1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆN TƯỢNG tản đà TRONG LỊCH sử THƠ CA VIỆT NAM và sự HÌNH THÀNH một PHONG CÁCH THƠ

132 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 437 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tản Đà cũng là một tác giả có có sức sáng tạo dồi dào, đểlại cho nền văn học nớc nhà một khối lợng tác phẩm lớn, với nhiềuthể loại: thơ, văn, kịch, tiểu thuyết , dịch thuật với nội dungp

Trang 1

Mở ĐầU

1.Lý do chọn đề tài.

1.1 Nhà văn Nguyễn Tuân đã khẳng định rằng “ Một nềnvăn học lớn là nền văn học có nhiều nhà văn lớn” Nền văn họcViệt Nam mặc dầu ra đời muộn hơn so với các nớc trong khuvực nhng những thành tựu mà nó đạt đợc cũng xứng tầm và

đáng tự hào là “một nớc thơ” Bởi nó có một lịch sử phát triểncho dù có lúc thăng trầm nhng giai đoạn nào cũng có sự xuấthiện của những tác giả có phong cách lớn và đóng góp mộtkhối lợng tác phẩm đồ sộ cũng nh nội dung t tởng và hình thứcnghệ thuật có giá trị Vào những năm đầu của thế kỷ XX mặcdầu không có sự xuất hiện rầm rộ hàng loạt tác giả có phongcách nh những năm cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX,những năm cuối thế kỷ XIX hay những năm 1930-1945 nhngvăn học Việt Nam lại đợc chứng kiến sự xuất hiện của mộthiện tợng lớn, có phong cách lớn và khá phức tạp - Tản Đà NguyễnKhắc Hiếu Ơ Tản Đà đã “ hội tụ đầy đủ nhất, tập trung nhấtnhững giá trị và đặc điểm” của thơ ca giai đoạn đầu thếkỷ( Trần Huyền Sâm) Tản Đà là nhân chứng bớc ra từ một giai

đoạn đầy biến động và phức tạp nh vậy và đạt đợc nhữngthành tựu nhất định nên việc tìm hiểu về tác giả là nhu cầuthiết yếu, lâu dài trong lịch sử văn học

1.2 Tản Đà cũng là một tác giả có có sức sáng tạo dồi dào, đểlại cho nền văn học nớc nhà một khối lợng tác phẩm lớn, với nhiềuthể loại: thơ, văn, kịch, tiểu thuyết , dịch thuật với nội dungphong phú, sâu sắc, mỗi thể loại đều có lối đi riêng biệt , tuynhiên thơ vẫn là lĩnh vực độc đáo hơn cả và thể hiện rõ nétnhất phong cách nhà thơ thế nhng cha có tác giả nào tìmhiểu sâu vấn đề , nếu có cũng chỉ dừng lại ở một số bài giới

Trang 2

thiệu sơ lợc Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa khoa học vàthực tiễn cấp thiết.

1.3.Tản Đà là tác giả có một vị trí quan trọng trong lịch sử vănhọc dân tộc Ông là ngời có tính chất chuyển tiếp , vạch nốicủa hai thời đại văn học trung đại và hiện đại Ông đã “thổimột cơn gió lạ “ vào tâm hồn ngời Việt lúc bấy giờ Ông đã làm

“ bật nứt”một cái tôi trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ Trongthơ mình ông đã khẳng định một cái tôi độc đáo với nhữngnét ngông, mộng, đa tình, xê dịch Thơ văn Tản Đà cũngchính là cuộc đời ông- chất liệu thơ ca đợc chắt lọc từ cuộcsống bản thân, nét độc đáo trong phong cách của Tản đàcũng bởi cá tính mà nhà thơ biểu hiện, gửi gắm, đó là “ mộttâm hồn thi sĩ, một tâm hồn dệt bằng tất cả màu sắc củanúi, sông, hoa cỏ , bằng chua cay mặn chát của thế tình,bằng tất cả mộng đẹp của yêu đơng, bằng tất cả nhạc điệu”.Cuộc đời, thơ văn Tản Đà đã hấp dẫn bao thế hệ bạn đọc,thuhút giới nghiên cứu văn học Việc tìm hiểu vấn đề phong cáchnghệ thuật của thơ ông một cách hệ thống, khoa học sẽ phục

vụ tốt trong việc dạy- học Tản Đà trong nhà trờng đợc tốt hơn,trớc hết là cho tác giả luận văn

1.4 Tản Đà cũng là tác giả mà bản thân thấy tâm đắc

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Trang 3

2.1.Khái quát lịch trình nghiên cứu về Tản Đà nói chung.

Tản Đà là tấm gơng lao động nghệ thuật chân chính, là tàinăng , cá tính sáng tạo độc đáo , là một phong cách văn họclớn, có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam nên đãgây sự chú ý cho giới nghiên cứu, phê bình phẩm bình, đánhgiá trên nhiều bình diện ngay từ khi xuât hiện trên thi đànvăn học Hàng tram bài viết giới thiệu , tìm hiểu, phêbình về ông và nhiều vấn đề dợc đề cập , có những vấn

đề đợc thống nhất , khẳng định là Tản Đà là nhà văn củabuổi giao thời,là nhà thơ dân tộc, có phong cách riêng nhngcũng nhiều vấn đề đang trao đổi, tranh luận

Khi “Khối tình con” ra đời đã gây xôn xao trong côngchúng, đợc cổ vũ về “giọng mới, ý lạ”, Phạm Quỳnh kịp thời cangợi thế nhng sau đó với “Giấc mộng con xuất hiện ông lại phêphán về nội dung nh “cái tôi” vợt ngỡng, sự thở than , buồn bã,phạm tội “diệt chủng”,răn đe “cái vạ h văn từ trớc tới nay đã gây

Trang 4

ra cái gơng vong quốc rồi đó”(dẫn theo Nguyễn Đức Mậu) vàngợi ca các quyển khuyên răn đạo lý nh “Đài gơng”, “Lên sáu” Cho đến khi thơ mới xuất hiện,cộc tranh luận về thơ Mới,thơ Cũ diễn ra,thì Tản Đà bị phê phán về sự cổ lỗ, Lu trọng Lcho rằng”nàng thơ ấm Hiếu mũi thò lò”

Khi Tản Đà qua đời (1939) thì có nhiều bài viết về ông, ông

đợc đề cao, Xuân Diệu ,Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân khẳng

định cá tính, cái tôi Xuân Diêu ghi công cho việc “ mở đầucho thơ Việt Nam hiện đại, dám có cá tính, dám có một cáitôi” Đặc biệt Hoài Thanh, Hoài Chân , và Vũ Ngọc Phan khẳng

định tính giao thời mà Xuân Diệu đã nêu Hoài Thanh chorằng “Tản Đà là ngời mở đầu của hai thế kỷ,đã dạo những bản

đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đang sắp sửa” Đến cuối những năm 50 đến những năm 70, Tản Đà đợctranh luận ở mặt t tởng: giai cấp, yêu nớc, thái độ chính trị, tsản hay phong kiến.Tính chất giao thời ở Tản Đà đợc khẳng

định trong cuốn “Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1930” của Trần Đình Hợu.Tản đà dợc xếp vào mẫu nhà nho tàitử

Cuối những năm 70, đầu những năm 80 Tản Đà đợc XuânDiệu khẳng định đã da cái tôi cá nhân vào văn học

Năm 1989, hội nghị khoa học về Tản Đà do Viện văn học tổchức tại Hà nội đã quan tâm nhiều mặt hơn Trần Ngọc Vơngtìm về “Sự thống nhất giữa các mâu thuẫn trong sáng tác củaTản Đà”: khía cạnh hình thức lúc bấy giờ đợc đánh giá nhiềuhơn

Nh vậy hơn nửa thế kỷ nghiên cứu, các tác giả đều chú ý

đến t tởng ,vai trò, vị trí, của Tản Đà trong lịch sử văn họcdân tộc Còn phong cách nghệ thuật của Tản Đà cha đợcnghiên cứu cụ thể

Trang 5

2.2.Lịch sử nghiên cứu về thơ Tản Đà

Thơ Tản Đà đã chiếm một số lợng lớn trong toàn bộ sáng táccủa Tản Đà, Thơ là lĩnh vực thể hiện

rõ tài năng, phong cách nghệ thuật của Tản Đà.Bởi vậy thơ ông

đợc thẩm bình qua nhiều bài viết

Trang 6

Luận văn khảo sát toàn bộ thơ Tản Đà, các thể loại khác củanhà thơ chỉ là đối tợng để tham chiếu

Tài liệu mà luận văn lựa chọn khảo sát là các văn bản của Tản

Đà đợc tập hợp trong : “Tản Đà toàn tâp” (5 tập) do tác giả

Nguyễn Khắc Xơng su tầm, biên soạn và giới thiệu, Nxb Vănhọc 2000

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

4.1.Phân tích, tìm hiểu ,xác định những cơ sở hình thànhphong cách thơ Tản Đà

4.2.Xác định t tởng nghệ thuật và cái nhìn của Tản Đà về conngời, thế giới và bản thân mình xem đây nh là yếu tố tiênquyết trong sự hình thành phong cách thơ Tản Đà

4.3.Tìm hiểu, phân tích, xác định đặc điểm của phongcách Tản Đà trên phơng diện bút pháp, giọng điệu và ngôn ngữthơ ca Tản Đà

Cuối cùng rút ra một số kết luận về phong cách thơ Tản Đà, đềxuất một số ý kiến về giảng dạy và tiếp nhận thơ tản Đà

5.Phơng pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu vấn đề này luận văn sử dụng nhiều phơng phápkhác nhau, trong đó có những phơng pháp chính : Phơng phápthống kê- phân loại, phơng pháp phân tích- tổng hợp, phơngpháp so sánh- loại hình, phơng pháp cấu trúc -hệ thống

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn.

6.1.Đóng góp:

Luận văn là công trình tập trung tìm hiểu, xác định phongcách thơ Tản Đà với cái nhìn hệ thống

Trang 7

KÕt qu¶ luËn v¨n cã thÓ dïng lµm tµi liÖu tham kh¶o cho viÖcd¹y häc , t×m hiÓu, nghiªn cøu th¬ T¶n §µ.

