi tập … đã
tạo nên phong cách thời đại của thơ Nôm Đờng luật Cùng với xu hớng dân tộc hoáhình thức thể loại, xu hớng xã hội hoá trong nội dung phản ánh là cách sử dụngngôn ngữ độc đáo đã giúp Nguyễn Trãi dễ dàng phản ánh một cách tốt nhất trêntầm vĩ mô
Xét theo tiến trình lịch sử, thơ Nôm Đờng luật phát triển không đồng đều Cóthể nói, thơ Nôm Đờng luật thế kỷ XV, XVI đã đạt đợc những thành tựu hết sức rực
rỡ, trong khi đó thế kỷ XVII, nửa đầu thế kỷ XVIII thơ Nôm Đờng luật lại có vẻchững lại, văn học thời kỳ này có lợng mà không có chất, không xuất hiện những g-
ơng mặt tên tuổi Tuy nhiên, cũng không nên phủ nhận tất cả, mặc dù không cónhững thành tựu đáng kể nhng cũng có những đóng góp ít nhiều cho sự phát triểncủa thơ Nôm Đờng luật, tiêu biểu là Trịnh Căn, Trịnh Doanh, Trịnh Cơng, TrịnhSâm… và thiết tha rạo rực, băn khoăn
Cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX thơ Nôm Đờng luật đợc khởi sắc trởlại Với sự xuất hiện của “bà chúa thơ Nôm” đã giành lại vị trí vốn có trớc đây của
Trang 12thơ Nôm Đờng luật và đợc phát triển một cách tốt nhất Hồ Xuân Hơng đã bớc tiếp
xu hớng dân tộc hoá đồng thời chuyển nhanh trên con đờng dân chủ hoá nội dung
và hình thức thể loại Hồ Xuân Hơng đã cởi trói cho mình khỏi “bóng ma” tôn giáohay học thuyết chính trị nào đó, để giải toả hoàn toàn giáo điều phong kiến Bằngsáng tác của mình, Hồ Xuân Hơng đồng thời thực hiện một cuộc cách tân đầy ýnghĩa Cuộc sống đời thờng đã làm mất đi sự trang nghiêm “cao quý” của thơ Đờngluật, còn lại chỉ là một sự nguyên sơ, chất phác, dân dã Đó cũng là đối tợng thẩm
mỹ của thơ bà Cái bản năng, trần tục vốn xa lạ với phong cách trang trọng, cao quýcủa thơ Đờng luật bỗng trở nên thích hợp với phong cách trữ tình trào phúng củathơ Hồ Xuân Hơng Chính vì vậy mà đóng góp của Hồ Xuân Hơng không chỉ dântộc hoá mà cả dân chủ hoá trong thơ Đồng thời với sự đóng góp đó là ý thức dântộc đã phát triển tới một giai đoạn phát triển mới, toàn diện và sâu sắc hơn Đến đâythơ Nôm Đờng luật đã tiến tới sự ổn định về cấu trúc hình thức, thơ Nôm Đờng luật
đã đạt tới đỉnh cao Cùng với Hồ Xuân Hơng chúng ta không thể không thấy đợc sự
đóng góp đáng kể của Nguyễn Công Trứ và Bà huyện Thanh Quan trong quá trìnhdân chủ hoá nội dung và hình thức thơ Nôm Đờng luật
Giai đoạn cuối cùng của thơ Nôm Đờng luật phải kể đến hai tác giả lớn là TúXơng và Nguyễn Khuyến Từ đây, tầm khái quát nghệ thuật của thơ Nôm Đờng luậtvừa đợc mở rộng, vừa đợc nâng cao hơn, chức năng phản ánh đã đợc mở rộng, vơnlên phản ánh xã hội Cùng với Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hơng, thì Tú Xơng
và Nguyễn Khuyến cũng để lại phong cách tác giả trong thơ Nôm Đờng luật
Suốt bảy thế kỷ phát triển, thơ Nôm Đờng luật trung đại đã tồn tại với t cách là
một thể loại của văn học dân tộc PTS Lã Nhâm Thìn, tác giả Thơ Nôm Đờng luật
khẳng định: “Thơ Nôm Đờng luật là một trong những thể loại độc đáo vào bậc nhấtcủa văn học Việt Nam Một thể loại có nguồn gốc ngoại lai nhng trong quá trìnhphát triển lại trở thành thể loại văn học dân tộc, có địa vị ngang hàng với những thểloại văn học thuần túy dân tộc nh truyện thơ viết theo thể lục bát, và ngâm khúc viếttheo thể song thất lục bát” [30; 5]
1.2.2 Cái tôi trong thơ Nôm Đ“ ” ờng luật trung đại
“Cái tôi” là một trong những khái niệm triết học cổ nhất đánh dấu ý thức đầutiên của con ngời về bản thể tồn tại của mình, từ đó nhận ra mình là một con ngờikhác với tự nhiên, là một khác biệt, một cá thể độc lập, khác với ngời khác
ý thức hệ phong kiến không khuyến khích sự phát triển của con ngời cá nhân.Nếu nh thừa nhận, khẳng định sự tồn tại của cái tôi cá nhân, cá thể thì cũng cónghĩa phủ định sự tồn tại và quyền lực của vua chúa
Trang 13Văn học trung đại ý thức về cá nhân cá tính có xuất hiện nhng tồn tại trongnhững quy tắc quy luật khuôn mẫu ta gọi là tính quy phạm Cái tôi ở đây chủ yếu làTôi vũ trụ, cái tôi cá tính đã khách thể hoá vũ trụ Các nhà thơ luôn đi tìm sự hàihoà giữa cái hữu hạn- cái vô cùng, nhất thời - vĩnh cửu, quá khứ - thực tại, thực - h ,
động - tĩnh Con ngời không tách mình khỏi vũ trụ Tuy cha ý thức đợc sự tồn tạicủa cá nhân cá thể do cảm thức cá nhân của con ngời ban đầu còn quá mờ nhạt, nh-
ng chúng ta thấy rằng văn học trung đại dù có ảnh hởng của t tởng phong kiến baonhiêu thì vẫn cha quyết định toàn bộ số phận và thực trạng của nó Thực tế văn họcsau này đã minh chứng cho điều đó Về sau cái tôi xoá dần cái phi ngã quy phạm đểbộc lộ tính chất tự nhiên đó là sự xuất hiện những gơng mặt tiêu biểu: Nguyễn Trãi,Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Bà huyện Thanh Quan, Tú Xơng và NguyễnKhuyến… và thiết tha rạo rực, băn khoăn mỗi ngời mỗi vẻ, không ai giống ai, tạo nên phong cách cho riêng mình,nghĩa là mỗi ngời là một cá tính nghệ thuật Cái tôi trong thơ Nôm Đờng luật cũng
đã đợc thể hiện rất rõ nét, trớc tiên là ở hình thức ngôn từ Các nhà thơ đã sử dụngrất nhiều các từ ngữ đại từ nhân xng:
Hồ Xuân Hơng đã thể hiện cái tôi cá nhân hết sức mãnh liệt, táo bạo nhngcũng không kém tự tin, chủ động trớc cuộc đời:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân H ơng mới quệt rồi.
Không chỉ xng danh tên mình không mà Hồ Xuân Hơng cũng đã khẳng định
đợc vai trò của mình một cách rất ngang tàng, đầy thách thức với việc tự cho mình
là bề trên của lũ ngớ ngẩn, dốt nát:
Khéo khéo đi lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ.
Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.
Đồng thời ông cũng đã nhận thấy ở mình một giá trị nhất định, ông luônkhẳng định sự tồn tại cái tài ở bản thân mình một cách ngang tàng và “ngông”:
Trang 14Trời đất cho ta một cái tài, Giắt lng dành để tháng ngày chơi.
Nhiều khi sự ngất ngởng của cá nhân tác giả đã dám khẳng định tầm vóc củamình trớc vũ trụ, con ngời, khẳng định cái “ta” trong thơ hết sức độc đáo:
Thú yên là trời đất có riêng ta Nào ai ai biết chăng là…
Đến với thơ Tú Xơng cái tôi cũng không kém phần ngang tàng, ngôngnghênh Đó cũng là một cách khẳng định vị trí cái tôi của mình trong xã hội:
Đất biết bao giờ sang vận đỏ Trời làm cho bõ lúc chơi ngông.
Tú Xơng là ngời đã dùng rất nhiều các đại từ nhân xng và từ xng hô Lớp từnày phản ánh trực tiếp các mối quan hệ giao tiếp, phản ánh trình độ nhận thức, thái
độ tình cảm của ngời nói với ngời nghe, thậm chí còn có thể bộc lộ nhân cách conngời Cùng thời Nguyễn Khuyến cũng dùng rất nhiều đại từ nhân xng với sự hiệndiện của cái “tôi” tác giả, từ đó suy nghĩ của cá nhân mình đợc xác định trong tơngquan với thế giới xung quanh: anh, em, tôi, bác… và thiết tha rạo rực, băn khoăn (anh giả điếc, bác phỗng đá), rồi:
ông, ta, lũ ta, tớ, lũ tớ, mình… và thiết tha rạo rực, băn khoăn
Tú Xơng, có 69 lần tác giả tự xng về mình thì có ít nhất 19 lần tác giả tự xng
“ông” với ý nghĩa trịch thợng, tự đề cao mình lên Từ xng hô “ông” đợc Tú Xơng sửdụng khi tức giận, bất bình Tú Xơng sử dụng đại từ này với việc tự đề cao mình,thổi phồng mình lên cho nó ngông, để đợc bằng bạn, bằng bè, đề xứng với đời,xứng với cái tài mà ngời đời không đợc biết đến và sử dụng
Ông trông lên bảng thấy tên ông
Ông nốc rợu vào ông nói ngông
Hay là:
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.
