Lịch sử vấn đề nghiên cứu Qua những t liệu mà chúng tôi hiện có, dựa trên tổng th mục các sáchbáo, các tạp chí nghiên cứu về thơ tứ tuyệt và tác giả Hồ Chí Minh ở Việt Nam, có thể thấy r
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
3 Đối tợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 7
Chơng 1: Thể loại thơ tứ tuyệt và vấn đề
Trang 21.1.2 Tổng quan về tiến trình thơ tứ tuyệt Việt Nam 121.1.3 Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh - một hiện tợng nghệ thuật
độc đáo
19
1.2 Vấn đề phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh 24
1.2.2 Những cơ sở để xác định phong cách thơ tứ tuyệt
Hồ Chí Minh
251.2.3 Phong cách thơ tứ tuyệt trong phong cách sáng tạo chung
của Hồ Chí Minh
28
Chơng 2: Đặc điểm phong cách thơ tứ tuyệt
2.1 Cảm hứng trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh 34
Chơng 3: Đặc điểm phong cách thơ tứ tuyệt Hồ
Chí Minh trên phơng diện bút pháp, giọng điệu
3.2.1 Khái quát về giọng điệu thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh 90
1.1 Thơ tứ tuyệt - một thể loại thơ độc đáo trong văn học Việt Nam có
thời gian tồn tại trên mời thế kỷ, trải qua hai thời kỳ lớn, trung đại và hiện đại
Trang 3Trên cả hai phơng diện lý thuyết và thực tiễn khảo cứu, thể loại thơ này cònnhiều bí ẩn, đòi hỏi phải đợc tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu
1.2 ít có tác gia nào sáng tác thơ tứ tuyệt với số lợng lớn và dờng nh chỉ
có tập trung vào thể loại này nh Hồ Chí Minh Có một phong cách thơ tứ tuyệt
Hồ Chí Minh hay không? Và phong cách ấy nh thế nào? Vấn đề này rất cần
đ-ợc làm rõ nhng hiện tại vẫn còn bỏ ngỏ
1.3 Vấn đề đợc tìm hiểu, nghiên cứu có ý nghĩa khoa học cấp thiết trên
Thơ tứ tuyệt đời Đờng, thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh từng đợc đa vào vàhiện đang có một vị trí xứng đáng trong chơng trình ngữ văn ở học đờng Tìnhhình đó làm nảy sinh yêu cầu cấp thiết về tài liệu tham khảo và các công trìnhnghiên cứu phục vụ cho việc giảng dạy và học tập văn học
Hồ Chí Minh là một tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện đại Điểm lạicác công trình nghiên cứu về thơ tứ tuyệt nói chung, thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minhnói riêng chúng tôi thấy vẫn còn có nhiều khoảng trống cha đợc tìm hiểu Thực
tế đó càng thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh Tìmhiểu nghiên cứu vấn đề này, luận văn không những giúp bản thân mở rộngthêm tầm hiểu biết về phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh mà còn có thể vậndụng những tri thức đó vào công việc giảng dạy thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh saunày
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Qua những t liệu mà chúng tôi hiện có, dựa trên tổng th mục các sáchbáo, các tạp chí nghiên cứu về thơ tứ tuyệt và tác giả Hồ Chí Minh ở Việt Nam,
có thể thấy rằng đến nay cha có một công trình nghiên cứu nào mang tên
"phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh"
2.1 Vấn đề nghiên cứu thơ tứ tuyệt ở Việt Nam
Thơ tứ tuyệt tuy có mặt ở Việt Nam từ thế kỷ X nhng trên lĩnh vựcnghiên cứu thể loại thì thơ tứ tuyệt mới bắt đầu dợc quan tâm, chú ý từ đầu thế
kỷ XX trở lại đây
Công trình nghiên cứu đầu tiên về thơ tứ tuyệt ở Việt Nam là của DơngQuảng Hàm trong "Việt Nam văn học sử yếu" ông đã định nghĩa về thơ tứ
Trang 4tuyệt nh sau: "tứ nghĩa là bốn, tuyệt nghĩa là dứt, cắt Lối thơ này gọi thế vì thơ
tứ tuyệt là ngắt bốn câu trong bài bát cú mà thành" [16, 23] Ông cũng chia ra
5 cách khác nhau của thơ tứ tuyệt: ngắt 4 câu trên, ngắt 4 câu dới, ngắt 2 câu
đầu, 2 câu cuối, ngắt 4 câu giữa, ngắt câu 1+2 và câu 5+6
Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong cuốn "Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại" (Nxb KHXH, 1971) cho rằng thơ tứ tuyệt có hai cách giải
thích:
Một, "tuyệt" có nghĩa là cắt ra từ bài bát cú
Hai, "tuyệt" cũng là cắt, dứt nhng là dứt câu, ngừng bút để trọn ý bài thơsau khi viết câu thứ t
Các tác giả còn khẳng định "ý kiến hai tơng đối chính xác và thuyếtphục hơn ý kiến một vì thật ra trớc khi có thơ cách luật thì đã có thơ cổ tuyệtcú" [44, 299]
Lạc Nam Phan Văn Nhiễm trong "Tìm hiểu các thể thơ" (Nxb Văn học,
1993) lại hiểu chữ "tuyệt" có nghĩa là tuyệt vời, thơ tuyệt cú tức là bài thơ haytuyệt vời
Trần Trọng Kim trong cuốn "Đờng thi" lại viết: "Tứ tuyệt là một khái
niệm khá co dãn, bao hàm nhiều nghĩa, chỉ đợc nhiều hiện tợng, miễn là bàithơ đó có 4 câu (theo ý riêng tôi nên trừ loại thơ lục bát gồm 4 câu của ViệtNam): luật tuyệt, cổ tuyệt Tứ tuyệt về vần có thể bằng hoặc trắc, về số chữtrong mỗi câu có thể là 5, 6, 7 hoặc thậm chí là tạp ngôn" [22, 109]
Nguyễn Sĩ Đại trong công trình nghiên cứu "Một số đặc trng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đờng" tìm hiểu về thơ tứ tuyệt trên phơng diện thể loại đã
đa ra các định nghĩa về thơ tứ tuyệt, lịch sử ra đời của thơ tứ tuyệt, đặc trng củathơ tứ tuyệt đời Đờng
Luận án tiến sĩ của Phạm Hải Anh "Tứ tuyệt Lý Bạch - Phong cách và thể loại" đi sâu vào những đặc trng của phong cách thơ tứ tuyệt Lý Bạch Luận
án mang đến một cái nhìn tổng quát về các thành tựu của mảng thơ tứ tuyệt LýBạch trong lịch sử thơ ca Trung Quốc
2.2 Vấn đề nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh và thể loại thơ tứ tuyệt của Ngời
2.2.1 Thơ Hồ Chí Minh đợc các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam tìm
hiểu từ rất sớm, với số lợng bài viết, công trình nghiên cứu khá phong phú.Trong nền thơ ca Việt Nam hiếm có tác giả nào đợc giới nghiên cứu phê bìnhvăn học quan tâm, chú ý nh tác giả Hồ Chí Minh Ngay từ năm 1966 XuânDiệu đã có bài viết "Yêu thơ Bác" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5.
Vì số lợng các công trình nghiên cứu về thơ Hồ Chí Minh xuất hiện nhiều nên
Trang 5ở đây chúng tôi chỉ nêu khái quát các vấn đề cơ bản của thơ Hồ Chí Minh màcác nhà nghiên cứu đã đề cập đến.
Các công trình nghiên cứu chung về thơ Hồ Chí Minh chủ yếu viết vềmột hay một vài đặc điểm của thơ Bác: Chất thép trong thơ Bác, tinh thần cáchmạng, lòng yêu nớc, niềm lạc quan yêu đời, ngôn ngữ trong thơ Hồ Chí Minh,nghiên cứu học tập cách viết của Hồ Chí Minh
Các công trình nghiên cứu về từng mảng thơ, tập thơ của Hồ Chí Minh:các tác giả tập trung tìm hiểu về tập thơ Nhật ký trong tù, tạo nên một cái nhìn
sâu rộng trên tất cả các mặt nội dung và hình thức nghệ thuật
Qua các công trình nghiên cứu chúng tôi đã thu lợm đợc nhiều ý kiến,nhận xét đáng lu tâm về thơ Hồ Chí Minh trên các mặt: bút pháp, thể loại,ngôn ngữ, đề tài, nội dung, Đó là những gợi ý quý báu rất có ý nghĩa đối vớichúng tôi khi triển khai luận văn này
2.2.2 Về thể loại thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh nhìn chung vẫn còn ít
đ-ợc các nhà nghiên cứu văn học đề cập đến
Về những nét đặc sắc trên phơng diện thể loại trong thơ tứ tuyệt Hồ ChíMinh, Hà Minh Đức có bài nghiên cứu "Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh" (Báo Văn nghệ số ra tháng 1 -1974) ở bài viết này Hà Minh Đức nhấn mạnh đến
nét khác biệt giữa thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh với thơ Đờng đó là: Hồ Chí Minh
đem vào trong thơ nội dung xã hội sâu sắc Bên cạnh đó ông cũng khẳng định
về mặt thể loại thơ tứ tuyệt mà Bác sử dụng là thể thơ tứ tuyệt cổ điển
Về ngôn ngữ thơ Hồ Chí Minh, Phan Văn Các trong "Tiếng Hán trong thơ Hồ Chí Minh" (trích từ cuốn "Ngôn ngữ trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh") (Nxb KHXH -1988) đi vào tìm hiểu hệ thống tiếng Hán
Hồ Chí Minh sử dụng trong thơ Từ đó ông chia ra hai hệ thống tiếng Hán đợc
sử dụng nhiều trong thơ Hồ Chí Minh là văn ngôn và bạch thoại
Về sự đổi mới của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh so với thơ tứ tuyệt đời ờng, Phơng Lựu trong bài viết "Thơ Bác với thơ Đờng" (Báo Văn nghệ số 5 -
Đ-1992) đã chỉ ra một số bài tứ tuyệt Hồ Chí Minh có ảnh hởng từ dân ca TrungQuốc, và những bài thơ Hồ Chí Minh tiếp thu từ thể loại thơ tứ tuyệt đời Tống
Ông nhấn mạnh: "Thơ chữ Hán của Bác tuy cũng có nhiều màu lắm vẻ nhngvẫn có phần nổi lên cái dáng dấp của Đờng thi" (tr 3) Mặt khác ông cũng chorằng tuy sử dụng hình thức cũ nhng tứ tuyệt Hồ Chí Minh có nhiều đổi mới vềnội dung "sự đổi mới trong thơ chữ Hán của Bác đối với hình thức Đờng thicòn xuyên thấm trong các mặt ngôn ngữ, thể loại, phong cách " (tr 3)
Trang 6Nh vậy vấn đề thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh mới chỉ đợc các nhà nhiên cứuvăn học tìm hiểu chung chung, lẻ tẻ trên một số mặt hình thức chứ cha có mộtcái nhìn tổng quát, sâu rộng
2.3 Phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh nhìn chung còn là vấn đề mới
mẻ Cha có một công trình nghiên cứu nào đề cập có hệ thống về các đặc trngcủa phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh Nhiều vấn đề then chốt của phongcách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh cha đợc đả động tới hoặc cha đợc giải quyếtthoả đáng nh: Tại sao lại có một phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh? Phongcách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh có những nét đặc sắc gì? Những đóng góp củathơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh cho nền văn học Việt Nam?
2.4 Luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu phong cách thơ tứ tuyệt Hồ
Chí Minh với t cách nh một vấn đề chuyên biệt để đa ra cách đánh giá, kiếngiải về phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trên nhiều phơng diện: nội dung,thể loại, bút pháp, giọng điệu, nghệ thuật tổ chức ngôn từ
3 Đối tợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu: Phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi và giới hạn của đề tài
- Đề tài chỉ tập trung khảo sát thể loại thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, xác
định phong cách thể loại thơ tứ tuyệt của Ngời
- Tài liệu, văn bản thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, luận văn dựa vàocuốn “Tuyển tập thơ văn Hồ Chí Minh” do Lại Nguyên Ân su tầm, tuyển chọn,
Nxb Văn học 1999
4 Mục đích, Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Giới thuyết thể loại thơ tứ tuyệt và vấn đề phong cách thơ tứ tuyệt
Hồ Chí Minh
4.2 Xác định đặc điểm phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trên phơng
diện nội dung
4.3 Xác định đặc điểm phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí minh trên phơng
diện bút pháp và nghệ thuật tổ chức giọng điệu, ngôn từ
Cuối cùng rút ra một số kết luận về phong cách thơ tứ tuyệt Hồ ChíMinh
5 Phơng pháp nghiên cứu
Đứng trên quan điểm phong cách học nghệ thuật, luận văn vận dụngnhiều phơng pháp nghiên cứu khác nhau trong đó có các phơng pháp chính:
Trang 7phơng pháp phân tích - tổng hợp, phơng pháp so sánh - loại hình, phơng phápcấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn đợc triển khai trong ba chơng:
Chơng 1: Thể loại thơ tứ tuyệt và vấn đề phong cách thơ tứ tuyệt
Hồ Chí Minh
Chơng 2: Đặc điểm phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
trên phơng diện nội dung
Chơng 3: Đặc điểm phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trên phơng diện bút pháp, giọng điệu và nghệ thuật tổ chức ngôn từ
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.
