1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật tú mỡ trong dòng nước ngược

94 516 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 279 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hớng thứ nhất xem thơ trào phúng và thơtrữ tình là hai dạng khác nhau: Một bên lấy tâm trạng, cảm xúc của chủ thể làm đối tợng để phản ánh thơ trữ tình, còn một bên xem những mâu thuẫn m

Trang 1

Tr êng §¹i häc vinh

Trang 2

Mở đầu

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

1.1 Văn học trào phúng là một hiện tợng lớn, một dòng độc đáo tronglịch sử văn học dân tộc, có sự nối tiếp từ trung đại đến hiện đại với nhiều phongcách đặc sắc Việc tìm hiểu, nghiên cứu nó đang là một yêu cầu cấp thiết

1.2 Tú Mỡ là một hiện tợng trào phúng xuất sắc của văn học Việt Namhiện đại Nhng những nghiên cứu về ông còn ít ỏi Phong cách nghệ thuật của

Tú Mỡ là gì cho đến nay vẫn đang còn là một vấn đề bỏ ngỏ

Giòng nớc ngợc là tác phẩm xuất sắc thể hiện đầy đủ bút lực trào phúng

của Tú Mỡ Có thể nói đây là tác phẩm thể hiện rõ nhất, tập trung nhất chophong cách trào phúng của ông Luận văn khảo sát Giòng nớc ngợc nhằm mục

đích xác định những đặc điểm cơ bản của phong cách nghệ thuật Tú Mỡ đợcthể hiện qua tác phẩm xuất sắc này

1.3 Văn học trào phúng trong nhà trờng chiếm một phần quan trọng.Nghiên cứu phong cách nghệ thuật Tú Mỡ qua tập thơ xuất sắc nhất của ông,chúng tôi hy vọng góp thêm một tiếng nói cho việc tìm hiểu Tú Mỡ cũng nhlịch sử văn học trào phúng Việt Nam, nhất là lịch sử văn học ở một giai đoạn

đặc thù (1930-1945)

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện đã có một số bài viết phân tích, đánh giá về thơ trào phúng của Tú

Mỡ qua mấy tập thơ Giòng nớc ngợc Song các bài viết đó mới chỉ dừng lại ở

tính chất giới thiệu, phê bình mà cha có sự nghiên cứu toàn diện sâu sắc trên tấtcả mọi vấn đề Những bài viết đó đã đợc tác giả Mai Hơng su tầm và tuyểnchọn trong cuốn Tiếng cời Tú Mỡ do nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành

năm 2000 Sau đây xin đợc tóm lợc một vài nét những tìm tòi, đánh giá về Tú

Mỡ trong những bài nghiên cứu đã đợc tập hợp lại trong cuốn sách này

Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã giành cho Tú Mỡ một vị trítrang trọng trong cuốn Nhà văn hiện đại với những nhận xét khái quát Ông

thấy: “Hai tập thơ Giòng nớc ngợc có cái giọng bình dân rất trong sáng chúng

ta vốn a thích xa nay Giọng đùa cợt lẳng lơ của Hồ Xuân Hơng, giọng nhạo

đời của Trần Tế Xơng, giọng thù ứng ý nhị của Nguyễn Khắc Hiếu, giọng giaoduyên tình tứ của Trần Tuấn Khải, từng ấy giọng thơ nay có cả trong thơ tràophúng của Tú Mỡ” (dẫn theo Mai Hơng) [19, 9- 13] Vũ Ngọc Phan còn thấy đ-

ợc Tú Mỡ viết rất nhiều lối thơ, vừa bình dân vừa cổ điển, vừa hiện đại: Lối

Trang 3

giễu nhại, lối phong giao, thù hứng, hát xẩm, văn tế, rồi cả phú và văn chầu…

“mà lối thơ nào cũng đều hay cả” Về bố cục ông nói “thơ Tú Mỡ chính lànhững bài ca dao dài, có cú pháp rõ ràng, có những lớp t tởng rõ rệt” Nh vậytuy không có sự phân tích cụ thể nhng Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra đợc một số ph-

ơng diện đặc trng về nghệ thuật thơ Tú Mỡ từ giọng điệu, kết cấu đến việc sửdụng thể thơ Điều quan trọng là ông đã giải thích cơ sở của tiếng cời trong thơ

Tú Mỡ từ đặc điểm riêng của tâm hồn ngời Việt, tính cách ngời Việt, từ đó chothấy thơ Tú Mỡ đậm đà tính dân tộc, tính nhân dân

Trong cuốn Văn nhân, thi nhân Việt Nam hiện đại (Nhà xuất bản Cộng

Lực, Hà Nội 1942) tác giả Lê Thanh chia thơ Tú Mỡ ra thành hai loại: Loạikhôi hài và loại trào phúng Mỗi loại tơng ứng với những lớp đối tợng khácnhau, những kiểu tác giả khác nhau Đặc biệt khi đề cập đến nghệ thuật thơtrào phúng Tú Mỡ, tác giả đã tinh tế phát hiện ra: “đầu đề ít chất thơ”, “có tínhcách cổ điển trong t tởng và trong lời văn”, nhng cũng có tính hiện đại nhờ “lốinhạo lại, lối ngợc sách nh trong ngụ ngôn của La Phông Ten” (dẫn theo Mai H-

ơng) [19, 53-85] Ngoài việc chỉ ra u điểm ông cũng nói rõ nhợc điểm của thơ

Tú Mỡ: Chất trữ tình ít, thiếu lắng đọng cảm xúc Rõ ràng nhìn trên đại thể,

ng-ời nghiên cứu đã thấy đợc những thế mạnh và hạn chế của thơ Tú Mỡ trong nộidung cũng nh trong hình thức nghệ thuật So với Vũ Ngọc Phan trớc đây, bàinghiên cứu này có đợc sự cụ thể hoá cần thiết, đủ để thuyết phục cho nhận định

mà ngời nghiên cứu đã nêu ra

Sau này, các tác giả Xuân Diệu, Hà Minh Đức, Hà Văn Đức, Phan Cự Đệ

đã có sự phân tích cụ thể hơn đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ trào phúng

Tú Mỡ trên nhiều mặt Họ đều chỉ ra rằng thơ trào phúng của Tú Mỡ trớc Cáchmạng hớng về nhiều đối tợng của xã hội đơng thời , nhng đối tợng nổi bật nhấtvẫn là bọn quan lại bù nhìn, nghị viên bù nhìn, hủ tục, tệ nạn xã hội Điều đặcbiệt là trong những bài nghiên cứu này, các tác giả đã hớng vào mục đích chỉ ramột cách hệ thống những đặc sắc nghệ thuật trào phúng của Tú Mỡ trong