Nói tóm lại, dù các nhà thơ Nôm Đờng luật trung đại có tự khẳng định mình,
tự đề cao hay chế diễu bản thân bằng cách này hay cách khác thì họ cũng khôngphá đợc biên giới khuôn phép và phi khuôn phép Xã hội mà họ đang tồn tại và pháttriển là một xã hội nhố nhăng, mọi giá trị bị đảo ngợc Vì thế mà tiếng cời, lẫn sựkhẳng định bản thân cá thể cũng đều để níu kéo cái ngời khuôn phép, để nó không còn
đi quá xa, không vợt quá giới hạn Chính điều đó mà cái tôi trong thơ Nôm Đờng luậttrung đại là cái tôi trong khuôn phép, trong ý thức giữa cái ta của cộng đồng
1.2.3 Một số đặc điểm về từ ngữ trong thơ Nôm Đờng luật trung đại
Trang 15Ngôn ngữ có một vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học nói chung và thơ
ca nói riêng Nó là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học Nói nh M.Gorki: Ngônngữ là yếu tố thống nhất của văn học, là một trong những yếu tố quan trọng thể hiệncá tính sáng tạo phong cách và tài năng của nhà văn Ngôn ngữ văn học là hình tháihoạt động ngôn ngữ mang tính thẩm mỹ Nó đã sử dụng để phục vụ nhiệm vụ trungtâm là xây dựng hình tợng văn học và giao tiếp nghệ thuật Trong thơ ngôn ngữ đợc
tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, cô đọng, hàm súc và đặc biệt phải truyền cảm Mỗinhà văn, nhà thơ tài năng không thể tạo cho mình một thế giới ngôn ngữ, cụ thể là
hệ thống từ ngữ riêng bắt nguồn từ cái kho tàng ngôn ngữ chung của đời sống
Theo tác giả của cuốn Thơ Nôm Đờng luật thì hệ thống ngôn ngữ thơ Nôm
Đờng luật bao gồm hai bộ phận: bộ phận ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ đời sống và
bộ phận ngôn ngữ ngoại nhập, ngôn ngữ sách vở Tuy nhiên chúng tôi xin phép chỉtrình bày một số đặc điểm cơ bản của hệ thống từ ngữ trong thơ Nôm Đờng luậttrung đại
Các nhà thơ Nôm Đờng luật đã sử dụng một hệ thống từ ngữ hết sức phongphú và đa dạng trong tác phẩm của mình, nổi bật là việc sử dụng từ láy, dùng thànhngữ tục ngữ, cách nói dân gian, ngôn ngữ đời sống,… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Với luận văn này chúng tôichỉ điểm qua một số đặc điểm nổi bật về hệ thống từ ngữ đợc các nhà thơ Nôm Đ-ờng luật sử dụng
a Từ láy đợc sử dụng nhiều
ở phần này chúng tôi chỉ điểm qua một số nhà thơ tiêu biểu Cấu trúc củabản thân ngôn từ do cách lựa chọn từ ngữ, cách tổ chức lời thơ, nhịp thơ mà nhà thơcơ thể chuyển tải đợc t tởng tình cảm trong tác phẩm của mình
Trớc tiên phải nói đến thơ Nôm Đờng luật Hồ Xuân Hơng, nhà thơ XuânDiệu nhận xét: “Tài dùng chữ độc đáo” của Hồ Xuân Hơng trong việc sử dụng động
từ, tính từ và nhất là sử dụng từ láy với tần số cao và rất hiệu quả, làm cho thế giớithơ thờng thắm tơi, tràn đầy sức sống Đọc thơ Hồ Xuân Hơng, ấn tợng bởi đa dạng
về từ láy, từ láy có khả năng gợi đợc hình ảnh, màu sắc và đờng nét, cử chỉ, vận độngnh: xì xòm, nhấp nhổm, lăn lóc, ngó ngoái, mấp máy, năng năng nhấc, thích thíchmau, tum lum, lún phún, đầm đìa… và thiết tha rạo rực, băn khoăn ngoài ra gợi màu sắc biểu cảm: ân ái, lâng lâng,ngẩn ngơ, ngao ngán, rầu rì, nổi nênh, tấp tểnh, lênh đênh… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Từ láy có khả năng làm
“nhoè” nghĩa, gợi cho ngời đọc một sự liên tởng nhiều chiều khác nhau
Tú Xơng cũng đã sử dụng từ láy một cách có hiệu quả: đì đạt, loẹt loè, tấptểnh, xì xèo… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Tú Xơng đã trả lại nguyên vẹn vẻ đẹp thô sơ mộc mạc của từ thuầnViệt nhng không làm cho ngời đọc có cảm giác nhàm chán và đơn điệu
Trang 16Nguyễn Khuyến sử dụng rất nhiều từ láy để tạo nên hình ảnh thơ mangphong cách của mình Đặc biệt những bài thơ mang tính u mua, hóm hỉnh, từ láy
đóng một vai trò rất lớn khi thể hiện tâm t tình cảm của bản thân: khò khò, hi hóp,giật giò, quang quác quác, tẻ tè te, khoẻ khoe, năm nẻo, ăm nao, sầm sập, lốm đốm,lung lay, nhập nhèm, khấp khểnh, chán ngán, lủng củng, lạnh lẽo, tẻo teo, lơ phơ,hắt hiu… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Qua hệ thống từ láy nh vậy, nhà thơ đã làm vang lên âm hởng của sự đùavui, hóm hỉnh trong giọng thơ Từ láy đợc sử dụng dày đặc nh vậy vừa thể hiện đợcgiọng điệu hóm vừa thể hiện đúng bản chất dân dã của nhà thơ Nguyễn Khuyến
b Thành ngữ, tục ngữ đợc vận dụng nhiều
Thành ngữ, tục ngữ thể hiện trí tụê và tâm hồn dân tộc, góp phần làm nên đặc
điểm dân tộc trong tác phẩm văn học Bên cạnh đó làm cho câu thơ, bài thơ trở nênbình dị gần gũi với đời sống Hồ Xuân Hơng là ngời sử dụng thành ngữ, tục ngữ với
tỉ lệ cao nhất Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và các văn nhân thời
Hồng Đức có rất ít thành ngữ, tục ngữ, một câu có thành ngữ, tục ngữ/ 516 câu thơ.Thơ Bà huyện Thanh Quan lại hoàn toàn không có dấu vết nào của ngôn ngữ vănhọc dân gian Thơ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã sử dụng thànhngữ, tục ngữ với số lợng đáng kể vì thành ngữ, tục ngữ đặc điểm là ngắn gọn, cân
đối về hình thức, hàm súc về nội dung Bên cạnh đó thế kỷ XV, XVI cha phải làthời kỳ phát triển mạnh của ca dao, tục ngữ
Với Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm thơ chủ yếu là công
cụ của t duy, giữ chức năng triết lý và giáo huấn nhng cũng mang phong vị dân tộc
đậm đà
Thơ Hồ Xuân Hơng, Tú Xơng ảnh hởng tục ngữ, thành ngữ nhiều, ảnh hởng
ca dao ít, chẳng hạn Hồ Xuân Hơng chỉ có 2 câu so với 8 câu ảnh hởng tục ngữ, TúXơng 2 câu ảnh hởng ca dao, 7 câu ảnh hởng thành ngữ, tục ngữ Những tri thức về
tự nhiên xã hội, những phơng châm ứng xử giữa ngời với ngời, những kinh nghiệmsống, đạo đức dân tộc đợc đúc rút trong thành ngữ, tục ngữ, là nguồn thi liệuphong phú để thể hiện chủ đề triết lý và giáo huấn Nội dung thơ Nôm Đờng luật đãtìm thấy một hình thức biểu hiện bằng việc sử dụng thành ngữ tục ngữ
Hồ Xuân Hơng là ngời sử dụng thành ngữ tục ngữ nhiều có tác dụng gópphần biểu đạt t duy trí tuệ Việt Nam cùng với việc biểu hiện tâm hồn dân tộc, có thểnói thành ngữ, tục ngữ trong thơ bà là phơng tiện để thể hiện tình cảm có chức năngbiểu đạt tâm trạng Thành ngữ, tục ngữ đa cài làm cho câu thơ đợc mở rộng sự liên
tởng của văn bản: cố đấm ăn xôi (Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm), làm mớn không công (Cầm bằng làm mớn, mớn không công), xấu máu đừng thèm ăn của độc (Xấu máu
Trang 17thì khem miếng đỉnh chung), đứt đuôi nòng nọc (Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé)
Đặc biệt trong bài Mời trầu và Bánh trôi nớc, Hồ Xuân Hơng dùng thành ngữ mang tính trừu tợng để miêu tả hình ảnh cụ thể làm cho nghĩa ngầm của bài thơ rõ ra bảy
nối ba chìm, xanh nh lá bạc nh vôi Hầu nh thành ngữ nói về những hoạt động xã
hội, về hoạt động kinh tế, về quan hệ ứng xử khi đi vào thơ Hồ Xuân Hơng đều cómột chức năng biểu hiện duyên phận ngời phụ nữ
Nguyễn Khuyến cũng dùng thành ngữ, tục ngữ quen thuộc, gần gũi với lời ăn
tiếng nói hàng ngày: nhạt nh nớc ốc bèo, nuôi ong tay áo ngôn ngữ thơ giản dị
cùng với giọng thơ vui vẻ, gần gũi hiện rõ chân tình của nhà thơ
Từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hơng, Tú Xơng và Nguyễn Khuyến là cả mộtquá trình tiếp thu, sáng tạo ngôn ngữ văn học tả chỗ là tiếng nói chung của dân tộc,của cộng đồng, ngôn ngữ văn học dân gian trở thành ngôn ngữ nhân văn, góp phầntạo nên phong cách tác giả
1.3 Phong trào Thơ Mới (1932 - 1945)
1.3.1 Phong trào Thơ Mới và các nhà thơ tiêu biểu
Khái niệm Thơ Mới trớc hết ta nên hiểu rằng là tên gọi của một phong trào
thơ diễn ra trong khoảng thời gian 1932-1945 Thơ Mới 1932-1945 quả đúng là mộthiện tợng cha từng có trong lịch sử thơ ca dân tộc suốt hàng nghìn năm Khái niệm
Thơ Mới lúc đầu đợc “mệnh danh”, nhận diện từ phơng diện hình thức và thể loại,
khác với “thơ cũ”… và thiết tha rạo rực, băn khoăn (năm 1932, trên báo Phụ nữ tân văn, số 122, Phan Khôi lên án
