1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật thơ hồ dzếnh

59 852 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 451,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trinh Đờng đã có phát hiện về tính chất đồng hoá, nét Việt Nam trong Hồ Dzếnh, với bài viết “Hồ Dzếnh và tính chất đồng hoá với Việt Nam trong thơ anh” đã cho thấy “trong suốt tập Quê ng

Trang 1

trờng đại học vinh

Khoa ngữ văn -

Phong cách nghệ thuật thơ Hồ Dzếnh

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Ngành cử nhân ngữ văn

Sinh viên thực hiện : Lê Thị Lan Anh

Lớp : 44B3 - Ngữ văn

Điểm xếp loại và tinh thần tham dự:

Điểm chung:

Vinh - 05/2007

Trang 2

phong cách thơ Hồ Dzếnh

1.4.2 Chặng thứ hai: thời kì sau cách mạng Tháng Tám 12

Chơng 2: Hình tợng cái tôi và nhữngcảm hứng chủ đạo trong thơ Hồ Dzếnh

2.1.5 Cái tôi công dân sau cách mạng tháng Tám. 30

Trang 3

Mở đầu

7 Lý do chọn đề tài

Văn học Việt Nam hiện đại chắc không có nhiều nhà thơ mang trong mình hai dòng máu Hoa Việt mà tiếng thơ của ông đã gắn với những biến thiên của lịch sử dân tộc nh Hồ Dzếnh Thơ ông đã trải qua cái mốc lịch sử quan trọng đánh dấu hai giai đoạn khác nhau của dân tộc trớc và sau cách mạng tháng Tám

Thơ Hồ Dzếnh gắn bó sâu sắc với cuộc sống, dù là trớc hay sau cách mạng tháng Tám thì tiếng thơ ông vẫn là tiếng thơ trong sáng yêu đời Thơ

Hồ Dzếnh trớc cách mạng có cái u hoài của thời đại, có cái lạc lõng của kẻ

“ thiếu quê hơng”, có cái cô đơn, lẻ loi, buồn sầu nhng vẫn yêu đời, yêu quê hơng, vẫn trong sáng khoẻ khoắn Sau cách mạng, khi mà nhiều nhà thơ mới cha bắt kịp thời đại để sáng tác thì Hồ Dzếnh vẫn giữ cho mình niềm say mê với cuộc đời, với thơ ca Phong cách thơ Hồ Dzếnh giai đoạn này dù không hoàn toàn thay đổi nhng đã có sự chuyển biến vận động Vói sự xuất hiện của tập " Hoa xuân đất Việt", Hồ Dzếnh đã thể hiện cảm xúc sáng tạo

đặc biệt của một tiếng thơ " công dân"

Hồ Dzếnh thực sự là một nhà thơ có phong cách, một giọng điệu riêng

độc đáo Hồn thơ trầm tình, điềm đạm, trong sáng của ông đã để lại những rung động d ba trong lòng ngời đọc

Số lợng thơ Hồ Dzếnh không nhiều và cũng không xuất sắc đợc bằng văn của ông Chính vì thế mà thơ ông không đợc quan tâm nhiều nh truyện ngắn của ông, nhng thực sự những bài thơ đó đã có những đóng góp đáng

kể cho thơ ca dân tộc Thơ Hồ Dzếnh vẫn còn thiếu những bài viết, những công trình nghiên cứu hệ thống để khẳng định giá trị thơ ông Với đề tài phong cách nghệ thuật thơ Hồ Dzếnh chúng tôi mong muốn tìm hiểu rõ hơn

về phong cách của một nhà thơ để khẳng định đợc sự đóng góp cũng nh vị trí xứng đáng của Hồ Dzếnh cho nền thơ ca dân tộc

Trang 4

8 Lịch sử vấn đề

Hồ Dzếnh ngoài một số bài thơ lẻ đăng rải rác trên các báo thì ông chỉ

để lại hai tập thơ “Quê ngoại” và “Hoa xuân đất Việt ” Điểm đặc biệt của hai tập thơ này chính là mỗi tập lại nằm ở một giai đoạn của lịch sử dân tộc, trớc cách mạng tháng Tám là “Quê ngoại” và sau cách mạng tháng Tám là

“Hoa xuân đất Việt”

Những công trình nghiên cứu thơ Hồ Dzếnh không nhiều, đáng kể có

“Hồ Dzếnh một hồn thơ đẹp” do Lại Nguyên Ân và Ngô Văn Phú biên soạn Đây là quyển sách tập hợp khá đầy đủ những bài nghiên cứu về Hồ Dzếnh

kể cả con ngời, cá tính của ông Tác phẩm này có những phát hiện mới về thơ Hồ Dzếnh của các nhà nghiên cứu có tên tuổi , đó là những bài viết của Thạch Lam, Đặng Thai Mai, Mai Thảo, Cao Huy Khanh, Mai Hng

Ngoài ra còn một số bài viết khác: Trơng Chính với “Hồ Dzếnh và tác

phẩm chọn lọc” in trong TPM cho ta hiểu rõ hơn về cuộc đời, gia đình của

Hồ Dzếnh một “cái gia đình ấy phức tạp thật ” [11,162] bài viết cũng đã

đánh giá sâu sát những đóng góp của Hồ Dzếnh cho văn học Việt Nam Nhng ông là ngời nớc ngoài viết văn Việt Nam, lại có những trang hồi ký hay về xã hội cũ Việt Nam Chúng ta nên trân trọng, cũng nh ông trân trọng tiếng nói của đất nớc này [11, 163] Trinh Đờng đã có phát hiện về tính chất đồng hoá, nét Việt Nam trong Hồ Dzếnh, với bài viết “Hồ Dzếnh

và tính chất đồng hoá với Việt Nam trong thơ anh” đã cho thấy “trong suốt tập Quê ngoại; ở đâu ta cũng thấy quê hơng với Hồ Dzếnh là một” [11,166]Tác giả đã có những nhận định hay về tập “Quê ngoại” để cho ta thấy một Hồ Dzếnh không chỉ xuất sắc ở dòng chuyện ngắn trữ tình mà còn là ngời “biệt lập một văn tài, một thi tài với tinh thần một ngời gốc Hoa lại xem Việt Nam là tổ quốc của chính mình”[11,167]

Nhìn chung các bài nghiên cứu phê bình thơ Hồ Dzếnh không nhiều

nh-ng đã nhìn nhận đánh giá thơ Hồ Dzếnh trên nhiều mặt: từ một tác phẩm cụ thể, các tập thơ, và việc tìm hiểu hành trình sáng tác của nhà thơ, từ đó thấy

đợc phong cách riêng, giọng điệu riêng độc đáo của Hồ Dzếnh

Trang 5

Với đề tài “Phong cách thơ Hồ Dzếnh” chúng tôi từ việc kế thừa các ý kiến của ngời đi trớc, tiếp tục tìm đi sâu tìm hiểu phong cách thơ Hồ Dzếnh với mong muốn góp thêm một tiếng nói, một cách cảm nhận, về phong cách của một nhà thơ có những đóng góp cho văn học dân tộc.

9 Đối tợng phạm vi nghiên cứu.