Trang 8

Chơng 1 hiện tợng tản đà trong lịch sử thơ ca việt nam và sự

hình thành một phong cách thơ

1.1 Hiện tợng Tản Đà trong lịch sử thơ ca Việt Nam

1.1.1 Tản Đà- con ngời, cuộc đời và thơ

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu(1889 -1939) sinh tạilàng Khê Thợng, huyện Bất Bạt, Tỉnh Sơn Tây, một làng nhỏbên Sông Đà, cách núi Tản Viên 10 km Chính dòng sông , ngọnnúi ấy đã khơi nguồn, theo suốt văn nghiệp Tản Đà

Đợc sinh ra trong nền học vấn nho gia của gia đình, Tản Đàchịu ảnh hởng của thân mẫu có học thức, hát hay, thơ giỏi.Hơn thế nữa ông đuợc hai ngời anh cùng cha khác mẹ làNguyễn Tái Tích và Nguyễn Mạn đều thuộc vào loại thời danhnuôi nấng Trong suốt thời niên thiếu, Tản Đà đợc ảnh hởng nềnhọc vấn đó là điều kiện tốt để phát triển tài năng và ông đãmang trong mình hy vọng tiến sĩ, đại khoa để kế chí phụhuynh

Tản Đà là ngời học giỏi nhng thi cử gặp nhiều trở ngại Năm

1912, ông lều chõng đi thi nhng đến ngày xem bảng, bảngkhông tên Theo ông sự thất bại đó là bởi có sự vênh nhau giữatài năng của ông không hợp với khuôn mẫu quan trờng, đó là do

sự hỏi mẹo “ bẩn thỉu”, và cho rằng:

Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông ( Tự trào)

Trang 9

Chí lớn không thành, hy vọng tiến sĩ đại khoa nhng thất bại.

Sự học lại có quan hệ với tình duyên Trong thời gian học ở ờng Quy Thức, cậu ấm Hiếu có mối tình đầu với cô gái họ Đỗ ởphố hàng Bồ, nhan sắc, dịu dàng, lễ phép, biết chữ Nho và

Tr-và chữ Quốc ngữ, nàng muốn xe duyên cùng cử nhân, trihuyện Tản Đà càng hăm hở học hành để toại nguyện đôi đ-ờng Nhng khi thất bại trong công danh cũng là lúc Tản Đà đauxót chứng kiến cảnh ngời đẹp lên xe hoa Rồi tiếp đến nhữngmối tình khác ( mối tình thứ hai, là mối tình đẹp nhng tuyệtvọng, mối tình thứ ba là yêu cô đào hát, đợc sản sinh dới ánh

đèn sân khấu, mối tình thứ t là với ngời con gái ở Vĩnh Yên).Nhiều mối tình nhng có lẽ mối tình đầu vẫn là sự đeo đẳngtrong cuộc đời ông, ảnh hởngđến cách nhìn đời và văn ch-

ơng của ông

Tản Đà là ngời đã tự nhận về mình cái trách nhiệm là gánhcái tài tình của cặp tài tử giai nhân của thân mẫu và thânphụ ông để lại

Gặp cảnh gia đình éo le từ nhỏ, mất bố từ năm lên ba, bốntuổi thì mẹ trở về quê cũ với nợ lầu hồng với tiếng cời câu hát,Tản Đà cho là không chính đáng nên u uất, buồn rầu Điều nàytrở thành nỗi đau tê tái trong suốt cuộc đời ông

Tình duyên trắc trở, tình mẫu tử bị chia lìa từ tấm bé, thấtchí, thất tình, đã để lại nỗi buồn đau này bàng bạc trong sángtác của Tản Đà

Lớn lên gặp cảnh Thực dân Pháp đặt ách cai trị, đô hộ, giàyxéo đất nớc,Tản Đà nhận thấy giang sơn gấm vóc nay chỉ còn

là mảnh bản đồ rách “ Sao đến bây giờ rách tả tơi” Tản Đà vốn đa sầu đa cảm: Đêm trờng tôi đứng ngồi sầu thảm ở ông

đeo đẳng một nỗi sầu, tơng t, buồn chán, mơ mộng, khaokhát tình cảm, khát khao tri kỷ

Trang 10

ông cố quên nỗi buồn, tìm đến vùng sơn cớc , rồi tế ChiêuQuân :

ái ân thôi có ngần này, Thề nguyền non nớc đợi ngày tái sanh

Thất vọng, Nguyễn Khắc Hiếu đến ở nhà anh rể NguyễnThiện Kế sống nhng đợc anh khuyên nhủ đọc Tân th ở nhà họBạch, Nguyễn Khắc Hiếu đã có sự thay đổi trong suy nghĩ,bắt đầu một lý tởng mới, từ bỏ con đờng cử nghiệp

Một trang sử mới mở ra, Tản Đà bắt đầu cới vợ, sinh con, phảilăn lộn nuôi sống vợ con và dùng văn thơ để mu sinh

Tản Đà viết báo, hợp tác với tờ Đông Dơng tạp chí, viết tuồng,

viết văn xuôi, thơ Ông vào Nam ra Bắc, xoay đủ nghề để

kiếm sống, thế nhng rồi: Cái nghèo khôn xiết, cái lo khôn cùng.

Và ông vẫn lấy điều đó để mà tự trào:

Ngời ta hơn tớ cái phong lu

Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo.

( Sự nghèo)

Nghèo nhng Tản Đà vẫn theo đuổi sự nghiệp văn chơng, dùviệc viết văn gặp nhiều khó khăn, đồng tiền có hạn, đồng l-

ơng eo hẹp, thu không đủ chi, lo văn ế Ông viết thuê vở chèo

ở các rạp hát rồi xoay ra nghề viết báo, mở báo kiếm ăn Làmbáo , ông lại không đủ phơng tiện làm một ông chủ báo , khôngthể đủ trang trải để điều khiển một tờ báo cho đợc hoàn bị

An Nam tạp chí mở ra rồi đóng lại, cái khó bó cái khôn, ông phải

lăn lộn

Chốn ba đào phong vũ vẫn cời reo Thuyền một lái một chèo ai với nớc (Cảm hoài ANTC lại ra đời)

Tản Đà tâm sự “Việc đáng vài ba nghìn làm đợc ở mìnhthời nếu chỉ có một trăm là đủ làm mà không thể nào có , ở

Trang 11

đời thật có những lúc đáng buồn” (Giấc mộng lớn) Nghề báo

không nuôi sống đợc làng văn, gia đình đông ngời, cuộc sốngcủa tiên sinh càng thêm túng quẫn:

Quanh năm gạo chịu tiền vay

Vợ chồng lo tính hôm này hôm mai (Cảnh vui nhà nghèo)

Cuộc sống tạm bợ, nay đây mai đó , một túp lều trú châncũng không yên ổn:

Nhà ở thuê chật hẹp quanh co Tạm yên đủ ấm vừa no

Cái buồn khôn xiết cái lo khôn cùng”

Cảnh vui nhà nghèo)

Ông đã phải kêu lên với trời rằng “ Trần gian thớc đất cũngkhông có” Lại còn nợ nần , lãi suất ảnh hởng đến hứng thú sángtác “Bây giờ nhà xiêu vách nát vợ đói con rét, dễ anh ngồi saoyên” ; “Hết tháng ba qua tháng chín, bao nhiêu cái lo phiền

khốn nhục” (Gửi ngời tri âm) Nghèo túng lại còn thuê mớn, gặp

bọn chủ nhà in bóc lột, một ớc mơ thật bình dị nhng đối với

ông vẫn chỉ là mơ :

Ước sao tháng tháng sẵn tiền Tiền nhà cứ tháng ta liền đóng ngay

Rồi ra thơ nghĩ mới hay Tri âm ai đó mới say vì tình (Ngẫu hứng)

Ông viết về cái nghèo của mình một cách thành thực, cay

đắng Dẫu nghèo, Tản Đà vẫn không chịu cấu kết với bọn phảnquốc, không chịu bợ đỡ Tây, không luồn cúi, dựa dẫm Tản Đànghèo nhng thanh bạch Ông luôn trăn trở về thiên lơng về vậnmệnh của đất nớc Ông dồn hết tâm lực vào văn chơng, sángtác không chỉ vì lẽ mu sinh mà là lẽ sống “ Tuy nó là cái nghề

Trang 12

bạc bẽo nhng phải thành tâm với nó thì mới đợc Có thành tâmvới nghề thì mới thành nghề đợc Bây giờ đi buôn gỗ lãi ngaytiền vạn, Hiếu đây cũng không buôn, bổ đi làm tổng đốc l-

ơng tháng bốn trăm, Hiếu đây cũng không làm, Hiếu chỉphụng sự nghề văn mà thôi” ( Lâm tuyền khách- một tháng với

Tản Đà Ngày nay số 17) Ông không bận tâm đến cách lập

thân khác giữa xã hội “ba đào”

Cuộc đời của Tản Đà là cuộc đời của một con ngời sinh ratrong gia đình dòng dõi nhng lại ít gặp may mắn, tìnhduyên không toại nguyện, cái tài không đợc khẳng định nhng

ở ông vẫn giữ đợc khí tiết của một con ngời thanh cao, bảnlĩnh, phóng túng

Trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc này , nền khoa họchiện đại đang phát triển, xã hội đang đô thị hoá , những sinhhoạt của nền văn học hiện đại đang từng bớc hình thành, côngchúng đã đợc mở rộng, nhất là ở thành thị, điều kiện in ấn,xuất bản thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà vănchú tâm vào việc sáng tác văn chơng, cho phép các nhà vănlựa chọn sáng tác văn chơng làm sự nghiệp chính của đờimình Làm văn cũng giống nghề nghiệp, nó cũng giống nh baonghề khác, nó đã cứu sống đợc cho các nhà Nho đang ở giai

đoạn thất thế trong đó có Tản Đà Gia đình trông chờ vàongọn bút của ông Tản Đà từ một nhà Nho tài tử đã ra thành thịviết văn để kiếm sống

Ông để lại một gia tài văn học phong phú, khối lợng tác phẩm

đồ sộ với nhiều thể loại, thơ, văn xuôi, dịch thuật, tuồng, chèo,chú giải truyện Kiều, viết báo ở thể loại nào Tản Đà cũng đạt

đợc những thành tựu nhất định

Nhận xét về văn nghiệp Tản Đà, Xuân Diệu cho rằng “ Phải

đọc kỹ lại văn xuôi của ông mới hiểu hết bản lĩnh của ông Văn

Trang 13

tài của Tản Đà phát tiết nhiều nhất trong thơ ông” Thơ ca làlĩnh vực đa ông lên vị trí chói rực trên thi đàn Việt Nam đầuthế kỷ Ông là ngời đi tiên phong trong việc phá bỏ những ràochắn của văn học trung đại, mở đờng cho văn học hiện đạiphát triển Trong sáng tác của mình , Tản Đà đã thể hiện cái tôibản lĩnh, lãng mạn, cái ngông riêng.