Chơng 1 Thể loại tứ tuyệt và vấn đề phong cách
thơ tứ tuyệt hồ chí minh 1.1 Thể loại thơ tứ tuyệt
1.1.1 Khái niệm và nguồn gốc thể loại
Thơ tứ tuyệt là một thể thơ ra đời sớm và đợc nhiều nhà thơ từ xa đếnnay sử dụng rộng rãi, phổ biến Các nhà nghiên cứu văn học đã đa ra nhiềucách lý giải về thể thơ này, nhng cho đến nay vẫn còn phải đợc tiếp tục nghiêncứu, minh định
Thơ tứ tuyệt là loại thơ chỉ có 4 câu, mỗi câu thờng có 5 âm tiết (ngũngôn) hoặc 7 âm tiết (thất ngôn), về vần có thể là vần bằng hoặc vần trắc.Trong quan niệm của nhiều học giả Trung Quốc và Việt Nam có hai cách hiểu
về chữ "tuyệt” Cách hiểu thứ nhất “tuyệt” có nghĩa là tuyệt đối, tuyệt vời,
Trang 8không thể có thể thơ nào sánh bằng Một quan niệm khác cho rằng chữ “tuyệt”nghĩa là “ dứt”, là “cắt” Thuyết coi tuyệt cú nh một thể "tuyệt luật thi chi bán"(tuyệt cú là nửa bài cắt ra từ bài luật thi) khá phổ biến Đại diện cho quan điểmnày, ở Trung Quốc có học giả Tiền Mộc Am đời Thanh, Ngô Nột đời Minh, ởViệt Nam có Dơng Quảng Hàm Thực ra, trong văn học có nhiều bài thơ tứtuyệt đợc đợc cắt ra từ bài bát cú, về niêm, luật cũng tơng ứng với niêm luậtmột bài bát cú Khảo sát về hình thức thì có vẻ nh thơ tứ tuyệt đợc cắt ra từ bàibát cú (hoặc là thơ bát cú là do thơ tuyệt cú phát triển mà thành), nhng tìmhiểu về mặt nội dung thì mỗi bài thơ tứ tuyệt quả là một tác phẩm thơ ca hoànchỉnh Theo Nguyễn Sĩ Đại trong "Một số đặc trng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt
đời Đờng" thì “tứ tuyệt trớc hết là một bài thơ 4 câu, không nhất thiết là ngũ
ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải có niêm luật chặt chẽ nhng phải vậndụng tối đa các thủ pháp nghệ thuật, phát huy thế mạnh của âm vận, đặc biệt làcách tổ chức hợp lý hình ảnh để tạo một cấu trúc đa chiều vừa mang tính kháiquát cao [8, 36]
Khảo sát về thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh chúng tôi hiểu tứ tuyệt theo nghĩarộng, gồm tất cả những bài thơ 4 câu của Hồ Chí Minh (không kể những bài 4câu làm theo thể lục bát), mỗi câu không nhất thiết là 5 hoặc 7 âm tiết mà cóthể là tạp ngôn
Thơ tứ tuyệt ở Trung Quốc đợc gọi là “tuyệt cú” sang Việt Nam đợc gọi
là “tứ tuyệt” Để hiểu hơn về nguồn gốc của thơ tứ tuyệt, ta sẽ trở lại với lịch sửcủa thơ ca Trung Quốc Hoàn cảnh lịch sử xã hội mỗi thời kỳ có sự tác độngnhất định đến sự hình thành, phát triển, biến đổi hay mất đi của từng thể loại
Đời Đờng, đất nớc Trung Hoa thống nhất sau một thời gian dài bị chiacắt, cuộc sống của nhân dân trở lại yên bình, đất nớc dần đi vào ổn định vàphồn vinh, tạo điều kiện cho thơ ca phát triển Mặt khác đời Đờng không độctôn Nho giáo nh đời Hán, các t tởng Nho - Phật - Lão đều đợc dung hoà Điềunày khiến cho suy nghĩ của các nhà thơ đời Đờng đợc mở mang, kiến thức vềcuộc sống, xã hội ngày càng sâu rộng ở đời Đờng xuất hiện nhiều tên tuổilớn nh "thánh thơ" Đỗ Phủ, "tiên thơ" Lý Bạch, và "phật thơ" Vơng Duy Cácngành nghệ thuật ở đời Đờng đều phát triển: âm nhạc, hội họa, th pháp nên
có tác động đến khiếu thẩm mỹ của các nhà thơ, trong đó hội hoạ trở nên gắn
bó với thơ, khiến cho thơ Đờng có nhiều bức tranh thiên nhiên đẹp nh tranh
vẽ Các thi nhân đời Đờng còn có cả một truyền thống thơ Trung Quốc có từthời Tiên Tần, thời Hán nh: Kinh Thi, Sở từ, thơ của Khuất Nguyên, những bài
viết lý luận của Lu Hiệp
Trang 9Những đặc điểm về lịch sử xã hội thời Đờng nêu ở trên là cơ sở để thơ ca
đời Đờng phát triển với nhiều thể thơ phong phú Có nhiều thể loại đã đạt đợcthành tựu rực rỡ, trong đó phải kể đến là thơ tuyệt cú Các thể thơ đời Đờng đ-
ợc chia làm 2 thể chính là cổ thể (gồm cổ phong và nhạc phủ) và kim thể (haycòn gọi là cận thể gồm luật thi và tuyệt cú) Từ hai thể lớn đó, ngời ta chia nhỏ
ra thơ Đờng để làm 6 thể: ngũ ngôn cổ thể, thất ngôn cổ thể, ngũ ngôn luật thi,thất ngôn luật thi, ngũ ngôn tuyệt cú và thất ngôn tuyệt cú Hai thể đầu thuộc
cổ thể, bốn thể sau thuộc cận thể Nhng trên thực tế thơ cổ thể còn có thêm thểhành, cổ phong và trờng đoản cú
Về nguồn gốc ra đời của thể loại thơ tứ tuyệt, Nguyễn Sĩ Đại trong bảnluận án P.T.S của mình đã dựa trên sự phân định của Prancoi Cheng để đa ramột sơ đồ hợp lý, khoa học về các thể thơ đời Đờng, qua đó làm rõ vị trí củathơ tứ tuyệt Theo Nguyễn Sĩ Đại, tuyệt cú là một thể loại thơ ra đời trớc đời Đ-ờng “tuyệt cú đã hình thành tên gọi từ thời Lục Triều" [8, 29] “truy nguyêntuyệt cú về mặt chữ nghĩa, ngời ta thấy nó xuất hiện sớm hơn rất nhiều so vớicận thể thi (Đờng luật) tên gọi tuyệt cú đó đợc xuất phát từ liên cú” [8, 29]
Nh vậy, tuyệt cú không phải chỉ đến đời Đờng mới có mà trớc đó tuyệt cú đãxuất hiện ở thời Lục Triều, rõ nhất là ở thời Tề, Lơng Sở dĩ tuyệt cú đợc xem
là thể thơ gắn liền với sự phát triển của thơ ca đời Đờng là bởi vì nó xuất hiệntrớc đời Đờng nhng chỉ đến thời Đờng tuyệt cú đạt đến độ hoàn mỹ, tinh xảo
Tuy chỉ bốn câu, đặc điểm nổi bật bề ngoài của thơ tứ tuyệt là “hìnhthức nhỏ bé" nhng “thơ tứ tuyệt mạnh hơn thơ hai câu, ba câu, thơ ngũ ngôn,thất ngôn, mạnh hơn thơ tứ ngôn, tam ngôn là ở chỗ có d địa để cho đôi cánhcủa t tởng sáng tạo bay lên, cho làn sóng của xúc cảm lan toả" [8, 36] Hìnhthức nhỏ bé nhng thơ tứ tuyệt lại có khả năng đề cập đến những vấn đề lớn laocủa cuộc sống, có sức khái quát rất cao Hay nói đúng hơn “đỉnh cao và sự độc
đáo của thơ tứ tuyệt đời Đờng là ở những hình ảnh mang tính ẩn dụ cao" [8,166] Hơn nữa, "thơ tứ tuyệt Đờng vừa trau chuốt, vừa dung dị và phóngkhoáng một cách tự nhiên” [8, 167]
Thơ tứ tuyệt đời Đờng không chỉ là vốn quý của thơ ca Trung Hoa, làniềm tự hào của truyền thống lịch sử thơ ca trải qua hơn 300 năm của thơ Đờng
mà vẻ đẹp của nó thực sự là một kho báu của nhân loại Việc xác định mộtkhái niệm chung và tìm hiểu nguồn gốc của thơ tứ tuyệt đời Đờng trên cơ sởvận dụng tri thức của các nhà nghiên cứu văn học từ trớc đến nay sẽ giúp choluận văn có một tiền đề về lý thuyết để đi vào nghiên cứu phong cách thơ tứtuyệt Hồ Chí Minh
Trang 101.1.2 Tổng quan về tiến trình thơ tứ tuyệt Việt Nam
Quá trình phát triển của văn học luôn gắn liền với sự kế thừa tiếp thu cóchọn lọc, nhằm phát huy những giá trị đích thực của văn học truyền thống.Một khi văn học nghệ thuật trở thành tài sản tinh thần chung của nhân loại thì
sự tiếp thu, học hỏi hay sự ảnh hởng lẫn nhau giữa các nền văn học là điều dễhiểu Điều đáng nói là sự kế thừa đó diễn ra nh thế nào và mang lại hiệu quảgì? Có thể khẳng định rằng quy luật kế thừa và cách tân là quy luật sinh thành
và phát triển của của bất cứ nền văn học nào
Văn học Việt nam trên hành trình từ văn học thời trung đại đến văn họchiện đại (đặc biệt là ở thời trung đại) chịu ảnh hởng sâu sắc của văn học TrungHoa trên nhiều phơng diện: chữ viết, đề tài, thể loại Trong sự ảnh hởng sâurộng của văn học Trung Hoa đối với văn học Việt Nam thì thơ Đờng chiếm một
vị trí quan trọng, “Trên thế giới có lẽ hiếm có quan hệ văn chơng nào đặc biệt
nh quan hệ giữa thơ Đờng với thơ Việt” [54, 166] Mối quan hệ đặc biệt đó củathơ Đờng và thơ Việt Nam đợc biểu hiện rõ nhất là ở phơng diện thể loại, trong
đó việc tiếp thu thể loại thơ tứ tuyệt - một thể loại đặc trng nhất của nghệ thuậtthơ Đờng đã góp phần làm giàu có, phong phú hơn cho nền thơ ca Việt Nam
Thơ Đờng luật xuất hiện ở Việt Nam vào thời gian nào? Ngô Văn Phútrong công trình nghiên cứu “Thơ Đờng ở Việt Nam” cho rằng: “ở thế kỷ thứ
X, ở Việt Nam, thơ Đờng đã đợc truyền bá và đã có nhiều bậc thức giả amhiểu, đã sáng tác ứng dụng vào thiền học" [54, 79] Sử sách còn truyền lại mộtbài kệ đợc coi là bài thơ cổ nhất của thơ ca Việt Nam khi bắt đầu có chữ viếtcủa Pháp Thuận (mất năm 991), viết nối vần ứng khẩu với sứ nhà Tống là LýGiác nh sau:
Nga nga lỡng nga nga Ngỡng diện hớng thiên nha Bạch mao phô lục thuỷ Hồng trạo bãi thanh ba
(Đôi ngỗng trời song song Ven trời ngẩng cổ trôngNớc biếc phơ lông trắngSóng gợn hiện chân hồng)Bài thơ hai câu đầu là của Lý Giác ứng khẩu và hai câu sau là PhápThuận tiếp vần, đây đợc xem là một bài thơ Đờng ngũ ngôn cổ phong Nhữngbài thơ Đờng đợc xem là xuất hiện sớm ở Việt Nam là đều do các thiền s viết
ra nh Ngô Chân Lu (959-1011), Vạn Hạnh (mất 1018), Viên Chiếu (998-1010)
Trang 11Thơ tứ tuyệt xuất hiện ở Việt Nam khá sớm, bắt đầu có mặt từ thời Lý Trần Thời Lý - Trần, học vấn rất đợc coi trọng, nhà vua thờng xuyên mở cáckhoa thi chọn ngời tài, thơ ca vì thế cũng phát triển mạnh mẽ Về thơ tứ tuyệt
-Lý - Trần, phải kể đến bài thơ Nam quốc sơn hà, tơng truyền là của Lý Thờng
và niềm tin tởng sắt đá vào khí thế của dân tộc Việt Nam sẽ đánh bại mọi âm
tứ tuyệt Ngôn hoài của Không Lộ Thiền s:
Trạch đắc long xà địa khả c Dã tình chung nhật lạc vô d Hữu thì trực thớng cô phong đỉnh Trờng khiếu nhất thanh hàn thái h.
(Chọn đợc mạch đất long xà (rồng rắn) là nơi ở đợc
Trang 12Tình quê suốt ngày vui không chán
Có lúc lên thẳng đỉnh núi trơ trọiKêu dài một tiếng lạnh cả bầu trời)Bài thơ bày tỏ nỗi lòng, hoài bão của nhà thơ khi đợc sống một cuộcsống an nhàn ẩn dật, gắn bó với làng quê, thôn dã Hay nói đúng hơn là sự hàilòng của ông khi chọn cho mình một lý tởng, một con đờng đi riêng Nhng ởhai câu cuối ta thấy dờng nh có một nỗi niềm, một sự thôi thúc mãnh liệt nào
đó trong tâm hồn nhà thơ Mảnh đất “long xà” và cuộc sống an nhàn mà nhàthơ đã chọn có lúc không làm ông mãn nguyện, không thoả đợc ý chí và khátvọng của ông Tâm hồn tràn đầy niềm khát vọng hớng tới lý tởng sống cao đẹpcủa tác giả luôn muốn vợt ra khỏi cuộc đời hạn hẹp của mình để hoà cùng trời
đất vũ trụ Giá trị của bài thơ là ở chỗ nhà thơ đã xây dựng hình tợng một conngời có hoài bão lớn, bản lĩnh cao
Bên cạnh Không Lộ Thiền s, có thể kể tên các nhà thơ đời Lý tiêu biểunh: Vạn Hạnh Thiền s, Viên Chiếu Thiền s, Thiền s Pháp Thuận,
Thơ ca thời Trần phát triển gắn liền với hào khí Đông A Cũng nh thời
Lý, thơ thời Trần hầu hết viết bằng chữ Hán, với sự phát triển của các thể loại
nh thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, cổ phong Các bàithơ viết bằng thể thơ tứ tuyệt xuất hiện khá nhiều mang cảm hứng yêu nớc, thểhiện ý chí và niềm tin không gì lay chuyển đợc về vận mệnh Tổ quốc:
Hoành sóc (sáo) giang sơn cáp kỷ thu (thâu) Tam quân tì hổ khí thôn Ngu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.
(Cắp ngang ngọn giáo (bảo vệ) non sông đã mấy thu
Ba quân (mạnh nh) hổ báo, khí thế át sao Ngu
Kẻ nam nhi này cha trả xong nợ công danhNên thẹn nghe ngời đời kể chuyện Vũ Hầu
(Phạm Ngũ Lão - Thuật hoài)
Thời đại Lý - Trần đã sinh ra những con ngời thật kỳ vĩ Con ngời ấymang tầm vóc của vũ trụ, với khí thế tung hoành ngang dọc và với tấm lòngyêu nớc tha thiết, mãnh liệt Nhà thơ tự bày tỏ nỗi lòng mình trớc hết là ý thức,trách nhiệm của một đấng nam nhi đối với vận mệnh của dân tộc Nhng cảmhứng hào hùng đó không chỉ là của riêng tác giả mà là khí thế chung của cảthời đại Lý - Trần Những bài thơ viết bằng thể thơ tứ tuyệt tuy nhỏ bé, ngắngọn nhng lại thể hiện đợc nhiều nội dung về đời sống xã hội và con ngời Cảmhứng yêu nớc trong thơ tứ tuyệt thời nhà Trần mang nhiều sắc thái khác nhau
Trang 13Đó là cảm xúc tự hào khi Trần Minh Tông hồi tởng về trận chiến oanh liệt trênsông Bạch Đằng gần nửa thế kỷ trớc:
Sơn hà kim cổ song khai nhãn
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan Giang thuỷ đình hàm tàn nhật ảnh Thác nghi chiến huyết vị tằng can
(Giang sơn sau trớc hai phen rạng
Hồ Việt hơn thua một chớp bày
Đỏ rực ráng chiều in đáy nớcNgỡ rằng máu giặc hãy còn đây)
Đồi nhiên nhất tháp mộng thiên an.