“thơ cũ” là “bị câu thúc quá”… và thiết tha rạo rực, băn khoăn và ông đề xuất một lối thơ “đem ý thật có trong tâmkhảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết,
tạm mệnh danh là Thơ Mới”) Khi phong trào Thơ Mới ra đời, ngời ta quan niệm
Thơ Mới là thơ tự do Tự do đối với niêm luật và mọi phép tắc của thơ cổ điển, thơtruyền thống
Nhng đến những giai đoạn sau của phong trào Thơ Mới, ngời ta lại thấy cácthi sĩ trở về với nhiều thể thơ truyền thống Vậy thì, nếu chỉ từ phơng diện hình thức
và thể loại mà cho rằng Thơ Mới là thơ tự do là không ổn Về sau (từ những năm 40của thế kỷ XX) khái niệm Thơ Mới đã đợc nhận diện từ phơng diện nội dung, nó làtiếng nói của cái tôi cá nhân- cá thể
Nói nh vậy, ta nên hiểu rằng Thơ Mới là đổi mới cả nội dung lẫn hình thứcthơ, nhng cái chính là nội dung, là phần hồn của nó- Hoài Thanh gọi là “tinh thầncủa thơ” Hoài Thanh cho rằng thơ Việt Nam từ thời cổ điển đến thời hiện đại là đi
từ “chữ ta” đến “chữ tôi” “Cái tôi” ở đây đợc hiểu theo nghĩa cá nhân cá thể Còncá nhân tự hoà tan vào cộng đồng đẳng cấp của gia đình gia tộc - Hoài Thanh gọi là
Trang 18“cái ta” Quả thật phong trào Thơ Mới, “cái tôi” cá nhân lên tiếng đòi quyền sống,
sau nhiều thế kỷ bị “cái ta” đè nén Cho đến nay, hai chữ Thơ Mới đã mang một
hàm nghĩa rộng hơn, chỉ một phong trào, một trào lu thơ ca đi vào lịch sử văn học
nh một cuộc cách mạng về thi pháp, thơ Việt Nam bớc qua giai đoạn cổ điển để tiếnvào quỹ đạo hiện đại Nh vậy phong trào Thơ Mới là một cuộc cách mạng trong thơ
ca, xét trên cả ba phơng diện: thể loại, nội dung-t tởng-tình cảm và “phong trào”.Thơ ca thời kỳ này mang một quan niệm mới, quan niệm cá nhân, cái tôi tự biểuhiện và tinh thần duy lý phơng Tây; Thơ Mới gắn với tinh thuần lý luận và thơ trữtình điệu nói; Thơ Mới đã sáng tạo ra các thể thơ mới và cải tạo các thể thơ truyềnthống Đó là ba đặc điểm nổi bật của Thơ Mới
Quá trình hình thành và vận động của phong trào Thơ Mới trải qua ba giai
đoạn (ba chặng): 1932-1935, 1936-1939 và 1940-1945
Giai đoạn 1932-1945 là thời kỳ Thơ Mới ra đời và chiến thắng nhng đồngthời cũng là giai đoạn gian nan nhất của phong trào Thơ Mới Năm 1932, trên báo
Phụ nữ tân văn, ông Phan Khôi chính thức lên tiếng đòi cải cách thơ ca Ông trình
ra giữa làng thơ một bài thơ phá cách tên là Tình già Tiếp đó, nổ ra nhiều cuộc
tranh luận cũ-mới diễn ra một cách gay gắt, quyết liệt Hăng hái nhất trong cuộctranh luận này về phe Thơ Mới, có Nguyễn Thị Kiêm (bút danh: Nguyễn Thị ManhManh), Lu Trọng L, Vũ Đình Liên… và thiết tha rạo rực, băn khoăn họ đấu tranh cho Thơ Mới bằng lý lẽ và bằngsáng tác Sự chiến thắng của Thơ Mới phải là những bài thơ hay, nó phải thực sự làthơ Về phơng diện nội dung, Thơ Mới giai đoạn đầu rất đa dạng trong đề tài, chủ
đề Nổi bật ở giai đoạn này là tác giả nh Thế Lữ, Lu Trọng L, Nguyễn Nhợc Pháp,Huy Thông, Vũ Đình Liên… và thiết tha rạo rực, băn khoăn mỗi nhà thơ đều tìm cho mình một phong cách riêng,thích hợp với cảm quan của mình Họ góp tiếng thơ và tài năng của mình vào ThơMới, góp phần thúc đẩy nhanh chóng vợt qua những chập chững ban đầu và giànhhẳn địa vị của mình trên thi đàn dân tộc
Đến những năm 1936-1939, u thế của Thơ Mới đợc khẳng định khi lực lợngtham gia phong trào Thơ Mới ngày một đông đảo ở giai đoạn này, cuộc tranh luậnthơ cũ-mới lắng xuống Thơ Mới đã bắt đầu xuất hiện những giọng điệu, phongcách riêng mới mẻ, hiện đại, tiêu biểu là Huy Cận, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Hàn Mặc
Tử… và thiết tha rạo rực, băn khoăn nhất là Xuân Diệu Thế Lữ phải nhờng ngôi “đệ nhất thi sĩ” cho Xuân Diệu nhà thơ đợc coi là mới nhất của phong trào Thơ Mới Thơ Mới lúc này hoàn toànthắng lợi Có thể coi Xuân Diệu là cái bản lề của phong trào Thơ Mới, với XuânDiệu cái tôi Thơ Mới đã chạm tới đáy lòng mình và vì thế nó bắt đầu khủng hoảng:
-“Chớ để riêng em phải gặp lòng em”
Trang 19Tình trạng của giai đoạn thứ ba của Thơ Mới bắt đầu khoảng 1939, 1940 đến
1945 (ranh giới giữa các giai đoạn này không thật rành mạch) Thơ Mới dần dần đivào thoái trào, bế tắc, dờng nh chỉ là các hớng tìm tòi khác nhau của cuộc khủnghoảng Thơ Mới mà bắt đầu là Xuân Diệu Huy Cận từ nỗi buồn nhân gian tìm đếnniềm vui vũ trụ - một lối thoát ly vào cõi siêu hình Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viênmuốn sáng lập trờng thơ điên, loạn, Vũ Hoàng Chơng triền miên trong rợu và thuốcphiện Chính cảm hứng sáng tác đã có sự thay đổi mà họ cũng đã tìm cho mình mộthình thức thể hiện mới trong thơ Các nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể
đến Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Chế Lan Viên, Bích Khê, HànMặc Tử, hớng tìm về truyền thống, tìm về “hơng quê”, “chân quê” có Nguyễn Bính,Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, tìm vào lịch sử có Huy Thông, Thâm Tâm… và thiết tha rạo rực, băn khoăn
Tóm lại Thơ Mới thuộc vào văn mạch dân tộc không chỉ ở hình thức mà lẫnnội dung Thơ Mới 1932-1945 thực sự là một cuộc cách tân về thơ không chỉ trênphơng diện nội dung mà còn trên phơng diện hình thức, đặc biệt là thể loại Với sự
đổi mới đó, Thơ Mới đã góp phần đắc lực hoàn tất về cơ bản một quá trình hiện đạihoá văn học dân tộc
1.3.2 Cái tôi trữ tình trong Thơ Mới
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới
và con ngời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức cácphơng tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo mangtính thẩm mỹ, nhằm truyền đạt những t tởng tình cảm đến ngời tiếp nhận
Cái tôi trữ tình khác với cái tôi thi nhân, đó là sự khác nhau giữa cuộc đời vànghệ thuật, giữa chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện thực giữa nguyên mẫu và
điển hình… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi nhà thơ, nó còn là cái tôi thứ haihoặc cái tôi đợc khách thể hoá thăng hoa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật Cáitôi trữ tình có quan hệ chặt chẽ với cái tôi nhà thơ nhng từ cái tôi nhà thơ đến cái tôitrữ tình còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa
Đầu thế kỷ XX, đặc biệt là những năm 30 của thế kỷ này có những biến độnglớn trong làng thành thị Việt Nam, tầng lớp tiểu t sản đông lên về số lợng Trongbối cảnh đó, nó làm cho họ hoang mang, dao động, mất phơng hớng chính vì vậy họmuốn thoát ly khỏi cuộc sống thực tại Tuy nhiên, trong khi thoát ly, họ cũng đãnhận thấy cần phải khẳng định mình, vì cái tôi nhà thơ vốn tồn tại giữa cuộc đời đó
Thơ Mới đã tự chuyển mình để cái ta phi ngã trong thơ điệu ngâm sang cáitôi cá nhân cá thể trong thơ điệu nói, nhng câu thơ không phải là câu “dài dòng văntự”, mà là những câu thơ bất ngờ, ngắn gọn và mạnh mẽ
Trang 20Cái tôi trữ tình trong Thơ Mới giai đoạn đầu là cái tôi yêu đời, trong sáng thểhiện qua hình ảnh thiên nhiên tơi đẹp tràn đầy sức sống, ngợi ca con ngời, ca ngợitình yêu trong sáng và cái tôi cũng bắt đầu thấm đợm nỗi buồn phảng phất đau khổ
và cô đơn Mối bất hoà với thực tại đã làm cho họ trở nên mất phơng hớng và niềmtin vào chúng Giai đoạn đầu là giai đoạn khởi sắc của Thơ Mới, cũng đã cho tathấy sự khẳng định vị trí của mình với tiếng nói của cái tôi cá nhân Cái tôi Thơ Mớivừa xuất hiện nên cũng còn có sự dè dặt
Tâm trạng của chúa sơn lâm trong Nhớ rừng là một bi kịch, bởi vì đối với
chúa sơn lâm rừng là tất cả Nhớ rừng là nhớ tiếc tự do, thời oanh liệt… và thiết tha rạo rực, băn khoăn còn thực tạithì sao? Nó nh một cũi sắt lớn cầm tù trói buộc, tầm thờng và bất lực Kháo khátrừng là khao khát đợc là mình Đó cũng là khát vọng của cái tôi đòi giải phóng
Thế Lữ cũng là ngời nhìn đời với cặp mắt tơi mới và là ngời đầu tiên dámcông khai tuyên bố lẽ sống của mình, là đi tìm cái đẹp giữa trần gian:
Tôi là ngời bộ hành phiêu lãng,
Đờng trần gian xuôi ngợc để vui chơi.