Luận văn tập trung nghiên cứu hai tập thơ của Hồ Dzếnh là “Quê ngoại”

và “Hoa xuân đất Việt” Đó là hai tập thơ đánh dấu hai giai đoạn sáng tác của ông: Trớc và sau cách mạng tháng Tám

Văn bản chúng tôi chủ yếu dựavào cuốn "Hồ Dzếnh một hồn thơ đẹp” Khi cần thiết chúng tôi có thể đối chiếu với những sáng tác văn xuôi của

t Góp tiếng nói để thêm phần khẳng định phong cách riêng, những đóng góp đặc sắc , vị trí của nhà thơ đối với nền văn học nớc nhà

Trang 6

- Chơng 2: Hình tợng cái tôi và những cảm hứng chủ đạo trong thơ Hồ Dzếnh

- Chơng 3 : Phong cách thơ Hồ Dzếnh thể hiện qua việc lựa chọn phơng thức biểu hiện

Trang 7

nội dung chơng 1:

khái niệm phong cách nghệ thuật và quá trình hình

thành phong cách thơ Hồ Dzếnh 1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật

1.1.1Thuật ngữ phong cách

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta đã rất quen thuộc với từ phong cách: phong cách sinh hoạt ,phong cách ngôn ngữ, phong cách hành chính, phong cách lãnh đạo, phong cách biểu diễn Thuật ngữ phong cách đã đi sâu vào trong đời sống của con ngời ta.Khởi thuỷ của thuật ngữ này là gì?

Xa kia ngời Hi Lạp dùng từ “stylos”để chỉ một cái que đầu nhọn đầu

tù Ngời La Mã thì gọi “stylus” cũng để chỉ cái que đó, nhng đầu nhọn dùng để viết và đầu tù dùng để xoá trên một tấm bảng nhỏ có xoa sáp.Đến ngời Pháp dùng chữ “style” nhng ban đầu chỉ có nghĩa là nét chữ,sau dần có nghĩa là bút pháp với những đặc điểm ngôn ngữ và văn thể.Và cuối cùng có nghĩa là “phong cách”nh trong câu châm ngôn: “phong cách là ng ời” của

Buy phông mà Mác đã nhắc.Trớc đây ông cha ta cũng đã phát hiện ra chân

lí này Trong lời tựa “Cẩn trai thi tập” Nguyễn Định Cát có viết: Ngời nào trội về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã, ngời nào trội về khí phách thì làm thơ hay hùng hồn, ngời nào giỏi về dùng chữ đặt câu thì làm thơ hay hoa mĩ xem thơ thì có thể mờng tợng ngời đợc”.

1.1.2 Phong cách nghệ thuật của nhà văn

Phong cách nghệ thuật của nhà văn là một phạm trù riêng, nó khác hẳn với phong cách ngôn ngữ

Trong ngôn ngữ, do thực hiện những chức năng khác nhau, do đợc sử dụng trong các tập đoàn xã hội hoặc những giới nghề nghiệp khác nhau nên dần dần hình thành các phong cách ngôn ngữ khác nhau.Chẳng hạn phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ văn học Những phong cách này thuộc phạm trù ngôn ngữ học

Trang 8

còn phong cách nghệ thuật là “một phạm trù thẩm mĩ,chỉ sự thống nhất t

-ơng đối ổn định của hệ thống hình tợng, của các ph-ơng tiện biểu hiện nghệ thuật,nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lu văn học hay văn học dân tộc”[2,225] Nh vậy

cũng có thể hiểu “phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật,đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm nhận đợc,một giọng điệu và sắc thái thống nhất ”[2,250]

Phong cách nghệ thuật đợc dùng khá đa dạng bao gồm :phong cách thời

đại (phong cách phục hng, phong cách Ba rốc, chủ nghĩa cổ điển), các phong cách của các trào lu và dòng văn học, phong cách dân tộc, phong cách cá nhân của tác giả

Phong cách nghệ thuật của nhà văn là những đặc điểm riêng bền vững, là nhận thức và cách nhìn của nhà văn với thế giới đợc biểu hiện qua tác phẩm và lặp đi lặp lại ở nhiều tác phẩm của nhà văn, giúp phân biệt nhà văn này với nhà văn khác.Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách, chỉ những nhà văn tài năng, có bản lĩnh mới có phong cách riêng độc

đáo [2,256]

1.2 Những biểu hiện của phong cách thơ

Cái tôi trữ tình và những cảm hứng chủ đạo: cái tôi trữ tình là một

phần của cái tôi nhà thơ.Thông qua cái tôi trữ tình ta có thể thấy đợc một phần thế giới tâm hồn của nhà thơ, để từ đó tìm hiểu phong cách nghệ thuật của nhà thơ đó

Cảm hứng chủ đạo là nhân tố quan trọng làm nên phong cách riêng của nhà thơ Thi hứng của mỗi nhà thơ thờng bắt nguồn từ nhân tố gợi sự rung động trong lòng thi nhân Những nhân tố đó ở những nhà thơ mà phong cách đã định hình thờng đợc biểu hiện ra ở:

Chọn tứ: Việc nhà thơ chọn tứ nào trong quá trình sáng tác cho thấy

dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Nó là một khía cạnh thể hiện phong cách thơ

Trang 9

Thể loại:Việc nhà thơ thờng sử dụng thể loại nào để sáng tác cho

thấy phơng thức nghệ thuật mà nhà thơ sử dụng.Đó là một biểu hiện của phong cách

Giọng điệu:Nhà thơ thể hiện cảm xúc của mình thông qua ngôn ngữ

giọng điệu.Việc sử dụng từ ngữ của nhà thơ cho thấy trình độ ngôn ngữ và những đặc sắc nghệ thuật của nhà thơ đó, chính điều đó góp phần tạo phong cách nghệ thuật cho nhà thơ

nằm trong vòng chữ tôi:Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhng càng đi sâu càng lạnh.Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lu trong trờng tình cùng

Lu Trọng L, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu.Nhng động tiên đã khép tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm nhng vẫn bơ vơ.Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”[8.52] Cái tôi cá nhân mạnh mẽ bao nhiêu thì nỗi buồn sự cô đơn của

kẻ lạc loài bơ vơ vì mất nớc càng sâu đậm bấy nhiêu.Nhìn nhận rõ thực tế của dân tộc nhng không làm thế nào để xoay chuyển đợc cục diện vì thế mà trong thơ mới xuất hiện nhiều nẻo đờng thoát li, để trốn tránh thực tại Đó

là những nét chính để làm nên phong trào thơ mới

Tuy tồn tại và phát triển trong thời gian ngắn nhng phong trào thơ mới có ảnh hởng mạnh mẽ đến thanh niên tri thức Việt Nam, trong đó có

Hồ Dzếnh.Yêu thơ và trở thành một nhà thơ mới, thơ Hồ Dzếnh nằm trong

Trang 10

sự phát triển chung của phong trào thơ mới nhng cũng có những nét riêng,hơi thở riêng mang phong cách Hồ Dzếnh.Những tác phẩm thơ của

ông là sự khẳng định của cái tôi với tinh thần dân tộc, nỗi buồn sự cô đơn, tình yêu thiên nhiên của riêng Hồ Dzếnh của một con ngời nh chính ông

tự nhận “Yếu đuối và lãng mạn ? Phải cần tới nó.Đó không phải là sự yếu

đuối, mà là cái tình luôn giữ đợc trong con ngời.Đó là sự kiên gan( )”

[1,29]