(Nắng lên mời tân khách đến pha trà
Ma tạnh gọi tiểu đồng sửa giàn thuốcTrông về phía Nam không có hiệu báo giặc đếnNghiêng mình trên tấm phản ngủ yên giấc)
(Phúc Hng viên)
Có thể thấy ngay từ thời Lý - Trần, khi văn học viết vừa ra đời, thơ tứtuyệt đã có mặt với nhiều bài thơ hay, đặc sắc nh: Hu hớng Nh Lai của Quảng
Nghiêm Thiền s, Cảm hoài của Vơng Hải Thiền, Thiên Trờng vãn vọng của
Trần Nhân Tông, Tống Phạm Công S Mạnh bắc sử của Lê Quát, Tụng giá hoàn kinh s của Trần Quang Khải
Sang thế kỷ XV văn học viết chịu ảnh hởng sâu sắc của t tởng Nho giáo
Đáng chú ý là thời kỳ này bắt đầu xuất hiện văn học viết bằng chữ Nôm, tậpthơ "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi đợc xem là một bớc nhảy vọt của thơ
ca viết bằng chữ Nôm Về văn học viết bằng chữ Hán, thể phú đạt nhiều thànhtựu Bên cạnh đó các thể loại thơ chữ Hán khác cũng tồn tại, phát triển songsong với thơ viết bằng chữ Nôm Nguyễn Trãi đợc xem là một tác gia tiêu biểunhất của thời kỳ văn học này Ông viết thành công trên nhiều thể loại, tuy tứtuyệt không phải là thể loại nổi bật nhất trong thơ Nguyễn Trãi, nhng trong cáctập thơ "ức Trai thi tập" và "Quốc âm thi tập" của ông có nhiều bài thơ tứ
tuyệt rất hay nh:
Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Trang 14Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm Tình th một bức phong còn kín Gió nơi đâu gợng mở xem.
(Cây chuối)
Hoặc là:
Mãn giang hà xứ hởng đông đinh Dạ nguyệt thiên kinh cửu khách tình Nhất chủng Tiêu quan chinh phụ oán Tổng tơng ly hận nhập thu thanh.
(Cả sông chốn nào cũng nghe tiếng thình thìnhTrăng đêm riêng kinh động lòng ngời làm khách lâu ngàyMột nỗi lòng oán của ngời chinh phụ ở Tiêu quan
Thảy đều là đem mối hận biệt ly ngụ vào tiếng mùa thu)
(Thôn xá thu châm)
Trong thơ Nguyễn Trãi thể thơ đợc nhà thơ sử dụng nhiều nhất là bát cú
Đờng luật Về thơ tứ tuyệt, Nguyễn Trãi viết không nhiều nhng ông đã để lạinhiều tác phẩm đặc sắc: Đề Bá Nha cổ cầm đổ, Ngẫu thành, Vãn lập, Đề sơn
điểu hồ nhân đồ, Đề Đông Sơn tự, Mộng sơn trung, Mộ xuân tức sự, Trại đầu xuân độ
Giai đoạn từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII văn học phát triểnphong phú về mặt thể loại Đặc biệt là văn học viết bằng chữ Nôm Về thơ ca,thơ viết bằng chữ Nôm xuất hiện nhiều thể loại nh thơ Nôm Đờng luật, vãn,ngâm, ca trù, diễn ca, thơ lục bát Về thơ chữ Hán đặc biệt phát triển thơ vịnh
sử, thơ đi sứ (còn gọi là thơ bang giao) và thơ đạo lý (loại thơ có tính chất triết
lý, đạo đức)
Các thể loại văn học chữ Hán thời kỳ này bao gồm: thơ cổ phong, thơ ờng luật, phú, hịch, cáo Thơ tứ tuyệt thời kỳ này vẫn tồn tại tuy nhiên vì đây làgiai đoạn văn học chữ Nôm phát triển, nhiều thể loại mới ra đời cho nên thơ tứtuyệt xuất hiện ít hơn, kém phát triển hơn
Đ-Giai đoạn từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa sau thế kỷ XIX văn học viếtbằng chữ Hán và chữ Nôm đều phát triển cha từng có Các thể thơ nh Đờngluật, thơ lục bát, phú cổ thể, phú Đờng luật, các giai đoạn trớc đã phát triển,nay càng phát triển hơn Các thể ngâm khúc, truyện thơ, hát nói cũng đạt nhiềuthành tựu Địa vị của văn học chữ Nôm ngày càng đợc nâng cao
Thời kỳ này bên cạnh thể thơ Đờng luật (bát cú và tứ tuyệt) viết bằngchữ Hán thì Đờng luật Nôm cũng tìm đợc chỗ đứng ngày càng cao với nhiềutên tuổi nh Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Tú Xơng Về thơ tứ tuyệt phải
kể đến những bài thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm của Hồ Xuân Hơng Vì đợc
Trang 15viết bằng chữ Nôm với giọng điệu trào phúng, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gầngũi với văn học dân gian nên thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân Hơng hầu nh đã mất đicái trang trọng, tao nhã, tính chất ớc lệ tợng trng vốn là một nét nổi bật của thơ
tứ tuyệt đời Đờng Thơ tứ tuyệt Hồ Xuân Hơng viết về những sự vật, hiện tợngbình thờng trong cuộc sống mang ý nghĩa là những bài vịnh vật:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nớc non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
(Bánh trôi nớc)
Các bài thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân Hơng mang cảm hứng nhân đạo sâusắc, khi viết về thân phận của ngời phụ nữ - đây là một cảm hứng lớn của vănhọc cuối thế kỷ XIX: Đề đền Sầm Nghi Đống, Phờng lòi tói, ốc nhồi, Quả mít,
Đồng tiền hoẻn, Dỗ ngời đàn bà khóc chồng, Cái kiếp tu hành, Mời trầu, v.v
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng 8-1945 mangmột diện mạo mới mẻ, có nhiều sự thay đổi lớn trên nhiều phơng diện Về mặtthể loại, có thể nói thời kỳ này với sự ảnh hởng của văn hoá, văn học phơngTây, sự ra đời của chữ quốc ngữ đã là nhân tố làm xuất hiện nhiều thể loại mới
Về thơ, sự xuất hiện của phong trào thơ Mới (1932-1945) đợc đánh giá là mộtthành tựu rực rỡ của thơ ca Việt Nam hiện đại Các nhà thơ Mới không chỉmuốn khẳng định cái tôi cá nhân của mình mà còn có nhiều sự tìm tòi, khámphá mới lạ về mặt thể loại Có thể nói có một sự nở rộ về các thể thơ ở thời
điểm lịch sử này Trớc đây văn học trung đại số lợng các thể thơ không nhiều:thất ngôn bát cú, thơ tứ tuyệt Đờng luật, thơ lục bát, song thất lục bát, hát nói,
vè ba tiếng, thơ lục ngôn, thơ ngũ ngôn, trong đó nhiều thể thơ có nguồn gốccủa thơ Trung Quốc nh thất ngôn bát cú, tứ tuyệt Thơ Mới với quan niệm phácách, với sự tìm tòi những hình thức thể hiện mới nhằm thoát ra khỏi nhữngquy định chặt chẽ về niêm luật của thơ Đờng luật đã làm xuất hiện nhiều thểthơ tự do, số lợng câu chữ không hạn định Có thể dẫn ra một số ví dụ nh bàithơ chỉ có hai câu Đến chiều (Nguyễn Đình Th), bài thơ với cấu trúc lạ, độc
đáo nh bài Sơng rơi của Nguyễn Vỹ, hay loại thơ 1 âm tiết, 2 âm tiết và 3, 4, 5
âm tiết xen kẽ nhau nh bài Mùa đông của Nam Trân Tuy nhiên bên cạnh sự
đổi mới cách tân để tạo nên các thể thơ tự do không hạn định về câu chữ,không gò bó về niêm luật, thơ ca Việt Nam giai đoạn này vẫn tồn tại các thểthơ cổ, nhất là thể thơ lục bát, ngũ ngôn Thể thơ lục bát đợc nhà thơ NguyễnBính sử dụng rất nhiều và sau này thể thơ này lại xuất hiện trong thơ của nhiềunhà thơ khác Mặc dù thơ ca thời kỳ này có sự đổi mới rầm rộ nhng thể loại thơ
Trang 16tứ tuyệt vẫn tồn tại và phát triển gắn liền với một phong cách thơ lớn đó là tácgia Hồ Chí Minh.
1.1.3 Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh - một hiện tợng nghệ thuật độc đáo
Sở dĩ chúng tôi khẳng định thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là một hiện tợngnghệ thuật độc đáo là bởi vì sự xuất hiện hơn một trăm bài thơ tứ tuyệt trong sựnghiệp sáng tác của tác gia Hồ Chí Minh là một hiện tợng hiếm có của văn họcViệt Nam
Trải qua hơn mời thế kỷ thơ tứ tuyệt luôn tồn tại và phát triển cùng cácthể loại khác Là một thể thơ đạt thành tựu rực rỡ ở đời Đờng, thơ tứ tuyệtkhông chỉ có một bề dày phát triển vào loại bậc nhất trong lịch sử văn họcTrung Quốc, mà khi du nhập vào Việt Nam thơ tứ tuyệt sớm xác định đợc một
vị trí quan trọng trong thơ ca thời trung đại và cả thời hiện đại
Văn học viết Việt Nam thời trung đại từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIXchịu ảnh hởng sâu sắc của văn học Trung Quốc Trên phơng diện thể loại, vănhọc trung đại tiếp thu nhiều thể loại của văn học Trung Hoa trong đó có thể thơ
tứ tuyệt Đờng luật Trong mỗi giai đoạn văn học, từ thời Lý - Trần cho đến hếtthế kỷ XIX, thơ trung đại gắn liền với nhiều tên tuổi của các tác gia nh:Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du, NguyễnKhuyến Chính họ đã góp phần làm cho thơ ca Việt Nam phát triển ngày càngmạnh mẽ Mặt khác thơ Đờng luật có một vị trí rất lớn trong thơ ca Việt Namsuốt cả thời kỳ trung đại Tính chất quy phạm chặt chẽ với một cấu trúc vữngchắc khó có thể phá vỡ của thơ Đờng luật, tiêu biểu là thể Đờng luật bát cú đãtrở thành một đặc trng cơ bản chi phối quá trình sáng tác của các tác giả thờitrung đại Thơ Đờng luật có một khối lợng văn bản chiếm tỷ lệ lớn (trong đóbao hàm cả thể loại tứ tuyệt) Riêng thể loại tứ tuyệt có mặt khá nhiều ở các tácphẩm thơ thời Lý - Trần Các tác gia nh Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hơng đã sửdụng thể thơ tứ tuyệt nhng số lợng cũng chỉ trên dới vài chục bài Ngoài ra thơ
tứ tuyệt xuất hiện rải rác trong các tác phẩm của các nhà thơ khác, chủ yếu viếtbằng chữ Nôm Điều đáng nói là cả một thời kỳ văn học trung đại với sự ảnh h-ởng của thơ Đờng luật sâu rộng nh vậy và sự tồn tại của thơ tứ tuyệt - một thểthơ đỉnh cao của thơ ca đời Đờng suốt gần mời thế kỷ nhng không có một tácgiả nào cho ra đời một số lợng thơ tứ tuyệt lớn đến hơn trăm bài Chỉ đến thời
kỳ văn học hiện đại mới xuất hiện một hiện tợng nghệ thuật độc đáo: thơ tứtuyệt của Hồ Chí Minh (phần lớn đợc viết bằng chữ Hán)
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm
1945 phát triển trong hoàn cảnh xã hội mới với những nhiệm vụ mới và mangdiện mạo mới, khác với văn học Việt Nam thời trung đại Sự thay đổi về bối
Trang 17cảnh xã hội, ý thức hệ t tởng và văn hoá đã tác động đến văn học Nền văn hoáphong kiến cổ truyền từng gắn bó lâu đời với văn hóa Trung Hoa, với nền Hánhọc đã nhanh chóng bị nền văn hoá t sản phơng Tây lấn át.