Thất vọng trớc thực tại cuộc sống, cái tôi tìm đến tình yêu, nhng cha có tìnhyêu thực sự trong thơ Thế Lữ Tìm đến tình yêu những tởng sẽ đợc “sống trongnguồn thú đắm say”, nào hay ở đó cũng khiến thi nhân:
Nhng cùng sống trong đau khổ nữa, Miệng cời trong lúc nhắm chua cay.
Dờng nh cái tôi trữ tính trong thơ Thế Lữ cha nhập hẳn vào cuộc sống này:
“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời - Trăm nay theo dõi áng mây trôi”… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Thơ ông thiên
về nhìn ngắm mà cha ôm riết lấy cuộc đời Tình cảnh bế tắc sớm đến với Thế Lữ,thi sĩ bắt đầu muốn quên mình trong những cảnh “truỵ lạc” say sa Sau khi “mấy
vần thơ” ra đời, Thế Lữ cũng cạn dần nguồn thơ Đến Mấy vần thơ mới (1940) xuất
hiện một Thế Lữ chán chờng, tuyệt vọng
Cái tôi trữ tình là một hiện tợng lịch sử nên nó cũng có những hình thái lịch
sử Nó trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội, thời đại, lịch sử củacá thể ý thức về cái tôi trữ tình trong lịch sử văn học cũng có sự khác nhau
Cái tôi trữ tình cũng bị thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, theo cảm quancủa chủ thể sáng tạo ở giai đoạn thứ hai của phong trào Thơ Mới, cái tôi trữ tìnhdần mất đi dáng điệu dè dặt của thời kỳ trớc Cái tôi đợc đào sâu và khám phá tinh
vi hơn, say sa hởng thụ, tiêu biểu nh Xuân Diệu - nhà thơ mới nhất của phong tràoThơ Mới Là một nhà thơ “thành thực nhất”, ông xuất hiện để khẳng định sâu sắccái tôi cá nhân cá thể của mình
Trang 21Ta là Một! Là riêng! Là thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta.
Hay là:
Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đa và gió lợn
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ng
đã bắt đầu bị khủng hoảng, thậm chí muốn mợn “cặp hài vạn dặm” để trốn chạy cho xacái tôi ấy: “Đi mau trốn nét trốn này-trốn trốn tiếng trốn nhau trốn mình”
Quả thật Thơ Mới là một điệu sầu mênh mông, trong đó có ba mối sầu đậmnhất: sầu nhân thế, sầu thời thế và sầu thân thế Bởi vậy “lửa thiêng” bên cạnh tiếng
ca vui yêu đời, trong sáng, tiếng reo vui của tâm hồn trẻ trung đến với cuộc đời thìcũng là những vần thơ ảo não, tê tái bậc nhất trong Thơ Mới mà Xuân Diệu gọi là
“một bản ngậm ngùi dài” Cái buồn trớc cảnh sông dài trời rộng đã trở thành cái
“buồn điệp điệp” Nó trở thành tâm điểm của cái tôi trữ tình:
Ai chết đó? Nhọc buồn chi lắm thế Chiều mồ côi, đời rét mớt ngoài đờng.
Đến đây hình ảnh con ngời và hình ảnh thiên nhiên không đợc cái tôi cảmnhận cái đẹp trong sáng, tơi tắn đầy sức sống nữa, mà nhờng chỗ cho những hình
Trang 22ảnh hãi hùng ghê rợn, nhờng chỗ cho cái tôi ốm yếu, mê sảng, càng ngày càng xacách hơn với cuộc đời:
Sông buôn phợng nở trong màu huyết Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu.
(Những giọt lệ) Cái tôi trữ tình thể hiện sự bất ổn, bế tắc, mất phơng hớng:
Ta đi về đâu ta chẳng biết Chỉ biết trời xanh là ta say.
Cái tôi trữ tình buông xuôi, bất lực và hoài nghi chính bản thân mình:
- Thả chiếc bách không chèo trên bể khói Mặc trôi về đâu đó nớc non say.
- Ai bảo dùm: Ta có ta không?
Hay:
Với tôi tất cả nh vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.
Nhìn chung cái tôi trữ tình trong Thơ Mới đã bộc lộ hết sức phong phú, mới
mẻ và độc đáo, đợc biểu hiện dới nhiều phơng thức khác nhau Đó cũng là sự thểhiện đồng thời của cái tôi chủ thể bằng nguồn cảm xúc dồi dào, bất tận, với trí tuệ
và sức sáng tạo mạnh mẽ để có đợc một cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam
1.3.3 Những cách tân nổi bật của Thơ Mới
Công lao to lớn của Thơ Mới cần ghi nhận là đã thực hiện đợc cuộc cách tânsâu sắc có ý nghĩa quyết định trong cuộc hiện đại hoá văn học Những cải cách vềthơ của phong trào Thơ Mới đã đợc nêu lên trong nhiều công trình của giới phê bìnhnghiên cứu ở đây, chúng tôi xin phép đợc phác thảo mấy nét tiêu biểu Thơ Mới1932-1945 là một hiện tợng đột xuất trong lịch sử văn học Việt Nam, một cuộccách tân thắng lợi lớn về thơ trên nhiều phơng diện
Cách tân về nội dung và cảm hứng sáng tác trong Thơ Mới Lòng yêu nớc,tinh thần dân tộc là nguồn cảm hứng đáng trân trọng nhất của nó, nó kích thích sựthức tỉnh của ý thức cá nhân, khơi dậy lòng khao khát yêu đời, khao khát sốngmãnh liệt: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối - Còn hơn buồn le lói suốt trămnăm” Thơ Mới đã nói lên đợc “một nhu cầu lớn về tự do và phát huy bản ngã” (TốHữu) Thơ Mới 1932-1945, cho ta thấy ý thức về cái tôi cá nhân đã đợc giải phóngmột cách triệt để Cái tôi của chủ thể sáng tạo đợc giải phóng: điều đó tất yếu hìnhthành khái niệm kiểu tác giả, nói khác đi là kiểu hình tợng tác giả, và cái nhìn cá
Trang 23thể hoá đợc hình thành Trong Thơ Mới hầu nh bất cứ một nhà thơ nào đều có mộtcái tôi cá thể hoá trong cách cảm thụ con ngời và thế giới ý thức về cái tôi cá nhâncá thể cũng đợc bộc lộ rất rõ trong những nhu cầu, khuynh hớng thoát ly của cácnhà Thơ Mới Qua đó ta thấy rằng tính hiện đại không chỉ là khoa học kỹ thuật,không chỉ là triết lý duy lý mà còn bao gồm tính chủ thể của con ngời, tính dân chủ
và tự do của con ngời Thơ Mới đã thể hiện hết mình nghĩa là cái tôi cá nhân cá thểkhông còn dè dặt nữa Nhng đào sâu mãi vào cái tôi khép kín của mình, nó càngcảm thấy cô đơn và nhỏ bé trớc vũ trụ, càng cảm thấy bơ vơ trớc cuộc đời Cái tôi tựtìm thấy cho mình một lối thoát, một hoài vọng vào quá khứ, vào tôn giáo, vàonhững thế giới siêu hình… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Và đây cũng là một cách để mỗi nhà thơ tự bộc bạch cáitôi của riêng mình
Ngôn ngữ thơ từ câu “điệu ngâm” của thơ trung đại sang câu thơ “điệu nói”trong Thơ Mới Hoài Thanh ví thời điểm bột phát của Thơ Mới nh là “cuộc xâmlăng của văn xuôi tràn vào địa hạt thơ, phá phách tan tành” [tr.36] Nhà nghiên cứuPhan Ngọc cho rằng: phép dùng chữ đặt câu hết sức mới lạ nh câu thơ bắc cầu,dùng các liên từ, giới từ, h từ… và thiết tha rạo rực, băn khoăn trong Thơ Mới là sản phẩm của “t duy lôgic” Sựcách tân về ngôn ngữ sử dụng trong Thơ Mới kéo theo giọng điệu thơ cũng bị thay
đổi Cuộc xâm phạm này của Thơ Mới cũng là cuộc xâm phạm vì khí chất văn xuôi
đi vào thơ tạo ra áp lực để kiến thiết câu thơ điệu nói thay thế câu thơ điệu ngâmcủa văn học trung đại
Với câu thơ điệu nói cho ta thấy một sự trong sáng mạch lạc khi chuyển tải ttởng, tình cảm của tác giả kéo theo sự thay đổi về hình thức câu thơ, dòng thơ ngắtdòng hay vắt dòng kỳ lạ độc đáo nhng không “quái đản”
Trời cao xanh ngắt ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về bồng lai.