Giòng nớc ngợc Ví dụ: Xuân Diệu nhận thấy “Tú Mỡ có sở trờng kể những

mẫu chuyện ngắn”, có một “hơi văn mát mẻ”, sáng tạo yếu tố bất ngờ độc đáo[19, 44 - 46] Còn Phan Cự Đệ xem nghệ thuật thơ Tú Mỡ bao gồm hai đặc

điểm lớn Thứ nhất tính dân tộc đại chúng thể hiện ở sự “vận dụng tục ngữ và

ca dao một cách tự nhiên, trong sáng”, “có nhiều bài giản dị nh lời nói thờng”.Thứ hai là nghệ thuật trào phúng đặc sắc, biểu hiện ở khả năng vạch mâu thuẫn

Trang 4

nội tại của bản thân nhân vật, bản thân sự việc; ở sự “tiếp thu một cách có sángtạo nghệ thuật trào phúng truyền thống của văn học dân tộc”; ở lối kết thúc bấtngờ ; ở lối thơ nhại [19, 138 -151]

Nh vậy sự nghiên cứu về thơ Tú Mỡ ngày càng trở nên sâu sắc, có nhữngphát hiện bất ngờ và chính xác Nó dần đa việc nghiên cứu Tú Mỡ trên quan

điểm phong cách nghệ thuật Tuy nhiên nếu bao quát lại, ta thấy các nhànghiên cứu trớc đây vẫn cha chỉ ra một cách hệ thống những phơng diện làmnên phong cách của Tú Mỡ Họ mới chỉ dừng lại ở việc khám phá, phát hiệnthơ ông trên một số đặc điểm về thể loại, về nghệ thuật sử dụng từ ngữ, về cáclớp nội dung trào phúng mà cha gắn nó với việc khái quát t tởng nghệ thuật,quan niệm nghệ thuật của nhà thơ trớc cuộc đời Đây sẽ là mảnh đất trống đểchúng tôi tiếp tục đi vào khám phá trong luận văn này

Rõ ràng việc chỉ ra những thành quả nghiên cứu về thơ trào phúng của

Tú Mỡ của các tác giả đi trớc là rất có ý nghĩa Nó giúp chúng tôi có cơ sở pháttriển sâu hơn, hệ thống hơn những nghiên về phong cách nghệ thuật Tú Mỡtrong Giòng nớc ngợc.

3 Đối tợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài

Đối tợng nghiên cứu của chúng tôi là phong cách nghệ thuật Tú Mỡtrong Giòng nớc ngợc Đề tài đợc khảo sát dựa trên tác phẩm Giòng nớc ngợc (3

tập) và Giòng nớc ngợc ngoại tập đợc in trong Tú Mỡ toàn tập, tập 1, Nhà xuất

bản Thanh niên, 1996, do Lữ Huy Nguyên, Hồ Quốc Cờng, Thanh Loan su tầm

và biên soạn Ngoài ra một số tập thơ trào phúng khác sẽ đợc vận dụng nh lànhững tài liệu hỗ trợ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Trình bày cái nhìn tổng quan về thơ trào phúng và hiện tợng Tú Mỡtrong dòng thơ trào phúng Việt Nam

4.2 Xác định cảm quan trào phúng của Tú Mỡ trong Giòng nớc ngợc.

4.3 Xác định đặc sắc kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ thơ trào phúng Tú

Mỡ trong Giòng nớc ngợc.

5 Phơng pháp nghiên cứu

Xuất phát từ quan điểm phong cách học nghệ thuật, chúng tôi vận dụngnhiều phơng pháp khác nhau để tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề, trong đó có cácphơng pháp chính: Khảo sát thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh - đối chiếu,cấu trúc - hệ thống, phơng pháp loại hình

6 Đóng góp của luận văn

Trang 5

Đây là lần đầu tiên những đặc điểm cơ bản của phong cách nghệ thuật

Tú Mỡ trong Giòng nớc ngợc mới đợc khảo sát, phân tích và xác định một cách

tập trung và có tính hệ thống

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đợc triển khai trong 3 chơng:

Chơng 1: Hiện tợng Tú Mỡ trong dòng thơ trào phúng Việt Nam

Chơng 2: Đặc sắc cảm quan trào phúng của Tú Mỡ trong Giòng nớc ngợc.

Chơng 3: Kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ thơ trào phúng Tú Mỡ trong

Giòng nớc ngợc.

Cuối cùng là phần tài liệu tham khảo

Chơng 1 Hiện tợng Tú mỡ trong dòng thơ trào phúng

việt nam 1.1 Một số giới thuyết về thơ trào phúng

1.1.1 Khái niệm thơ trào phúng

Trên thế giới, khái niệm thơ trào phúng đã đợc khẳng định từ lâu, nhằmchỉ một loại tác phẩm đặc biệt trong sáng tác văn học Song cho đến nay cáchhiểu về về khái niệm đó vẫn cha có sự thống nhất hoàn toàn Hiện có hai hớng

lý giải khác nhau về thơ trào phúng Hớng thứ nhất xem thơ trào phúng và thơtrữ tình là hai dạng khác nhau: Một bên lấy tâm trạng, cảm xúc của chủ thể làm

đối tợng để phản ánh (thơ trữ tình), còn một bên xem những mâu thuẫn mangtính hài của đối tợng khách thể làm nội dung chính của mình (thơ trào phúng).Quả thực, nếu quan sát tình hình thơ trào phúng Việt Nam những năm đầu thế

kỉ XX ta dễ thấy có nhiều bài thơ trào phúng mà tính chất trữ tình đợc biểu hiệnrất mờ nhạt Các nhà thơ do quá say sa với việc đả kích, tố cáo trớc hiện thực

mà đa thơ trào phúng đi xa với lối trào phúng mang đậm tính trữ tình nh sángtác của Nguyễn Khuyến, Tú Xơng Tuy nhiên, nhìn trên đại thể, phần lớn thơtrào phúng đều bắt nguồn từ cái gốc trữ tình sâu lắng Chính nhờ đó mà nó mới

có sức hấp dẫn, có khả năng trờng tồn trớc sự thanh lọc của thời gian Mặtkhác, thơ trào phúng không phải bao giờ cũng chỉ hớng về khách thể Trongnhững truờng hợp đặc biệt, tiếng nói trong thơ trào phúng là tiếng nói của chủthể đợc cất lên từ các cung bậc tâm hồn của nhà thơ Cho nên, cách hiểu về thơtrào phúng theo hớng này tỏ ra thiếu sức thuyết phục Nó không thể bao quát đ-

ợc sự phong phú, đa dạng và sinh động của thơ trào phúng nói chung

Trang 6

Hớng thứ hai xem thơ trào phúng là một dạng đặc biệt của thơ trữ tình.Theo hớng này nhiều ngời đã đa ra những lý giải hợp lí về khái niệm thơ tràophúng Để tạo cơ sở lí luận cho nhiệm vụ nghiên cứu của mình, chúng tôi xin