Cách mạng Tháng Tám thành công, bản tuyên ngôn độc lâp của Hồ Chí Minh đã khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc Từ đây, nhân dân

ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nớc,chúng ta tự quyết định lấy vận mệnh của mình.Tuy hoà bình cha đợc bao lâu, nớc ta đã phải bớc vào cuộc kháng chiến vệ quốc truờng kì Nền độc lập non trẻ đã lùa trận gió mới vào tâm hồn của các thi sĩ, làm nên một bức tranh tơi sáng của thơ ca Việt Nam sau cách mạng.Các nhà thơ trong đó có cả các nhà thơ mới sáng tác những bài thơ đầy tự hào thể hiện niềm vui sự lạc quan tin tởng " Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" - Xuân Diệu đã trình làng " Ngọn quốc kì" và " Ngày hội non sông", nh một tiếng reo ca đầy tự hào phấn khởi, trớc nền độc lập của đất nớc

Hồ Dzếnh cũng nh bao nhà thơ yêu nớc khác,ông vui mừng hồ hởi và

đầy tự hàovề “quê ngoại” của mình.Đó là niềm vui xuất phát tự đáy lòng, từ chính con tim yêu đất Việt đến tha thiết

Cá tính góp phần làm nên những tiếng thơ riêng biệt của mỗi nhà thơ

Sự bình dị nơi Hồ Dzếnh khiến cho các thi phẩm của ông sau cách mạng vui thật đấy, rộn rã tự hào thật đấy nhng nó không bung thoát.Đó là tiếng reo khe khẽ , là nụ cời mủm mỉm mãn nguyện nhng vẫn vơng vấn đâu đây một chút ngậm ngùi về những kiếp ngời cha biết tới ánh sáng cách mạng

mà tiêu biểu là những ngời chị ngời mẹ nơi quê nhà.Chính điều đó tạo nên

sự thống nhất trong phong cách thơ Hồ Dzếnh

Trang 11

1.3.2 Con ngời, quê hơng, gia đình

Hồ Dzếnh là ngời mang trong mình hai dòng máu Việt- Trung, nhng hồn Việt trong ông vẫn nặng Cha ông là Hà Kiến Huân di c từ Quảng

Đông Trung Quốc sang Việt Nam vào những năm cuối cùng của thế kỉ 19, gặp mẹ ông là Đặng Thị Văn,một cô gái chở đò ngang trên sông Ghép Thanh Hoá Hai ngời thành gia thất sinh sống bằng buôn bán đổi chác hàng hoá ở các chợ bến sông, trên một con đò dọc sau định c ở làng Đông Bích, xã Hoà Trờng (nay là xã Quảng Trờng, huyện Quảng Xơng,Thanh Hoá)

Hồ Dzếnh ra đời tại đây vào năm 1916, tên hồi nhỏ là Hà Triệu Anh Hồ Dzếnh là phiên âm của Hà Anh theo giọng Quảng Đông

Thời thơ ấu Hồ Dzếnh có mấy năm liền lên vùng rừng núi huyện Nh Xuân sống với bố lúc bấy giờ làm quản lí cho một cơ sở xẻ gỗ chở về xuôi cho các nhà buôn gỗ ngời Hoa Dấu vết những năm tháng ở vùng núi này đã

in dấu trong một số truyện ngắn đầu tay của ông

Bố ông lấy vợ hai, bà mẹ đem con về sống ở làng Đông Bích rồi chuyển ra thị xã Thanh Hoá Hồ Dzếnh đã lớn lên ở bên cạnh mẹ Tình cảm sâu đậm buổi đầu đời của ông là tình mẹ con Chất Việt Nam trong văn phong, trong tình cảm xuyên suốt qua chặng đờng sáng tác của ông bắt nguồn từ tình mẫu tử đó

ở thị xã Thanh Hoá ông theo học trờng nhà chung, sau ra Hà Nội học tiếp trung học và bắt đầu kiếm sống bằng nghề kèm học trong các t gia và làm công cho các hiệu buôn Trung Hoa Năm 1937 bắt đầu viết một số bài thơ và truyện ngắn đăng rải rác trên các báo Trung Bắc chủ nhật, tiểu

thuyết thứ bảy, tập san mùa gặt mới Sau đó in tập truyện đầu tay Chân

trời cũ” và tập thơ đầu tay Quê ngoại “ ” Hồ Dzếnh có dịp và có điều kiện

đi nhiều nơi trên bán đảo Đông Dơng, thực hiện cái mộng hồi ấy gọi là mộng “giang hồ

Năm1954 Hồ Dzếnh từng đợc bầu vào ban chấp hành hội liên hịêp văn học nghệ thuật Việt Nam một khoá, rồi đi thâm nhâp thực tế, làm thơ sống

Trang 12

với anh em công nhân Thời kháng chiến chống Pháp, Hồ Dzếnh về sống ở Thanh Hoá.1953 về Hà Nội.

Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào Với bản chất trầm lặng, ông luôn khiêm tốn tự cho mình nh là ngời mới bắt đầu bớc vào nghề viết.Tuy nhiên trong hai tập “

Chân trời cũ” và Quê ngoại “ ” Hồ Dzếnh đợc biết đến nh một nhà văn có chân tài Các tác phẩm

Đã xuất bản

1 Chân trời cũ ( tuyển tập truyện ngắn), nhà xuất bản á Châu 1942

2 Một chuyện tình mời lăm năm về trơc ( tiểu thuyết),( kí bút danh Lu Thị Hạnh), nhà xuất bản á Châu 1942

3 Quê ngoại (thơ) nhà xuất bản Nguyên Hà 1943

4 Cô gái Bình Xuyên ( tiểu thuyết), nhà xuất bản Tiếng Phơng Đông 1946

5 Hoa Xuân Đất Việt (thơ) nhà xuất bản Nam Hoa th xã 1946

Đã công diễn cha xuất bản

1.Ngời nữ cứu thơng Trung Hoa (kịch một màn)1947

Hồ Dzếnh là nhà thơ đã trải qua sự thăng trầm của lịch sử.Ông sống

và sáng tác ở cả trớc và sau cách mạng, ở mỗi giai đoạn lịch sử thơ ông ít nhiều đều mang dấu ấn của thời đại.Phong cách thơ Hồ Dzếnh ít nhiều đợc hình thành qua hai chặng

1.4.1 Chặng thứ nhất: thời kì 1937- 1945

Đây là thời kì Hồ Dzếnh bắt đầu sáng tác, ông khởi đầu sự nghiệp bằng một số bài thơ và truyện ngắn.Hồ Dzếnh bắt đầu sáng tác thơ khi phong trào thơ mới ở vào giai đoạn phát triển rực rỡ và gặt hái đợc nhiều

Trang 13

thành công lớn.Tên tuổi của ông trong phong trào thơ mới không nổi trội

nh Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên nhng ông cũng đã khẳng định

đợc phong cách của mình qua tập “Quê ngoại ,” “ ở điểm quá khứ bị lùa dạt, quá khứ mang tên Trung Hoa, hiện tại đợc xây cất, hiện tại mang tên Việt Nam ở điểm một đêm đã tàn rụng, đêm Trung Hoa lung linh ma quái Cho ngày Việt Nam thay thế, ngày Việt Nam vang vang những tiếng đời nhảy múa quanh mình Hãy tìm đọc lại “Quê ngoại” nếu yêu Hồ Dzếnh Cái trẻ thơ, cái vụng dại, dày đặc trong thiên trờng ca quê mới Việt Nam này lại chính là cái lớn lao của Hồ Dzếnh có đời mình bằng đã có Việt Nam" [1,94]