Những câu thơ bỏ lửng về ý để chuyển vào câu thứ 2, Xuân Diệu vì để thểhiện đúng câu 7 chữ mà ông đành phải vắt dòng:
Cũng nh xa quá nên ta chỉ Thấy núi yên nh một miếng bìa
Có nhiều bài Thơ Mới cũng cho ta thấy cả một câu chuyện, có bố cục cụ thể,
rõ ràng nh: Ma xuân của Nguyễn Bính, cô gái tự kể về mình với chàng trai, câu
chuyện đợc bố cục theo lối kể chuyện dân gian, cách mô tả này của Nguyễn Bínhnhằm mục đích để cho nhân vật trữ tình thể hiện cảm xúc của mình Đặc biệt là
Chùa Hơng của Nguyễn Nhợc Pháp, với ngôn ngữ dân dã, trong sáng đã đem đến
cho chúng ta một câu chuyện tình yêu hết sức hấp dẫn, nhân vật chính là “em”, câu
Trang 24chuyện diễn ra 2 ngày với 5 bớc chuyển cảm xúc, miêu tả tâm trạng bằng nhữngyếu tố tự sự, tạo nên sự mới lạ cho Thơ Mới.
Thơ Mới 1932-1945 có sự cách tân về thể loại Có lẽ đây là cuộc cách tân nổibật nhất trên hành trình hiện đại hoá của văn học dân tộc Thơ Mới đã sáng tạo racác thể loại Thơ Mới và cải tạo các thể thơ truyền thống Từ đây, thơ Việt Nam đãvợt thoát khỏi khuôn vàng thớc ngọc sáo mòn, cứng nhắc của thơ Đờng luật Cácnhà Thơ Mới đã tìm tòi cho mình những thể thức sáng tạo riêng thích hợp để diễn tảnhững “điệu hồn” phong phú và tinh tế của thời đại mới Những thể loại thơ cónguồn gốc dân tộc nh thể bảy chữ, tám chữ, hay các thể thơ truyền thống thơ ca dângian, thơ ca bác học nhng dòng thơ, câu thơ đã khác, cách thức đã đợc cải tiến Bêncạnh việc cách tân những hình thức thơ truyền thống, Thơ Mới đặc biệt chú ý vậndụng hình thức thi pháp - thơ tự do, là sản phẩm độc đáo của trờng phái thơ tợng tr-
ng để làm giàu hệ thống thể loại Thơ tự do có nguyên quán từ Pháp cũng đợc vậndụng để trở thành một thể thơ vừa dân tộc, vừa hiện đại Các nhà Thơ Mới đã biết sửdụng yếu tố dân tộc, truyền thống làm chỗ dựa để phát triển sáng tạo nên những vầnthơ có giá trị tạo nên cuộc cách tân thể loại lớn nhất trong thơ ca nửa đầu thế kỷ XX
Có thể khẳng định rằng: Thơ Mới 1932-1945 nổi lên nh một hiện tợng đặcbiệt, cha bao giờ trong lịch sử thơ ca Việt Nam lại xuất hiện một sự kiện lớn đến
nh vậy, sự kiện đó đủ sức làm nên một cuộc cách tân thắng lợi lớn, làm biến đổidiện mạo thơ ca Việt Nam
Trang 25Chơng 2 Nhóm từ biểu thị hơng vị trong thơ mới (so sánh với thơ nôm đờng luật trung đại)
2.1 Từ ngữ biểu thị hơng vị trong thơ Nôm Đờng luật trung đại
2.1.1 Kết quả thống kê và phân loại
Thơ Nôm Đờng luật trung đại cũng là những thể loại có thành tựu lớn vàobậc nhất của văn học Việt Nam Tuy có nguồn gốc ngoại lai nhng thơ Nôm Đờngluật đã có một quá trình hình thành và phát triển, tồn tại với t cách là một thể loạivăn học dân tộc Các tác giả thơ Nôm Đờng luật có những đóng góp đáng kể vàoquá trình dân tộc hoá, dân chủ hoá về nội dung và hình thức với những tình cảmchân thành phóng khoáng, cuộc sống đời thờng đợc diễn đạt bằng lời thơ đơn giản,dung dị Nguyễn Trãi là ngời có những bớc thử nghiệm đầu tiên để phá cách cấutrúc hình thức Đờng luật, trải qua sự góp mặt của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến HồXuân Hơng thơ Nôm Đờng luật đã đạt tới đỉnh cao, kết thúc ở hai tác giả lớn cuốicùng của dòng thơ Nôm Đờng luật là Tú Xơng và Nguyễn Khuyến Tóm lại thơNôm Đờng luật chính là kết quả của sự trởng thành của ý thức dân tộc
Để có đợc cái nhìn tổng hợp, bao quát về số lợng và ý nghĩa của từ biểu thị
h-ơng vị trong thơ Nôm Đờng luật, do hạn chế về quy mô của luận văn chúng tôi đãbắt tay vào việc tiến hành công việc khảo sát, sắp xếp và phân loại các bài thơ của
những tác giả lớn, với những tập thơ, bài thơ tiêu biểu: Nguyễn Trãi (Quốc âm thi
tập), Lê Thánh Tông cùng văn nhân thời Hồng Đức (Hồng Đức quốc âm thi tập),
Nguyễn Bỉnh Khiêm (Bạch Vân quốc ngữ thi tập), thơ Hồ Xuân Hơng (27 bài), Bà
huyện Thanh Quan (04 bài), Nguyễn Công Trứ (14 bài), Trần Tế Xơng (36 bài) vàNguyễn Khuyến (28 bài) Nhng do hạn chế của đề tài chúng tôi mới chỉ khảo sát 8tác giả với 213 bài thơ
Nh vậy, do hạn chế của đề tài chúng tôi chỉ mới khảo sát 7 tác giả với 213 bài
thơ trong cuốn Thơ Nôm Đờng luật của Lã Nhâm Thìn và rút ra đợc kết quả thu đợc
Trang 26Chúng ta thấy thơ Nôm Đờng luật cũng đã sử dụng số lợng từ chỉ hơng vị
nhiều, tổng 14 từ, 39 lợt dùng với tần số xuất hiện là 0,18 lợt/bài trong đó từ hơng
đợc sử dụng nhiều nhất tới 10 lợt dùng chiếm 25,6% với tần số xuất hiện là 0,046
l-ợt/bài Tiếp đến là từ ngọt sử dụng 6 lợt, chiếm 15,4%, với tần số xuất hiện là 0,028 lợt/bài Từ nồng và từ ngon đợc sử dụng số lợt bằng nhau, đều sử dụng 4 lợt, chiếm 10,2% với tần số xuất hiện là 0,02 lợt/bài Ngoài ra còn kể đến từ chua, 3 lợt dùng, chiếm 7,7%, với tần số xuất hiện là 0,01 lợt bài Các từ chỉ hơng vị nhạt, cay, thơm
đợc sử dụng số lợt dùng ngang nhau, đều xuất hiện với 2 lợt dùng, chiếm 5,1%, tần
số xuất hiện là 0,009 lợt/bài Các từ hôi, đắng, bùi, cay đắng, ngọt bùi, lạt nồng đợc
sử dụng với tần số thấp nhất trong thơ Nôm Đờng luật, lần lợt các hơng vị đợc xuấthiện lợt, chiếm 2,6%
Nh vậy, số lợng từ biểu thị hơng vị trong thơ Nôm Đờng luật đợc các nhà thơ
sử dụng trên bề mặt không đồng đều nhng cũng đã góp phần tạo nên sự phong phú
và đa dạng của hệ thống từ ngữ của thơ Nôm Đờng luật trung đại
2.1.2 Hoạt động của nhóm từ biểu thị hơng vị trong thơ Nôm đờng luật trung đại
Thơ Nôm Đờng luật đợc các nhà thơ sử dụng một hệ thống ngôn ngữ hết sứcphong phú và đa dạng Thơ Nôm Đờng luật chủ yếu sử dụng thành phần ngôn ngữdân tộc, ngôn ngữ đời sống, nhất là lớp từ thuần Việt Theo nh thống kê của PTS Lã
Nhâm Thìn trong cuốn Thơ Nôm Đờng luật, khảo sát 40 bài thơ trong Quốc âm thi
tập có 1934 từ thuần Việt/2162 tổng số chữ, chiếm 89,4% Khảo sát bài thơ của Hồ
Xuân Hơng có 1777 từ thuần Việt/1873 tổng số chữ, chiếm 94,8% Cha có một bàithơ Nôm Đờng luật nào mà từ Hán Việt đợc dùng nhiều hơn từ Thuần Việt Đócũng là lẽ thờng tình và dễ hiểu tại sao thơ Nôm Đờng Luật lại đợc mọi độc giả tiếp
Trang 27nhận, câu thơ, bài thơ tạo cảm giác gần gũi, dễ thuộc, dễ hiểu đến vậy Hệ thốngngôn ngữ của thơ Nôm Đờng luật tuy phong phú và đa dạng nhng nhóm từ chỉ hơng
vị cũng không đợc sử dụng nhiều, mới chỉ có 14 từ chỉ hơng vị, tổng 39 lợt dùng,với tần số xuất hiện là 0,18 lợt/bài
Trớc tiên phải kể đến từ hơng, đợc các nhà thơ Nôm Đờng luật sử dụng nhiều
nhất trong lớp từ chỉ hơng vị, số lợt dùng là 10 lợt, chiếm 25,6% với tần số xuấthiện là 0,046 lợt/bài
Nguyễn Trãi là nhà thơ sử dụng từ hơng nhiều, với 3 lợt dùng, chiếm gần 1/3
tổng số từ chỉ hơng:
Giậu tha tha hai khóm trúc,
Giờng thấp thấp một nồi hơng