đợc nêu ra đây một số định nhĩa về thơ trào phúng mà lâu nay trong giới nghiêncứu văn học đã đợc nhiều ngời chấp nhận

Trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, G.N.Pospelov đã xếp thơ trào

phúng vào nhóm thể tài trữ tình, ông viết: “Thơ trào phúng là hình thức nhỏ củathơ trữ tình Trong lịch sử văn học, thơ trào phúng có nghĩa rộng (nh quan niệm

cổ Hi Lạp) và nghĩa hẹp (nh quan niệm sau này) Thơ trào phúng cổ Hi Lạp(nguyên chữ là “thơ đề tặng”) bắt nguồn từ các câu đề tặng trên các vật thờ.Thơ bia mộ là một dạng của thơ trào phúng Nội dung, giọng cảm xúc của thơtrào lộng cổ Hi Lạp rất đa dạng Thơ trào phúng có thể bao gồm những ghichép về một sự vật hay một hiện tợng nào đó, có thể chứa đựng những lời giáohuấn, sự châm chọc, thổ lộ tình yêu Nhng bao giờ nó cũng đòi hỏi t tởngphải hàm súc, hình thức phải cô đọng

ý nghĩa thứ hai của thơ trào phúng là ở nghĩa hẹp của nó, có từ thế kỷ Icủa Công lịch; theo nghĩa này thơ trào phúng là bài thơ ngắn có nội dung hài h-

ớc hay châm biếm hóm hỉnh, rất thờng dùng để chế giễu một ngời nào đó Tínhchất hóm hỉnh trong thơ trào phúng là kết quả của sự dụng công kĩ lỡng về từngữ (nó sử dụng rất rộng rãi các hình thức mỉa mai, chơi chữ, lối nói vòng, liêntởng, so sánh ), thơ trào phúng cần phải tạo ra đợc sự ngạc nhiên đột ngột nhờtính chính xác của nó” [49, 295-296] Rõ ràng qua một định nghĩa rất ngắn gọn

mà G.N.Pospelov không những đã chỉ ra đợc sự vận động biến đổi của thơ tràophúng trong lịch sử văn học mà còn nêu lên thật cụ thể các phơng diện đặc trngcủa loại thơ này Đó là, về nội dung thơ trào phúng phân biệt mình với các loạithơ trữ tình khác ở nội dung cảm xúc châm biếm, hài hớc; về hình thức nó th-ờng có dung lợng ngắn gọn, súc tích, hay sử dụng các yếu tố ngôn ngữ đặc biệt

và khả năng tạo yếu tố bất ngờ Đây có thể xem là một định nghĩa tơng đốihoàn chỉnh và đầy đủ về thơ trào phúng

Trên cơ sở định nghĩa của G.N.Pospelov và thực tế tình hình văn học dântộc, các nhà nghiên cứu văn học và lý luận văn học Việt Nam cũng đã phátbiểu quan niệm về thơ trào phúng của riêng mình Xích Điểu trong bài tựa chocuốn Thơ văn trào phúng Việt Nam từ thế kỉ XIII đến 1945 của Vũ Ngọc

Khánh, Nguyễn Tuân trong bài Thời và thơ Tú Xơng, Nguyễn Quốc Tuý trong

cuốn Thơ mới, bình minh thơ Việt Nam hiện đại đều xem cái gốc của thơ trào

Trang 7

phúng la trữ tình Song có một định nghĩa tơng đối trọn vẹn có thể bao quát đợcmột cách ngắn gọn đặc trng của thơ trào phúng là định nghĩa của các tác giảPhơng Lựu, Nguyễn Xuân Nam trong cuốn Lí luận văn học Việt Nam Họ viết

“Thơ trào phúng là một dạng trữ tình đặc biệt, trong đó tác giả thể hiện tìnhcảm phủ nhận những điều xấu xa Sức mạnh của thơ trào phúng phải là lòngcăm giận sâu xa những thói h tật xấu, những con ngời phản diện trong xã hội,xuất phát từ một lý tởng thẩm mỹ đúng đắn, tiến bộ Nếu chỉ xoay quanh ởcách nói hóm hỉnh, cách chơi chữ vui đùa thì thơ trào phúng ít có ý nghĩa vàkhông còn sức hấp dẫn” [34, 363] ở đây ngoài việc chỉ ra đặc trng của thơ tràophúng, định nghĩa còn đặc biệt nhấn mạnh đến sức mạnh của thơ trào phúng.Sức mạnh đó nằm ở hình tợng nghệ thuật có khả năng phản ánh đợc đời sốngmột cách sâu sắc, ở tình cảm mãnh liệt của tác giả khi viết về những đối tợngxấu xa, tiêu cực trong cuộc sống

Qua những định nghĩa trên đây, có thể thấy điểm chung trong quan niệmcủa các nhà lí luận văn học và nghiên cứu văn học là họ đều xem thơ tràophúng là một dạng đặc biệt của thơ trữ tình, thờng thiên về bộc lộ những tìnhcảm hài hớc, châm biếm, phê phán, tố cáo của chủ thể trớc các đối tợng đángcời Nói nh Phecnăng Grech “thơ trào phúng ấy là thơ trữ tình áp dụng vào một

đối tợng đáng ghét, lố bịch” (dẫn theo Nguyễn Đình Chú: Tú Xơng nhà thơ lớncủa dân tộc) [58, 225]

Trong thực tế luôn tồn tại nhiều khái niệm: Thơ trào phúng, thơ tràolộng, thơ châm biếm, thơ hài hớc Những khái niệm này đôi khi đợc dùng thaythế cho nhau, trong khi chúng không hoàn toàn đồng nghĩa Cho nên khi xác

định khái niệm thơ trào phúng, ta buộc phải phân biệt nó với các khái niệm gầngũi này Bùi Quang Huy trong cuốn Thơ ca trào phúng Việt Nam cho rằng:

“Chúng tôi quan niệm trào phúng là khái niệm bao trùm cả lĩnh vực văn họccủa tiếng cời Hài hớc, châm biếm, đả kích chỉ là những bộ phận trong lĩnh vực

ấy nếu xét về đối tợng phản ánh và mức độ phản ánh” [24, 6] Sự phân biệt ấycũng đã đợc các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi nói rõ khitrình bày khái niệm “trào phúng” Họ cho: U mua, châm biếm, hài hớc chỉ lànhững cung bậc khác nhau của trào phúng, và do đó “không nên đồng nhấtchâm biếm với trào phúng” [16, 306] Trong Dẫn luận nghiên cứu văn học

G.N.Pospelov cũng xem loại thơ trào phúng và thơ châm biếm là hai loại thuộctác phẩm trữ tình, nhng cách trình bày của ông thì cho thấy châm biếm chỉ là

Trang 8

một dạng đặc biệt của trào phúng, ở đó “diễn tả sự phẫn nộ, căm giận của nhàthơ đối với các mặt tiêu cực trong đời sống xã hội” [49, 293].