Nền văn hoá t sản phơng Tây đã làm xuất hiện tầng lớp trí thức Tây họcmới Trong văn học xuất hiện một thế hệ nhà văn mới vừa đợc sống cảm xúcmới khác hẳn so với các thi sĩ, văn sĩ Nho gia thời trung đại Cách cảm, cáchnghĩ, tình cảm, t tởng của các tác phẩm cũng đều thay đổi Bắt đầu từ việc thay
đổi chữ viết, (văn học trung đại chủ yếu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm), đếnthời hiện đại chữ quốc ngữ ra đời và ngày càng chiếm u thế Mặc dù ngay từbuổi đầu nhiều ngời không mấy mặn mà với chữ quốc ngữ, thậm chí có nhiềunhà Nho phong kiến đã từ chối dùng chữ quốc ngữ, nh Nguyễn Đình Chiểu,Nguyễn Trờng Tộ Từ sự ra đời của chữ quốc ngữ, một nền văn chơng bằngtiếng Việt ra đời và phát triển với tốc độ rất nhanh, đủ các thể loại: thơ Mới,truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, kịch nói, tuỳ bút, bút ký và cả lý luận, phêbình văn học nữa Các cuộc tranh luận về thơ ca, về văn xuôi diễn ra rầm rộtrên báo chí Riêng về thơ ca, từ những năm 20 nhất là đến những năm 30 củathế kỷ XX đã diễn ra một cuộc “cách mạng” lớn với cuộc đấu tranh của trờngphái thơ Mới - lãng mạn, chống lại các nhà thơ cũ Sự dần dần thắng thế củathơ Mới đã tạo ra “một thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam) Với sự đổi mới thơ ca toàn diện về nội dung lẫn hình thức ,thơ Mới đã
từ bỏ về cơ bản hệ thống thi pháp cổ điển để sáng tạo ra những thể thơ tự do,không hạn định về câu chữ, số lợng âm tiết, vần, thanh điệu, Thể thơ tự do đã
đáp ứng đợc nhu cầu bộc lộ thoải mái, tự nhiên cảm xúc và cá tính của ngờinghệ sĩ Ngôn ngữ mang tính quy phạm, ớc lệ, công thức, nhiều điển tích, điển
cổ của thời trung đại đã thay thế bằng ngôn ngữ mang tính cá thể
Các thể thơ truyền thống, dĩ nhiên vẫn tồn tại nhng không chiếm đợc vịtrí lớn nh trong văn học thời trung đại nữa Một số nhà thơ Mới vẫn sử dụngcác thể thơ nh lục bát, cổ phong, Đờng luật nhng họ đã biến đổi các thể thơ ấytheo hớng hiện đại về kết cấu cũng nh nội dung Những đề tài, thể loại cũ vẫncòn nhng không có thành tựu gì đáng kể Thậm chí có ngời còn thẳng thắn lên
án “các phạm vi của thơ Đờng luật thật là eo hẹp, các quy cũ của Đờng luậtthật là tẩn mẩn” (Trịnh Đình R: Có nên chuộng thơ Đờng luật không? Báo Phụ nữ Tân Văn số ra ngày 24/10/1929) Chỉ không đầy 15 năm trôi qua mà nền
văn học Việt Nam đã có một sự đổi mới với tốc độ nhanh đến chóng mặt VũNgọc Phan trong "Nhà văn hiện đại" (1942) từng khẳng định “ở nớc ta một
năm có thể kể nh 30 năm của ngời”
Các nhà thơ say sa tìm tòi những hình thức thơ ca mới lạ (thơ 2 câu,dùng thơ 2, 3 âm tiết ) hay say sa khẳng định cái tôi cá nhân “Ta là một là
Trang 18riêng, là thứ nhất” (Xuân Diệu), ngời thì bay bổng lên chốn Bồng lai tiên cảnh,
kẻ thì mặc sức bộc lộ nỗi buồn triền miên không dứt
Giữa lúc ngời ta thi nhau đả kích thơ cũ, cho đó là gò bó cảm hứng sángtạo của nhà thơ, giữa lúc thể thơ Đờng luật viết bằng chữ Hán chỉ còn làchuyện chơi đồ cổ của một số ít ngời thì xuất hiện một hiện tợng thơ Hồ ChíMinh với tập Nhật ký trong tù, tập thơ chữ Hán hầu hết viết bằng thể thơ tứ
tuyệt và những bài thơ tứ tuyệt khác Hồ Chí Minh viết bằng cả chữ Hán và chữquốc ngữ thời kỳ kháng chiến chống Pháp Nhật ký trong tù với sự ra đời trong
hoàn cảnh đặc biệt, tính chất nhật ký của tập thơ cũng đã là điều độc đáo Nhật
ký trong tù đợc xem là một tác phẩm văn học mà Hồ Chí Minh đã vô tình
“đánh rơi” trong kho tàng văn học Việt Nam Sự ra đời của số lợng lớn các bàithơ viết bằng thể thơ tứ tuyệt ngay trong thời kỳ văn học đang trên đà đổi mới
và đạt nhiều đỉnh cao là một hiện tợng lạ, độc nhất vô nhị trong lịch sử văn họcViệt Nam thời trung đại và thời hiện đại
Mặt khác bản thân nhà thơ Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với nền văn hoá
ph-ơng Tây từ rất sớm Cuộc đời bôn ba hải ngoại tìm đờng cứu nớc từ khi còn làmột thanh niên trẻ tuổi là một điều kiện để Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minhtiếp nhận nền văn hoá phơng Tây về nhiều phơng diện Ngời tham gia viết bàicho các tờ báo cho các nớc phơng Tây bằng tiếng Pháp Nhiều tác phẩm vănxuôi của Hồ Chí Minh viết bằng tiếng Pháp đã ra đời và gây nhiều tiếng vanglớn Nói nh vậy để thấy rằng Hồ Chí Minh sáng tác văn chơng rất nhiều vớimột số lợng tác phẩm lớn: truyện, ký, thơ, văn, chính luận, báo chí chính HồChí Minh là ngời viết ra những tác phẩm truyện và ký bằng ngòi bút phơng Tâysắc sảo, rất điêu luyện và rất Pháp Chính Hồ Chí Minh đã sáng tạo nên tập
Nhật ký trong tù và những bài thơ tứ tuyệt khác với một lối viết đạt đến trình
độ mẫu mực của thơ ca cổ điển thời Đờng, Tống
Nh vậy Hồ Chí Minh đã tiếp thu văn học phơng Tây (chủ yếu là văn họcPháp) từ ngôn ngữ, chữ viết đến đề tài, thể loại và vận dụng thành công vàoquá trình sáng tác Nhng không giống nh các nhà thơ khác khi đón nhận luồnggió mới của phơng Tây thì quên đi hoặc cố tình vứt bỏ truyền thống thơ ca có
bề dày hàng thế kỷ của văn chơng thời trung đại Hồ Chí Minh vẫn dành chothơ tứ tuyệt Đờng luật một vị trí quan trọng, có thể khẳng định là quan trọngnhất trong sự nghiệp thơ văn của Ngời
Suốt chiều dài gần mời thế kỷ của văn học trung đại, thơ Đờng luật pháttriển rực rỡ nhng không có tác giả nào cho ra đời một khối lợng thơ tứ tuyệt lớn
và đặc sắc Hiện tợng đó lại xảy ra trong bối cảnh văn học Việt Nam đang đổimới, cách tân và đang ở chặng cuối cùng hoàn tất quá trình hiện đại hoá
Trang 19Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là "tiếng thơ của tơng lai" Nó là một hiện ợng độc đáo của văn học Việt Nam thế kỷ XX nhng không vì thế mà trở nênlạc lõng Ngợc lại thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh phù hợp với quy luật phát triểntất yếu của văn học Thực tế cho thấy trong tiến trình văn học Việt Nam cónhiều thể loại ra đời, phát triển rồi dần mất đi vai trò của nó, thậm chí một đikhông trở lại Còn riêng thơ tứ tuyệt trải qua bao nhiêu thăng trầm nó vẫn tồntại, đứng vững mà không hề trở nên sáo mòn, cũ kỹ Những bài thơ tứ tuyệt của
t-Hồ Chí Minh xuất hiện vào giai đoạn văn học Việt nam đang chuẩn bị hoàn tấtquá trình hiện đại hoá cho thấy Hồ Chí Minh đã tìm cho mình một hớng điriêng Trong lúc các nhà thơ cùng thời loay hoay tìm tòi, khám phá, thử nghiệmcác thể thơ, các kiểu kết cấu thơ mới lạ nhằm mục đích tạo nên dấu ấn cá nhâncho tác phẩm của mình thì nhà thơ Hồ Chí Minh khẳng định một điều đơn giảnhơn Đó là quá trình đổi mới, hiện đại hoá văn học không nhất thiết phải thay
đổi hoàn toàn hình thức văn chơng cũ, đã có sẵn bằng bằng các hình thức mới(mặc dù việc tìm tòi các hình thức mới là điều đáng khuyến khích) Tài năng
và cá tính sáng tạo của ngời nghệ sỹ biểu hiện ở chỗ ngay khi nhà thơ, nhà văn
đó vận dụng một thể thơ có từ lâu đời (thậm chí là một thể thơ ngoại nhập) thìvẫn chuyển tải đợc những vấn đề nóng bỏng của thời đại mới và thổi vào đólinh hồn cốt cách riêng của cá nhân ngời nghệ sỹ Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh làmột hiện tợng độc đáo là bởi vì nhà thơ đã làm nên một phong cách thơ tứtuyệt độc nhất vô nhị, không lặp lại trong nền thơ ca Việt Nam
1.2 Vấn đề phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
1.2.1 Khái niệm phong cách
Văn học nghệ thuật rất kỵ sự bằng phẳng, tẻ nhạt, sáo mòn, thiếu cátính Ngời sáng tác văn học để không lặp lại vết chân của ngời đi trớc đã khó,không lặp lại chính bản thân mình lại càng khó hơn Mới, sáng tạo, đó lànhững khái niệm luôn cần có trong địa hạt văn chơng và là niềm trăn trở, thôithúc mãnh liệt trong lòng các nhà văn, nhà thơ Ngời nghệ sỹ một khi đã không
có gì mới để mang lại niềm hứng khởi cho công chúng thì những tác phẩm của
họ khó đọng lại ấn tợng lâu dài trong lòng ngời tiếp nhận Văn học không chỉ
đòi hỏi viết đúng, viết chân thực mà còn phải viết hay, phải độc đáo Ngời đọcluôn chờ đợi ở tác phẩm văn học, ngoài bức tranh chân thực của đời sống ra,còn có một cái gì nữa riêng biệt, có ý nghĩa xã hội thẩm mỹ sâu sắc
Phong cách không phải là một sự “làm dáng" hay “lập dị” mà là kết quảcủa một quá trình tu dỡng nghệ thuật Nó là dấu hiệu của bản lĩnh và tài năngcủa tác giả
Trang 20Chung quanh khái niệm phong cách nghệ thuật đến nay vẫn còn nhiềuvấn đề cần đợc làm rõ nh: Phong cách tác giả, phong cách thể loại, phong cáchthời đại, vấn đề bản chất phong cách, nhân tố tạo nên phong cách, tính đa dạngcủa phong cách v.v ở đây chúng tôi không tham gia thảo luận tất cả các vấn
đề ấy mà chỉ quan tâm tới vấn đề phong cách tác giả, phong cách thể loại Theo
Từ điển Tiếng việt “Phong cách là những đặc điểm có tính hệ thống về t tởng
và nghệ thuật biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sỹ hay các sáng tác nóichung cùng một thể loại” [52, 782] Phong cách là một khái niệm rộng nhằmchỉ những nét riêng đã mang tính ổn định bền vững lâu dài thể hiện trong suốtcả quá trình sáng tác của nhà văn Một tác giả đợc xem là có phong cách phải
là ngời có đợc sự tìm tòi thể nghiệm để tạo cho mình một lối viết riêng, đợcmọi ngời thừa nhận, có đóng góp lớn lao cho lịch sử văn học dân tộc
1.2.2 Những cơ sở để xác định phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
Từ khái niệm về phong cách (phong cách nghệ thuật), ta thấy phongcách là nét riêng mang tính đặc thù của ngời nghệ sỹ mà không phải bất cứ tácgiả văn học nào cũng có đợc Chỉ những tác giả lớn mà tác phẩm của họ mangnhững đặc điểm chung, thống nhất về mặt nội dung cũng nh hình thức trongsuốt cả quá trình sáng tác, tiêu biểu cho trào lu, một dòng thậm chí là cả mộtnền văn học nào đó mới đợc cho là có phong cách
Để xác định có một phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trớc hết và cơbản chúng tôi dựa vào thực tiễn sáng tác của Ngời, ngoài ra có dựa vào một sốdữ liệu khác để tham khảo, soi sáng cho quá trình nghiên cứu
Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình có truyền thống Nho học, ôngngoại là thầy đồ mở lớp dạy chữ Nho ở nhà, thân sinh ra Hồ Chí Minh lần lợt
đỗ cử nhân, rồi phó bảng, cậu bé Nguyễn Sinh Cung từ lúc thơ ấu đã sốngtrong một môi trờng của văn hóa Nho giáo Cậu bé đợc cha mình dạy học chữNho từ khi còn nhỏ với tất cả những nguyên tắc đạo lý của t tởng Phơng Đông.Ngoài thời gian theo học chữ Nho với thân sinh từ nhỏ, Nguyễn Sinh Cung còntheo học các bạn bè thân thiết của cha Đó là các thầy Vơng Đức Độ, HoàngPhan Quỳnh, Vơng Thúc Quý, họ đều là những trí thức Hán học Từ truyềnthống của gia đình với việc đợc dạy dỗ về cơ bản Nho học khi còn nhỏ cùngvới quá trình tự học, tự rèn luyện sau này đã hình thành nên ở Hồ Chí Minhmột nền tảng vững chắc của cổ học Phơng Đông Đó chính là cơ sở đầu tiên để
Hồ Chí Minh sáng tác thơ Đờng luật bằng chữ Hán
Tố chất nghệ sỹ cũng là một yếu tố góp phần hình thành phong cách củatác giả Hồ Chí Minh Đây cũng là yêu cầu cần có đối với bất cứ nhà văn nhàthơ nào khi bớc chân vào con đờng sáng tác văn học Tố chất nghệ sỹ biểu hiện
Trang 21ở khả năng nắm bắt các hiện tợng riêng lẻ của đời sống tác động vào giác quan
để chọn lọc nó, nâng nó lên thành hình tợng nghệ thuật Mặc dù Hồ Chí Minhluôn khiêm tốn không nhận mình là nhà thơ, nhà văn nhng qua sáng tác củaNgời, ngời đọc nhận ra tố chất nghệ sỹ trong con ngời Hồ Chí Minh biểu hiện
ở khả năng sáng tạo bền bỉ, ở lối t duy nhạy bén, sắc sảo, ở vốn sống dày dặn,
ở cách sử dụng các hình thức nghệ thuật tinh tế và điêu luyện Nếu chỉ cótruyền thống gia đình và sự thừa hởng nền giáo dục Nho giáo từ nhỏ thôi thìkhông đủ để làm nên một tài năng văn học mà mà bản lĩnh và nội lực của tácgiả mới giữ vai trò quan trọng Hồ Chí Minh là ngời có vốn Nho học uyênthâm, Ngời lại am hiểu sâu sắc thi pháp cổ điển, những bài thơ tứ tuyệt của Ng-
ời phần chủ yếu đều làm trên đất Trung Quốc, môi trờng sống đó đã tạo điềukiện cho Ngời tiếp xúc với phong cảnh thiên nhiên, xã hội, con ngời và văn họcTrung Hoa
ít có tác giả nào làm thơ tứ tuyệt với số lợng nhiều nh Hồ Chí Minh.Ngay cả Nguyễn Trãi - ngời sử dụng nhiều nhất thể thơ Đờng luật thì số lợngbài thơ tứ tuyệt xuất hiện ở trong hai tập thơ ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập
của ông chỉ có 60 bài thơ (trong đó ức Trai thi tập có 14 bài Quốc âm thi tập
có 46 bài) Văn học giai đoạn từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII có HồXuân Hơng là nhà thơ viết nhiều về thể thơ Đờng luật, trong đó số lợng bài thơviết theo tứ tuyệt là 12 bài trên tổng số 50 bài thơ Nôm truyền tụng khá phổbiến của bà
Riêng về thơ của tác giả Hồ Chí Minh, gồm 271 bài, trong đó có: 104bài thơ viết bằng tiếng Việt, 36 bài viết bằng chữ Hán, cùng với 131 bài thơtrong tập thơ Nhật ký trong tù (không kể những bài thơ bị thất lạc bản gốc).