Ông để lại một khối lợng thơ lớn, đa dạng về thể loại, có thểloại vay mợn Trung Hoa nh thơ tứ tuyệt, thất ngôn bát cú Đờngluật, thơ trờng thiên , một số lợng khá lớn viết theo thể thơdân tộc nh hát nói, lục bát, song thất lục bát, và một số bàikhông định thể

Ông vừa đa thể thơ dân tộc lên đỉnh cao, vừa là ngời mạnhdạn có những cách tân, phá vỡ dần tính quy phạm, chọn thểloại ít gò bó, dùng ít điển tích điển cố, có những bài thơhình thức cũ nhng nội dung, ý tởng mới lạ phù hợp với tâm lý, thị

hiếu chung của thời đại nh Tơng t, Nhớ mộng Thơ Tản Đà thể

hiện rõ một cái tôi đa tình, cái tôi xê dịch và cái tôi ngông vàtập trung nhất ở cái tôi đa tình ở đây ông luôn cảm thấy cô

đơn, sầu, khát khao giao cảm, muốn giải sầu, muốn lấp chỗtrống của tâm hồn bằng tình cảm của ngời tri kỷ, nhng ngời tri

kỷ hợp với Tản Đà lại là ngời phụ nữ, ngời đẹp Lấy tình cảmluyến ái làm thứ thuốc tiêu sầu, Tản Đà nhìn tri kỷ bằng tìnhyêu nam nữ, ở ông điều đó hình nh thành một thứ lăng kính

để nhìn thế giới

Với thể thơ dân tộc Tản Đà đã thu hút đợc sự chú ý ở ngời

đọc bởi nó đã thể hiện đợc “một giọng nói dịu dàng , trongtrẻo, nhẹ nhàng, có duyên, ngời ta bắt gặp một tấm lòng chânthành, một hồn thơ đằm thắm”

ở những bài thơ không định thể, hình thức thơ tự do và

gần với những bài thơ mới nh: Cảm thu, Tiễn thu, Tống biệt.

Trang 14

Ông cũng thành công trong thể thơ dịch ở đây, Tản Đà đãthể hiện đợc ý tởng , nội dung nguyên tác vừa thể hiện đợc cáihồn dân tộc vừa thể hiện đợc cái riêng độc đáo của một nhà

thơ tài năng (nh dịch Hoàng Hạc Lâu, thơ của Thôi Hiệu, một

nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc)

Nhìn chung thơ Tản Đà dù ở thể loại nào cũng thể hiện mộtphong cách riêng, một hồn thơ độc đáo , ở đó diễn tả một cáitôi riêng, nổi lên một chân dung của con ngời mang một nỗibuồn thấm thía trớc cảnh tang thơng của đất nớc, sự phức tạpcủa xã hội ba đào, của một con ngời đa tài đa tình, nhạy cảmvới mọi biến thái của xã hội đang trong sự chuyển mình - xã hộigiao thời ở xã hội đó ông quan tâm đến mọi kiếp ngời bấthạnh đặc biệt là số phận những con ngời tài tử, giai nhân vớilòng cảm thông chia sẻ và ông đã chọn cho mình một cáchviết riêng với thể loại, giọng điệu phù hợp với cái ý tởng củamình

Tiếp xúc với cuộc đời, thân thế, cá tính của Tản Đà, có nhànghiên cứu cho rằng con ngời Tản Đà là bài thơ hay nhất trong

sự nghiệp Tản Đà

Đến với văn nghiệp Tản Đà ta hiểu đợc con ngời ông “ Mộttâm hồn thi sĩ, một tâm hồn dệt bằng tất cả màu sắc của núi,sông, hoa, cỏ, bằng chua cay, mặn chát của thế tình, bằngtất cả mộng đẹp của yêu đơng, bằng tất cả nhạc điệu ”[ ]

1.1.2 Tản Đà “ Ngời của hai thế kỷ”, Nhà nho tài tử trong xã hội t sản

Tản Đà là tác giả khá đặc biệt của văn học Việt Nam ông là

ngời mang sắc màu của hai thời đại Ông “vừa là quá khứ vừa

là hiện đại, vừa cổ học, vừa tân học,là một nhà nho mà cũng

là một tiểu t sản thị dân”( Hoàng Đúc Khoa - Tôn Thất Dụng,Gtvh VN từ đầu thế kỷ XX đến 1930) Tản Đà đã làm “ bật

Trang 15

nứt” cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn với cái buồn, cái sầu, cáimộng, cái đa tình với nhiều màu sắc Sáng tác của ông vừa cổ

điển vừa hiện đại Nó vừa “ tải đạo” nh việc giáo dục thiên

l-ơng mang dáng dấp của các nhà nho, vừa chứa đựng nhữngnét tân kỳ hấp dẫn

Thấm sâu về truyền thống gia đình, sự đào tạo của Nhogiáo với đạo lý Khổng -Mạnh, vốn Hán học phong phú,Tản Đà ớcmơ làm “ ngời học trò Khổng Phu Tử ở á Đông” suốt đời daydứt về việc trời giao đem thiên luơng của nhân loại xuốngthuật cho đời hay, ông muốn có “ cái đời dài gấp 3,4 đời ngờithờng và cái số tiền nh tiền của chính phủ” để truyền báKhổng học, và sửa đổi những khuôn vàng thớc ngọc của nhogiáo Tản Đà quan niệm: “ Thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạotắc hiện (Thiên hạ có đạo thì ra, thiên hạ không có đạo cũng

cứ ra làm việc với đời) “ Dụng chi tắc hành, xã chi bất tàng”( Đời dùng thì đem ra làm, đời bỏ cũng chẳng xếp lại) Ông yêuthích cuộc sống nhàn tản, cuộc sống tao nhã, đạo nghĩa Cũngxuất phát từ chỗ cho rằng tiêu chí của ngời quân tử là lập đức,lập công và lập ngôn, Tản Đà dồn tâm huyết với sự nghiệp vănchơng Đó là sứ mệnh, sự nghiệp và cũng là thú bất tận củatiên sinh

Ông lại lớn lên trong cơn bão táp của lịch sử, thực dân Phápxâm lợc, cũ mới giao nhau, á Âu xáo trộn, lại đợc học ở trờng QuyThức do Pháp mở nên Tản Đà ảnh hởng của hai nền văn hoá, vănhọc Đông Tây, truyền thống và hiện đại

Tản Đà thông thạo các thể loại văn học truyền thống, sáng táctheo tính quy phạm nhng ông cũng đặt những bớc chân đầutiên để mở ra một nền văn học hiện đại đó là khẳng địnhbản ngã, viết về tình cảm riêng t sâu kín của chính mình,góp phần mở đờng cho chủ nghĩa lãng mạn của văn học Việt

Trang 16

Nam Ông đã sử dụng thể thơ không định thể, thể loại thơ

ch-a có trong truyền thống, thích hợp với những nội dung mới củch-athời đại

ở Tản Đà có sự đan xen giữa ý thức hệ phong kiến và tsản, t tởng cũ và mới, sáng tác của ông vừa ảnh hởng của Hánhọc vừa ảnh hởng của văn học phơng Tây nhng phần Hán họcvẫn chủ yếu Chính ông đã “ dạo những bản đàn mở đầu chocuộc hoà nhạc tân kỳ đơng sắp sửa” (Hoài Thanh) Ông đợcxem là “ Ngời của hai thế kỷ” là nhà nho tài tử trong xã hội tsản

Tản Đà đa tài, đa tình nhng khi “ cử tú không, rể cũngkhông”, thất chí, thất tình Tản Đà tìm đến những thú vuiriêng nh sáng tác văn chơng, và thú xê dịch, thú vui chơi, tìm

đến thiên nhiên, sông núi

Túi thơ đeo khắp ba kỳ Lạ chi rừng biển thiếu gì gió trăng.