(Tức sự – Nguyễn Trãi)
Hé cửa đêm chờ hơng quế lọt,
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tàn
(Bảo kính cảnh giới bài 33 – Nguyễn Trãi)Bóng tha ánh nớc động ngời vay
Lịm đa hơng, một nguyệt hay
(Mai – Nguyễn Trãi)
Lê Thánh Tông cùng nhóm văn nhân thời Hồng Đức cũng sử dụng từ chỉ mùihơng với số lợng đáng kể, 3 lợt dùng :
Hồng bay lực, màn vây liễu
Hơng nức sen, bóng rợp hoè
(Vịnh cảnh mùa hè – Lê ThánhTông)
Bà Huyện Thanh Quan và Tú Xơng :
Chén rợu hơng đa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết cha tròn
(Tự tình - Hồ Xuân Hơng)
Trang 28Mấy đò sen nốt hỏi hơng ngự
Năm thức mây phơng nếp áo chầu
(Chùa Trấn Bắc - Huyện Thanh Quan)
Chỉ bền một nén tấm lòng hơng nguyện
Thuốc thánh bùa trên ắt chẳng chầy
(Một nén tâm hơng - Tú Xơng)
- Từ ngọt cũng đợc sử dụng đáng kể, số lợt dùng là 6 lợt, chiếm 15,4% với
tần số xuất hiện là 0,028 lợt/bài
Từ chỉ hơng vị ngọt trong thơ Nôm Đờng luật của Lê Thánh Tông chỉ đợc sửdụng một lợt :
Ngọt bằng nứt, mát bằng dừa,
Trợ khát nào qua một quả da
(Qua – Lê Thánh Tông)
Đặc biệt từ chỉ hơng vị ngọt đợc Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng nhiều nhất, với
4 lợt dùng, chiếm 2/3 tổng số hơng vị ngọt, chủ yếu đợc kết hợp với từ trớc nó đểnói lên đặc điểm hay tính chất của sự vật, hiện tợng :
Khát uống chè mai tơi ngọt ngọt
Sốt kỳ hiên nguyệt gió hiu hiu
(Bài 3 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Miệng ngời tựa mật, mùi càng ngọt
Đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài
(Bài 60 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)Nam sách rợu nồng còn mợn cút,
Tay chân quýt ngọt mới đâm bông
(Bài 88 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Nhá rau lại tiếc mùi canh ngọt
Nếm ếch còn thèm có giống măng
(Bài 89 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Từ nồng đợc các nhà thơ Nôm sử dụng 4 lợt, chiếm 10,2% đây là hơng vị
trong thơ thật tinh tế Hơng vị nồng đợc sử dụng trong thơ không còn mang nghĩa từnguyên là mùi hôi, khó ngửi nữa mà đợc mở rộng nghĩa khi sử dụng :
Chớ chớ ngại rằng mai lạnh lẽo,
Kìa kìa mai đã thức xuân nồng
(Vịnh cảnh mùa đông - Lê Thánh Tông)
Trang 29Nớc nồng sừng sực đầu rô trỗi,
Ngày nắng chang chang lỡi chó lè
(Vịnh nắng mùa hè - Lê Thánh Tông)
Nam Sách rợu nồng còn mợn cút,
Tay chân quýt ngọt mới đơm bông
(Bài 88 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
“Bà chúa thơ Nôm” cũng đã sử dụng từ chỉ hơng vị nồng để nói lên trạng tháicủa ngời thiếu nữ :
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hơng)
- Các từ chỉ hơng vị khác cũng đợc các nhà thơ Nôm Đờng luật sử dụng hết
sức linh hoạt Từ thơm, ngon đợc sử dụng nhiều trong thơ Nguyễn Trãi và Lê Thánh
Tông :
Của thết ngời là của còn
Khó khăn phải đạo cháo càng ngon
(Bài 22 - Nguyễn Trãi)
Kỳ Viên giống lạ nào so kịp
Dữ Linh danh thơm dễ sánh cùng
(Tùng thụ - Lê Thánh Tông)
Mùi mẻ ngon ngời dễ trọng
Tinh thần lạ, thế đều a
(Qua - Lê Thánh Tông) Nguyễn Khuyến cũng đã sử dụng từ chỉ hơng vị ngon để nói lên t tởng vàquan niệm của mình trớc thực trạng của cuộc sống :
Rợu ngon ả nọ khôn đờng tránh
Hoàn đẹp nàng này khó nhẽ nhe
(Mừng ông nghè mới đỗ – Nguyễn Khuyến)
Có thể nói thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng từ chỉ hơng vị nhiều nhất
so với các nhà thơ Nôm Đờng luật Ngoài những từ chỉ mùi hơng, hơng vị ngọt, hơng vịnồng ra còn sử dụng các từ chỉ hơng vị thơm, ngon, bùi:
Mai bạc lạnh quen nhiều tháng tuyết,
Cúc vàng thơm đổi mấy phen hoa
Trang 30(Bài 14 - Nguyễn Bỉnh Khiêm) Nhân đợc thú vui hay nấn ná
Bữa nhiều muối bể chứa tơi ngon
(Bài 29 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Mùi nọ có bùi không có ngọt
Thức kia chầy thắm, lại chầy phai
(Bài 39 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Có thể nó từ chỉ hơng vị trong thơ Nôm Đờng luật hết sức đa dạng, từ chua,
đắng, hôi, cay, lạt nồng đợc sử dụng nhiều màu sắc khác nhau:
Một lng, một vốc kém chi mô
Cho biết chanh chua khế cũng chua
(Trò đời - Nguyễn Công Trứ)
Thuốc thang nghĩ lại chua mà đắng
Đờng mật xem ra ngọt hoá cay
(Một nén tâm hơng - Tú Xơng)
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hơng mới quệt rồi
(Mời trầu - Hồ Xuân Hơng)
Đặc biệt các nhà thơ Nôm Đờng luật đã sử dụng những từ ghép chỉ hơng vị,ngọt bùi, cay đắng, lạt nồng Những từ này đợc sử dụng trong thơ không phải thànhnhững từ ghép mang nghĩa tổng quát, mang cam quan của thi nhân trung đại khi nói
về thế thái nhân tình :
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo, Cay đắng chàng ơi vị quế chi
(Bỡn bà lang khóc chồng - Hồ Xuân Hơng) Thế thái nhân tình gớm chết thay
Lạt nồng trông chiếc túi vơi đầy
Trang 31(Vịnh nhân tình thế thái - Nguyễn Công Trứ)
2.1.3 Vai trò ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị hơng vị trong thơ Nôm ờng luật trung đại
Đ Từ hơng đợc thể hiện trong thơ Nôm Đờng luật nhiều nhất
Nguyễn Trãi là nhà thơ sử dụng từ chỉ hơng vị rất thành công trong việc ký thácnỗi niềm, t tởng và quan niệm sống của mình Không chỉ thơ chữ Hán của ông đề cập
đến những vấn đề lớn của lịch sử, thời đại, của đất nớc và con ngời mà thơ Nôm Đờngluật cũng đợc thể hiện thành công, phản ánh những khía cạnh tinh tế, phức tạp củacuộc sống Từ chỉ hơng vị trong thơ Nôm Đờng luật của Nguyễn Trãi đã cho ta thấyphần nào những suy nghĩ, trăn trở về đất nớc, về cuộc sống đầy sóng gió dữ dội Dờng
nh hơng quế là hơng của sự yên bình, là những gì quý giá nhất, vì thế mà thi nhân sợhơng bay đi, quét hiên nhà mà sợ rằng bóng hoa ở hiên tan mất :
Hé cửa đêm chờ hơng quế lọt
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan
(Bài 33- Nguyễn Trãi)Thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng sáng tác của thơ ca nói chung Thiênnhiên đợc sử dụng trong thơ Nôm Đờng luật không kỳ vĩ, hoành tráng mà kỳ thú vàbình dị, nó rất gần gũi với con ngời Thiên nhiên trong thơ Nôm Đờng luật cũng cótùng, cúc, trúc, mai, nhng giờ đây là bức tranh xinh xắn, những bức tranh lụa mợt
mà, mộc mạc Nguyễn Trãi cũng nói đến hoa mai, tuy cây mai là loại cây gầy, dễ bịquật ngã nhng hơng của hoa mai cũng thật bền bỉ và quyến rũ Chính vì thế mùi hơngmai trong thơ Nguyễn Trãi tợng trng cho sự trong sáng và tiết hạnh:
Bóng tha ánh nớc động ngời vay
Lịm đa hơng một nguyệt hay
(Mai – Nguyễn Trãi)
Từ chỉ mùi hơng trong thơ Lê Thánh Tông cùng văn nhân thời Hồng Đứccũng đã thể hiện đợc cảnh vật thiên nhiên, cây cỏ đầy sức sống nhng cũng khôngmất đi nét đẹp bình dị của cuộc sống, và ấp áp hơi thở của con ngời Nó mang vẻ