Trong 271 bài thơ viết bằng chữ Việt lẫn chữ Hán với nhiều thể loại khác thìthơ tứ tuyệt chiếm số lợng lớn nhất 182 bài (24 bài thơ viết bằng tiếng Việt, 33bài viết bằng chữ Hán và 125 bài trong Nhật ký trong tù) Con số 182 bài thơ
tứ tuyệt của Hồ Chí Minh so với số lợng bài thơ tứ tuyệt của các nhà thơ ViệtNam thời trung đại quả là nhiều hơn hẳn Số lợng thơ tứ tuyệt so với số lợngcác loại thơ khác trong sáng tác thơ Hồ Chí Minh cũng chiếm một tỷ lệ vợt trội(67,2%) Cơ sở đó cho phép khẳng định thơ tứ tuyệt là thể loại thơ chiếm u thếquan trọng nhất trong sự nghiệp thơ ca của Hồ Chí Minh đặc biệt là thể loại thơ
tứ tuyệt viết bằng chữ Hán
Trong nhiều thế kỷ, các nhà thơ, nhà văn Việt Nam đã sử dụng Hán tự
nh một thứ chữ viết chính thức để sáng tác văn học Sử dụng chữ Hán để sángtác, thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh trở nên gần gũi hơn với các kiệt tác thơ tứtuyệt Đờng Tống Mặt khác Hồ Chí Minh luôn có ý thức “Việt hoá” nhng vẫnkhông làm mất đi nét tao nhã, hàm súc của thể thơ tứ tuyệt Đờng luật cổ điển
Trang 22Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh viết về nhiều đề tài với nội dung phong phúcha từng có Thơ tứ tuyệt Lý - Trần chủ yếu phản ánh khát vọng và lý tởng củacác vị thiền s hay bộc lộ tinh thần yêu nớc, ý chí của các tráng sĩ mang trongmình hào khí Đông A Thơ tứ tuyệt của Nguyễn Trãi chỉ viết về cảnh đời sốngsinh hoạt thôn dã, thú điền viên mộc mạc, bình dị Còn thơ tứ tuyệt của HồXuân Hơng là những bài thơ vịnh vật tơng trng cho thân phận nhỏ bé, yếu đuốicủa ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Đến thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh thì hầu nh bất cứ lĩnh vực nào của đờisống xã hội, của tâm hồn con ngời đều đợc khám phá, biểu hiện Về đề tàithiên nhiên, Hồ Chí Minh viết bằng một cảm hứng dồi dào Thiên nhiên trongthơ Ngời vừa mang vẻ đẹp, cổ kính tao nhã của thiên nhiên trong Đờng thi vừamang nét gần gũi, chan hoà với cuộc sống đời thờng bình dị Thiên nhiên trongthơ Hồ Chí Minh bay bổng, thi vị lại vừa hiện thực Mặt khác nhà thơ miêu tả,thiên nhiên nhng gửi gắm vào đó một quan niệm về cuộc sống và những cảmxúc thẩm mỹ cao đẹp
Đề tài về cuộc sống, xã hội trong thơ Hồ Chí Minh là một bức tranh đachiều, ở đó có thế giới nhà tù với cảnh sống tối tăm bộc lộ bản chất bất công,tàn bạo của tầng lớp tay sai trong bộ máy thống trị Tởng Giới Thạch Rồi cuộcsống với rất nhiều sự kiện diễn ra hàng ngày trong bối cảnh xã hội Việt Nam
đang có chiến tranh đến thế kỷ XX Hồ Chí Minh cũng dành nhiều bài thơ viết
về đề tài cách mạng
Trong thơ Hồ Chí Minh còn có mảng đề tài về con ngời trong thời đạimới mà hầu nh có mặt đầy đủ mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội: ngời chiến sĩcách mạng, phụ nữ, trẻ em, cụ già, ngời lao động, giai cấp thống trị có thểnói cha bao giờ trong lịch sử thơ tứ tuyệt Việt Nam đề tài về con ngời lại đợcmiêu tả đa dạng và sâu sắc nh trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
Sự mở rộng về đề tài là một nét đặc sắc trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh Hơn nữa thơ tứ tuyệt của Ngời cũng chứa đựng nhiều nội dung lớn của văn họccách mạng thế kỷ XX: tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, tình yêu quê hơng đấtnớc, con ngời, tình cảm giai cấp, lòng căm thù giặc và ý chí quyết tâm chiến
đấu, tinh thần, bản lĩnh của ngời chiến sĩ cộng sản, niềm tin hớng tới ánh sáng,tơng lai
Trên đây là những cơ sở, dữ liệu để xác định có một phong cách thơ tứtuyệt Hồ Chí Minh trong lịch sử văn học Việt Nam Từ đó chúng tôi sẽ lần lợttìm hiểu và nêu lên những đặc điểm về phong cách thơ tứ tuyệt của Ngời
1.2.3 Phong cách thơ tứ tuyệt trong phong cách sáng tạo chung của
Hồ Chí Minh
Trang 23Hồ Chí Minh là một tác gia lớn của văn học Việt Nam và là tác gia tiêubiểu nhất của văn học cách mạng Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945.
Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh đã đợc nhiều nhà nghiên cứuquan tâm tìm hiểu từ rất sớm Thơ văn của Ngời đã đợc đa vào chơng trìnhsách giáo khoa bậc trung học phổ thông để làm tài liệu chính thức phục vụ choviệc giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh trong nhà trờng Luận vănnày chỉ tập trung nghiên cứu phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
Theo Nguyễn Đăng Mạnh trong công trình nghiên cứu “Mấy vấn đề
ph-ơng pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chí Minh”, phong cách nghệ thuật của
Hồ Chí Minh có ba đặc trng cơ bản sau đây: Thứ nhất "Ngắn gọn, trong sáng,giản dị là nét phong cách dễ thấy nhất ở con ngời cũng nh ở văn thơ Hồ ChíMinh đối với Bác, nói ngắn, viết ngắn là một tác phong nghiêm ngặt" Thứhai "Linh hoạt, sáng tạo, hoàn toàn làm chủ trong việc sử dụng các hình thứcthể loại và ngôn ngữ, các bút pháp và thủ pháp nghệ thuật khác nhau nhằmmục đích thiết thực của mỗi tác phẩm" Đặc trng thứ ba của phong cách nghệthuật Hồ Chí Minh là: "Một tinh thần cách mạng, tiến công cải tạo hoàn cảnh,cải tạo thế giới bắt nguồn từ một tấm lòng nhân ái bao la, một bản năng tíchcực luôn luôn hớng về sự sống, ánh sáng và tơng lai, thể hiện sâu sắc trong chủ
đề của mọi tác phẩm, tạo nên linh hồn và sức sống cho mọi hình tợng" [30,các tr 62, 65, 68]
Riêng về phong cách thơ, Nguyễn Đăng Mạnh chia thơ Hồ Chí Minh ralàm hai loại chính: thơ tuyên truyền vận động cách mạng và thơ cảm hứng trữtình Trong mỗi loại thơ khác nhau có những đặc trng riêng về phong cách sángtạo của tác giả
Trên cơ sở tiếp thu quan điểm về phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh đãnêu ở trên, đi sâu nghiên cứu phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh chúng tôirút ra những đặc điểm về phong cách thơ tứ tuyệt của Ngời là:
Trong sáng, giản dị là nét đặc trng của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh Vớihình thức thơ nhỏ bé chỉ có bốn dòng thơ, số lợng âm tiết trong mỗi dòng thơchủ yếu là năm âm tiết hoặc bảy âm tiết, tứ tuyệt là thể thơ thích hợp nhất cholối viết ngắn gọn , súc tích của Hồ Chí Minh Mặt khác bản thân thể loại nàycũng đã mang tính hàm súc cao, là điều dễ nhận thấy trong thơ tứ tuyệt đời Đ-ờng, Tống Tính chất ngắn gọn của tứ tuyệt không cho phép các nhà thơ đa vàothơ quá nhiều nội dung hay dài dòng miêu tả, kể lể sự việc Nội dung đa vàothơ tứ tuyệt cần phải tinh lọc đến mức tối đa, nhà thơ phải biết nắm bắt lấy các
sự vật, hiện tợng mang tính chất điển hình Ngắn gọn nhng không có nghĩa lànội dung nghèo nàn, đơn điệu mà ngợc lại thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh nội dungphong phú, có sức khái quát cao Từ một hiện tợng nào đó của cuộc sống nhà
Trang 24thơ nắm bắt lấy, cảm nhận theo cách riêng của mình và nâng nó lên thành hìnhtợng nghệ thuật Để giải quyết “mâu thuẫn cơ bản" giữa "hình thức nhỏ bé" nh-
ng lại chuyển tải nội dung phong phú, Hồ Chí Minh chú ý xây dựng nhữnghình tợng nghệ thuật nhiều tầng ý nghĩa, có sức khái quát cao:
Bạch thiên song mã bất đình đề “ ”
(Dạ túc Long Tuyền)
Tầng nghĩa thứ nhất của bài thơ miêu tả cảnh ngời tù ban ngày thì bị giải
đi không ngừng nghỉ, ban đêm thì đôi chân lại bị xiềng xích, cùm kẹp Cáchdùng chữ “đôi ngựa” với ý nghĩa hài hớc để chỉ đôi chân của tác giả và cụm từ
“gà năm vị” (có nghĩa là: món ăn sang) miêu tả đôi chân bị xiềng giống nh ởhiệu ăn thờng tréo chân gà để làm món gà năm vị, làm cho hình tợng thơ trởnên cụ thể và rất sinh động Không cần phải nhiều lời kể lể về cảnh ngộ củamình nhà thơ chỉ đa vào thơ một vài hình ảnh tiêu biểu đủ để khái quát, nêu bậtvấn đề ở tầng nghĩa thứ hai ta thấy hàm ẩn phía sau cách miêu tả đó là tiếngnói tố cáo chế độ nhà tù hà khắc, là chất thép kiên cờng của ngời chiến sỹ Nhàthơ viết về cảnh ngộ “rét và rệp thừa cơ xông vào tập kích” một cách bình thản,dờng nh mọi khó khăn Ngời coi nh không Câu cuối bài thơ, hình ảnh thơ có sựvận động khoẻ khoắn của một tâm hồn luôn hớng về ánh sáng và tơng lai
Trong nhiều bài thơ, Hồ Chí Minh đã sử dụng những hình tợng thơ cósức khái quát cao, nội dung phong phú mà vẫn giữ đợc nét đặc sắc của thơ tứtuyệt là ngắn gọn và súc tích Chẳng hạn nh khi viết về vẻ đẹp của thiên nhiên
Hồ Chí Minh không chỉ gợi lên cảm xúc về một bức tranh thiên nhiên nên thơ,
đầy màu sắc, âm thanh mà qua đó còn biểu hiện tấm lòng luôn hớng về nhândân, đất nớc (Nguyên tiêu, Tảo giải I-II, Thớng Sơn, Tân xuất ngục học đăng sơn, Lộ thợng, Đối nguyệt, )
Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trong sáng và giản dị, từ cách dùng từ, dùnghình ảnh, lối diễn đạt, nhà thơ đều cố gắng để đạt đến độ giản dị tức là thể hiệnvấn đề một cách cụ thể nhất Có những bài thơ của ngời viết về những chân lýlớn mà đúc lại thành một phơng châm:
Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền
Trang 25Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên
(Khuyên thanh niên)
Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh giản dị nhng không vì thế mà trở nên đơngiản Đối với Hồ Chí Minh giản dị có nghĩa là không cầu kỳ, phức tạp hoánhững gì mình bộc lộ, nhng lời thơ, ý thơ vẫn đạt đến trình độ uyên bác, tinh tế
và sâu sắc mà ngời đọc phải có một năng lực cảm thụ nhất định thì mới hiểuhết ý tứ của bài thơ
Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa thể hiện rõ tinhthần thời đại Tuy nhiên khi dùng đặc điểm này để so sánh với thơ tứ tuyệt đời
Đờng thì cần phải hiểu một cách biện chứng Thực tế sáng tác của Hồ ChíMinh cho thấy có nhiều trờng hợp, Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu ở thơ tứ tuyệt đời
Đờng "một số yếu tố về cấu tạo ngôn từ, hoặc những gợi ý ban đầu cho một tứthơ, Thơ Hồ Chí Minh thuộc hệ t tởng vô sản và trực tiếp mang “chất thép”chiến đấu của thời đại mới nên tự nhiên là về mặt t tởng cũng khác xa với thơ
Đờng" [13, 151] Nhng không thể tuỳ tiện so sánh về nội dung t tởng của haithời đại khác nhau để nói rằng “chất thép”, tinh thần chiến đấu của thơ tứ tuyệt
Hồ Chí Minh là tiến bộ hơn hẳn Bởi vì, mỗi thời đại có những đỉnh cao, niềm
tự hào riêng về các giá trị tinh thần và t tởng đó chi phối mạnh mẽ đến nhânsinh quan, thế giới quan của ngời nghệ sỹ trong quá trình sáng tạo Ngay cả khicho rằng thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đậm chất hiện thực hoặc nói theo ý kiếncủa một số nhà nghiên cứu là Hồ Chí Minh đa chất tự sự vào thơ thì cũng cầnhiểu rõ bản chất của nội dung hiện thực trong thơ Hồ Chí Minh là gì, nó có gìkhác hơn với thơ ca Đờng, Tống? Vì trong lịch sử thơ tứ tuyệt đời Đờng ngời
đầu tiên đa yếu tố tự sự vào thơ là nhà thơ Đỗ Phủ Đa một mảng đề tài lớn vềhiện thực cuộc sống của ngời dân đen vào một thể loại thơ cổ kính, tao nhã nhthơ tứ tuyệt Đỗ Phủ đã “đánh dấu một bớc quan trọng trong quá trình phát triểncủa thơ tứ tuyệt đời Đờng” [22, 102]
Có thể nói là Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tinh hoa của thơ tứ tuyệt cổ
điển Trung Quốc và vận dụng sáng tạo khi đa vào thơ tứ tuyệt cái cốt cách tinhthần của ngời chiến sỹ cộng sản trong thời đại mới, phản ánh cuộc sống hiệnthực một cách khách quan, trung thực nh những gì vốn có và biểu hiện chiềusâu cảm xúc, suy nghĩ của cái tôi trữ tình tác giả Chính Hồ Chí Minh trong bàithơ Khán Thiên gia thi hữu cảm“ ” cũng đã nói một cách khéo léo và sâu sắc
về thơ xa và thơ nay:
Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
Trang 26Hiểu rõ việc cần phải đa vào thơ những nội dung mang tính thời đại vàvai trò, nhiệm vụ của ngời nghệ sỹ trong giai đoạn đầy nóng bỏng của cuộckháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh vẫn luôn trân trọng giá trị truyền thốngcủa thơ xa, vẫn yêu cái đẹp trang nhã hài hoà của thơ ca cổ điển Và thực tếtrong sáng tác của Hồ Chí Minh bên cạnh những bài thơ mang nội dung vềhiện thực cuộc sống vẫn có rất nhiều bài thơ tứ tuyệt đợc các nhà nghiên cứuvăn học đánh giá là đạt đến trình độ mẫu mực của thi pháp cổ điển
Thơ tứ tuyệt cổ phong là thể loại chiếm vị trí nhiều nhất trong thơ tứtuyệt Hồ Chí Minh So với luật tuyệt, thể tứ tuyệt cổ phong có nhiều điểm “tựdo” hơn Quan hệ giữa các câu trong bài thơ tứ tuyệt cổ phong không cần chặtchẽ nh trong thơ Đờng luật bát cú Thơ tứ tuyệt cổ phong chỉ cần có vần (trắchoặc bằng) ngoài ra không cần các niêm luật nào khác Trong thơ tứ tuyệt HồChí Minh có một số bài tứ tuyệt kiểu Đờng thi khá hoàn chỉnh nh: Vọng nguyệt, Trung thu I, Dạ lãnh, Hoàng hôn, Nạn hữu xuy địch, ức hữu đây là
những bài thơ về nội dung lẫn hình thức đều mang vẻ đẹp đặc trng của thơ ờng cổ điển
Đ-Sử dụng thể thơ tứ tuyệt cổ phong, thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh có khảnăng biểu đạt đợc nhiều trạng thái cảm xúc Do không bị gò bó bởi niêm luậtchặt chẽ nên trong bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh có thể sử dụng không hạn
định số âm tiết Bài thơ có khi xuất hiện dòng thơ chỉ có ba âm tiết nh:
Oa ! Oa ! Oaa !