( Thú ăn chơi)

ở điểm này Tản Đà mang cốt cách của các nhà nho ẩn dật cómàu sắc phóng túng, vô vi của Lão Trang Ông cũng là đồ đệcủa Lu Linh, Lý Bạch về thơ rợu:

Trăm năm thơ túi rợu vò Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai (Thơ rợu)

Rồi có dáng dấp của Tú Xơng, Yên Đổ ông yêu thích , ca tụng

ông L Thoa, cuộc chơi kỳ thú, những cuộc tình không bến

đậu, mạnh dạn đa ra một cái tôi ngông “ rất nhân bản”

Xã hội mà Tản Đà sống là xã hội giao thời Phía trớc là sáng táccủa các nhà nho mang tính quy phạm riêng, trong sáng tác của

họ có sự giống nhau giữa đề tài, nội dung, phơng pháp sángtác Cũng có khi trong sáng tác của một tác giả lại có sự khác

Trang 17

nhau, cùng một tác giả lại sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm nhNguyễn Du, hay Cao Bá Quát sáng tác cả thơ chữ Hán và hátnói Nhà nho hành đạo gắn văn với đạo, lý (văn dĩ tải đạo, thi

dĩ ngôn chí), quan tâm đến chức năng giáo hoá của văn họcNhà nho ẩn dật có lối sống tự do tự tại, họ muốn thoát khỏi sựràng buộc khắt khe của xã hội phong kiến và Nho giáo, nhngcách xử thế của họ cũng dựa trên Đạo, vẫn hợp với thánh hiền ẩndật hay hành đạo thì vẫn là sự thống nhất trong mỗi ngời, nókhông phải là sự đối lập Lại có một mẫu nhà nho đối lập vớihai mẫu nhà nho trên đó là nhà nho tài tử Họ xem tài và tìnhlàm nên giá trị của con ngời Tản Đà là ngời thuộc mẫu nhà nhonày

Ông xuất thân từ một nhà nho, đợc đào tạo trong nhà trờngKhổng học Con đờng mà Tản Đà lựa chọn cũng là học hành-thi cử -đỗ đạt- làm quan Ông đèn sách đi thi nhng hỏng thi ởNam Định, thi vào trờng Hậu bổ cũng trợt vấn đáp Thất bại ởkhoa cử, cay cú bởi không đợc kế chí phụ huynh,và lại liên quan

đến tình duyên Nhng Tản Đà vẫn tự hào về văn chơng củamình: “ Xuống ngọn bút ma sa gió táp, Vạch câu thơ quỷ thảmthần kinh” Mặc đầu thi hỏng nhng đối với ông đó là điềukiện khách quan, do xã hội , do chế độ thi cử , do không hợpthời, còn bản thân ông vẫn tự xem hơn ngời là có tài:

Vùng đất Sơn Tây này một ông

Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng Sông Đà núi Tản ai hun đúc

Bút thánh câu thần sớm vãi vung

( Tự trào)

Bất mãn với thực tại , ông trở nên ngông nghênh với đời, tháchthức với đời

Trang 18

Ông có những giấc mộng lên tiên thoát khỏi cảnh trần gian tùtúng, gò bó, không có ngời tri kỷ, mơ lên hầu trời và đợc:

Trời lại phê cho “Văn thật tuyệt, Văn trần nh thế chắc có ít”

( Hầu trời)

ông muốn có sự nghiệp để xứng với tài năng, thế nhng xã hộikhông cho ông thực hiện mộng khoa cử, chế độ thi cử khônghợp với ngời phóng túng nh ông :

Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông”

( Tự trào)

Ông muốn sống một cuộc sống tự do, tự tại, theo sở thích cánhân Trong sinh hoạt đời thờng Tản Đà có lối sống riêng khiến

có lúc ngời ta thấy khó chịu

Trong văn chơng, cách viết, nội dung cũng bộc lộ bản lĩnh củamình, muốn giải phóng nhân cách, tình cảm trần thế Thơ, r-

ợu, những cuộc chơi kỳ thú là những thú vui bất tận, là đề tàichính trong sáng tác của ông:

Chơi cho biết mặt sơn hà

Cho sơn hà biết ai là mặt chơi

( Chơi Huế)

Trớc Tản Đà đã có một loạt nhà nho tài tử nh Cao Bá Quát “Uống mấy chung lếu láo cho tiêu sầu”, hay Nguyễn Công Trứ

Thú gì hơn nữa thú ăn chơi

Chi giàu khó sang hèn là phận cả

Đủ lếu láo với ngời thiên hạ Tính đã quen đài các bấy lâu Đan một cung, cờ một cuộc, thơ một

túi, rợu một bầu Khi đắc chí phiêu du ờ cũng phải

Trang 19

( Thích ngao du)

Nhng ở Nguyễn Công Trứ dù dõng dạc tuyên bố về công danh,

sự nghiệp, ăn chơi, hởng lạc, nhàn tản thì cuối cùng ông vẫnthực hiện “ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung” Cái thú đó

ở Tản Đà lại có nét độc đáo riêng Cái ngông của “trích tiên”,cái ngông không phá phách , cái chơi cũng đợc ông miêu tả tỉ

mỉ vào thơ văn “ Thú ăn chơi”, “ Còn chơi”

Ông lại tự nhận mình là ngời đa tình , cái tình của ông cũngriêng, ông đề vào thơ:

Ngời đâu cũng giống đa tình,

Ngỡ là ai , lại là mình với ta.

(Nói chuyện với ảnh)

Trong cuộc sống ông cũng nặng lòng với mối tình không thành,mộng thành danh để kết duyên cùng ngời đẹp tan vỡ đã khiến

ông vô cùng thất vọng:

Vì ai cho tớ phải lênh đênh.

Nặng lắm ai ơi một gánh tình (Chơi Hoà Bình)

Trong sự nghiệp ông đã dành nhiều trang viết cho cái tình,nhìn sự vật hiện tợng qua lăng kính phong tình ân ái, cáitình mà ông đem ra cũng qua cách nhìn mới mẻ, của một conngời phóng túng, muốn phá cách, tình yêu ngoài hôn nhân,không bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến

Nhác thấy không đành mắt

Cho nên tiếc của đời

Tôi thấy ngời ta sao lại nói

Có chồng càng lại dễ hơn cha

( Tiếc của đời)

Ông làm thơ “ Th đa ngời tình nhân không quen biết”, “ Th lại trách ngời tình nhân không quen biết”, mơ về cuộc gặp gỡ

Trang 20

với Tây Thi, Chiêu Quân và cũng “ lần đầu tiên trong văn

ch-ơng Việt Nam nói đến tình yêu ngoài hôn nhân và hơn thếnữa đối lập với hôn nhân” ( Phạm Xuân Thạch)

Tài tình và coi trọng, đề cao nó, tạo nét riêng, khác biệt ,

nh-ng tronh-ng hoàn cảnh này nó có số phận ra sao?

Sống trong môi trờng thành thị t sản hoá, chủ nghĩa cánhân có mảnh đất phát triển Nhng cũng ở đây đồng tiền làthớc đo của các giá trị Đối với Tản Đà thì giá trị lại ở thiên lơng.Thị hiếu thẩm mỹ của công chúng khác trớc, kinh tế và mọi

điều kiện thay đổi Tản Đà cũng ôm mộng lập nghiệp bằng

văn chơng : “ Quyết đem bút sắt mà mài lòng son” ( Xuân sầu) Dù sao tài tình của ông vẫn khó đợc đối đãi tử tế nhng

Tản Đà “ không kiêu ngạo thị tài nh Nguyễn Công Trứ và Cao BáQuát Tuy đa tình nhng cũng không quá khó tính đến mức cốchấp” ( PCĐ, TĐHơu VHVN 1930-1945) Cái ngông cuồng củaTản Đà cũng không đến nỗi phá phách nh các nhà nho tài tửtrong xã hội phong kiến mà cái ngông ấy cũng hiền lành hơn

Ông chỉ sống theo sở thích riêng, mơ mộng về mỹ nhân,phóng túng, hởng lạc Ông lên tiếng :

Rủ nhau quang gánh với đời Mặc cho thiên hạ chê cời cũng hay

Tản Đà sống bắt nhịp đợc với thời đại mới đó là coi trọng cáitôi cá nhân, thế nhng không mang lối sống thực dụng, ích kỷcủa lối sống t sản Ông đồng cảm, xót thơng cho những ngời

tài tình nhng bất hạnh Bài thơ Thăm mả cũ bên đờng đã thể

hiện rõ tâm sự đó Ông cho rằng “ Trong cái sớng chung, thờnglại có ngậm một chút luỵ , trong cái sớng cao cách thờng cóngậm một chút sầu”

Ông lại không nhập cuộc đợc với cuộc sống t sản, ông giữ khítiết thanh cao, không để tài tình bị mua chuộc mặc đầu

Trang 21

cuộc sống trăm bề khổ cực Nên trong tình hình đó cái tài

và tình ông cũng phải cất lên rằng: “ Tài tình luỵ lắm bạntình ơi”

Đúng nh Trần Ngọc Vơng nhận xét: “ Nếu nh Tản Đà chỉ lặplại những chủ đề, đề tài , cũng nh sử dụng lại các thể loại ,phong cách bút pháp của các nhà Nho tài tử trớc đây thì

đâu còn là nét riêng, nét độc đáo , mới lạ trong sáng tác củaTản Đà nữa”[ ]

Tóm lại, Tản Đà là một nhân vật khá đặc biệt, là con ngờicủa hai thế kỷ, là nhà nho tài tử cuối cùng đã kế thừa các thànhtựu của các nhà thơ tài tử Việt Nam và kết thúc một kiểu tácgiả của văn học thời kỳ giao thời mà mãi sau này những năm30-45 ta thấy tiếp nối nét tài tử ấy ở nhà văn Nguyễn Tuân

1.1.3 Vị trí củaTản Đà trong lịch sử thơ ca dân tộc

Đối với lịch sử thơ ca Việt Nam, Tản Đà có một vị trí đặcbiệt Với tài năng độc đáo ông để lại một khối lợng tác phẩmlớn, đạt đợc những thành tựu nhất định trên nhiều thể loại

Đặc biệt văn chơng Tản Đà đã phản ánh đợc giai đoạn giaothời- giai đoạn mà văn học Việt Nam đang chuyển mình đểthay đổi từ phạm trù văn học trung đại sang văn học hiện đại.Tản Đà chính là chiếc cầu nối của hai thời đại văn học ấy

Ông có tài về việc sử dụng các thể thơ ca dân tộc Là ngờihọc trò đi thi, Tản Đà am hiểu thơ văn phú lục, văn chơng chữHán, thông thạo ca trù, thơ song thất lục bát, tuồng chèo, ca lý.Nhà thơ Xuân Diệu đánh giá “ Tản Đà là thi sĩ rất An Nam”

Ông lại là ngời mạnh dạn đặt những bớc chân đầu tiên mở

đầu cho một nền văn học hiện đại Khi văn chơng quốc ngữ

đang ở giai đoạn phôi thai, bớc đầu tìm các cuộc thử nghiệmthì ngòi bút của ông đã xông xáo trên mọi lĩnh vực Ông sáng

Trang 22

tác những bài thơ với những vần điệu phóng túng, ý tởng mớilạ:

Nếu không phá cách vứt điệu luật Khó cho thiên hạ đến bao giờ.