Tóm lại, với cách hiểu theo hớng thứ hai này, khái niệm thơ trào phúng

tỏ ra có sức thuyết phục Nó có thể trở thành công cụ hữu dụng cho việc tìmhiểu thơ trào phúng của bất kì một tác giả nào

1.1.2 Chức năng, nội dung và thi pháp thơ trào phúng

1.1.2.1 Chức năng và nội dung thơ trào phúng

Thơ trào phúng có nhiều chức năng nổi bật, gắn với mỗi chức năng làmột nội dung phản ánh Sau đây chúng tôi sẽ đi vào trình bày một số chức nănggắn liền với một số nội dung cơ bản của nó

Do thơ trào phúng là một dạng đặc biệt thuộc lĩnh vực văn học của tiếngcời mà một số ngời xem chức năng ban đầu của thơ trào phúng là chức năngkhôi hài, giải trí Quả thật trong những sáng tác loại này ta bắt gặp không ítnhững bài thơ đợc viết ra với mục đích tạo tiếng cời vui tơi, trong sáng ở đóngời đọc trong chốc lát nh đợc giải thoát và trút bỏ bao gánh nặng u phiền.Chẳng hạn tiếng cời trong ca dao:

Ngồi buồn đặt chuyện láo thiên Hồi nhỏ tôi có đi khiêng ông trời

Ra đồng thấy muỗi bắt dơi

Bọ hung làm giỗ đi mời ông voi Nhà tôi có một củ khoai Xát năm thúng vẫn hẳn hòi còn d.

Hay trong thơ Bút Tre:

Anh đi công tác Plây

Cu dài dằng dặc biết ngày nào vê Điểm chung của những bài thơ dạng này là dù viết theo lối nào (nói ngợc,

nói khoác, ép vần, ép thanh, tách từ ngữ nhờ quy tắc tạo nhịp) thì tác giả cũngkhông đề cập đến ở đây một ý nghĩa chính trị xã hội nào cho thật cụ thể Nóchủ yếu hớng tới một tiếng cời mua vui, giải trí có tác dụng thanh lọc tâm hồncon ngời Khi đến với những câu thơ này, ngời đọc có thể tìm thấy những phút

th giãn thoải mái, có thể cảm nhận đợc sức lan toả của những cảm xúc vui vẻ,khoẻ khoắn đang xâm nhập tâm hồn

Nhng để có sức mạnh phê phán, tiếng cời trong thơ trào phúng phải vơntới những ý nghĩa xã hội sâu sắc Nó phải là một thứ vũ khí, nói nh

Trang 9

G.N.Pospelov “thơ trào phúng hài hớc và châm biếm là thứ vũ khí sắc béntrong cuộc đấu tranh bằng văn học” [49, 296]

ý nghĩa xã hội của tiếng cời trong thơ trào phúng đợc biểu hiện trớc hết

ở chức năng giáo dục của nó Thơ trào phúng thờng hay viết về những thói h,tật xấu Cái xấu là nguồn gốc của cái hài, nhất là khi cái xấu mà không biếtmình là xấu, xấu nhng lại có tham vọng biểu hiện mình là cái có ý nghĩa tốt

đẹp Thơ trào phúng là một phơng tiện tốt nhất có thể tác động vào nó, cải tạo

nó theo cách riêng của mình Cách riêng đó thể hiện ở chỗ: Thơ trào phúng tómbắt lấy một mâu thuẫn nào đó của các hiện tợng đáng cời trong đời sống rồi tô

đậm nó lên để ngời đọc thấy rõ hơn, từ đó mà khinh ghét nó, xa lánh và phủnhận nó Rõ ràng bằng cách này thơ trào phúng đã tác động vào t tởng thẩm mĩcủa ngời đọc, đa ngời đọc hớng tới những điều chân - thiện - mĩ

Nh vậy, thấy tiếng cời phê bình, giáo dục trong thơ trào phúng mangmột ý nghĩa xã hội rõ rệt Nó không còn là tiếng cời vô t , hồn nhiên nữa mà đã

có một mục đích rõ ràng

Nhng nếu thơ trào phúng chỉ dừng lại ở đây thì nó cha thể trở thành mộtloại vũ khí - vũ khí bằng tiếng cời Để làm đợc điều này thơ trào phúng phải h-ớng đến tiếng cời tố cáo, phản kháng, qua đó góp một tiếng nói quan trọng choviệc thực hiện lý tởng tiến bộ của thời đại Nó phủ nhận không thơng tiếcnhững gì là lố bịch, cản trở sự phát triển của xã hội, đi ngợc lại lợi ích của nhândân, của con ngời

Thơ trào phúng thực hiện chức năng là vũ khí đấu tranh theo cách riêngcủa mình ở đây tiếng cời áp đảo kẻ thù bằng cách gây d luận rộng rãi màkhông uy quyền nào có thể dập tắt đợc Khi nói về sức mạnh đó trong thơ tràophúng dân gian, tác giả Trơng Chính, Phong Châu trong cuốn Tiếng cời dân gian Việt Nam đã dẫn một ý kiến rất xác đáng của Hê ghen: “Tiếng cời làm

trúc nhào thần tợng, thổi bay hết các vòng hoa, đồ trang sức phủ lên thần tợng,làm cho thần tợng trở thành cục đất thó” [6, 4] Còn Ăng ghen thì nói: “Trớchết cần phải viết về kẻ thù với một thái độ khinh miệt, chế giễu làm sao ngời

đọc có dịp biết mà chế nhạo Bitx Mác và đồng loã của hắn thêm một lần nữa,thế đã là một thành tích lớn rồi Giờ đây cần phải nâng cao tâm t của mọi ngời,

đồng thời phải nhắc nhở họ rằng Bitx Mác và đồng loã của hắn đều là nhữngcon lừa, đều vẫn là đồ chó má, đều vẫn là một bọn đáng khinh bỉ, bất lực vàthảm hại trớc phong trào lịch sử Vì vậy bất cứ một lời lẽ châm biếm nào đậpvào đồ chó má đó cũng đợc coi là quý giá” (dẫn theo Trơng Chính) [6, 6]

Trang 10

Nh vậy thơ trào phúng không chỉ nhằm phê phán, đả kích cái xấu, cái

đáng cời mà còn có tác dụng xây dựng nhằm hớng đến một lí tởng thẩm mỹ tốt

đẹp Vì vậy sức mạnh của thơ trào phúng là sức mạnh tinh thần cao quý

1.1.2.2 Thi pháp thơ trào phúng

Để có đợc một cái nhìn toàn diện, sâu sắc về thi pháp thơ trào phúng đòihỏi phải có một chuyên luận riêng nghiên cứu về vấn đề này ở đây chúng tôichỉ điểm qua một vài nét về đặc trng thi pháp thơ trào phúng, nhằm tạo cơ sởcho việc đi sâu vào trọng tâm của đề tài