Quê ngoại xanh ngắt màu hi vọng, hồng t ơi dáng hạnh phúc, thắm thiết những tình ý đợi chờ, trong suốt một tình yêu vô điều kiện Quê ngoại

là một tiếng thơ tạ ơn đời Quê ngoại là chiếc khay vàng hiến dâng mẹ hiền một niềm biết ơn trang trọng” [1,94;95].Tập thơ đã thể hiện một cảm xúc

tinh tế nhẹ nhàng lắng đọng, đó là những tình cảm chân thật xuất phát từ một trái tim đa cảm Ta cảm nhận đợc tình cảm thiết tha, gắn bó với đất Việt của ông qua những hình ảnh thân thuộc đầy gợi mở Là ngời Việt gốc Hoa nhng hồn Việt trong ông rất nặng, tính tình dân Việt đã ngấm vào máu thịt ông vì thế mà tình yêu trong thơ ông cũng đầy ý tứ, dịu nhẹ và trong sáng, một tình yêu rất đỗi thật thà của một trái tim hồn hậu

Sống ở quê ngoại lại chịu ảnh hởng của mẹ nên tình cảm mẹ con trong thơ ông rất nặng Đó là tình mẫu tử sâu sắc đợc tác giả thể hiện rất đỗi chân thành qua sự xót xa, thơng cảm với sự khó nhọc vất vả của ngời mẹ Nam Việt Đó là giọt nớc mắt chảy vào trong của một con ngời hết lòng th-

ơng mẹ đợc bật ra thành những câu thơ bùi ngùi, cảm động

Hồ Dzếnh là con của ngời mẹ Nam Việt, ngay từ thuở lọt lòng trong huyết quản của ông đã kế thừa truyền thống yêu nớc tinh thần dân tộc của ngời Việt.Tình yêu đất nớc với ông đã trở thành thứ tình cảm gắn bó máu thịt Đất nớc đi vào trong thơ ông rất gần gũi thân thơng, đó là bờ tre, gốc

Trang 14

lóa , con ®ª nh÷ng c¶nh s¾c b×nh dÞ gÇn gòi rÊt ®çi yªn b×nh Cã thÓ nãi

Hå DzÕnh lµ nhµ th¬ cã tinh thÇn d©n téc rÊt cao, nÆng lßng víi d©n téc

1.4.2 ChÆng thø hai: thêi k× sau c¸ch m¹ng Th¸ng T¸m.

C¸ch m¹ng Th¸ng T¸m thµnh c«ng, lÞch sö ®Êt níc sang trang, níc ta tho¸t khái ¸ch ®« hé cña thùc d©n, phong kiÕn, nh©n d©n lµm chñ ®Êt níc, c¶ d©n téc bíc vµo giai ®o¹n míị C¸c thi nh©n cïng hoµ vµo kh«ng khÝ chung cña thêi ®¹i, kh¾p n¬i trªn m¶nh ®Êt Nam ViÖt ng©n lªn nh÷ng tiÕng nãi vui t¬i,

tù hµo ®Çy tin tëng: “Mét m¹ch nhùa míi mÎ ®· dån lªn trong thi ca níc ta

( ) chóng ta ®îc ®äc mét tËp hïng ca víi Ngän quèc k× cña Xu©n“ ”

DiÖu( ) Hoa xu©n ®Êt ViÖt cña Hå DzÕnh còng lµ bãng d¸ng cña hai mèi

t×nh cao c¶: t×nh yªu ®èi víi tæ quèc Trung Hoa vµ ®èi víi ViÖt Nam, quª h¬ng thø hai cña thi sÜ Mèi t×nh chøa chan nh©n ®¹o vµ vÇn th¬ uyÓn chuyÓn du d¬ng, ©m thÇm con hïng hËu ®ã chØ cã thÓ t¨ng thªm phÈm gi¸ nghÖ sÜ Vên thi ca tiÕng ViÖt qu¶ ®· th¬m ®îc mét ®o¸ hoa th¬m vµ sù gÇn gòi cña chóng ta cïng t¸c gi¶ l¹i cµng mËt thiÕt h¬n n÷ặ )” [1,89]

Sau c¸ch m¹ng , Hå DzÕnh cã tËp “Hoa xu©n ®Êt ViÖt”, tËp th¬ thÓ hiÖn c¶m xóc l¹c quan tin tëng vµo t¬ng lai t¬i s¸ng cña ®Êt níc C¸i t«i lóc nµy kh«ng con b¬ v¬ l¹c lâng, kh«ng c« ®¬n buån nh c¸i t«i trong th¬ Hå DzÕnh tríc c¸ch m¹ng, mµ thay vµo ®ã lµ c¸i t«i c«ng d©n, cña con ngêi ý thøc ®îc tr¸ch nhiÖm cña m×nh tríc ®Êt níc Bªn c¹nh b¶n hoµ tÊu vui t¬i

Êy, “Hoa xu©n ®Êt ViÖt” vÉn cßn l¹i ®ã sù ngËm ngïi th¬ng c¶m cña t¸c gi¶

®èi víi ngêi phô n÷ ®Æc biÖt lµ ngêi mÑ C¶m xóc ®ã cã tõ tríc c¸ch m¹ng

vµ vÉn cßn tiÕp nèi ë sau nµy, ®iÒu ®ã thÓ hiÖn khÝa c¹nh nh©n ®¹o cña t¸c gi¶

Trang 15

chơng 2: hình tợng cái tôi và những cảm hứng chủ đạo trong thơ Hồ DzếnH

2.1 Hình tợng cái tôi trữ tình

2.1.1 Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình

Thơ trữ tình là sự bộc lộ cái chủ quan, đó là sự biểu hiện và cảm thụ của chủ thể trữ tình Cái tôi trữ tình hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là cách nhìn và cảm thụ thế giới là trung tâm chi phối các nguyên tắc tổ chức nên một thế giới hình tợng nghệ thuật độc đáo trong hình thức văn bản trữ tình

Do vậy cái tôi trữ tình là một khái niệm quan trọng, một trong những điểm nhìn có triển vọng để nghiên cứu thơ trữ tình từ phơng diện bản chất thể loại cũng nh sự vận động của nó

Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình đã đợc giới nghiên cứu quan tâm

từ rất lâu, tuy nhiên hiện nay xung quanh khái niệm cái tôi trữ tình có nhiều

ý kiến, nhiều cách hiểu khác nhau Cái tôi trữ tìnhchỉ chủ thể nhà thơ , cảm xúc cá nhân tạo nên tính độc đáo của phong cách Việc nghiên cứu cái tôi trữ tình mới đợc nghiên cứu nhiều ở cấp độ tác giả dới cái nhìn đồng đại là chính còn nó ít đợc quan sát trong sự vận động của một quá trình dài với các chặng đờng phát triển

Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình đã đợc đề cập và nghiên cứu trong mĩ học cổ điển Với các nhà mĩ học cổ điển, các nhà lí luận của Trung Quốc và Việt Nam: khái niệm cái tôi trữ tình cha đợc sử dụng nh một thuật ngữ nhng cũng đã đợc thể hiện phần nào ý nghĩa của nó trong các ý kiến bình giảng về thơ, về cái tình, tâm, chí, đạo Chính những yếu tố này là khía cạnh của cái tôi trữ tình

Cái tôi đã đợc Hoài Thanh trực diện đề cập đến trong “Một thời đại trong thi ca” in trong Thi nhân Việt Nam ,“ ” theo Hoài Thanh, chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam đầu những năm 30 đã đem lại quan niêmj hoàn toàn mới về cá nhân “Ngày thứ nhất ai biết đích xác ngày nào chữ tôi xuất

Trang 16

hiện trên thi đàn Việt Nam nó xuất hiện và nó thực bỡ ngỡ nó nh lạc loài nơi đất khách bởi nó mang theo một quan niệm cha từng thấy ở xứ này đó

là quan niệm cá nhân Cái tôi là linh hồn của thơ mới là một phạm trù đối lập với cái ta của thơ cũ [“ ” ” 8,50] Khái niệm cái tôi đợc Hoài Thanh vận dụng uyển chuyển để thể hiện phong cách, hồn thơ mỗi tác giả

Phải đến những năm 70 vấn đề cái tôi trữ tình mới đợc đặt ra qua một chuyên khảo về thơ Hà Minh Đức đã giành một số chơng nói về cái tôi trữ tình trong mối quan hệ với nhà thơ, chỉ ra các hình thức biểu hiện cái tôi trữ tình hoặc xuất hiện với t cách cái tôi trữ tình

Trớc khi đi vào vấn đề cái tôi trữ tình ta hãy trở về phạm trù gốc, phạm trù cá nhân và cái tôi Cái tôi là một trong những khái niệm triết học

cổ nhất đánh dấu ý thức đầu tiên của con ngời về bản thể tồn tại của mình

để nhận ra mình là một con ngời khác với tự nhiên, là một cá thể khác với ngời khác Những ngời sáng lập ra chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng cá nhân xuất hiện trong một giai đoạn nhất định khi mỗi thành viên của tập thể bắt đầu tách ra khỏi chỉnh thể và theo ý nghĩa nhất định là bắt đầu mâu thuẫn với tập thể đó Có thể coi đây là sự thức tỉnh đầu tiên của mỗi một cá thể xem mình nh một đơn vị tồn tại biệt lập với cá thể khác Số phận cá nhân này có

sự biến đổi theo sự biến đổi của lịch sử Khi cá nhân còn trong tình trạng bị nô lệ bị thần quyền ngự trị thì cha thể nói đến một ý thức đầy đủ về cái tôi

ý thức về cá nhân về cái tôi thực sự đợc khẳng định là khi nhận thức của con ngời thoát khỏi sự ngự trị của các ý tởng siêu nhiên của các tôn giáo và khẳng định một cách mạnh mẽ sức mạnh của ý chí Có thể nói sự nhận thức

về cái tôi là một bớc ngoặt quan trọng của nhân loại về bản thể với lí trí khai sáng thì con ngời đẩy lùi các uy quyền của thợng đế và trở thành cái tôi tự do, cái tôi khẳng định tính độc lập của mình “Tôi nghi ngờ là tôi t duy, tôi t duy là tôi tồn tại” ( Đề các) Nhìn chung tôn giáo không thừa nhận

cái tôi cá nhân, có thể nói cái tôi này đã hoà tan nó trong những quan niệm siêu hình, cơ đốc giáo quy tất cả giá trị cá nhân vào linh hồn và chỉ thừa

Trang 17

nhận hình ảnh một cá nhân khi nào cá nhân đó đã tẩy rửa hết những gì là cá biệt của bản thân để gần với hình ảnh chúa.

Nho giáo đã có ảnh hởng lớn đến đời sống tinh thần Việt Nam ta từ hàng nghìn năm nay, t tởng nho giáo cũng không giành chỗ đứng cho cái tôi cá nhân Theo nho giáo con ngời là sự cô đúc của trời đất bởi thế cá nhân hiện diện không phải nh hình ảnh của chính bản thân nó mà nó chịu

sự ràng buộc của những cơng thờng đạo lí và nó không con mang ý nghĩa tồn tại độc lập

Triết học duy tâm cũng rất quan tâm đến phơng diện cái tôi cá nhân, theo Kant chia cái tôi gồm hai phơng diện: chủ thể và t duy, chủ thể của nhận thức còn phơng diện thứ hai là khách thể của chính nhận thức

Theo Kant: bản thân con ngời cá nhân cũng là đối tợng để khám phá

để tìm hiểu điều này thể hiện một bớc tiến trong nhận thức nhng sai lầm của Kant là tuyệt đối hoá cái tôi cá nhân, tách cái tôi cá nhân ra khỏi mối liên hệ biện chứng với xã hội thì triết học Mác đã khẳng định giá trị con ngời cá nhân với t cách là chủ thể và khách thể của cảm nhận Theo Mac: con ngời là tổng hoà mọi mối quan hệ xã hội

Khái niệm cái tôi trữ tình gắn với cái tôi đợc biểu hiện trong văn bản trữ tình, khái niệm cái tôi trữ tình là sự thể hiện trực tiếp những cảm xúc suy t của nhà thơ về các hiện tợng của đời sống Cuộc trải nghiệm ấy diễn biến theo một nét đặc thù, sự cá thể hoá cảm nghĩ gợi chủ quan hoá của sự biểu hiện là đặc điểm của bản chất thơ trữ tình

Biêlinxki có nói: toàn bộ hiện thực đều có thể là nội dung của thơ trữ tình nhng với điều kiện là nó phải trở thành sở hữu máu thịt của chủ thể là

bộ phận cảm giác của chủ thể Cái tôi trữ tình vừa là cách nhìn cách cảm

nhận thế giới đồng thời nó cũng đóng vai trò sáng tạo tổ chức nên các

ph-ơng diện trữ tình để vật chất hoá thế giới tinh thần bằng một hình tợng văn bản trữ tình.

Nh vậy cái tôi trữ tình đó là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con ngời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và

Trang 18

thông qua việc tổ chức các phơng tiện của thơ trữ tình để tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt độc đáo mang tính thẩm mĩ nhằm truyền đạt tinh thần

ấy đến ngời đọc

2.1.2 Cái tôi trong sáng yêu đời.

Hồ Dzếnh sinh ra và lớn lên ở một vùng quê Thanh Hoá, một vùng quê đẹp, thanh bình nh bao làng quê khác ở Việt Nam Với Hồ Dzếnh quả thực tinh thần dân tộc đợc bắt đầu bằng lòng yêu những gì nhỏ bé nhất “ yêu cái cây trồng ở trớc nhà, yêu con phố nhỏ bắc ra bờ sông” Không biết

tự khi nào, tình cảm dân tộc đã gắn bó máu thịt với Hồ Dzếnh trở thành mạch nguồn cảm hứng chính trong thơ ông Hồ Dzếnh yêu lắm quê ngoại cực khổ nhng ấm áp tình ngời:

Tôi yêu nhng chính là say

Tình quê Nam Việt bàn tay dịu dàng

( Luỹ tre xanh)