Từ những bứt phá đầu tiên đó ông đã ơm mầm cho thể thơ tự

có thể đứng đầu đó theo Xuân Diệu là “Tản Đà là thi sĩ đầutiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại Tản Đà là ngời thứnhất đã có can đảm làm thi sĩ một cách đờng hoàng, bạodạn,dám giữ một bản ngã, dám có một cái “tôi” Nguyễn Tuâncũng cho rằng “ Trong chốn tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôihội chủ ai dám ngồi chung chiếu với Tản Đà” Không phảingẫu nhiên mà Hoài Thanh trong bài tổng luận về phong tràoThơ mới 1932-1945 đã cung chiêu anh hồn Tản Đà và khẳng

định “Tản Đà là con ngời của hai thế kỷ, là ngời dạo bản đàn

mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đơng sắp sửa” Tản Đà

là nhà nho trong xã hội t sản, nhà văn chuyên nghiệp đầu tiênxem văn chơng là một nghề

Tản Đà đã kết thúc một thế kỷ thơ ca trung đại, là ngời mở

đầu cho thơ Việt Nam hiện đại Ông là ngời đã bắt đợc nhịpcầu truyền thống của thơ văn Nguyễn Du, Phạm Thái, Hồ XuânHơng, Chu Mạnh Trinh, Tú xơng, với lớp sau nh Thế Lữ, XuânDiệu, Huy Cận, Bích Khê, Hàn Mặc Tử Hoài Thanh khẳng

định “ Có tiên sinh ngời ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là

Trang 23

những quái thai của thời đại, những đứa thất cớc không có liênlạc với quá khứ giống nòi’’

Ông đã góp một tiếng nói riêng vào diễn đàn văn học đầuthế kỷ, vào tiến trình lịch sử văn học Việt Nam một bản ngã,cái tôi cá nhân, đã“cắm một cái mốc cho bớc ngoặt tiến trìnhvăn học” (Nguyễn Khắc Xơng) Xuân Diệu cho rằng : “ thi sĩTản Đà những chục năm đầu của thế kỷ 20 đã làm cái nắp xìhơi cho xã hội, đã là ngời tiêu biểu nhất đa ra cái nỗi Buồn, cáiSầu của chủ nghĩa lãng mạn , và đã đa ra bằng những văn thơhay mà những thi sĩ cùng thời không ai bì nổi’’

Khi xã hội Việt Nam đang đi vào con đờng t sản hoá, ở Tản

Đà mặc dầu vẫn tồn tại trong mình dấu vết của nhà nho song

đã mang dấu ấn của cái tôi tiểu t sản Ông đa vào thơ ca mộthơi thở mới, nó là sự trỗi dậy của một thứ tình cảm không chịu

đựng đợc sự chật chội của khuôn khổ , muốn bộc bạch, phơitrải, không giấu giếm mọi tâm tình Đó là điều đã bắt nhịp

đợc với bao tâm hồn của thế hệ thanh niên lúc bấy giờ Ông làngời đầu tiên nói đến cái sầu của cá nhân một cách thànhthực, mạnh mẽ: “ Sầu không có mối , chém sao cho dứt Sầukhông có khối đập sao cho tan”

Tản Đà đã nói lên đợc “ cái sầu bàng bạc trong đất trời , tiềmtàng trong tim gan con ngời” Đó cũng chính là cái mầm của “căn bệnh thế kỷ” của phong trào thơ mới sau này

Tản Đà lại mạnh dạn nói đến cái tình một cách táo bạo so vớivăn học trung đại Ông cho rằng mình là kẻ đa tình, thuộc

“tình chủng” Gặp thất vọng trong tình duyên, ông tìm đếnngời tình trong mộng, đó là những ngời đẹp, giai nhân mỹnữ Đây là điều đã chi phối trong đề tài sáng tác, hình tợngnghệ thuật thơ Tản Đà, tạo nên nét độc đáo trong phong cáchnghệ thuật thơ ông Ông nói đến tình yêu ngoài hôn nhân,

Trang 24

nhìn tình yêu một cách phóng khoáng hơn so với các nhà nhophong kiến : có nhớ mong, tơng t, giận hờn vô cớ Đó là nhu cầutình cảm của bao thế hệ mà đến bây giờ mới đợc tìm sự

đồng điệu trong thơ Tản Đà Sau này đề tài đó là đề tàitiểu biểu của thơ ca Việt Nam những năm 1930 - 1945, tiêubiểu nh ở ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, hay ở những năm

80 với nữ sĩ Xuân Quỳnh - tình yêu đợc thể hiện nồng nàn ,cuồng nhiệt , dữ dội hơn

Thơ Tản Đà viết về cái mộng, cái ngông, cái say một cách say

sa Đó chính là thể hiện một cái tôi muốn khẳng định, muốnvợt thoát khỏi rào chắn của cái ta phi ngã Nh vậy Tản Đà chính

là ngời mở màn cho trào lu lãng mạn của văn học Việt Nam

Với cá tính, cái tôi ấy Tản Đà sử dụng một cách thức thể hiệnphù hợp, ông vẫn sử dụng các thể thơ dân tộc và đã đem vàochất phóng túng gần với lối thơ mới sau này Chính Tản Đà làngời đã “ dạo những bản đàn cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ

đang sắp sửa” ( Hoài Thanh)

1.2 Sự hình thành phong cách thơ Tản Đà

1.2.1 Khái niệm phong cách và phong cách thơ

Từ điển thuật ngữ Văn học định nghĩa: “Phong cách nghệthuật là một phạm trù thẩm mỹ , chỉ sự thống nhất tơng đối

ổn định của hệ thống hình tợng của các phơng tiện biểuhiện nghệ thuật , nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác củamột nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lu văn học hayvăn học dân tộc

Tiến sĩ Biện Minh Điền trong cuốn “ Phong cách nghệ thuậtNguyễn Khuyến” giới thuyết về phong cách tác giả nh sau:

Phong cách là biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệthuật, có tính thống nhất và tơng đối ổn định, đợc “lặp đilặp lại” trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn

Trang 25

và sự chiếm lĩnh nghệ thuật dộc đáo của nhà văn đối với conngời và thế giới.

Chỉ có những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có phongcách riêng độc đáo Cái nét riêng ấy thể hiện ở các tác phẩmcủa nhà văn làm cho ta có thể cảm nhận sự khác nhau

1.2.2 Cơ sở hình thành phong cách thơ Tản Đà

Nói đến phong cách thơ Tản Đà chúng ta cần tìm hiểu đếncác yếu tố ảnh hởng quan trọng đó là thời đại mà ông sống,những truyền thống văn học dân tộc và sự ảnh hởng của vănhọc phơng Tây để xác định nét thống nhất trong sự lựa chọncủa ông là gì

Thời đại Tản Đà sống và sáng tác văn học là thời đại xã hội ViệtNam có nhiều biến động lớn Nớc Việt Nam cũng nh á Châu,

Đông Nam á đang ở thời kỳ đầu của quá trình Âu hoá Thựcdân Pháp khai thác thuộc địa, chế độ thực dân nửa phongkiến đợc xác lập, với quan hệ sản xuất mới khác trớc: quan hệsản xuất t bản mang hình thức thuộc địa Cơ cấu xã hội thay

đổi, nhiều tầng lớp mới xuất hiện (công nhân, nông dân, tiểu

t sản, t sản ), kinh tế thay đổi, thành thị mọc lên nh nấm,giai cấp tiểu t sản hình thành với sự phân hoá phức tạp , có bộphận yêu nớc, có bộ phận quay lng với dân tộc lại có bộ phận lngchừng , không tham gia cách mạng mà tìm nơi lẩn tránh vàovăn chơng Những năm 1920, ý thức hệ t sản có mặt ở ViệtNam Xã hội Việt Nam bị xáo trộn , chuyển biến mạnh mẽ

Xã hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX là xã hộigiao thời Trên nền xã hội ấy mọi hiện tợng có sự biến đổi Vềchính trị , chính quyền thực dân Pháp đợc củng cố còn chínhquyền phong kiến Việt Nam trở thành bù nhìn, tay sai Còn vềkinh tế thì kinh tế nông nghiệp lạc hậu vẫn tồn tại bên cạnhkinh tế t bản chủ nghĩa đã xâm nhập vào Việt Nam nên nó chi

Trang 26

phối vào đời sống xã hội, văn hoá Về văn hoá, thì nền văn hoáKhổng Mạnh từ lâu tồn tại ở Việt Nam giờ đây bị nền văn hoá

t bản chủ nghĩa xâm nhập và làm đảo lộn

Những biến động trong đời sống chính trị, xã hội nhanhchóng đợc phản ánh vào văn học, tác động mạnh mẽ đến quátrình phát triển của văn học Khi cơ cấu xã hội thay đổi ,nhiều tầng lớp mới xuất hiện, tâm lý xã hội thay đổi , thị hiếucủa công chúng cũng khác trớc Các t tởng dân chủ tự do xuấthiện Lúc bấy giờ cái tôi cá nhân cá thể cựa mình Sự giaothoa của xã hội đó đã khúc xạ vào văn học Màu sắc trong vănhọc cũng phức tạp , muôn màu nh cuộc sống hiện thực Văn họcViệt Nam có sự giao thoa giữa cái cũ và cái mới Cái cũ tuy đã lỗithời nhng không dễ dàng bị loại bỏ Cái mới hình thành nhng ởtrạng thái “ ngỡ ngàng” cha dễ dàng đợc chấp nhận

Tản Đà là minh chứng tiêu biểu cho sự phức tạp của thời đại ở

ông có sự phức tạp trong t tởng, phức tạp ở cá tính, đa dạngtrong thể loại, có giọng điệu riêng biệt không trộn lẫn, tạothành một phong cách độc đáo vào bậc nhất trong lịch sử vănhọc Việt Nam

Tản Đà tiếp thu truyền thống văn hoá văn học dân tộc, tiếpnhận văn hoá văn học từ nhiều luồng khác nhau đầu thế kỷ XX.Thơ văn Tản Đà vừa nằm trong sự chi phối của hệ thống vănhọc cổ điển, vừa chịu ảnh hởng của các yếu tố cũ vừa chịu

ảnh hởng của yếu tố mới Thế nhng nguồn ảnh hởng chính đốivới sáng tác của Tản Đà là vốn Hán học, Đờng thi Tản Đà họcchữ Hán từ nhỏ Trong thơ mình, Tản Đà đã nói về tình hình

ấy Từ lúc năm tuổi Tản Đà đã học Tam tự kinh, ấu học ngũngôn thi

Cuối năm lên sáu ta về Khê

Đà giang , Tản lĩnh nớc non quê.