Các nhà lý luận văn học và mỹ học từng khẳng định rằng đối tợng củathơ trào phúng là cái hài nằm trong các hiện tợng của đời sống Nhng bản chấtcủa cái hài theo Secnsepxki “là sự trống rỗng và vô nghĩa ở bên trong đợc che

đậy bằng một vẻ bên ngoài huênh hoang, tự cho nó là có nội dung và có ýnghĩa thực sự Do đó cái xấu, hiểu theo nghĩa rộng của từ này là nguồn gốc, làbản chất của hài kịch Nhng phải là cái xấu không biết mình là xấu, nghĩa là nó

tự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức” (dẫn theo Trơng Chính) [6, 11] Đểthể hiện cái hài đó thơ trào phúng phải có thi pháp của nó với những hình thức

đặc biệt Trớc hết, thơ trào phúng phải phát hiện đợc cái hài, tức đối tợng đángcời với mâu thuẫn của chính nó ( có thể là mâu thuẫn giữa hình thức với nộidung, giữa bên trong và bên ngoài, giữa cái thật và cái giả, giữa bản chất vàhiện tợng ) Trên cơ sở của việc chỉ ra mâu thuẫn ở đối tợng đáng cời, tác giảthơ trào phúng có thể vận dụng các yếu tố của tiếng cời nh hài hớc, mỉa mai,châm biếm, phóng đại, khoa trơng tô đậm mâu thuẫn trào phúng ở đối tợngnhằm tạo ra tiếng cời ở độc giả Có khi chỉ cần chỉ ra mâu thuẫn ở đối tợng,không cần bình phẩm gì nhng bằng các quan hệ đối lập của thơ ca, vẫn có thểtạo ra tiếng cời Cách làm này thờng đợc vận dụng trong thơ ca trào phúngtrung đại

Về thi pháp thể loại, nếu quan sát toàn bộ thơ trào phúng Việt Nam ta sẽnhận ra ở đây những nét đặc trng về cách sử dụng các thể loại thơ Hầu nh nhàthơ trào phúng nào cũng rất hay sử dụng thể thơ cách luật thất ngôn bát cú vàthất ngôn tứ tuyệt Ưu điểm của những thể thơ này là ngắn gọn, súc tích, bốcục, niêm, luật rất chặt chẽ, rõ ràng Nhờ vào những u điểm đó, đặc biệt là nhờvào sự khai thác các hình thức bình đối, tiểu đối của thơ cách luật mà các nhàthơ đã thể hiện mâu thuẫn hài một cách độc đáo Nó có sức dồn nén đối tợng vàtạo ra tiếng cời vang bất ngờ

Trang 11

Tuy nhiên, điều đặc biệt khiến ta ngạc nhiên là qua bàn tay sáng tạo củangời nghệ sĩ trào phúng, các thể thơ cách luật đã có đợc những cách tân mới

mẻ ở nhiều sáng tác, các nhà thơ đã đa vào đó những câu hỏi tu từ, những h

từ, thán từ, những chi tiết của đời sống vốn rất kiêng kị ở thể loại cách luật Đó

là cha kể đến sự phá cách của nhà thơ trong hình thức niêm, đối Chẳng hạn sựphá cách độc đáo của Hồ Xuân Hơng ở bài Đèo Ba Dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Cửa son đỏ hoét tùm hum nóc

Thánh cắt ông vào chủ việc thi

Đêm ngày coi sóc chốn trờng thi Chẳng hay gian dối vì đâu vậy?

Đ.mẹ thằng ông biết chữ gì.

(Chế ông huyện)

Đọc những bài thơ này ta thấy cái nghiêm trang của thể thơ cách luật đãkhông còn nữa, mà thế vào đó là những cách nói rất đời thờng Các thể thơ Đ-ờng luật vẫn đợc các nhà thơ trào phúng sau này sử dụng với nhiều sáng tạo

độc đáo, thú vị

Ngoài các thể thơ cách luật ra, thơ trào phúng còn hay sử dụng các thểthơ lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, thể thơ tự do Các thể loại này rất phổbiến trong thơ trào phúng thời hiện đại Tính chất tự do, phóng túng về tổ chức

âm luật của chúng đã tạo nên một thế mạnh đặc biệt giúp các nhà nghệ sĩ tràophúng có thể bộc lộ một cách tự nhiên những đánh giá của mình Họ có thể vậndụng các thể loại này vào hình thức kể chuyện, bình luận, liệt kê, hoặc thuật,tả Thể phú, văn tế cũng đợc dùng vào mục đích châm biếm, mỉa mai

Nh vậy, các thể loại văn học qua sự vận dụng sáng tạo của các nhà thơtrào phúng đã có đợc những nét mới trong thi pháp

Bên cạnh những đặc trng về thể loại, ta có thể kể đến những đặc trng vềthi pháp ngôn ngữ ở phơng diện này, G.N.Pospelov trong Dẫn luận nghiên

Trang 12

cứu văn học đã có một khái quát rất rõ ràng: “Tính chất hóm hỉnh trong thơ

trào phúng là kết quả của sự dụng công kỹ lỡng về từ ngữ (nó sử dụng rộng rãicác hình thức mỉa mai, chơi chữ, nói vòng quanh, liên tởng, so sánh )” [49,296] Trong thơ trào phúng Việt Nam ngoài những hình thức ngôn ngữ đó, thơtrào phúng còn hay sử dụng các hình thức tơng phản đối lập, giễu nhại, ngônngữ thông tục Tìm hiểu thơ trào phúng của Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến,

Tú Xơng, Tú Mỡ ta sẽ thấy rõ điều đó

Trên đây là một cái nhìn bao quát về đặc điểm thi pháp thơ trào phúng.Một sự lớt qua nh thế cha thể nói lên tất cả nhng cũng giúp ngời nghiên cứu cómột điểm tựa nhất định để đi vào tìm hiểu thơ trào phúng của Tú Mỡ trong

Giòng nớc ngợc

1.2 Thơ trào phúng Việt Nam - dòng thơ độc đáo trong lịch sử văn học dân tộc

1.2.1 Tiến trình thơ trào phúng Việt Nam- một cái nhìn tổng quan

1.2.1.1 Thơ trào phúng từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII

Thơ trào phúng Việt Nam đã có cả một quá trình sinh thành và phát triểnlâu dài với hai bộ phận chính: Thơ trào phúng dân gian và thơ trào phúng trongvăn học viết Song ở đây chúng tôi chỉ tìm hiểu tiến trình thơ trào phúng ViệtNam ở bộ phận văn học viết, bởi vì đây là một lĩnh vực có thể khảo sát đợc dựatrên những t liệu cụ thể, xác thực Mặt khác, kết quả của sự khảo sát tỏ ra cótác dụng thiết thực đối với việc đi sâu tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ tràophúng Tú Mỡ Giai đoạn từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII là chặng đầutiên của thơ trào phúng Việt Nam