(Tân Dơng ngục trung hài)
Hay có những bài thơ vừa có cả câu thơ thất ngôn xen vào các câu thơngũ ngôn nh:
Ruộng rẫy là chiến trờng Cuốc cày là vũ khí Nhà nông là chiến sỹ Hậu phơng thi đua với tiền phơng.
ời đều viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đặc biệt trong tập Nhật ký trong tù có
125 bài thơ tứ tuyệt thì chỉ có hai bài viết theo thể ngũ ngôn, tạp ngôn Còn lại
Trang 27123 bài viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Từ thống kê trên có thể thấy thơ tứtuyệt Hồ Chí Minh chủ yếu viết bằng thể thất ngôn tứ tuyệt và đây đợc xem là
“sở trờng” của Hồ Chí Minh
Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trong sáng, linh hoạt tự nhiên HồChí Minh luôn có ý thức làm cho ngôn ngôn ngữ thơ trở nên trong sáng, gầngũi Mặt khác Hồ Chí Minh sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, tự nhiên nghĩa làkhi viết về những đối tợng khác nhau, hoặc viết về mục đính khác nhau thìngôn ngữ đợc sử dụng cũng khác nhau Chẳng hạn nh thơ viết về mục đích cổ
vũ, tuyên truyền cách mạng thì ngôn ngữ mang nhiều nét riêng khác với thơbộc lộ tâm tình, suy nghĩ Thơ viết bằng tiếng Việt, hệ thống ngôn từ khác vớithơ viết bằng chữ Hán (đặc điểm này sẽ đợc trình bày cụ thể ở chơng 3)
Tóm lại ở chơng 1 của luận văn chúng tôi cố gắng giới thuyết một sốvấn đề lý thuyết về thơ tứ tuyệt, khái niệm phong cách, tìm hiểu tiến trình thơ
tứ tuyệt ở Việt Nam, so sánh với các nhà thơ khác đa ra các cơ sở để xác định
có một phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
Chơng 2 Đặc điểm phong cách thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
trên phơng diện nội dung 2.1 Cảm hứng trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
2.1.1 Cảm hứng về tự do
Sáng tác văn học nghệ thuật nói chung và sáng tác thơ ca nói riêng thuộclĩnh vực sản xuất tinh thần Tác phẩm văn học chứa đựng tình cảm chủ quancủa ngời nghệ sỹ cho nên quá trình sáng tác luôn đợc bắt đầu từ cảm hứng sángtạo “cảm hứng là trạng thái tâm lý then chốt và bao trùm trong sáng tác củanhà văn" [51, 209] và đợc biểu hiện trong khi nhà văn tiến hành công việc cho
đến khi hoàn thành tác phẩm Ngời làm thơ khi sáng tác là lúc họ biểu lộ rõnhất tâm hồn, tình cảm của mình nên cần có một nguồn cảm hứng mãnh liệt
“ngời làm thơ không thể không có cảm hứng cũng nh tạo hoá không thể không
có gió vậy …, tâm ngời ta nh chuông nh trống, hứng nh chày và dùi Hai thứ đó
gõ, đánh vào chuông, vào trống khiến chúng phát ra tiếng, hứng đến khiến ngời
ta bật ra thơ, cũng tơng tự nh vậy” [51, 103] Vì cảm hứng là một trạng tháitâm lý đạt đến độ say mê, nơi kết tinh ý chí, trí tuệ và tình cảm dồi dào của nhàthơ nên khi sáng tác không có cảm hứng mà miễn cỡng viết thì không thể cóthơ hay đợc
Hồ Chí Minh cha bao giờ tự nhận mình là một nhà văn , nhà thơ Bởi cảcuộc đời Ngời đều dốc toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp cách mạng Ngời làmthơ, viết văn trớc hết là để phục vụ cho hoạt động cách mạng Nhng không phải
Trang 28vì thế mà Ngời làm thơ nh một thói quen mà ngợc lại những bài thơ Ngời viết
ra đều bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng Cảm hứng trong thơ tứtuyệt của Hồ Chí Minh thờng đợc khơi nguồn từ cuộc sống Nhà thơ tìm thấycảm hứng từ chính cuộc sống với những sự kiện diễn ra hàng ngày từ điều tởngchừng nh rất giản đơn Cuộc đời hoạt động cách mạng bôn ba, từng trải, Ngời
có cơ hội tích luỹ cho mình một vốn sống phong phú vì thế khi làm thơ cảmhứng bột khởi rất tự nhiên Từ những bài thơ chúc tết đồng bào, những bài thơviết cho các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên nhi đồng, những bài thơ động viênkhuyên răn tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ và ngay cả những bài thơ viếttrong hoàn cảnh hết sức đặc biệt (bị tù đày) thì Hồ Chí Minh đều viết bằngmột nguồn cảm hứng dồi dào
Trong số những biểu hiện khác nhau của cảm hứng trong thơ tứ tuyệt HồChí Minh thì nổi bật nhất là cảm hứng tự do, khát vọng tự do Chỉ cần làm một
sự thống kê cũng có thể thấy trong 182 bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh thì có
20 bài thơ có nội dung về khát vọng tự do, khát vọng chiến thắng Riêng ở tậpthơ Nhật ký trong tù thì có đến 13 lần Hồ Chí Minh nhắc đến hai chữ “tự do”.
Mỗi bài thơ đợc viết trong nhiều hoàn cảnh khác nhau do đó những biểu hiện
về cảm hứng tự do đều có sắc thái riêng, mang một tâm trạng và kiểu ứng xửriêng của nhà thơ Có khi niềm khao khát tự do đợc nhà thơ thể hiện trực tiếptrong từng câu chữ của bài thơ, tựa nh một lời tuyên ngôn cho tinh thần lạcquan, cho khát vọng tự do mãnh liệt:
Thân thể tại ngục trung Tinh thần tại ngục ngoại
(Thân thể ở trong laoTinh thần ở ngoài lao)
(Vô đề)
Ngay trong bài thơ mở đầu tập thơ Nhật ký trong tù, nội dung bao trùm
tất cả bài thơ là ý chí, nghị lực là niềm hy vọng mà "nếu nhìn một cách kháiquát hơn thì lời đề từ này không chỉ là linh hồn t tởng quán xuyến toàn bộ tậpthơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ mà còn là phơng châm sống trong bất kỳ cảnh
ngộ nào của Bác" [19, 303] Có thể kể tên một số bài thơ mà tinh thần tự docủa Hồ Chí Minh đợc bộc lộ một cách trực tiếp nh Bài 1, Bài 2, Nhập Tĩnh Tây huyện ngục, Ngọ hậu, Kết luận
Có khi cảm hứng về tự do, đợc thể hiện trong nguồn cảm xúc của nhàthơ trớc thiên nhiên Những ngày tháng bị tù đày, Hồ Chí Minh bị giải đi rấtnhiều nơi, từ nhà lao này đến nhà lao khác, nếm trải không biết bao nhiêu làcay đắng khổ cực, nhng Ngời vẫn để tâm hồn vợt lên trên những “dây trói”,
“xiềng xích”:
Trang 29Hĩnh tý tuy nhiên bị khẩn bang Mãn sơn điểu ngũ dữ hoa hơng
Tự do lãm thởng vô nhân cấm Lại thử chinh đồ giảm tịch lơng.
(Mặc dù chân tay bị trói chặtNhng đầy núi chim hót và hoa thơm
Tự do thởng ngoạn không ai cấmNhờ thế, đờng xa cũng bớt quạnh hiu)
(Lộ thợng)
Bài thơ miêu tả hai hình ảnh đối nghịch nhau giữa một bên là thể xác bịcầm tù, cẳng chân và cánh tay bị trói chặt và một bên là tâm hồn tự do baybổng “tự do lãm thởng vô nhân cấm” Nhà thơ dờng nh đã quên mình là mộtngời tù đang bị giải đi, bị cùm kẹp để trở thành một du khách đang tự do thởngthức cảnh đẹp với đầy đủ hơng sắc, thanh âm mát lành trong trẻo của núi rừng.Cảm xúc bay bổng đó xuất hiện trong nhiều bài thơ khác của Hồ Chí Minhnh: Vãng Nam Ninh, Bán lộ tháp thuyền phó Ung
Mặc dù chịu cảnh tù đày song tâm hồn nhà thơ luôn có ý thức “vợtngục” luôn hớng ra thế giới bên ngoài rộng mở, đầy tự do Nhà thơ tự ví mình
là “khách tiên” trong ngục, là một vị "khanh tớng" ung dung trên đờng bị giải
đi, có khi lại mơ thấy cỡi rồng lên thợng giới, có lúc giữa giấc ngủ “trằn trọc,băn khoăn” chợt hiện lên ngôi sao vàng năm cánh toả sáng lung linh Tất cả
đều là những sắc thái khác nhau của niềm khát vọng tự do luôn thờng trực, thôithúc trong lòng Ngời Càng bị sống trong cảnh tù đày , bị mất tự do, Hồ ChíMinh càng có ý thức tìm kiếm, nâng niu những phút giây tự do quí giá Nhàthơ cho phép tâm hồn mình đợc thảnh thơi để tận hởng cảnh sắc thiên nhiên,hay tìm mọi cách để quên đi hoàn cảnh thực tại bằng việc dành thời gian học
đánh cờ, ngâm thơ, làm thơ Tập thơ Nhật ký trong tù ra đời trong thời gian Hồ
Chí Minh bị giam cầm là kết quả của sự nỗ lực vơn lên đó Chính nhà thơ cũngchân thành thổ lộ:
Lão phu nguyên bất ái ngâm thi Nhân vị tù trung vô sở thi Liêu tá ngâm thi siêu vĩnh nhật Thả ngâm thả đãi tự do thì.
(Già này vốn không thích ngâm thơ
Nhân vì trong ngục không có gì làmHãy mợn việc ngâm thơ cho qua ngày dàiVừa ngâm vừa đợi ngày tự do)
(Khai quyển)
Trang 30Hồ Chí Minh làm thơ không chỉ để giải khuây cho quên thì giờ mà đểvừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do Khát vọng tự do trở thành một niềm thôithúc mãnh liệt, do vậy Ngời luôn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, mọi phút giây tự
do mà mình có đợc Ngời ngóng trời tự do “qua khung cửa ngục” ngời vui sớngkhi có báo động:
Ngã mẫn xuất lung ty không tập Nhân nhân hoan hỉ đắc xuất lung.
(Chúng tôi, ai cũng đợc ra khỏi lao để tránh máy bay
Ai nấy mừng rỡ đợc ra ngoài lao)
(Báo động)
Cảm hứng về tự do có khi còn đợc nhà thơ miêu tả một cách gián tiếpqua hình ảnh ngời bạn tù cố ý trốn ra ngoài nhng không thành trong bài Tha t- ởng đào (Anh ấy muốn trốn).
Nhng không phải lúc nào Ngời cũng có thể quên đi thực tại để mơ tởng
đến khung trời tự do Có những lúc cảm xúc về tự do trở nên dồn dập, nóngbỏng:
Nhi điểm khai lung hoán không khí Nhân nhân ngỡng khán tự do thiên
(Hai giờ chiều nhà lao mở cửa đổi không khíMọi ngời ngẩng lên ngắm trời tự do)
hớng ra công đờng phía khung cảnh ma phùn gợi lên cảm giác về sự cô đơn,buồn hiu hắt:
Tá vấn tự do hà xứ hữu
Vệ binh dao chỉ biện công đờng.
(ớm hỏi: nơi nào có tự do?
Lính canh chỉ tay về phía xa: cửa công đờng)Một câu hỏi đợc thốt ra không có tiếng trả lời Đã bao lần Ngời đã thốt
ra câu hỏi ấy trong những lúc cô đơn nhất và đáp lại vẫn chỉ là những tháng
Trang 31ngày dằng dặc sống trong âm thầm, chờ đợi Nỗi niềm ấy luôn thờng trực tronglòng Ngời, có khi nó trở thành một nỗi niềm tiếc nuối khuôn nguôi:
Thơng thiên hữu ý toả anh hùng Bát nguyệt tiêu ma cốc tất trung
(Trời xanh cố ý hãm anh hùngTám tháng đã mòn mỏi trong chốn gông cùm)
(Tích quang âm)
Ngời ngồi đếm ngày giờ, tiếc thời gian cứ trôi đi mà bao nhiêu dự địnhvẫn còn ấp ủ cha thành Trải qua tù đày, gian khổ Ngời hiểu rõ hơn ai hết sựmất mát không gì so sánh bằng mất tự do:
Thế thợng thiên tần hoà vạn khổ Mạc nh thất khớc tự do quyền.