Trang 27

Sách Nho học truyện lại học sử Quốc ngữ cũng mới làu a, b.

(Ngày xuân nhớ xuân)

Ngay cái lãng mạn ở Tản Đà cũng chịu ảnh hởng “ từ TrungQuốc truyền sang qua các bậc tiền bối Nguyễn Du, Phạm Thái,Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát “( trơng Chính- TĐTLTĐại)

Tản Đà đi nhiều, có thú phiêu du lãng tử, trong cái thú xê dịch

đó ông cũng có dịp tiếp thu lời ăn tiếng nói những ngời bìnhdân, gần gũi với đời sống của họ đã tạo chất liệu trong sáng táccủa ông Trong thể loại thơ lục bát, hát nói , phong dao , đềtài về thiên nhiên Việt Nam, cuộc sống hiện thực , ngôn ngữdân tộc, giọng điệu dân tộc thể hiện đậm nét Nhà thơdùng nhiều h từ , dùng từ đa nghĩa mơ hồ, âm điệu cadao tạo thành những tác phẩm đạt đến đỉnh cao nghệthuật

Tản Đà đã kết hợp đợc hai nền văn chơng bác học và văn họcbình dân, chất uyên bác của văn chơng bác học và chất duyêndáng, tự nhiên của văn chơng bình dân tạo nên nét hấp dẫncủa thơ Tản Đà

Tản Đà viết về hiện thực xã hội Việt Nam, mô tả nó, tố cáo,

đả kích bọn bán nớc hại dân, mỉa mai trò lố bịch ở đời (“ Sự

đời”, “ Nhắn Từ Đạm”, “ Cảm đề”) ở đây ông đã nối tiếp các

nhà thơ dân tộc nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn

Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng

Bên cạnh chịu ảnh hởng của yếu tố truyền thống, Tản Đà cònchịu ảnh hởng của văn học phơng Tây

Nếu trớc thế kỷ XX, văn học nớc ta chủ yếu chịu ảnh hởng củavăn hoá, văn học trong khu vực thì đến đầu thế kỷ XX, vănhọc có chịu ảnh hởng của văn học phơng Tây( chủ yếu là vănhọc Pháp) Mặc dầu cuối thế kỷ XIX nớc ta đã có điều kiện

Trang 28

tiếp xúc với văn hoá phơng Tây bởi cuộc khai thác thuộc địacủa thực dân Pháp nhng vẫn đang trong sự dè dặt Đến giai

đoạn này văn hoá phơng Tây du nhập vào nớc ta bằng nhiềucon đờng Lối sống, tâm lý của ngời dân thành thị khác trớc.Cùng với sự tiếp xúc với các tác phẩm của văn học phơng Tây vớicác tác giả tiêu biểu nh V Huygô, Mô lie, La Phôngten chữquốc ngữ đợc sử dụng rộng rãi, điều kiện in ấn, xuất bản pháttriển

Những điều kiện đó đã ảnh hởng tới sáng tác của Tản Đà Ônglại đợc học tập tiếng Pháp đến trình độ sơ học

Hà thành qua trải một đời xuân Học chẳng cao thêm cũng rộng dần Mới học Pháp văn từ lúc ấy

ấy năm Thành Thái sang Duy Tân ( Ngày xuân nhớ xuân)

Tản Đà cũng chịu ảnh hởng của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thụcmang khuynh hớng t sản hoá Đợc tiếp xúc với nền văn minh họcthuật Âu Tây qua Tân th Trung Quốc nên trong Tản Đà đã cóyếu tố của một nền văn hoá văn học mới đặc biệt ở tinh thần

đổi mới về ý thức, cái tôi cá nhân đợc bộc lộ một cách đậmnét, thành thực, công khai Tản Đà đem tình cảm của con ngờicá nhân vào văn học, đó là nỗi buồn, niềm vui, sự lo âu, niềm

hi vọng, những khao khát yêu đơng vào sáng tác của mình.Nhà thơ đã đem ngọn gió mới ấy vào văn học tạo tiền đề cho

sự ra đời của trào lu văn học lãng mạn Việt nam 1930 - 1945

Điều này làm cho thơ ông hấp dẫn công chúng thị dân Thơ

ông đã diễn tả đợc cái “tâm trạng của một trí thức phong kiếnhết thời, vừa pha thêm màu sắc của một cái tôi t sản buổi

đầu”

Trang 29

Ông là cây bút vừa lãng mạn, vừa hiện thực Hai yếu tố đótồn tại trong một nhà thơ Tuy nhiên mâu thuẫn này có thể lýgiải đợc Vậy nét thống nhất là ở đâu? hiện thực hay lãngmạn? Tuy nhiên Tản Đà vẫn là nhà văn lãng mạn Có điều ở thơ

ông, lãng mạn không tách rời hiện thực Có thể thấy một thế giớimộng, lãng mạn, sơng khói, mây nớc huyền ảo trong sáng táccủa tiên sinh nhng đều có cội rễ từ hiện thực Ông có thể tìmvào mộng, lên tiên giới, thoát ly nhng không bao giờ quay lng vớihiện thực thời đại mình

Tất cả những yếu tố trên cùng với sự năng động trong lựa chọnhớng sáng tác đã tạo nên phong cách thơ Tản Đà

Trong Phong cách Nguyễn Khuyến, Biện Minh Điền khẳng

định: “Một nhà văn lớn bao giờ cũng có t tởng thẩm mỹ riêng,cái nhìn riêng độc đáo về con ngời và thế giới”

T tởng thẩm mỹ trong văn học thực chất là t tởng nghệ thuật,

Nguyễn Đăng ạnh xác định trong “Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn’ ; đây là “thứ t tởng có tính tổng hợp

cao”, “thứ t tởng bao trùm cả toàn bộ sự nghiệp sáng tác của

nhà văn, chi phối về căn bản toàn bộ thế giới nghệ thuật của

ông ta Nó tạo ra cho sự nghiệp ấy tính thống nhất, tính hệthống hay tính chỉnh thể”

Trang 30

Đấy là thứ t tởng đợc thể hiện qua hình tợng, sống bằng hìnhtợng, đợc nghệ thuật hoá Trong sáng tác của một nhà văn, cóthể có sự tham gia của nhiều loại t tởng thuộc nhiều lĩnh vựckhác nhau nh chính trị, triết học, đạo đức, .nhng tất cảnhững t tởng này đều thống nhất trong t tởng sáng tạo chủ

đạo, tâm đắc mang ý nghĩa xã hội - thẩm mĩ mới mẻ, sâusắc (tức t tởng nghệ thuật) của tác giả ( Biện Minh Điền-TCVH , Tập XXXV, Số 3B -2006 ) Tác giả cũng khẳng địnhrằng một nhà văn có phong cách phải là nhà văn có t tởng nhthế Nếu thiếu nó, dẫu kỹ thuật của nhà văn có tinh xảo đến

đâu thì tác phẩm cũng chỉ là một sự xếp chữ mờ mịt, có

đ-ợc gọi là phong cách thì cũng chỉ là phong cách giả tạo nhkhuyến cáo của G W Hêghen mà thôi T tởng nghệ thuật cùngvới quan niệm về con ngời và thế giới của nhà văn đóng vai trò

là “ kim chỉ nam”cho việc tạo dựng thế giới nghệ thuật của ông

ta M Khrapchenkô cho rằng “ Gắn liền với cách nhìn cuộcsống bằng hình tợng, với những biểu tợng về các tính cách củacon ngời , về những mối quan hệ giữa họ và nó trở thànhkim chỉ nam cho tìm tòi sáng tạo của nhà văn để xây dựngtác phẩm nghệ thuật”

T tởng nghệ thuật chi phối cách nhìn, cách viết , cách xâydựng hình tợng của nhà văn Tìm hiểu về phong cách nghệthuật của một nhà văn thì xác định đợc t tởng nghệ thuật là

điều cần thiết Mọi tác phẩm nghệ thuật của nhà văn cũng cầndợc soi chiếu từ t tởng nghệ thuật ấy Hêghen gọi t tởng nghệthuật là t tởng của tác phẩm nghệ thuật và theo ông đó là cáinhìn thấy đợc vì đợc biểu hiện ra bên ngoài và vừa là “cái ẩnnáu bên trong tác phẩm Cái ẩn náu bên trong làm cho hiện tợngbên ngoài chan chứa sức sống”, và cái bên ngoài chỉ cho chúng

Trang 31

ta thấy cái bên trong tức nội dung tinh thần , t tởng của tácphẩm nghệ thuật” ( Dẫn theo T.S Biện Minh Điền)[ ]

1.1.2.T tởng nghệ thuật của Tản Đà.

T tởng nghệ thuật thể hiện ở từng tác phẩm cụ thể, riêng lẻ

đến t tởng sáng tạo bao trùm, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm.Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định Tản Đà hiện tợng phức tạp,theo Tầm Dơng Tản Đà là một “ khối mâu thuẫn lớn” “Sángtác của Tản Đà vừa đậm chất trữ tình, vừa hài hớc và đạichúng, vừa có ý vị hiện thực lại vừa bàng bạc một màu sắc lãngmạn” Trong tác phẩm của mình, Tản Đà đã dùng nhiều tên gọi

khác nhau nh Khối tình con 1, Khối tình con 2, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn.