Cho đến nay, vẫn cha xác định đợc một cách chính xác ai là ngời đầutiên làm thơ trào phúng, và bài thơ nào đợc xem là bài thơ trào phúng đầu tiên.Tuy nhiên theo t liệu mà Vũ Ngọc Khánh đa ra trong Thơ văn trào phúng Việt Nam có thể khẳng định Nguyễn Sĩ Cố (thế kỷ XIII - XIV) là một trong những

ngời làm thơ trào phúng sớm nhất ở Việt Nam Hai bài thơ của ông còn đợc lutruyền mang tính chất trào phúng Đó là bài Yết đền Tản Viên và Yết đền Uy Hiển Vơng Sang thế kỷ XV, có thể nói đến một số bài thơ trào phúng của

Nguyễn Biểu (Cỗ đầu ngời), của Lê Thánh Tông (Thằng mõ, Ăn mày, Con chó

đá) Đến thế kỷ XVI, XVII nổi bật lên là những bài thơ nôm trào phúng của

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Minh Triết Đặc biệt thơ trào

Trang 13

phúng của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện một tiếng cời châm biếm, mỉa mairất mãnh liệt Nhà thơ chủ yếu chĩa mũi nhọn vào cái thói đen bạc của cuộc

đời Đầu thế kỷ XVIII có các tác giả: Nguyễn C Trinh, Phạm Nguyễn Du Một

số bài thơ trào phúng của các nhà thơ này chủ yếu đợc viết bằng chữ Hán

Nhìn chung thơ trào phúng Việt Nam giai đoạn này cha phát triển thànhmột dòng thơ độc đáo Nó chỉ xuất hiện một số bài ở một số tác giả tiêu biểu

mà thôi Đây cũng là điều dễ hiểu: Thứ nhất xã hội phong kiến Việt Nam ởnhững thế kỷ này cha phải đã rệu rã Giai cấp thống trị cha bộc lộ những mặthạn chế, phản động nh sau này Thêm nữa những ngời cầm bút lúc bấy giờ phầnlớn là tầng lớp quan lại có địa vị hoặc những nhà nho đợc đào tạo từ cửa Khổngsân Trình Họ luôn đặt lên hàng đầu lý tởng trung quân ái quốc, luôn khao khátthực hiện những khát vọng lớn lao, những hoài bão cao cả Cho nên làm thơ đốivới họ là cốt để “ngôn chí”, còn nếu làm thơ để cời cợt là thiếu nghiêm túc,thiếu đứng đắn, là miệt thị trời đất, đắc tội với thánh hiền Do quan niệm nh thế

mà việc sáng tác thơ trào phúng giai đoạn này cha phải là phổ biến Thảng hoặcmới có một số nhà nho có bản lĩnh giám thốt lên tiếng thở dài hoặc cợt đùa trớcnhân tình thế thái

Tuy nhiên nói nh thế không có nghĩa là thơ trào phúng giai đoạn nàykhông có gì đặc biệt Về nội dung và hình thức thể hiện nó vẫn có những nét

độc đáo riêng đủ phân biệt với thơ trào phúng Việt Nam ở các giai đoạn saunày Cụ thể là:

Về nội dung nếu thơ trào phúng nói về cái tôi của nhà thơ thì đó cũng làmột cái tôi gắn liền với việc “ngôn chí” ở đây sự cời cợt chỉ là hình thức đểnhà thơ nói lên cái chí của mình Chẳng hạn Nguyễn Văn Giai “ngôn chí”trong một bài thơ tự trào:

Tớ con ông trạng, cháu ông nghè Nói khoác trên trời dới đất nghe Sức khoẻ Hạng Vơng, cho một đấm

Cờ cao Đế Thích chấp đôi xe Vợt ngay ra biển co tàu lại Tốc thẳng lên non bắt cọp về Mai mốt đem quân vào phủ Chúa

Ra tay diệt Mạc để phù Lê (Nói khoác)

Khi viết về những đối tợng khách thể, thơ trào phúng Việt Nam giai đoạnnày thờng chú ý đến những cảnh sống lạc quan, vui vẻ, cuộc sống thanh bình d-

Trang 14

ới một triều đại Nếu đề cập đến những mặt trái của cuộc đời thì các nhà thơchỉ thờng hớng về những đối tợng chung chung, thiếu cụ thể Ví dụ thơ củaNguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Minh Triết.

Thế gian biến cải, vũng nên đồi Mặn nhạt, chua cay, lẫn ngọt bùi

Rõ ràng tuy số lợng bài thơ còn ít, số tác giả tiêu biểu không nhiều nhngthơ trào phúng Việt Nam giai đoạn này cũng có đợc những đặc sắc riêng

1.2.1.2 Thơ trào phúng từ nửa sau thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX

Đến thời kỳ này thơ trào phúng Việt Nam có một sự phát triển bùng nổ,vợt trội, với sự xuất hiện của hàng loạt tác giả tiêu biểu: Hồ Xuân Hơng,Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xơng Có thể nói cha bao giờ trongvăn học có nhiều ngời làm thơ trào phúng đến thế, và cha bao giờ có những nhàthơ chuyên viết về trào phúng kiệt xuất nh thế Nó làm thành một dòng thơ tràophúng với những đặc trng riêng Khi nói về nguyên nhân của sự phát triển này,nhiều ngời đã nói về các điều kiện lịch sử xã hội cụ thể Đó là một giai đoạnlịch sử mà xã hội phong kiến đang bớc vào thời kỳ mạt vận Nó đã bộc lộ baonhiêu sự xấu xa, thối nát đáng nguyền rủa Đặc biệt vào những năm thuộc nửasau thế kỷ XIX, trớc sự kiện triều đình Huế đầu hàng Pháp và làm tay sai chochúng, tình cảnh xã hội Việt Nam lại càng trở nên điêu tàn Đứng trớc thựctrạng đó những ngời có tâm huyết, có nhân cách không thể không lên tiếngphản kháng Một số nhà nho có chí khí mạnh mẽ đứng ra trực tiếp chống lạichế độ phong kiến và bọn thực dân xâm lợc Còn phần lớn các nhà nho có khítiết thì làm thơ để châm biếm, đả kích, phê phán, tố cáo những cái xấu xa màbọn thực dân và phong kiến đã gieo rắc xuống cuộc đời Quả thật hiện thực xãhội lúc này chính là một mảnh đất dồi dào để cho thơ trào phúng sinh thành vàphát triển mạnh mẽ Nó tạo nên cơ sở khách quan để tiếng cời trào phúng đợccất lên một cách dễ dàng

Trang 15

Nguyên nhân thứ hai góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của thơ tràophúng ở giai đoạn này là những biến đổi trong t tởng, thế giới quan của ngờicầm bút Đứng trớc thực trạng xã hội đó, lý tởng của nhà nho dờng nh đã sụp

đổ Họ không còn tin vào vua, không còn say mê theo đuổi những ớc mơ hoàibão lớn Cho nên rút cục họ rơi vào tâm trạng “bi thời mẫn thế”, muốn đợc bứtphá, giải thoát khỏi mọi điều chớng tai gai mắt Họ phần lớn đều mợn tiếng nóimỉa mai, châm biếm, tố cáo của thơ trào phúng để bày tỏ thái độ, lập trờng củamình

Trở lên, luận văn đã chỉ ra các nguyên nhân cơ bản tạo nên sự bùng nổcủa thơ trào phúng Việt Nam nửa sau thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX Vậy đâu

là những đặc điểm tiêu biểu đã làm nên dấu ấn của thơ trào phúng ở giai đoạnnày?