(Trên đời nghìn vạn điều cay dắngCay đắng chi bằng mất tự do)
(Cảnh binh đảm tr đồng hành II)
Vì thế nỗi đau mất tự do luôn xoáy vào tâm trí:
Nhâm nhi phản tiện tr tử Nhân vị nhân vô tự chủ quyền!
(Ngời lại bị coi rẻ hơn lợnChỉ vì ngời không có quyền tự chủ!)
Lung khai trúc sản xuất chân long
(Nhà lao mở then cửa trúc rồng thật sẽ bay ra)
(Chiết tự) Ninh tử bất cam nô lệ khổ
Nghĩa kỳ đáo xứ hựu phiêu dơng
(Thà chết không chịu nỗi khổ làm nô lệ
Cờ nghĩa lại tung bay khắp nơi)
("Việt hữu tao động" Ung báo)
Cảm hứng về tự do trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh tập trung chủ yếu ởtập thơ Nhật ký trong tù Đó là những bài thơ mà khát vọng tự do, niềm lạc
quan và ý chí vợt lên hoàn cảnh của nhà thơ đợc bộc lộ một cách sâu sắc, cảm
Trang 32động Nhng đọc hơn một trăm bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, có một điều
ta dễ dàng nhận thấy là khát vọng tự do luôn luôn thờng trực trong tâm hồn,suy nghĩ và trở thành một động lực thôi thúc suốt cả cuộc đời hoạt động cáchmạng của Ngời
Ngay cả khi đã thoát khỏi cuộc sống tù đày, đợc tự do thì cảm hứng tự
do trong thơ Hồ Chí Minh biểu hiện qua các bài thơ động viên tinh thần cáccháu thiếu nhi, cổ vũ toàn dân tham gia cách mạng hay ở các bài thơ viết gửibạn bè, đồng chí ở những bài thơ này cảm hứng tự do mang âm hởng lạcquan, tin tởng, hớng đến sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc Các bài thơnh: Bấy lâu mơ ngủ, Đã làm cách mệnh, Thơ phụ đề tranh cổ động báo "Việt Nam độc lập" đợc viết bằng tiếng Việt, ngôn ngữ trong sáng, giản dị Với nội
dung kêu gọi toàn dân đoàn kết, cùng nhau đứng dậy làm cách mạng, các bàithơ đó đã có một tác dụng to lớn, trở thành nguồn cổ vũ, động viên nhân dântrong thời kỳ kháng chiến Cảm hứng tự do không còn là niềm khát vọng củamột cá nhân nữa, mà đã trở thành ý chí quyết tâm của hàng triệu ngời dân đangphải sống cuộc đời nô lệ Đó cũng không còn là niềm ấp ủ trong tâm hồn mà
đã trở thành hành động Và ngời đọc cũng thấy đợc một khía cạnh khác củacảm hứng tự do trong thơ Hồ Chí Minh là lòng quyết tâm hành động, muốnlàm tất cả vì dân tộc, là tinh thần đoàn kết một lòng của nhân dân mọi tầng lớp.Ngời làm thơ cổ động ngời dân đứng dậy tham gia cách mạng với một ý chí,mục đích rõ ràng "Cách mệnh thì ta cách đến nơi (Bấy lâu mơ ngủ),” “Để cùng nhau cứu nớc Nam ta (Viết phụ đề báo "Việt Nam độc lập")” Ngời kêu gọi ng-
ời dân già trẻ, gái trai đồng cam, cộng khổ để giành độc lập, tự do Ngời độngviên, khuyến khích các cháu thiếu nhi cố gắng học tập, rèn luyện để “Mai sau cháu giúp nớc non nhà” (Tặng cháu Nông Thị Trng) Ngời làm thơ tặng các cụ
phụ lão, khen ngợi tinh thần gơng mẫu noi gơng cho con cháu của các cụ, đôn
đốc con cháu hăng say công hiến cho đất nớc
Dù viết cho các cháu thiếu nhi hay các cụ phụ lão, dù là thơ cổ động,tuyên truyền hay thơ thăm hỏi, động viên Hồ Chí Minh đều viết bằng một tìnhcảm chân thành, tha thiết Trong những vần thơ giản dị đó chất chứa một tìnhthơng yêu vô bờ bến và một niềm mong mỏi khôn nguôi làm sao cho nớc nhà
độc lập, nhân dân đợc ấm no, hạnh phúc
Cảm hứng tự do trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh còn đợc biểu hiện ở mộtsắc thái cảm xúc khác là niềm hi vọng, niềm tin vào chiến thắng Để có một ýchí, nghị lực bền bỉ, kiên cờng, thì ngời chiến sĩ cách mạng cần phải có mộtniềm tin Niềm tin chiến thắng, chính là biểu hiện cao nhất của khát vọng tự do
và là điều mà Hồ Chí Minh suốt cuộc đời cố gắng để đạt đợc Đất nớc hoàntoàn đợc giải phóng, cuộc cách mạng của nhân dân giành thắng lợi là cái đích
Trang 33cuối cùng mà Hồ Chí Minh hớng đến Vì mục đích đó mà Ngời hi sinh cả tuổitrẻ, hạnh phúc riêng t, cống hiến toàn bộ cuộc đời cho sự nghiệp cứu nớc.Trong bài thơ Không đề viết năm 1949, bài thơ Không đề viết năm 1968 và bài
thơ Sáu mơi tuổi Hồ Chí Minh viết khi tuổi đã cao, thế nhng giọng điệu của
mỗi bài thơ vẫn đầy hăng hái, hăm hở, tràn đầy niềm tin chiến thắng Ngời ờng nh không hề nghĩ đến mình ,đến tuổi tác mà chỉ nghĩ đến ngày thắng lợi
d-đã gần kề Ngay cả trong ngày sinh nhật, Ngời cũng không giành niềm vui choriêng mình, mà chỉ ao ớc niềm vui đó sẽ đợc trọn vẹn hơn khi hoà chung vớiniềm vui ngày đất nớc giành thắng lợi:
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng mừng sinh nhật ta
Niềm tin vào chiến thắng không chỉ là niềm mơ ớc mà đã trở thành hiệnthực Mỗi trận đánh thắng của quân, dân ta, mỗi tin thắng trận đến với Ngời làmột niềm hạnh phúc lớn Nó làm cho Ngời quên đi bao nỗi nhọc nhằn và càngnung nấu quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng Tin thắng trận đến với Bác khiNgời còn mãi mê công việc làm thơ “Bỗng nghe vần thắng vút lên cao” (Không đề) khi Ngời đang bận việc quân Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu, ấy tin“
thắng trận liên khu báo về (Báo tiệp)” , khi Ngời đang xem sách, phê công vănbên song cửa sổ “Tin vui thắng trận dồn chân ngựa” (Tặng Bùi Công) Lúc nào
Ngời cũng đón nhận tin vui thắng trận trong hoàn cảnh bận trăm công nghìnviệc và niềm vui đó nh đợc nhân lên theo thời gian, nh tiếp thêm sức mạnh chochặng đờng phía trớc ở hai bài thơ Mừng xuân 1967 và Mừng xuân 1968, lời
chúc Tết của Ngời giành cho toàn thể nhân dân cả nớc và là lời chúc thắng lợivừa giản dị vừa thiêng liêng:
Tin mừng thắng trận nở nh hoa
Và:
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!
Có lẽ không có lời chúc nào tốt đẹp hơn thế ở đó vừa có niềm tin vừa
có sự mong mỏi, vừa có lòng quyết tâm, vừa có tinh thần cổ vũ, khích lệ
Với 20 bài thơ viết về khát vọng tự do và 14 bài thơ mang nội dung cổ
vũ, tuyên truyền nhân dân làm cách mạng, thơ Hồ Chí Minh đã nói lên tiếngnói của một tâm hồn yêu nớc, thơng dân,tràn đầy khát vọng tự do, niềm tin vàongày mai tơi sáng của non sông, đất nớc
2.1.2 Cảm hứng về ánh sáng và tơng lai
Thơ Hồ Chí Minh luôn có sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ hiệntại đến tơng lai Đó là một cảm hứng tích cực của ngời cộng sản trong thời kỳ
Trang 34mới, gắn liền với tình yêu thiên nhiên, đất nớc Cảm hứng đó hoàn toàn kháchẳn với cảm xúc yếu đuối, bi quan và bế tắc trong những bài thơ viết về thiênnhiên của các nhà thơ lãng mạn Thơ viết về thiên nhiên của Huy Cận, Thế Lữ,Xuân Diệu, Chế Lan Viên cũng tràn đầy vẻ đẹp, ánh sáng nhng đó là thứ ánhsáng hiu hắt của buổi chiều tà, là sắc vàng héo úa của mùa thu, là ánh trăng mờlạnh lẽo Tất cả đều nhuốm buồn, lạnh và cô đơn Tất cả đều bộc lộ sự bế tắctrớc hoàn cảnh thực tại và không có niềm hy vọng tơi sáng nào ở tơng lai
Trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh ánh sáng tràn đầy, đẹp rạng rỡ, khoẻkhoắn Đó là ánh sáng của một tâm hồn tha thiết trớc cuộc đời Hình ảnh ánhsáng xuất hiện trong 32 bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh ánh sáng có mặttrong những tháng ngày tăm tối nhất của cuộc đời Ngời Hình ảnh ánh sángluôn đợc đặt trong thế đối lập với bóng tối, nh một sự thách thức Đó là ánhsáng huy hoàng của đèn điện mà chỉ một lần duy nhất Ngời trông thấy ở nhàngục Nam Ninh, là ánh sáng của ngọn đèn dầu giữa chốn lao tù mù mịt tối màngời tù phải bỏ ra mỗi ngời sáu đồng mới có đợc trong bài Đăng quang phí, là
ánh sáng khói lửa từ hoả lò toả ra nghi ngút suốt ngày khi ngời tù đợc “Chử phạn, chử trà hựu chử thái” (Ngục trung sinh hoạt) Hầu nh bất cứ lúc nào Hồ
Chí Minh cũng có ý thức vơn tới ánh sáng và hình ảnh ánh sáng có khi chợt
đến bất ngờ làm cho khung cảnh của một buổi chiều tà hoang vu, vắng lặng trởnên ấm áp lạ thờng ở bài “Mộ” hình ảnh cô gái xóm núi hiện lên bên lò lửahồng đến với nhà thơ một cách tự nhiên Sự lặp lại mấy chữ “ma bao túc - bao túc ma hoàn” ở câu luận và câu kết của bài thơ đã diễn tả đợc sự vận động
xoay tròn của cối xay ngô, cứ quay mãi, quay mãi trên đôi bàn tay khéo léocủa cô thôn nữ và đến khi dừng lại thì “lô dĩ hồng” (lò đã rực hồng) Bài thơ có
sự vận động của thời gian, không gian cùng với sự vận động của t tởng tác giả,
"sự vận động thật khoẻ khoắn, từ bóng tối ra áng sáng, từ tàn lụi đến sự sống,
từ buồn đến vui, từ lạnh lẽo cô đơn đến ấm áp" [19, 404]
Nếu nói rằng thơ Hồ Chí Minh tràn ngập ánh sáng thì phải kể đến hình
ảnh ánh sáng mặt trời và ánh trăng Đây là hai hình ảnh xuất hiện nhiều nhấttrong thơ Hồ Chí Minh, thể hiện sinh động nhất cho t tởng của tác giả
Hình ảnh ánh sáng mặt trời buổi ban mai là sự báo hiệu cho một ngàymới bắt đầu Không biết từ bao giờ Ngời luôn tập cho mình thói quen dậy sớm
để đón bình minh Và trong khoảnh khắc ấy ánh sáng của mặt trời buổi banmai mang đến cho Ngời cảm giác th thái, ấm áp, nó tiếp thêm nguồn sinh lựccho một ngày mới Trong các bài thơ Tảo I, Tảo giải II, Tảo tình, Triêu cảnh
của Hồ Chí Minh, ngời đọc dễ dàng nhận thấy có sự giống nhau về cách miêutả hình ảnh mặt trời buổi sáng sớm:
Thái dơng mỗi tảo tòng tờng thợng
Trang 35Chiếu trớc lung môn, môn vị khai
(Mỗi sớm mặt trời vợt lên khỏi đầu tờngChiếu tới cửa nhà lao cha mở cửa)
(Tảo I)
Đông phơng bạch sắc dĩ thành hồng
U ám tàn d tảo nhất không
(Phơng Đông màu trắng đã chuyển thành hồngBóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch)
(Tảo giải II) Triêu dơng xuyên quá lung toàn bộ
Thiêu tận uyên dữ ám mai
(Nắng sớm xuyên suốt nhà laoThiêu đốt sạch những làn khói mù u ám còn sót lại)
(Tảo tình) Thái dơng mỗi tảo tòng sơn thợng
mở ra theo tầm mắt nhìn lên cao xa và thời gian trở thành thời gian của tâm lý,trải dài theo dòng suy nghĩ của nhà thơ Hai mảng màu sắc đối lập nhau: bóngtối - ánh sáng cùng với sự chuyển dần vận động của thời gian, không gian đã
vẽ lên một bức tranh vừa lãng mạn vừa hiện thực Ngời đọc không còn thấykhông gian chật hẹp đầy u tối của nhà tù, cũng không còn thấy hình ảnh ngời
tù nặng nề lê bớc chân trên đờng bị giải đi nữa mà chỉ thấy một khung cảnh
đầy màu sắc, đầy ánh sáng
Cảm quan về màu sắc, về ánh sáng trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh đợcnhà thơ diễn tả bằng giác quan nhạy bén và bao giờ cũng nhuốm đầy tâmtrạng Trong thế giới tâm hồn phong phú của nhà thơ, mọi cảm nhận về ánhsáng không chỉ dừng lại ở màu sáng mờ ảo, phớt hồng của bầu trời buổi sớm
mà ánh sáng mặt trời luôn có mặt trong mọi thời khắc của mỗi ngày với vẻ đẹpkhác nhau Bầu trời bao la hiện ra trớc mắt Ngời khi vào giờ nhà ngục mở cửathông hơi trong bài Ngọ hậu, ánh sáng mặt trời le lói giữa khung cảnh hoàng
hôn trong bài Vãn Những khung cảnh đó gợi lên cảm giác về cuộc sống bên
Trang 36ngoài đầy nắng ấm và mang một ý nghĩa hàm ẩn đó là nói lên niềm lạc quancủa nhà thơ hớng tới tơng lai
Với tâm hồn luôn khao khát vơn tới ánh sáng và tơng lai, Hồ Chí Minh
đã dùng hình ảnh mặt trời biểu tợng cho sự trẻ trung,khoẻ khoắn ở bài thơ ớng sơn hình ảnh mặt trời trở thành một biểu tợng cao quý:
Th-Cử đầu hồng nhật cận
Đối ngạn nhất chi mai
(Ngẩng đầu thấy mặt trời đỏ gần lại
Bờ bên kia có một nhành mai)Lên núi, leo núi, Ngời đang đứng ở đỉnh cao t thế ấy khi ngửng đầu lên
là mặt trời đỏ gần kề Câu thơ gợi một ý nghĩa rộng lớn nh muốn nói lên niềmtin vào tơng lai tơi sáng của cách mạng ở các bài thơ nh: Vọng Thiên San, Vịnh Thái Hồ, Phỏng Khúc Phụ, Hồ Chí Minh miêu tả về mặt trời buổi sáng
đỏ rực nh lửa chiếu rọi ánh hồng khắp thế gian, rồi hình ảnh thuyền cá đi trongnắng sớm đều biểu hiện niềm tin tởng, lạc quan vào tơng lai tơi sáng, vàocuộc sống no ấm thanh bình
Những yếu tố thiên nhiên gợi lên cảm hứng về ánh sáng và tơng laikhông chỉ ở hình ảnh mặt trời, thơ Bác có vầng thái dơng buổi sớm thì cũng cóvầng trăng chiếu sáng vào ban đêm Nói thơ Hồ Chí Minh tràn đầy ánh sáng làvì vậy
Vầng trăng là một hình ảnh đẹp tao nhã, gần gũi trong các bài thơ xa,trăng xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Trãi với vẻ đẹp cổ kính:
Nguyệt trong đáy nớc nguyệt trên không Xem ắt làm một thức cùng
( Mặt trăng trong nớc) Tính kể t mùa có nguyệt
Thu âu là nhẫn một hai phần
Trang 37Có những lúc ánh trăng vằng vặc của đêm trung thu lại gợi lên nỗi buồnvời vợi xâm chiếm cõi lòng:
Ngục trung nhân dã thởng trung thu Thu nguyệt thu phong đới điểm sầu
(Ngời trong ngục cũng thởng thức Trung thuTrăng thu, gió thu đều vơng sầu)
(Trung thu II)
Rồi những cảnh đêm tù lạnh lẽo cô quạnh với hình ảnh ánh trăng ngoàikhung cửa không thể làm ấm lòng Ngời:
Nguyệt chiếu đình tiêu tăng lãnh khí Khung song Bắc Đẩu dĩ hoành thiên
(Trăng soi khóm chuối trớc sân nhà càng tăng thêm khí lạnhNhòm qua cửa sổ, sao Bắc Đẩu đã ngang trời)
(Dạ lãnh)
Hầu hết các bài thơ viết về trăng trong tập thơ Nhật ký trong tù đều
mang âm hởng buồn, cô đơn Bóng trăng trong đêm đem lại nỗi sầu bângkhuâng và nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng nhà thơ ánh trăng tởng nh vôtình mà lại rất hữu tình, nó trở thành ngời bạn tri âm là nơi thổ lộ nỗi lòng nhớnớc, thơng dân cũng nh nỗi buồn cô đơn của nhà thơ trong chốn lao tù Nhữngngày tháng ấy, ban ngày thì mỏi gối vì bị giải đi, ban đêm thì chịu đói, chịu rét,hình ảnh vầng trăng trong đêm là thứ ánh sáng kỳ diệu nhất mang đến cho Ng-
ời một chút an ủi
Hồ Chí Minh là ngời rất yêu trăng, ánh sáng dịu dàng, thuần khiết củavầng trăng chiếu khắp nhân gian những đêm mùa xuân, mùa hạ luôn gợi lênnhiều cảm hứng ở mảng thơ Hồ Chí Minh viết trong những năm kháng chiếnchống Pháp sau này (bao gồm cả thơ tiếng Việt và thơ viết bằng chữ Hán) hình
ảnh vầng trăng trong sáng, đầm ấm hơn:
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
(Đêm nay, rằm tháng giêng trăng vừa trònNớc sông xuân tiếp liền với màu trời xuânGiữa nơi khói sóng thẳm bàn việc quânNửa đêm trở về, ánh trăng đầy thuyền)
(Nguyên tiêu)
Vầng trăng đêm rằm lồng lộng sắc xuân trở nên gắn bó với con ngờihơn bao giờ hết ở đây vầng trăng mang cảm xúc mới và cả t tởng mới, không
Trang 38còn lạnh lẽo, cô đơn nữa, trăng luôn hoà làm một với t thế của ngời chiến sỹcách mạng kiên cờng đang âu lo việc nớc, đang bàn bạc việc quân Vì thế mà
vẻ đẹp của vầng trăng cũng khác, ánh sáng của vầng trăng không bị bó hẹp màtrải ra ngút ngàn tầm mắt Nhà thơ tha hồ chiêm ngỡng với một niềm vui khótả thành lời Cùng mang âm hởng rạng rỡ, khoẻ khoắn ấy, ánh trăng đợc HồChí Minh miêu tả trong các bài thơ: Báo tiệp, Đối nguyệt, Cảnh khuya đều gắn
liền với hình tợng ngời chiến sỹ Trăng với nhà thơ là bầu bạn, là tri âm tri kỷ,
đôi khi còn là ngời đầu tiên thởng thức những bài thơ Ngời vừa viết xong ởmỗi bài thơ, mỗi thời điểm khác nhau, vẻ đẹp của vầng trăng cũng mang nétriêng, khi viên mãn tròn đầy, khi dịu dàng trong trẻo, khi rực rỡ sống động
ánh trăng có khi mang vẻ đẹp thi vị làm mê đắm hồn Ngời, có khi ánh trăng
ùa đến trong giấc mộng đêm thu, hay ánh trăng rọi vào khung cửa nh muốn runhà thơ vào giấc ngủ ở các bài thơ: (Cảnh khuya, Báo tiệp, Đối nguyệt)
Có thể thấy rằng Hồ Chí Minh lúc nào cũng tìm cho mình niềm vui,những phút giây riêng t để tâm hồn đợc th thái, bay bỗng giữa không gian đầymàu sắc và ánh sáng Và chỉ khi hoà mình vào không gian đó "Bác nh một ôngtiên đầu óc uyên bác và minh mẫn, vầng tráng cao, kiên nghị rực chói dới trờitrăng" [70, 576]
Cảm hứng trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh luôn mới mẻ, phong phú Lúcnào Ngời cũng có thể làm thơ và có thơ hay Bởi vì Ngời luôn biết nuôi dỡngniềm tin để cho tâm hồn rộng mở, đón nhận những âm vang của cuộc đời
2.2 Con ngời và thế giới trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
2.2.1 Cảm nhận về con ngời.
Một trong những chức năng cơ bản của văn học là nhận thức về con ngời
và thế giới Văn học hớng về thiên nhiên, xã hội và con ngời, với cách đánhgiá, khám phá và cảm nhận riêng của mỗi nhà văn, mỗi trào lu văn học, mỗithời đại khác nhau
M.Gorky nói “Văn học là nhân học” Câu nói đó có một hàm nghĩa sâusắc, văn học trớc hết là nhận thức con ngời, văn học vì con ngời Khám phá tấtcả những gì liên quan đến con ngời từ tính cách xã hội, những lý giải về sốphận đến thế giới nội tâm đầy bí ẩn, tinh vi đều nằm trong phạm vi biểu hiệncủa văn học Mỹ học và lý luận văn học xa nay đều xem con ngời là đối tợngtrung tâm và văn học “nhìn ngời dới góc độ riêng, nhìn ngời nh một chỉnh thểsinh động, toàn vẹn trong các quan hệ đời sống” [51, 125] Xem con ngời là
Trang 39đối tợng miêu tả, văn học “có một điểm dựa để nhìn ra thế giới văn nghệ bao giờcũng nhìn hiện thực qua cách nhìn của con ngời” [51, 126]
Hiện thực cuộc sống và con ngời luôn có mối quan hệ gắn bó, tơng hỗ, tác
động qua lại lẫn nhau Con ngời cảm nhận về cuộc sống và ngợc lại hiện thựccuộc sống chi phối ảnh hởng đến quá trình nhận thức, cảm nhận của con ngời
Đặt con ngời trong mối quan hệ với thế giới để phản ánh, miêu tả con ngời làphơng thức để miêu tả thế giới, qua đó vừa nhận thức đợc thế giới khách quanvừa tìm thấy bản chất của con ngời Đó là một bức tranh đời sống tăm tối haytơi sáng, đơn điệu hay sinh động, đó là hình ảnh con ngời đáng yêu hay đángghét, đáng ca ngợi hay đáng lên án Nh vậy có thể thấy văn học miêu tả toàn
bộ thế giới khách quan nhng ở bình diện các quan hệ của đời sống xã hội, conngời thông qua lăng kính chủ quan của ngời nghệ sĩ
Con ngời trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh mang đặc điểm chung củaquan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học cách mạng đó là con ngời cánhân ý thức đợc sứ mệnh lịch sử và chỗ đứng của mình trong một cộng đồnghay một quốc gia
Trong văn học cách mạng cá nhân tự khẳng định vai trò và phẩm chấtcủa nó, nhng con ngời cá nhân không tự biến mình thành một thế giới cộng
đồng độc lập với cộng đồng mà tự nó thấy mình là một yếu tố của cộng đồng.Con ngời trong thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh cũng vậy, là con ngời cá nhân đặttrong mối quan hệ với lịch sử xã hội Ngay cách xng hô, tên gọi cũng thể hiện
điều đó Hiếm khi xuất hiện tên riêng, chỉ một vài trờng hợp đặc biệt, Hồ ChíMinh mới làm thơ tặng đích danh nh: Cháu Nông Thị Trng (Tặng cháu NôngThị Trng), cụ Bùi Bằng Đoàn (tặng Bùi Công), còn lại đa số cách xng hô của
Hồ Chí Minh đều là cách xng hô thể hiện mối quan hệ gắn bó với những cộng
đồng ngời nh: các cụ phụ lão, các cháu, nhân dân ta, cả nớc ta, đồng bào ta,anh em ta, chiến sĩ, quân ta Với cách xng hô ấy nhà thơ đã đặt con ngời trongmối quan hệ với lịch sử, họ là những con ngời cùng chung chí hớng, cùngchung mục đích Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ khi đất nớc bị xâm lăng,con ngời cá nhân phải hoà vào cộng đồng để phát huy sức mạnh của dân tộc.Vì thế con ngời đợc miêu tả trong thơ Hồ Chí Minh là hình ảnh đại diện tiêubiểu cho cả một dân tộc kiên cờng, bất khuất Họ cùng chung lý tởng, đềumang những phẩm chất cao quý của con ngời cách mạng: anh dũng, hy sinh,sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ, sức lực, tài năng cho đất nớc Họ đã cùng nhau làmnên một khối cộng đồng đoàn kết cộng đồng bền vững
Con ngời trong thơ Hồ Chí Minh không đợc miêu tả theo một hình mẫuchung mà rất đa dạng Trong văn học dân gian con ngời đợc xây dựng theohình mẫu chung đại diện cho một lực lợng thiên nhiên nh: Thần trụ trời, Nữ
Trang 40Oa vá trời hay đợc phân tuyến thành hai cực đối lập nhau: thiện - ác, xấu - tốt: Tấm Cám, Sự tích trầu cau Trong văn học trung đại, hình ảnh con ngời có sự
phát triển nhng cách đánh giá về con ngời vẫn dựa trên chuẩn mực về đạo đứcxã hội nh “tam cơng ngũ thờng” hay dựa trên chuẩn mực về thiên nhiên “thiênnhân tơng dữ” hay “nhân thân tiểu thiên địa” Đến văn học hiện đại con ngời đ-
ợc các nhà văn nhà thơ miêu tả theo cách nhận thức riêng của mình Vì thếhình tợng con ngời trong văn học hiện đại rất phong phú với nhiều hoàn cảnh,
số phận, tính cách khác nhau Với Hồ Chí Minh, những bài thơ tứ tuyệt củaNgời cũng viết về đồng bào, nhân dân, về anh bộ đội, về truyền thống lịch sửcủa dân tộc nhng nhà thơ có một quan niệm rất tiến bộ về con ngời:
Thuỵ thì độ tợng thuần lơng hán
Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân
Thiện, ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân.
(Lúc ngủ mọi ngời đều có vẻ thuần hậuTỉnh dậy, mới phân biệt rõ ngời thiện, kẻ ácThiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữuPhần lớn đều do giáo dục mà nên)
(Dạ bán)
Đây là một quan niệm tiến bộ về con ngời thể hiện tinh thần nhân đạocao cả của ngời chiến sỹ cộng sản Hồ Chí Minh không nhìn nhận con ngờimột cách phiến diện, để từ đó phân chia rạch ròi ngời tốt kẻ xấu, thiện và ác.Quan niệm đó xuất phát từ một câu nói của Khổng Tử “nhân chi sơ tính bảnthiện”, (thiện, ác không phải là bản tính có sẵn của con ngời, con ngời khi sinh
ra bản chất là lơng thiện) Phát triển quan niệm đó Hồ Chí Minh đã tìm nguyênnhân nhằm lý giải cho sự biến đổi trong tính cách của con ngời đó là “phần lớn
đều do giáo dục mà nên” Với quan niệm đó Hồ Chí Minh luôn coi tất cảnhững ngời tù ở bên cạnh mình là bạn “nạn hữu” Họ là những ngời bị tù đày vìnhiều lý do khác nhau, nhng suy cho cùng họ là những ngời cùng chung hoạnnạn, họ chỉ là những “nô lệ ở thế gian” là “ tù nhân khốn nạn bần cùng”, là nạnnhân của xã hội có giai cấp
Cái nhìn bao dung của Ngời còn hớng tới những quan coi ngục, tầng lớp
đợc xem là giai cấp t sản thống trị, thế nhng Ngời vẫn nhận ra bên cạnh bọnphản động tay chân của Tởng Giới Thạch còn có những tấm lòng nhân ái nhQuách Tiên sinh, trởng ban họ Mạc Cái nhìn bao dung, tiến bộ của Hồ ChíMinh về con ngời còn thể hiện ở chỗ Hồ Chí Minh thơng yêu những ngời nhândân lao động Trung Quốc, Bác vui niềm vui của họ, buồn nỗi buồn của họ vàkhông hề phân biệt giàu sang hay hèn kém