ông thờng nói về cuộc đời, sự gắn bó sâu sắc với quê hơng

đất nớc Tình yêu, thế giới mộng ảo đợc ông nhắc đến nhiều,thấm đậm nỗi buồn và cả sự hẩm hiu

Trong thơ mình, Tản Đà đã thể hiện một cái tôi ngôngnghênh, phiêu du, lãng tử , xê dịch, đa tình Tất cả những nét

ấy đã cấu thành t tởng nghệ thuật

Có thể nói t tởng nghệ thuật Tản Đà xoay quanh hai phạm trùcơ bản “tình” và “mộng”- hai khái niệm xuất hiện nhiều nhấttrong sáng tác Tản Đà “Tình” và “mộng” thực sự trở thành mộtquan niệm, một t tởng, một ám ảnh khôn nguôi trong thơ văn

ông Không phải ngẫu nhiên mà sáng tác Tản Đà cứ trở đi trở lại

với hai phạm trù này Khối tình con 1, Khối tình con 2, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn…

Trớc hết là về “ tình” “ Tình” là gì vậy? Đấy là tình yêu :

với giai nhân, với con ngời, với những kiếp ngời tài hoa, phậnbạc; với cuộc đời, với đất nớc, quê hơng…

Còn “mộng”? Ông quan niệm cuộc đời là một giấc mộng Cógiấc mộng con, giấc mộng lớn…

Trang 32

“Tình” và “mộng” cho thấy cái lãng mạn trong phong cách

Tản Đà…( Còn nữa)

ở thơ ông đã biểu hiện một khát vọng mãnh liệt về tự do, vềcá tính của mình Với Tản Đà, dẫu cho chính trị có theo xu h-ớng nào, đạo lý ra sao thì khi đi vào thơ ca cũng đựoc ônglãng mạn hoá, phong tình hoá

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Tản Đà.

2.2.1 Từ t tởng sáng tạo chủ đạo đến cái nhìn nghệ thuật của Tản Đà.(Một số giới thuyết).

T tởng tạo ra cái nhìn “t tởng trở thành nguyên tắc của cáinhìn và của sự miêu tả thế giới” ( M Bakhtin) Mỗi nhà văn cómột cái nhìn cơ bản theo lăng kính riêng, từ đó đã tổ chức tácphẩm, tạo dựng thế giới nghệ thuật theo cái nhìn của mình Nhà thơ Nguyễn Khuyến nhìn con ngời và thế giới qua lăngkính tiết, Nguyễn Du nhìn thế giới bằng “ con mắt bao cả sáucõi và tấm lòng nghĩ tới nghìn đời “ Bà Huyện Thanh Quanthờng “ nhìn cảnh vật theo lăng kính tà huy”, Hồ Xuân Hơng

“ nhìn thế giới lấp lửng hai mặt “ Nguyễn Đình Chiểu quennhìn con ngời và cuộc sống qua lăng kính “vì nghĩa” ( dẫntheo Biện Minh Điền, Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến,Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,2008- Tr118) ơ Tản Đà từ t tởngnghệ thuật chủ đạo là sự lãng mạn, phong tình hoá đó mà đã

“ nhìn mọi ngời, mọi vật , mọi quan hệ theo một lăng kính ái

ân phong tình” , “ bộc lộ một thèm khát tình cảm : thiếu tri

Trang 33

tả về thiên nhiên, con vật thì cuối cùng cũng hớng đến cuộcsống con ngời, nó là cái đích cuối cùng của văn học Mỗi nhàvăn muốn trở thành một nhà văn thực thụ, có phong cách riêngthì phải có cách nhìn riêng về con ngời và thế giới

Tản Đà tự nhận mình là “ cái giống đa tình” và “ta có một”.Nhng trong thực tế ngời đẹp cứ lần lợt ra đi - giấc mộng tìnhduyên không thành, nó đã in dấu, chi phối sự nghiệp văn chơngcủa ông, dấu ấn đó gần nh phủ khắp các trang thơ, văn của

ông Ông nhìn con ngời và thế giới qua lăng kính phong tình,

ân ái

Cái nhìn ấy, lăng kính phong tình ấy chi phối sức tởng tợngcủa ông, khiến cho ông nhìn con ngời và cảnh vật luôn trongmột tâm trạng yêu đơng

ý thức rõ đợc cái tôi cá nhân rõ nét, Tản Đà lấy chính bảnthân mình làm đối tợng sáng tác , dám bày tỏ suy nghĩ củamình, khát khao phơi trải

Tản Đà thể hiện hình tợng cái tôi , dựng lên một cái tôi sừngsững trong văn học, công khai tồn tại giữa cuộc đời Tản Đà tựxng mình trong thơ : Tôi, ta, tớ, ông, Tản Đà, bác Dù ở phơngdiện nào Tản Đà cũng xem mình là ngời có tài tình “ Hiếu tabình sinh thích chè ngon, thích gái đẹp” Tản Đà cũng nóinhiều đến cái tôi buồn, sầu, ngông Sống cuộc sống long đongvất vả nhng Tản Đà không chán nản.Ông giải thoát vào một thếgiới khác: thế giới mộng ảo Ông cho rằng toàn bộ cuộc đời ông

là giấc mộng lớn “ Đời ngời đã là giấc mộng lớn , trong giấc mộnglớn lại có giấc mộng con, giấc mộng con thứ nhất lại có giấcmộng con thứ hai” Cái mộng ấy là cuộc đời bất nh ý, ông đãtìm đến mộng , trong mộng ông cũng bộc lộ đợc cái tôi mộtcách tự do, thành thực, dám nói đến những ngõ ngách sâu kíncủa tâm hồn Tản Đà nói về mình, nhìn mình :

Trang 34

Văn chơng thời nôm na

Thú chơi có sơn hà.

( Tự thuật)

Hay: Trời sinh ra bác Tản Đà

Quê hơng thời có cửa nhà thời không Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông

Bạn bè sum họp vợ chồng biệt ly.

( Thú ăn chơi)

“ Tản Đà tự khẳng định mình nh một độc giả, một nhà phêbình đầu tiên có thẩm quyền nhất để nói về chính mình”( Huỳnh Phan Anh, Tản Đà tác gia và tác phẩm, NXB GD, 2003) Tản Đà nói về mình, nhìn thẳng vào mình Chính cuộc

đời và con ngời Tản Đà đã khơi nguồn cảm hứng cho thơ ca

ông Ông nhìn mình với một sự say mê, ông nhận thấy mình

là con ngời có tài nhng không gặp thời:

Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê h-

Hay : Đời cha chán tớ tớ còn chơi

Tản Đà cho mình là ngông, mộng, say nhng cái nhìn về bảnthân đậm nét nhất cũng là qua lăng kính phong tình- Tản Đàcho mình là một kẻ đa tình:

Ngời đâu cũng giống đa tình Ngỡ là ai lại là mình với ta ( Nói chuyện với ảnh)

Trang 35

Đa tình đã làm cho Tản Đà phải sầu, buồn, nhng đa tình cũngkhiến cho cuộc sống thi vị Từ cái tình ấy mà khiến cuộc sốngvui buồn, hi vọng, thất vọng, đợi chờ nhung nhớ, khiến lòng t-

ơng t:

Quái lạ !làm sao cứ nhớ nhau Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu Bốn phơng mây nớc ngời đôi ngả

Hai chữ tơng t một gánh sầu ( Tơng t)

Ông nhìn vào những nỗi riêng t, những tâm t sâu kín,thành thực, đáng yêu Nhìn mình là ngời đa cảm “ Nhớ

chăng? Chăng hỡi? Hỡi cô mình?”( Lu tình) Nhớ ngời cụ thể nh

chị hàng cau, nhớ bạn, nhớ bác Thù Nguyên, nhớ bạn sông thơng

và nhớ cả những đối tợng mơ hồ “ Nhớ ai mà lắm nỗi sầu t”.Tiên sinh lại viết những bức th tình gửi ngời tình nhân cóquen biết, không quen biết và cũng trách móc tình tứ Thấy

mình thật tếu táo : Xem cô chài đánh cá, Ghẹo ngời vu vơ, Đùa cô s , gạ gẫm cả Hằng Nga để “ Trời mắng” Nhng cái con ng-

ời tài tử ấy có số phận phải luỵ vì hai chữ tài tình ấy, “ gánh

tài tình”, tài tình luỵ lắm bạn tình ơi (Đề tuồng Tây Thi) Nó

trở thành gánh nặng cho con ngời tài tử, là kiếp đoạn trờng, làbạc mệnh

Từ sự cảm nhận về bản thân mình, từ ý thức cá nhân đó

mà ông nhận thấy nhiều số phận khác trong xã hội, “ Cả thơ ,cả văn xuôi của Tản Đà đều cố gắng đề cập đến cuộc sốngbình thờng, cụ thể; quan tâm đến sự đau khổ và nghèo khócủa con ngời [ ]

Tản Đà nhìn con ngời với sự cảm thông, chia sẻ, nhân đạo Ôngquan tâm đến những số phận tài tử, giai nhân trong cuộcsống khắc nghiệt , trong tình huống “tài mệnh tơng đố”.Tản

Trang 36

Đà có sự đồng cảm sâu sắc Ông cho rằng đó là “ kiếp tàitình”, và cùng hội cùng thuyền với mình :

Chuyến đò ngang mình sau ta trớc Kiếp tài tình mặt nớc chân mây

(Đề Tuồng Tây Thi)

Ông tởng tợng ra những số phận hẩm hiu Trong tác phẩm củamình , những bài thơ, những câu chuyện nói về điều đómột cách cảm động, sâu sắc :

Ngời nằm dới mả ai ai đó Biết có quê đây hay vùng xa?