Không cần dấu diếm, không kìm nén, Hồ Dzếnh bộc lộ trực tiếp tình cảm của mình với mảnh đất hình chữ S, đó là tình cảm nồng nàn tha thiết Việt Nam đã trở thành một phần cơ thể của ông, là máu là thịt của ông

Từ thuở lọt lòng, trong đầu óc non nớt của ta, thân thơng lắm là cảnh sắc nông thôn Việt Nam qua hình ảnh “ cánh cò bay lả bay la” trong lời ru của

bà của mẹ, với một ngời mà tuổi thơ gắn chặt với làng quê truyền thống nh

Hồ Dzếnh thì vẻ đẹp thôn dã yên ả ấy hiện lên càng đẹp trong sáng lung linh ( Luỹ tre xanh)

Hồ Dzếnh có cái nhìn rất mới về quê:

Làng tôi thắt đáy lng tre

Sông dài cỏ mợt đờng đê t mùa”

(Luỹ tre xanh)

Quê hơng với ông không còn là một miền đất để gợi thơng gợi nhớ nữa mà nó đã mang hồn ngời Cái làng bỗng chốc trở thành một ngời con gái đẹp trong vẻ lam lũ, hay lam hay làm Hồn quê hiện lên thuần phác dung dị và gần gũi biết bao Trong thơ Hồ Dzếnh bức tranh thiên nhiên làng

Trang 19

cảnh Việt Nam đẹp trong sáng đơn sơ và thân thuộc nhng nó lại thể hiện một tấm lòng quê, đằm thắm sâu lắng.

Không phải ngẫu nhiên mà tập thơ đầu tay của ông lại có tên “ Quê ngoại” đó là tấm lòng dành cho quê hơng, tập thơ “ kính dâng mẹ” ngời mẹ

Việt Nam: "ngó thật kĩ quê ngoại không hằn một nếp nhăn ( ) Hồ Dzếnh

không làm thơ đâu Thơ đã có, đâu đó trên mây trên cành trong nớc chảy dới chân cầu, trong không khí, thơ một thuyền đầy thơ một chuyến lớn chở

Hồ Dzếnh đi vào thênh thang tiếng nói” [1,95] Cảm hứng từ quê hơng làng

cảnh là điều quan trọng để làm nên một “ Quê ngoại” cho dù miền quê ấy

từ thuở sơ sinh lận đận rồi

hồi xúc động khi nghĩ về đất Việt:

Tôi đến đây tìm lại bóng cô

Trở về đờng cũ hái mơ xa,

Rau xam vẫn mọc chân rào trớc

Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ”

(Cảm xúc)

Không chỉ yêu vẻ đẹp trong sáng thanh bình của đất Việt mà Hồ Dzếnh yêu Việt Nam cả trong khổ đau, lận đận, một tình yêu sâu sắc mà chân thật

Hồ Dzếnh sớm mồ côi cha, ông chịu nhiều ảnh hởng của mẹ, một bà

mẹ Việt Nam thuần phác chính vì vậy mà ngay từ nhỏ Hồ Dzếnh đã thấm thía cuộc đời cay cực của “ Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non ” Trong thơ của mình Hồ Dzếnh dành nhiều tình cảm cho những ngời phụ nữ Ông đã viết những câu thơ thật xúc động thấm thía về

mẹ trong tập “ Hoa xuân đất Việt

Mẹ nhỏ của con ơi

Máu chảy, xuân thơm, mắt lệ ngời,

Vú mẹ đã khô nguồn sữa cũ,

Tình con còn lại bấy nhiêu thôi”

(Cảm đề)

Trang 20

Tác giả đã thấu hiểu nỗi vất vả lo toan của ngời mẹ Việt Nam và càng xót xa trớc nỗi cực nhọc của mẹ:

Bồ hôi cứ thấm từng thân áo

Lng mãi còng trên lớp bụi đời

Mẹ vẫn điềm nhiên trong dáng lão

Vun trồng mấy luống bắp khoai tơi”

( Mái lều tranh)

Cảm thông trớc nỗi vất vả cực nhọc của ngời mẹ Việt Nam, tác giả hi vọng cuộc đời mới tơi sáng hơn sẽ sớm đến với mẹ:

Bao giờ cho sáng lều tranh nhỏ

Mẹ Việt Nam mừng nớc Việt Nam?

Hay vẫn đau buồn thiên vạn cổ Những ngời không biết ánh vinh quang”

( Mái lều tranh)

Viết về mẹ Hồ Dzếnh dành tất cả tình yêu thơng, sự trân trọng cảm thông của một con ngời, tình cảm đó đợc rút ra từ trong sâu thẳm của tác giả, nó thống nhất ở cả trớc và sau cách mạng

Trớc cách mạng, tập “Quê ngoại” với lời đề tặng “Kính dâng mẹ” đã cho ta thấy tình cảm của tác giả với mẹ của mình, sau cách mạng, tập “Hoa xuân đất Việt” một lần nữa lại là món quà dâng mẹ tặng em ,“ ” ngời mẹ cả

đời hi sinh, một ngời mẹ nh tác giả thầm cảm phục mà khái quát trong tập “

Quê ngoại”

“Cô gái Việt Nam ơi, Nếu chữ hi sinh có ở đời Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực Cho lòng cô gái Việt Nam tơi”

( Cảm xúc)

Xuất hiện nhiều trong thơ Hồ Dzếnh ở cả trớc và sau cách mạng là hình ảnh ngời chị ngời em Hồ Dzếnh đã đi vào tâm trạng của ngời thiếu nữ trong “ Lần đầu rung động” để miêu tả tâm trạng ngời chị đi lễ chùa:

Trang 21

Chị tôi vào lễ trong chùa Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên:

- Lòng thành lễ phật đầu niên,

Cầu cho tiểu đợc ngoài giêng đắt chồng”

Chị tôi phụng phịu má hồng, Vùng vằng suýt nữa quên bồng cả tôi”

( Rằm tháng giêng)Ngời chị trong bài thơ là một thiếu nữ mới lớn, tuy phụng phịu ngợng nghịu vì bị hai chàng trai trẻ trêu đùa nhng cũng thấy thinh thích Cảm giác vừa ngợng vừa thích thú nhng vẫn phải giữ sự e lệ của con gái nên mới: “

Vùng vằng suýt nữa quên bồng cả tôi” Hồ Dzếnh đã rất khéo léo tế nhị khi

thể hiện tâm trạng của ngời thiếu nữ Ta thấy ở đó cả nụ cời ý nhị kín đáo của nhân vật “ em” khi phát hiện ra tâm trạng ngời chị:

Tam quan ngoài mái chị ngồi Chị nghe đoán thẻ chị cời luôn luôn Quẻ thần, thánh mách mà khôn:

- Số này chồng đắt, đờng con cũng nhiều”

(Rằm tháng giêng)Với ngời phụ nữ trong xã hội xa còn gì quan trọng hơn chồng, con, vì thế mà khi ngời chị bắt đợc “ quẻ thần thánh mách” đơng nhiên là vui rồi,

và chắc hẳn trong tâm hồn ngời thiếu nữ ấy đã vẽ nên một tơng lai tơi đẹp màu hồng để mơ để mộng

Cũng có khi ngồi nghe tiếng ma, Hồ Dzếnh nhớ về kỉ niệm hồi còn nhỏ hồn nhiên:

Tay tôi làm loa miệng, Hỏi: Hiền ăn cơm cha?”