đẹp hài hoà của cuộc sống:
Cảnh vật chòm chòm bay lửa đóm,
Cỏ hoa gốc gốc đợm hơng trong
(Nhị canh – Lê Thánh Tông)
Trang 32Đặc điểm của thơ trung đại là “tả cảnh ngụ tình”, qua cảnh vật, nhà thơ bộc
lộ rõ cảm xúc, gửi gắm những tâm t, nỗi niềm của mình, thiên nhiên luôn là thiênnhiên của tâm trạng :
Mấy dò sen rớt hơi hơng ngự
Năm thức mây phơng nếp áo chầu
(Chùa Trân Bắc - Huyện Thanh Quan)Còn ở thơ Hồ Xuân Hơng nghiêng về thơ “trữ tình thế sự” từ chỉ hơng vị lại gópphần thể hiện, bộc lộ t tởng, tình cảm và quan niệm về cuộc sống của thi nhân:
Chén rợu hơng đa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết cha tròn
(Tự tình – Hồ Xuân Hơng)
- Từ ngọt, theo nghĩa từ nguyên là có vị nh vị đờng, mật đợc cảm nhận thông
qua vị giác của con ngời, và khi từ chỉ hơng vị ngọt đợc xuất hiện trong thơ Nôm ờng luật cũng muốn nói đến một điều tốt đẹp nhất
đ-Nguyễn Bỉnh Khiêm là ngời sử dụng từ chỉ hơng vị ngọt nhiều nhất trong thơNôm Đờng luật trung đại, vị ngọt không chỉ nói về sự cảm nhận của vị giác nữa mà
còn là cảm quan về cuộc sống của con ngời trung đại, từ ngọt tợng trng cho lòng tốt
của con ngời, nhà thơ muốn răn dạy con ngời nên hớng thiện:
Miệng ngời tựa mật, mùi càng ngọt
Đạo thánh bằng thơ, mối hãy dài
(Bài 60 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)Ngoài ra từ chỉ hơng vị ngọt đợc sử dụng trong thơ Nôm Đờng luật củaNguyễn Bỉnh Khiêm còn tợng trng cho sự khát khao, thèm muốn những gì tốt đẹpnhất và đó còn là tợng trng cho quá khứ tơi đẹp, quá khứ đó luôn luôn hiển hiện trớccuộc sống thực tại đầy bất trắc :
Nhá rau lại tiếc mùi canh ngọt
Nếm ếch còn thèm có giống măng
(Bài 89 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Từ nồng trong thơ Nôm Đờng luật cũng chiếm một số lợng đáng kể, đợc sử
dụng 4 lợt, chiếm 10,5% với tần số xuất hiện là 0,01 lợt/bài
Từ chỉ hơng vị nồng trong thơ Lê Thánh Tông không chỉ nói đến độ nóng nực, sựkhắc nhiệt của thời tiết khi nhà thơ tức cảnh mùa hè mà hơng nồng còn mang một nghĩamới, là sự ấm áp của mùa xuân, trong cảnh đông lạnh lẽo thi nhân vẫn cảm đợc “xuânnồng” có nh vậy mai sẽ không còn lạnh lẽo nữa vì đã có xuân nồng sởi ấm Không chỉriêng gì Nguyễn Trãi hay Nguyễn Công Trứ đều cúi đầu trớc hoa mai mà hầu nh các
Trang 33nhà thơ trung đại đều nâng niu, quý trọng hoa mai Hoa mai tợng trng cho “đông thiêntam hữu” (ngời bạn tiết hạnh) Chính vì thế mà Lê Thánh Tông nói đến sự ấm áp củamùa xuân, của hơng nồng là tợng trng cho tấm lòng của thi nhân
Chớ chớ ngại rằng mai lạnh lẽo
Kìa kìa mai đã thức xuân nồng
(Vịnh cảnh mùa đông – Lê Thánh Tông)Nhắc đến “rợu nồng” Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ nhắc đến một địa danhnổi tiếng về rợu là Nam Sách mà hơn thế nữa độ nồng cháy, độ đậm đà của rợucũng nh sự nồng nàn, thiết tha của lòng ngời:
Nam Sách rợu nồng còn mợn cút,
Tay chân quýt ngọt mới đơm bông
(Bài 88- Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Các từ chỉ hơng vị khác cũng đợc thơ Nôm Đờng luật sử dụng để ít nhiều
chuyển tải t tởng, tình cảm của thi nhân Từ chỉ hơng vị thơm, ngon đợc sử dụng hết
sức linh hoạt
Từ chỉ hơng thơm không còn đơn thuần chỉ mùi hơng dễ chịu nữa mà đợc sửdụng nhằm chỉ tiếng tăm lừng lẫy không phải nơi nào cũng có “danh thơm” là nói đếnmột điều đáng quý và đáng trân trọng đợc ngời đời lu danh:
Kỳ Viên giống lạ nào so kịp
Dữ Linh danh thơm dễ sánh cùng
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Trang 34Này của Xuân Hơng mới quệt rồi
(Mời trầu – Hồ Xuân Hơng)
Các từ chỉ hơng vị chua, cay, đắng, ngọt, bùi… và thiết tha rạo rực, băn khoăn cũng đợc sử dụng mang lạihiệu quả cao, hầu nh không còn mang nghĩa thuần tuý nữa mà đã đợc chuyển thànhnghĩa mới Hơng vị đợc chuyển hoá không phải từ nhận biết của vị giác mà từ lòngngời, từ sự chuyển biến của tâm trạng, của thi nhân Đó là tâm trạng bi quan, chánchờng trớc bệnh tật :
Thuốc thang nghĩ lại chua mà đắng
Đờng mật xem ra ngọt hoá cay
(Một nén tâm hơng - Tú Xơng)
Đặc biệt là Hồ Xuân Hơng khi sử dụng từ ghép chỉ hơng vị ngọt bùi, đắngcay Hơng vị này đợc hoàn toàn cảm nhận từ sự trải nghiệm của chính bản thânmình trớc cuộc đời đầy lang sói, nhầy nhụa :
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo Cay đắng chàng ơi vị quế chi
* Bảng 2: Kiểu nghĩa của từ biểu thị hơng vị trong thơ Nôm Đờng luật trung đại
TT Từ biểu thị
h-ơng vị
Hơng vị đợc cảm nhận qua giác quan (nghĩa đen)
Hơng vị mang nghĩa chuyển (nghĩa bóng)
Trang 35Việc tìm hiểu hệ thống ngôn ngữ trong Thơ Mới là một việc làm cần thiết, song
do hạn chế của đề tài chúng tôi chỉ khai thác nhóm từ biểu thị hơng vị trong Thơ Mới
Sau khi khảo sát 1079 bài thơ của 82 tác giả trong cuốn Thơ mới 1932
-1945, tác giả và tác phẩm chúng tôi thu đợc kết quả nh sau :
Bảng 3 : Số liệu về những từ biểu thị hơng vị trong thơ mới ( 1932 - 1945 )
Trang 36số lợt xuất hiện là trên 30 lợt dùng nh: hơng vị khoái lạc, mùi trần sự, vị xa xăm, vị
tình, vị say sa, mùi chiêu, mùi hơng, mùi say, mùi trăng, mùi thanh khí, mùi thi vị, mùi truyền nhiễm, mùi kinh sách, mùi mới, mùi xứ mới, mùi trinh bạch, mùi hoa cau, mùi nho tơi, mùi cỏ, mùi tô hợp hơng, mùi son phấn, mùi gió nớc, mùi giấy mới, Mùi rơm, mùi gió thoảng, mùi tơ duyên, mùi cửa sổ, mùi hôn, mùi trà, mùi vị cơm ôi, mùi mỡ, mùi mẫu đơn, mùi tóc, mùi sen …
Theo bảng số liệu trên, chúng tôi thấy rằng : Thơ mới đã sử dụng khá nhiềunhững từ chỉ hơng vị, 19 từ chỉ hơng vị, đã đợc sử dụng với 732 lợt dùng trong tổng
số 1079 bài thơ Đó là biểu hiện của sự phong phú và đa dạng trong việc “kiến tạo”ngôn từ
Trong số từ chỉ hơng vị nổi bật hơn cả là tốp từ chỉ mùi hơng nói chungchiếm số lợt dùng nhiều nhất, 426 lợt dùng ( hơn 1/2 số lợt dùng từ chỉ hơng vị
trong Thơ Mới), chiếm 58,2%, với tần số xuất hiện là 0,39 lợt bài từ thơm cũng xuất
hiện khá cao, chỉ sau lớp từ chỉ mùi hơng, 99 lợt dùng, chiếm 13,5%, với tần số
xuất hiện là 0,09 lợt/bài Tiếp đến phải kể đến từ nồng và từ nhạt, xuất hiện với tần
số bằng nhau, đều có số lợt sử dụng là 32 lợt, chiếm 4,4% Từ ngọt, có 25 lợt dùng, chiếm 3,4% Từ cay đắng có số lợt dùng là 22 lợt, chiếm 3,0% Từ chỉ thơm ngon,
11 lợt dùng, chiếm 1,5% Từ đắng 10 lợt dùng, chiếm 1,4% Từ cay, 9 lợt dùng, chiếm 1,2% Từ đậm và ngọt ngào có số lợt dùng bằng nhau, đều xuất hiện với 8 lợt dùng, chiếm 1,1% Từ mặn nồng, 5 lợt dùng, chiếm 0,7% Từ nồng nàn, 4 lợt dùng,
Trang 37chiếm 0,5% Từ chua chát và đậm đà đợc xuất hiện với số lợt dùng bằng nhau, 3 lợt dùng, chiếm 0,4% Cuối cùng là từ chua và ngọt bùi, haitừ chỉ hơng vị đợc sử dụng