( Thăm mả cũ bên đờng)

Trang 37

Với đại từ “ai” phiếm chỉ, nhà thơ suy nghĩ về số phận kẻ mệnh bạc đi vào cát bụi Hơn thế nữa hai từ “ ai” đi liền nhau liên tiếp “ ai ai đó” là nhà thơ lại nói đến định mệnh

của cả “ kiếp trầm luân” không trừ một ai Nó là những cảnh

đời , số phận của kẻ cung kiếm, khách văn chơng, hay hồngnhan bạc mệnh gặp bớc phong trần , lu lạc, khách phong lu phải

phiêu bạt , gặp cảnh phong sơng là bậc tài danh “ giận duyên tủi phận hờn ân ái” Nhà thơ tởng tợng ra những kiếp ngời ,

số phận trong xã hội là những tài tử giai nhân, có kết cục bithảm, xót xa Phải là ngời “ Thơng ngời nh thể thơng thân”

thì nhà thơ mới linh cảm tiên đoán đợc “ Nỗi niềm tởng đến

mà đau Thấy ngời nằm đó biết sau thế nào?” Cũng nh Thuý

Kiều trớc ngôi mộ Đạm Tiên, Tản Đà đa cảm , đa sầu, vận vàobản thân nh tự trói bằng sợi dây oan nghiệt Tiếng thơ làtiếng nấc , là sự uất ức :

Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hơng (Thăm mả cũ bên đờng)

Những thanh trắc đi liền nhau , phá cách cũng là để diễn tảtâm trạng, thái độ của một cái tôi ý thức đợc tài năng , ý thức

đợc số phận của bản thân cũng nh những kẻ cùng hội cùng

thuyền trong hoàn cảnh “ Tài tình chi lắm cho trời đất ghen” Nhà thơ tự thốt lên rằng: “ Dở dang là cái tài ba Chắp tay vái lạy trăng già chứng cho”

Từ thế kỷ XIX, chủ nghĩa nhân đạo , nhân văn đã đạt đến

đỉnh cao với các nhà thơ Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm , thếnhng cái nhìn về ngời khác của Tản Đà không phải từ cảmnghĩ về con ngời nói chung mà xuất phát từ chính cái nhìnbản thân mình Xuất phát từ những số phận gần gũi với mình,

Trang 38

là mẹ, là cô đào nơng ở phố Dinh Hải Phòng, là thân thế ngời

yêu đều trầm luân, lu lạc Trong bài “ Cảm thu, tiễn thu”,

nhà thơ cũng gọi lên:

Nào những ai:

Sinh trởng nơi khuê các, Khuya sớm phận nữ nhi , Song the ngày tháng thoi đi, Vơng tơ ngắm nhện nhỡ thì thơng

hoa Nào những ai

Tóc xanh mây cuốn, Má đỏ hoa ghen Làng chơi duyên đã hết duyên

Khúc sông trăng dãi con thuyền chơi

vơi

Tất cả trong một sự ra đi, trong sự tiễn biệt, phù du của cõi

đời: “ Vèo trông lá rụng đầy sân, Công danh phù thế có ngần

ấy thôi” Tản đà bày tỏ nỗi lòng đồng cảm , sẻ chia sâu sắc ,thành thật Đó là tấm lòng nhân văn nhân đạo của một nhàthơ có tấm lòng luôn đau đáu với cuộc đời, trải lòng mình

cùng những kiếp ngời “ bạc mệnh” Trong “ Cánh bèo” nhà thơ

đã khái quát : “Khắp nhân thế là nơi khổ ải “ và nhắn nhủ “

Ai ơi vớt lấy kẻo hoài” Những vần thơ buồn, đó là tiếng than

của một cái tôi cá nhân , than cho những số phận bi thảm , tàitình bị vùi dập Cái nhìn của Tản Đà đối với con ngời là cáinhìn thơng cảm , xót xa Nhà thơ trân trọng cất tiếng kêu th-

ơng “ Tài tử cùng đờng, giai nhân bạc phận, con ngời ta đếnthế cùng đành cho là một sự tại trời” Tản Đà gắn bó với đời ,

gắn bó với kiếp ngời giữa cảnh “ xã hội ba đào”, ở đó đang

diễn ra sự thay đổi của các bảng giá trị Tản Đà nhìn xã hội dới

Trang 39

con mắt của một nhà Nho Xã hội t sản hiện lên trong thơ ông

đó là luân thờng, đạo lý bị phá huỷ, đồng tiền chế ngự, quan

lại hoành hành “ Gió gió ma ma đã chán phèo” ở đó, diễn ra

cảnh:

Luân thờng đổ nát, phong hoá suy, Tiết nghĩa rẻ rúng, ân tình ly

Dới con mắt của nhà thơ, mỗi ngời một số kiếp, từ quan lớn

đến những kẻ khố rách áo ôm, ngời canh cửi hay thợ thuyền tìcũng đều nằm trong cảnh :

Đã sinh ra kiếp nhân hoàn Lao tâm lao lực một đoàn khác chi.

Tấm lòng nhân ái của Tản Đà trải lên bao số phận mọi kiếp

ng-ời trong xã hội, từ những kẻ cố lý tha hơng , đến những kẻ đaocung, văn chơng, khách hồng nhan, khách phong lu đến bậc tàidanh Mỗi kiếp ngời đều đợc Tản Đà nhìn ở một góc riêng nh-

ng họ đều chung nhau ở số phận hẩm hiu, đặc biệt là nhữnggiai nhân tài tử Tiên sinh đồng cảm, sẻ chia với họ, xem rằngmình cũng cùng hội cùng thuyền, tri âm, tri kỷ :

Chi để khách đa tình đa cảm, Một mình thay cảm những ai ai!

Nhìn lại quãng đời qua nghĩ về kiếp ngời, thân phận con ngời

, Tản Đà nhìn thấy: Nghĩ cho

muôn vật hoá sinh

ở trong vũ trụ cái hình ra chi Trăng kia tròn đợc mấy khi Hoa kia nở đợc mấy thì hỡi hoa

Cho hay những khách trần hoàn Nhìn xa ở lại thế gian mấy mà Trông lên một mảnh trăng tà Soi chung kim cổ biết là những ai.”

Trang 40

( Trông trăng cảm tởng)

Tản Đà nhìn con ngời qua lăng kính phong tình, qua mộng.Tản Đà nhìn con ngời đặc biệt là ngời phụ nữ nh là ảo ảnh,những ngời mà tác giả mong muốn sẻ chia, gửi gắm mà trongxã hội lúc bấy giờ khó tìm kiếm, đó là những ngời đẹp Nóichung qua cái nhìn của Tản Đà, con ngời có tài tình đều bạcmệnh Cái nhìn ấy là sự cảm thông, chia sẻ Hồn thơ của tiênsinh bàng bạc, mơ hồ, có lúc gợi cảm giác chơi vơi nhng chanchứa nghĩa tình

Ông nhìn cuộc đời, về thế giới ngoại giới ( Cuộc sống, thiênnhiên, vũ trụ) cũng mang nét riêng biệt

Từ sự chứng kiến cảnh nhân tình thế thái bị đảo điên, đạo

đức cũ suy đồi , với bi kịch riêng của cá nhân, Tản Đà mangmột nỗi buồn, sầu nhân thế Với thiên tính nghệ sĩ bẩm sinh,Tản Đà muốn giải thoát vào mộng Tản Đà nhìn thế giới quagiấc mộng Ông cho rằng “ Mộng và mộng, đời ngời cũng làmộng, mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn chỉ khác nhauvì dài ngắn lớn nhỏ mà thôi” Là ngời đa tình, đa cảm, Tản

Đà muốn thoát ra khỏi hiện thực tù túng Trong mộng, Tản Đà sẽthực hiện đợc ớc mơ về sự nghiệp, về tình riêng , đợc gặp ng-

ời tri kỷ để sẻ chia Trong cuộc sống hiện thực phải đối diện vớitúng thiếu về vật chất, thiếu tri kỷ, bạn tình bỏ đi, luân th-ờng đổ nát, ông tự hỏi:

Trăm năm trần thế duyên hay nợ Bao cuộc tang thơng sắc với tài ( Gót sen lay động khách là ai)

Nên : “ Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng” Ông xem “đời làmột giấc mộng lớn, trong giấc mộng lớn ông lại có giấc mộngcon, trong giấc mộng con thứ nhất rồi lại giấc mộng con thứ hairồi lại giấc mộng con thứ ba ông mộng rồi lại mộng” ( Lê

Ngày đăng: 08/09/2021, 01:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: Nxb Văn học
3. Nguyễn Đình Chú, Thơ văn Tản Đà, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Tản Đà
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
4. Ngô Viết Dinh (Tuyển chọn và biên tập), Đến với thơ Tản Đà, Nxb Thanh niên, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Tản "Đà
Nhà XB: Nxb Thanh niên
5. Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc, Thơ mới trong Trờng Phổ Thông, Nxb Giáo Dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới trong Trờng Phổ Thông
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
6. Tầm Dơng, Tản Đà khối mâu thuẫn lớn, Nxb Khoa học, Hà Néi, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản Đà khối mâu thuẫn lớn
Nhà XB: Nxb Khoa học
7. Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
8. Phan Cự Đệ, Văn học lãng mạn Việt Nam (1900-1945), Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam (1900-1945)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Phan Cự Đệ-Trần Đình Hợu-Nguyễn Trác-Nguyễn Hoành Khung-Lê Chí Dũng-Hà Văn Đức, Văn học Việt Nam 1900-1945, Nxb Giáo dục 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900-1945
Nhà XB: Nxb Giáo dục 2003
10. Biện Minh Điền, Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
11. Biện Minh Điền, (Giọng điệu trữ tình thơ Nguyễn Khuyến), Tạp chí Văn học, Số1/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Giọng điệu trữ tình thơ Nguyễn Khuyến)
12. Biện Minh Điền, Những vấn đề lý thuyết lịch sử Văn học và ngôn ngữ (viết chung), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý thuyết lịch sử Văn học và ngôn ngữ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Biện Minh Điền, (Sự thống nhất những nỗi cực trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Trứ), Tạp chí khoa học, TËp XXXV, sè 3B-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Sự thống nhất những nỗi cực trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Trứ)
14. Trịnh Bá Đĩnh-Nguyễn Đức Mậu, Tản Đà về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản Đà về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục 2003
15. Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt nam hiện đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Lê Bá Hán-Trần Đình Sử-Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Đỗ Đức Hiểu, “Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử Văn học Việt nam”, Tạp chí Văn học Số 3/1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử Văn học Việt nam
18. Hồ Sỹ Hiệp (Chủ biên), Tản Đà-Nguyễn Khắc Hiếu, á Nam-Trần Tuấn Khải, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản Đà-Nguyễn Khắc Hiếu, á Nam-Trần Tuấn Khải
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
19. Bùi Công Hùng, Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
20. Trần Đình Hợu, Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hoá thông tin,1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận "đại
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
21. Trần Đình Hợu, Văn học giao thời 1900-1930, Nxb Đại học, Giáo dục chuyên nghiệp, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học giao thời 1900-1930
Nhà XB: Nxb Đại học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w