Chừng nghe không rõ tiếng, Hiền đáp: hai giờ tra!”

(Ma)

Trang 22

Trời ma đã tạo nên sự nhầm lẫn ngây thơ ấy, nhng nó đã trở thành kỉ niệm nho nhỏ đáng nhớ, nó làm cho tâm hồn trẻ thơ mơ mộng dễ hoà vào nhau đồng cảm cùng nhau:

Trời ma rồi trời ma Sân nhà đầy bong bóng Hai tôi ngồi mơ mộng Đếm mãi vẫn đơng thừa”

(Giang Tây)Ngời chị dâu trong tâm trí nhân vật tôi khi mới gặp thật đẹp đẽ, sang trọng, ngời chị đó khác hẳn những cô gái nông thôn khác Thế nhng ngời con gái đó tàn lụi dần theo thời gian, theo những vất vả cay cực trong cuộc

đời: “ ng ời đàn bà buồn khổ sàng từng hạt tấm xuống nong, trong khi trời chiều sàng từng giọt hoàng hôn xuống tóc ” [1,99] Tác giả không khỏi đau xót:

Trang 23

Thơ mới là tiếng ca ca ngợi tình yêu, không một nhà thơ mới nào lại không làm thơ tình, Xuân Diệu sống chết vì yêu:

Làm sao sống đợc mà không yêu Không nhớ không thơng một kẻ nào?”

hay:

“Yêu là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc đợc yêu”

Có thể nói: “ thế giới thơ Xuân Diệu là thế giới của chữ tình ” [10,34] Không chìm đắm vì tình, không đau đớn vật vã vì tình nh Xuân Diệu, nhng

Hồ Dzếnh cũng nằm trong phong trào thơ mới, cũng yêu cũng buồn khổ vì tình và cũng thất vọng vì tình

Hồ Dzếnh rất tinh tế khi miêu tả chàng trai chờ đợi ngời yêu, thấp thỏm hi vọng rồi thất vọng:

Ta nghe trong đó có sự giận hờn, trách khéo, giận đấy trách đấy nhng

đều rất nhẹ nhàng Trách giận hờn nhng vẫn chứa đựng tình cảm yêu thơng

Hồ Dzếnh quen với sự dở dang thất vọng trong tình yêu:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở”

( Ngập ngừng)

Không biết tự khi nào, hai câu thơ trên đã trở thành một quan niệm

về tình yêu, thứ tình lỡ dở không thành, để thơng, để nhớ, để những hoài niệm đẹp và mộng mơ theo ta suốt cả đời

Cũng có khi tình yêu đối với ông chỉ là một thoáng nhớ nhung

Trời không nắng cũng không ma Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung”

Trang 24

( Màu thu năm ngoái)

Khác với Xuân Diệu, nhớ ngời yêu vội vàng cuống quýt, nỗi nhớ nóng hổi tràn ngập:

“Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh

Anh nhớ em, anh nhớ lắm ! Em ơi!”

( Tơng t chiều)

Hồ Dzếnh nhớ ngời yêu nhng nhẹ nhàng, thoang thoảng Dờng nh tác giả đã kìm nén nỗi nhớ lại, dấu nó trong lòng vì thế mà “ vừa nhớ nhung ” Ai có thể định lợng đợc nỗi nhớ mà “ vừa” chính vì thế mà nó có sự lan toả d ba để lại một chút băn khoăn trong lòng độc giả

Cũng có khi nhân vật trữ tình bất chợt nhận ra tình cảm của mình:

Có lần tôi thấy tôi yêu Mắt nhung cô bé khăn điều cuối thôn”

( Quê hơng)

Nhân vật trữ tình " thấy" tình cảm của chính mình, tình cảm đó đợc phát hiện một cách tình cờ, đầy lí thú Chàng trai thấy mình đang yêu - một

sự tự khám phá đầy bất ngờ, mà chính nhân vật tôi cũng phải ngỡ ngàng

Tình yêu vốn là thứ tình cảm phổ biến trong lịch sử nhân loại, từ thuở trái đất mới chỉ có A đam và Eva thì đã có tình yêu Tình yêu trở thành một trong những tình cảm cổ xa nhất của nhân loại, không ai là không nói về tình yêu, nhng trong thơ Hồ Dzếnh, tình yêu hiện lên thật mới mẻ, trong sáng lung linh

Hồ Dzếnh viết về tình yêu bằng tất cả sự chân thật của con tim, nhng quả thực: “ Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở” thơ viết về tình yêu của Hồ Dzếnh bao giờ cũng để lại một chút gì nuối tiếc vấn vơng trong lòng ngời

Ai xui ngời ấy qua ngang

Đem theo mứt bánh trầu sang trớc rồi”

( Lỡ đò)

Lỡ dở đấy nhng vẫn yêu Không biết đã bao lần trong lòng tác giả bị

lỡ đò, nhng ông vẫn lạc quan vẫn tin vẫn yêu bởi:

Trang 25

Yêu là khó nói cho xuôi, Bởi ai hiểu đợc sao trời lại xanh?”

( Lặng lẽ)

Có thể nói Hồ Dzếnh yêu bằng một trái tim rất chân thật, tình yêu trong thơ ông gắn với những cảm xúc tinh tế nhẹ nhàng đằm thắm mà sâu lắng Nếu đặt bên cạnh những nhà thơ tình cùng giai đoạn mà Xuân Diệu là tiêu biểu thì Xuân Diệu là một thanh âm cao vút, bồng bột say mê đến cuồng nhiệt còn Hồ Dzếnh là những nốt nhạc trầm, nhẹ nhàng tế nhị và sâu lắng Điều đó làm nên nét rất riêng trong những bài thơ viết về tình yêu của

Hồ Dzếnh

Hồ Dzếnh gần Nguyễn Bính ở “ ng ời nhà quê” trong thơ Nguyễn

Bính lo lắng van vỉ chỉ để: “ Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa” Sự xâm nhập của phơng Tây đang dần làm thay đổi cả một nền văn hoá cổ truyền

mà cái gốc của nó là làng xã, là nền văn hoá nông nghiệp Hồ Dzếnh gắn bó tuổi thơ của mình với những “đê thắm ,” “ b ớm vàng” với con sông be bé“ ”, với những “l ng tre” hồn quê, gốc quê trong ông rất nặng Ông yêu nếp sống

lâu đời của thôn quê, ông tha thiết với nền văn hoá nông nghiệp đó, và đơng nhiên ông lo lắng trớc sự xâm lấn của văn hoá phơng Tây Ông đa ra một sự

đối sánh:

Kinh thành: quần nhiễu hàng len,

Em tôi: áo trắng, quần đen sơ sài”

( Giản dị)

Đó là hai bức tranh tơng phản của đô thị và nông thôn, đô thị phồn hoa lắm, lộng lẫy lắm nhng Hồ Dzếnh không cần những thứ đó Tình cảm của ông nghiêng về:

Trên đời hai đứa yêu nhau,

Quần đen hoá đẹp, áo sầu hoá vui”

( Giản dị)

đâu cần nhiễu thắm lụa điều, cái Hồ Dzếnh muốn giữ lại là “quần đen , ” “

áo trắng” sơ sài ấy thôi Ông lo sợ, ông sầu khi mà :

Trang 26

Sầu tôi bờ bến bao nhiêu, Nếu đời em để sắc điều gây nên”

( Giản dị)

Hồ Dzếnh đang cố níu lấy chút hồn quê, đang cố giữ nền văn hoá nông nghiệp cổ truyền đó Nhng càng cố càng lo sợ, ông sợ một ngày nào

đó em đi tỉnh về thì h“ ” “ ơng đông gió nội bay đi ít nhiều” chính vì thế mà

ông mới “ sầu” nếu “ đời em để sắc điều gây nên

Thế mới biết không chỉ Nguyễn Bính mà ngay cả Hồ Dzếnh cũng

vẫn có một ngời nhà quê” tồn tại và chi phối mạnh mẽ hồn thơ ông.