Điều dễ nhận ra trớc hết là ở giai đoạn này có sự xuất hiện của dòng thơ

tự trào Trớc đây có một số bài thơ mang tính chất tự trào của Nguyễn VănGiai, Nguyễn Minh Triết Đó là những bài thơ tự trào theo kiểu ngôn chí Đến

đây, nó đã có một nội dung khác Các nhà thơ tự trào nhng không chỉ để khẳng

định, mà chủ yếu là để phê phán, phủ nhận mình Nó làm thành một mảng thơrất đậm trong sáng tác của Nguyễn Khuyến, Tú Xơng

Những mặt trái của cuộc đời, hiện thực xấu xa của xã hội thực dân nửaphong kiến là những đề tài nổi bật của thơ trào phúng giai đoạn này Điểm khácvới thơ trào phúng ở giai đoạn trớc là, khi viết về những đối tợng thuộc tầng lớpthống trị, các nhà thơ đã không ngần ngại hớng tới những đối tợng rất cụ thể.Nhiều khi họ đã gọi tên, chỉ mặt từng đối tợng một Nguyễn Khuyến giễu đốchọc Hà Nam (Tặng Đốc học Hà Nam), chửi ông đồ Cự Lộc (Chế ông đồ Cự Lộc); Tú Xơng vạch mặt ông cử Nhu (Chế ông huyện) Có thể nói, cha bao giờ

trong thơ trào phúng, các đối tợng quan lại, thầy đồ lại hiện lên gắn liền vớinhững lời lẽ phê phán trực tiếp nh thế Đối tợng là bọn thực dân Pháp cũng đã

đợc đa vào trong nhiều sáng tác của Nguyễn Khuyến, Tú Xơng

Đi liền với đề tài mới, cảm xúc mới là một hình thức biểu hiện mới ởgiai đoạn này thơ trào phúng về cơ bản vẫn sử dụng các thể thơ cách luật (thấtngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt) Song hình thức thể loại đó đã có sự cách tândiệu kì qua bàn tay tái tạo của ngời nghệ sĩ trào phúng Những niêm, luật, đốitrong thơ không còn đợc tuân thủ nh trớc đây Các nhà thơ đã đa vào đó nhiềuyếu tố ngôn ngữ thờng ngày: Các h từ, các câu hỏi, câu cảm thán, những lời

Trang 16

đánh giá trực tiếp Ví dụ trong bài thơ Mùng hai tết viếng cô kí của Tú Xơng

đầy những câu hỏi, lời cảm thán:

Cô kí sao mà đã chết ngay ?

Ô hay ! trời chẳng nể ông Tây ! Gái tơ đi lấy làm hai họ

Năm mới vừa sang đợc một ngày.

Ngoài các thể thơ cách luật thơ trào phúng giai đoạn này còn sử dụngmột số thể loại khác nh song thất lục bát, lục bát, văn tế, phú Trong giai đoạntrớc thơ trào phúng không thấy sử dụng các hình thc thể loại này Điều đóchứng tỏ các nhà thơ trào phúng từ cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX đã tìm

đợc những hình thức biểu hiện sinh động, có khả năng biểu hiện những cảmxúc khác nhau trớc đối tợng gây cời

1.2.1.3 Thơ trào phúng từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945

Có thể nói ở thời kỳ này văn học trào phúng đặc biệt phát triển mạnh ở

bộ phận văn xuôi, nổi bật lên với các tác giả tiêu biểu: Nguyễn ái Quốc - HồChí Minh, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan Tuy nhiên điều này không cónghĩa là thơ trào phúng giai đoạn này không có gì đặc biệt Nó vẫn phát triểnmạnh mẽ trên nhiều phơng diện Về lực lợng sáng tác, ngoài những lớp nhà nhocuối mùa nh Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà, Phan Điện còn có thêm một số lực l-ợng sáng tác mới: Những nhà chí sĩ yêu nớc theo đuổi các phong trào Duy tân

nh Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh; một số ngời là tríthức tiểu t sản nghèo nh Tú Mỡ, Đồ Phồn, Xích Điểu, Thợ Rèn

Về nội dung, những đề tài của thơ trào phúng ở giai đoạn trớc vẫn đợc kếthừa và phát huy cao độ Thơ của Kép Trà, Phan Điện thể hiện sự châm biếm,

đả kích mãnh liệt đối với bọn quan lại cờng quyền, nhũng nhiễu nhân dân;dòng thơ tự trào theo kiểu thị dân qua Tản Đà, Tú Mỡ đã có thêm nhiều đặc sắcmới Ngoài ra còn phải kể đến sự xuất hiện của một số đề tài mới mà thơ tràophúng trớc đó không có Đó là bọn nghị viên bù nhìn dốt nát, bọn trí thức Tâyhọc mất gốc ở giai đoạn lịch sử này, những đối tợng vừa kể là sản phẩm lốbịch do bọn thực dân Pháp nặn ra để dối lừa d luận Song bằng con mắt thôngminh, sắc sảo, các nhà thơ trào phúng đã vạch mặt bọn chúng một cách triệt đểtrong thơ của mình Về cảm hứng, so với giai đoạn trớc thì giai đoạn này thơtrào phúng chủ yếu thiên về cảm hứng phê phán, phủ định mang ý nghĩa chínhtrị

Trang 17

Nói về hình thức thể loại, ngoài những thể loại truyền thống ra các nhàthơ trào phúng giai đoạn này còn sử dụng thêm một số thể loại của “Thơ mới”,một số hình thức đợc tiếp thu từ thơ trào phúng phơng Tây nh lối thơ giễu nhại,lối ngợc sách ngụ ngôn

Nhìn chung thơ trào phúng Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945cũng có những bớc phát triển đáng ghi nhận Nhà thơ trào phúng tiêu biểunhất, xuất sắc nhất của giai đoạn này chính là nhà thơ Tú Mỡ