trong thơ mới với tần số xuất hiện thấp nhất, đều chỉ có 2 lợt dùng, chiếm 0,3%
Có thể nói Thơ Mới đã tạo nên một hệ thống từ chỉ hơng vị phong phú và đadạng phù hợp với nhu cầu đa dạng và phức tạp của cuộc sống
2.2.2 Hoạt động của nhóm từ biểu thị hơng vị trong Thơ Mới
GS Đỗ Đức Hiểu đã nhận định rất đúng về đặc điểm của Thơ Mới trong công
trình nghiên cứu Thi pháp hiện đại rằng: “Từ màu sắc tơi sáng hay ảm đạm, từ âm
thanh rộn ràng… và thiết tha rạo rực, băn khoăn thơ đi từ thế giới bên ngoài vào thế giới bên trong, đến những tơnghợp màu sắc, âm thanh, hơng thơm, đến những tơng hợp Đông và Tây, tơng hợp thơ
Đờng luật, thơ dân tộc… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Đặc điểm của thơ lãng mạn là sự miêu tả cái đẹp bênngoài, là những trận ma trữ tình, vần thơ hùng tráng… và thiết tha rạo rực, băn khoănNhững âm thanh ca hát,những màu sắc chuyện trò, những hơng thơm kể chuyện” [10;19] Điều đó đã đợc
chứng minh trong Thơ Mới, và theo số liệu thống kê trong Nhóm từ biểu thị âm
thanh trong Thơ Mới (1932-1945) của Tống Cầm Ren, Vinh-2002 đã tổng kết đợc
các dạng âm thanh xuất hiện trong Thơ Mới là: Tất cả các âm thanh trong Thơ Mới
đợc quy tụ thành hai dạng: dạng âm thanh nhân tạo và âm thanh tự nhiên Âm thanhnhân tạo có số lợt dùng là 594 lần, chiếm 65,6%, với tần số xuất hiện là 0,79 l-ợt/bài Âm thanh tự nhiên ít hơn âm thanh nhân tạo, số lợt dùng là 311 lần, chiếm34,4%, tần số xuất hiện là 0,42 lợt/bài Còn theo sự thống kê của Nguyễn Thị Ngọc
Quỳnh trong Nhóm từ biểu thị màu sắc trong Thơ Mới (1932-1945), Vinh-2001, thì
ta thấy nhóm từ biểu thị màu sắc trong Thơ Mới xuất hiện nhiều nhất, tổng số lợtdùng là 922 lần, chủ yếu là màu xanh, lợt dùng 285 lần, chiếm 31,5% Trong bảng
số liệu thống kê về từ chỉ hơng vị trong thơ mới đợc sử dụng ít hơn cả, tổng số lợt
dùng là 732 lợt, với tần số xuất hiện là 0,67lợt/bài, trong đó từ hơng đợc sử dụng
nhiều nhất, với số lợt dùng là 426 lợt, chiếm 58,2%, tần số xuất hiện là 0,39 lợt/bài
Với đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu một số từ chỉ hơng vị tiêu biểu :
- Từ hơng: Đây là lớp từ đợc các nhà thơ mới sử dụng đa dạng và sinh hoạt
hơn cả, mang lại hiệu quả nghệ thuật cao Từ chỉ mùi hơng nói chung đợc sử dụngvới sự cảm nhận và cách thức khác nhau Hơng khói, hơng chịm, hơng thừa, hơng -
ớp, hơng quý trọng, hơng xa, hơng dại, hơng nằng nặng, hơng ấm, hơng trời, hơngnhan sắc, hơng yêu, hơng vang, hơng gầy nhạc, hơng thầm, hơng da thịt, hơng nhạc,hơng đa, hơng bay, hơng tình, hơng ngát, hơng thiêng, hơng cúc, hơng mơ, hơngsay, hơng tròn, hơng biếc, hơng nhạt, hơng nha phiến, hơng mới, hơng chín, hơngngây, hơng lạ, hơng đợm, hơng xa, hơng xuân, hơng tan tác, hơng hồng, hơng lý, h-
Trang 38ơng đi, hơng bày, hơng đất, hơng đờng, hơng thu, hơng sen, hơng xông , … và thiết tha rạo rực, băn khoăn rồi h
-ơng thời gian, h-ơng lệ, h-ơng giai nhân, h-ơng ân tình, h-ơng cám dỗ, h-ơng khoái lạc,
… và thiết tha rạo rực, băn khoăn
Ngay bớc chập chững của thơ mới, Thế Lữ cũng đã sử dụng rất thành công nhóm từ chỉ mùi hơng :
Nh hơng khói đợm đầu cau, mái rạ
Uống say nồng, nh chỉ thấy chua cay
(Lựa tiếng đàn - Thế Lữ )
Bông hao nay vẫn còn hơng
Lòng ta còn vết đau thơng không cùng
(Bông hoa rừng - Thế Lữ) Thế Lữ cũng là nhà thơ sử dụng từ chỉ mùi hơng thật tinh tế, khi cảm nhận đ-
ợc mùi hơng của hàng xóm, của mái tóc ngời thiếu nữ :
Nhẹ bàn tay, nhẹ cánh tay
Mùi hơng hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hơng nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh
Biến mất rồi, anh thấy khói hơng tan
( Khói hơng tan – Hàn Mặc Tử)
Có thể nói Hàn Mạc Tử sử dụng từ chỉ mùi hơng gần nh chiếm số lợt dùng nhiều nhất, với đủ loại mùi hơng khác nhau, thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận:
Anh đi thơ thẩn nh ngây dại
Hứng lấy hơng nồng trong áo em
(Âm thầm – Hàn Mặc Tử )
Muôn sợi hơng trầm bay bối rối
Trang 39Muôn vàn thần thánh sống cao sang
(Ghen - Hàn Mặc Tử ) Hay :
Hơng cám dỗ mê ngời trong khoái lạc
(Ra đời - Hàn Mặc Tử ) Cả Hàn Giang, cả màu sắc thiên không
Lút trí khôn và ám ảnh hơng lòng
(Thánh nữ Đồng trinh Maria - Hàn Mặc Tử)Nhà thơ Trần Huyền Trân với việc sử dụng từ chỉ mùi hơng đã đem đến cho thơ một nguồn hơng đầy sức sống, mùi hơng dờng nh là một sinh thể, thể hiện trạngthái, động tác trớc sự vật:
Nhớ nhau vẩy bút làm ma gió
Thơ tôi làm hơng đa
(Gửi ngời thêu thơ - Trần Huyền Trân)
Có thể nói Bích Khê là nhà thơ có khuynh hớng tợng trng tiêu biểu cho phong tràoThơ Mới, ông sử dụng từ chỉ hơng vị với tần số cao nhất, với 107 lợt dùng/70 bài thơ Từngữ của ông gợi ấn tợng về sự tơng giao cảm giác, trong sự chuyển động của ngời đẹp,nhà thơ ngây ngất cảm nhận âm thanh, màu sắc và hơng thơm:
Nàng bớc tới nh song trăng chảy ngọc
Nh nắng thơm hớp đặc cả nguồn hơng
Là nơi đây đoàn tụ nhạc mời phơng
ứ thành xuân cho niên hoa bất tuyệt
(Nàng bớc tới – Bích Khê)
Từ biểu thị hơng thơm trong thơ Bích Khê nh tràn ngập mọi nẻo, mỗi bớc đicủa thơ là mỗi bớc của tâm hồn và mùi hơng đợc toả ra cũng hết sức phong phú vàtinh tế:
Mùi tô hợp quyện trong tơ trăng lụa
Đây dạ lan hơng, đây đỉnh trầm hơng
… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Chân nhịp nhàng, lòng nghe hơng nằng nặng
Trang 40Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ
… và thiết tha rạo rực, băn khoăn Xẻ mạch trời, mây xô sao, răng rắc !
Phăng mạch đêm, hơng nở, ứa ngầm tinh !
(Mộng cầm ca – Bích Khê)
Để anh nút ớn mùi hơng ấm
Của một tình yêu giận hững hờ
(ảnh ấy – Bích Khê)Nhạc lên cung hờng nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nơng ! hớp nhạc đầy hơng
(Nhạc – Bích Khê)
Cho tôi đọ vẽ hơng trời sắc nớc
Vẽ huyền diệu với men say lớt mớt
(Tranh lõa thể- Bích Khê) Những đôi mắt kho tàng muôn châu báu,
Có những hàng đũa ngọc sắp hơng yêu
(Sắc đẹp – Bích Khê)
Nguyễn Bính, nhà thơ Chân quê cũng sử dụng từ chỉ hơng vị để ít nhiều biểu dạt
những trạng thái, cảm xúc khác nhau của mình trớc cuộc sống đầy hơng sắc:
Có nàng áo đỏ đi qua đấy,
Hơng đợm ba ngày hơng chửa tan
(Vẩn vơ - Nguyễn Bính)
Có suối nớc trong tuôn róc rách,
Có hoa bên suối ngát đa hơng
(Cô hái mơ - Nguyễn Bính) Xuân Diệu đem đến cho phong trào thơ một sức sống mới, nhận biết đợc cuộc đời
đầy thi vị và hơng sắc ngay ở cuộc sống trần gian Theo nh nhận xét của nhà nghiên cứu
Vũ Ngọc Phan: “Xuân Diệu là ngời đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất”,nguồn sống mới, cách cảm xúc mới, đợc diễn đạt bằng một giọng điệu, ngôn ngữ nồng