2.1.3 Cái tôi cô đơn, lẻ loi, buồn.

Buồn, sầu, là đặc điểm nổi bật của các nhà thơ mới Thơ mới buồn vì cô độc, buồn vì tình dang dở, buồn vì xã hội vì con ngời và thậm chí buồn chỉ vì buồn Không một nhà thơ mới nào lại không nói về buồn Xuân Diệu, một thi sĩ vốn “ thiết tha rạo rực với đời” mà còn có nỗi buồn vô cớ:

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”

( Chiều)

Trong thơ mới hiếm hoi lắm mới thấy cái buồn vô cớ nh Xuân Diệu

mà phần nhiều là buồn vì lạc lõng cô độc:

Một chiếc linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu”

( Huy Cận)

Lời thơ của Huy Cận đầy ắp nỗi buồn “ buồn r ời rợi” [8,135] một nỗi

sầu thiên cổ Thời đại thơ mới là thời đại của nỗi buồn của những tiếng thơ dài, của sự cô đơn lạc lõng, tiếng thơ Hồ Dzếnh cũng nằm trong sự vận

động chung ấy Chỉ tính riêng trong tập “Quê ngoại” với ba mơi sáu bài thơ nhng có tới hai mơi lăm lần Hồ Dzếnh nhắc đến từ buồn, mời tám lần nói

đến sầu và u uất Tuy “buồn , sầu” “ ” xuất hiện với mật độ dày đặc nh vậy nhng buồn, sầu, cô đơn nó chỉ bảng lảng nhẹ nhàng và để lại một chút d

âm trong lòng ngời đọc

Trang 27

Các tác giả thơ mới ai cũng làm thơ tình, và hình nh họ rất hay bị thất tình Xuân Diệu thở than:

“Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

Trao cho em cùng với một bức th

Em không nhận và tình anh cũng mất Tình cho đi không lấy lại bao giờ”

( Tình thứ nhất)

Hồ Dzếnh cũng nh bao nhà thơ mới khác, ông buồn vì sự dở dang trong tình yêu

Em ơi, anh lỡ chuyến đò

Chuyến đò thứ nhất chuyến đò đời anh

Sông xuân thao thiết màu xanh,

Sông xanh xanh quá, lòng anh lại tàn”

( Lỡ đò)

Hồ Dzếnh buồn và có cả sự thất vọng nữa Mà buồn thất vọng cũng

đúng thôi bởi ông yêu rất chân thật rất ngây thơ

Yêu là khó nói cho xuôi Bởi ai hiểu đợc sao trời lại xanh”

( Lặng lẽ)

Thế mà tình lại dở dang, và luôn luôn lỡ dở, không buồn không sầu sao đợc Nhng Hồ Dzếnh không để mình chìm ngập trong buồn sầu lâu, ông luôn tự an ủi:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở”

( Ngập ngừng)

Chính vì thế mà mặc dù buồn vì dở dang, sầu vì lỡ dở nhng nỗi buồn của Hồ Dzếnh nhẹ nhàng và trong sáng chứ không hề đau đớn đến quằn quại thắt gan ruột nh một số tác giả thơ mới khác Có điều này bởi chính cá tính vốn rất điềm đạm và luôn biết kiềm chế của con ngời Hồ Dzếnh

Trang 28

Hồ Dzếnh từ nhỏ đã chứng kiến nỗi bất hạnh cơ cực của những con ngời yếu đuối, thấp cổ bé họng, và trong ông luôn có sự trăn trở, suy nghĩ

về thân phận con ngời Đó là nỗi buồn về sự thay đổi của những ngời bạn cùng trờng:

Bạn trờng những bóng phù vân Xót thơng mái tóc nay dần hết xanh”

( Tra vắng)

Cũng có khi ông tởng tợng ra cảnh mình chết và buồn thơng cho chính mình:

Ta nằm trong ván trông ra, Tủi thân vì thấy ngời hoa vẫn cời”

Rồi một buổi nghe tin ngời bỗng chết

Rũ hồn sầu trong một thoáng mong manh”

Quê em xa thẳm màu mây gió Buồn vút không gian mất định kì”

( Nớc chảy chân cầu)

Trang 29

Minh hơng đối với Hồ Dzếnh mà nói, xa xôi và mơ hồ, lòng luôn nặng trĩu nỗi khắc khoải về đất tổ, quê cha, nhng Trung Quốc hiện lên chỉ qua sự tởng tợng của ông:

Liễu Động Đình thơm chuyện hảo cầu

Tóc thề che mớt gái Tô Châu,

Bâng khuâng trăng sáng trời Viên Hán

Một giải Giang Nam nớc rợn màu”

Trăng đêm Dơng Tử, mây chiều Giang Nam.

Rạc rời vó ngựa quá quan

Cờ treo ý cũ, mây giàn mộng xa”

( Màu cây trong khói)

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, Ngô Văn Phú (2001) - Hồ Dzếnh một hồn thơ đẹp, Nxb văn hoá thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Dzếnh một hồn thơ đẹp
Nhà XB: Nxb văn hoá thông tin Hà Nội
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004) - Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb giáo dục
4. Phơng Lựu (1997) chủ biên – Lý luận văn học , Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb giáo dục
5. Phơng Lựu (2002) – Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học , Nxb văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin Hà Nội
6. Nguyễn Đăng Mạnh (1988) chủ biên – Văn học Việt Nam 1945- 1975 (tập 1), Nxb giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1945-1975 (tập 1)
Nhà XB: Nxb giáo dục Hà Nội
7. Nguyễn Đăng Mạnh (1990) chủ biên – Văn học Việt Nam 1945- 1975 (tập 2), Nxb giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1945-1975 (tập 2)
Nhà XB: Nxb giáo dục Hà Nội
8. Hoài Thanh, Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam 1932-1941, Nxb Văn học, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam 1932-1941
Nhà XB: Nxb Văn học
9. Đỗ Lai Thuý (2000) – Mắt thơ I , Nxb Văn hoá thông tin Hà Nội 10. Chu Văn Sơn (2006) – Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mắt thơ I" , Nxb Văn hoá thông tin Hà Nội10. Chu Văn Sơn (2006) – "Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin Hà Nội10. Chu Văn Sơn (2006) – "Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu
11. Vũ Tiến Quỳnh (1998) – Phê bình, bình luận văn học, Trơng Vĩnh Ký, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Hồ Dzếnh, Nxb văn nghệ TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình, bình luận văn học, Trơng Vĩnh Ký, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Hồ Dzếnh
Nhà XB: Nxb văn nghệ TP Hồ Chí Minh
3. Lê Quang Hng – Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w