1.2.1.4 Thơ trào phúng từ 1945 đến nay

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thơ trào phúng Việt Nam vẫnphát triển song đã có một diện mạo khác hơn Các tác giả ở giai đoạn trớc vẫntiếp tục cầm bút nh Tú Mỡ, Đồ Phồn, Xích Điểu ở giai đoạn này đề tài tràophúng chủ yếu là bọn thực dân, đế quốc, bọn tay sai việt gian, bù nhìn vànhững mặt phản diện khác của đời sống xã hội

Về hình thức, thơ trào phúng sau Cách mạng sử dụng phong phú các thểthơ ca hiện đại Ngôn ngữ mang tính chất chiến đấu quyết liệt hơn, sắc sảo hơn,mạnh mẽ hơn khi tấn công kẻ thù

Vào những thập niên 80, 90 của thế kỷ XX thơ trào phúng hớng vàonhững thói h tật xấu của con ngời trong thời đại mới

Nhìn chung ở giai đoạn từ 1945 đến nay thơ trào phúng rất dồi dào,phong phú nhng không có đợc những phong cách vợt trội Tuy nhiên có mộthiện tợng đáng chú ý là hiện tợng thơ trào phúng của Bút Tre và xu hớng thơBút Tre Đây thực sự là một hiện tợng lạ mà để hiểu nó một cách thấu đáo phải

có sự nghiên cứu kỹ càng

Tóm lại, trên đây là sự trình bày một cách khái quát tiến trình thơ tràophúng Việt Nam từ thế kỉ X đến nay Luận văn đã cố gắng trình bày những đ-ờng nét chính trong hành trình của một dòng thơ- dòng độc đáo trong lịch sửvăn học dân tộc

1.2.2 Vai trò của thơ trào phúng trong lịch sử văn học dân tộc

Thơ trào phúng có một vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử văn họcViệt Nam Sau đây xin đợc trình bày một số vai trò cơ bản của nó

Trớc hết sự xuất hiện của thơ trào phúng bên cạnh các hình thức thể loạikhác đã làm cho văn học dân tộc trở nên sinh động, đa dạng, có khả năng phản

ánh đời sống một cách sắc sảo, thâm thuý qua nhiều góc nhìn Thử so sánh thơtrào phúng với thơ trữ tình thông thờng, thơ trào phúng với các thể loại vănxuôi trào phúng ta sẽ thấy rõ điều đó

Trang 18

Nếu thơ trữ tình thông thờng hớng đến bộc lộ những cảm xúc của tâmhồn chủ thể thì thơ trào phúng không chỉ dừng lại ở đó Bên cạnh sự phô bàyxúc cảm, nó còn vơn tới ghi nhận và bao quát bức tranh hiện thực của cuộc đời.Lúc này, những chi tiết của hiện thực khách quan đã trở thành một nội dungcủa sự phản ánh, tồn tại bình đẳng bên cạnh nội dung trữ tình Thử so sánh haibài thơ sau của Hồ Xuân Hơng:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nớc non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

(Bánh trôi nớc) Mời hai bà mụ ghét chi nhau

Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu Rúc rích thây cha con chuột nhắt

Vo ve mặc mẹ cái ong bầu

Đố ai biết đó vông hay trốc Còn kẻ nào hay cuống với đầu.

Thôi thế thì thôi, thôi cũng đợc Nghìn năm càng khỏi tiếng nơng dâu.

(Quan thị)

Đây là hai bài thơ vịnh vật: Một bài vịnh bánh trôi nớc, một bài vịnh tênquan thị Thế nhng đặc trng về cách phản ánh và biểu hiện của hai bài nàykhông hoàn toàn giống nhau ở bài thơ thứ nhất , tính chất trữ tình nổi lên khá

đậm nét Những hình ảnh khách quan về bánh trôi nớc đã đợc cái tôi nội cảmcủa nhà thơ hoá thân vào bằng các từ “thân em”, “em”, “tấm lòng son” Do đó,hình ảnh bánh trôi nớc đã trở thành một hình ảnh biểu trng, biểu tợng cho vẻ

đẹp, khát vọng sống, cho niềm tự hào kiêu hãnh của ngời phụ nữ trong xã hội

xa Còn ở bài thơ thứ hai, ngời đọc cùng một lúc vừa nhận ra thái độ, tình cảmchâm biếm, chế nhạo của nhà thơ vừa thấy đợc một loại đối tợng lố bịch, đángcời Và chính nhờ hình ảnh của tên quan thị đợc tái hiện một cách sinh động

mà tác giả đã tạo cho tiếng cời của mình sức vang dội cần thiết Nó đợc cộng ởng thêm nhờ sự khơi gợi tiếng cời từ độc giả

h-Nh vậy, ngoài chức năng bộc lộ tình cảm, thơ trào phúng còn có chứcnăng phản ánh hiện thực Điều đó làm cho thơ ca luôn có đợc sự rộng mở hấp

Trang 19

dẫn Nó có thể đón nhận và dung nạp vào bản thân những khả năng nghệ thuậtkì diệu từ các thể loại khác để bao quát đợc nhiều mảng khác nhau của cuộc đời

Ngoài ra cũng cần phải nói thêm: Sự xuất hiện của thơ trào phúng bêncạnh các thể loại văn xuôi trào phúng đã làm cho bộ phận văn học này trở nên

đa dạng Nếu văn xuôi tự sự thực hiện chức năng trào phúng thông qua việc táihiện những số phận, những tính cách cụ thể thì thơ trào phúng lại hớng về khắchoạ đối tợng trên những nét tiêu biểu nhất, tập trung nhất, ấn tợng nhất Do đóquá trình tác động của thơ trào phúng đối với độc giả nhiều khi đạt đến độnhanh chóng, bất ngờ

Nh vậy, có thể khẳng định, với những nguyên tắc nghệ thuật của riêngmình, thơ trào phúng đã làm giàu có cho văn học dân tộc về hình thức khámphá và biểu hiện đời sống Nó cấp cho văn học những góc nhìn khác nhau để

có thể bao quát đợc đời sống một cách đa chiều

Cùng với việc tạo ra sự phong phú về hình thức khám phá và biểu hiện,thơ trào phúng còn làm cho nội dung cảm hứng của văn học dân tộc thêmmuôn màu, muôn vẻ Ngời đọc không chỉ say mê với những tác phẩm thơ văndạt dào, chứa chan tình cảm yêu nớc của Nguyễn Trãi, thẫm đẫm tình cảmnhân đạo của Nguyễn Du mà còn hấp dẫn bởi những vần thơ trào phúng đầytiếng cời với các cung bậc đa dạng của nó trong thơ Nguyễn Khuyến, Tú X-

ơng Bên cạnh những vần thơ u sầu của Thơ mới (1932-1945), ta bắt gặpnhững tiếng nói lạc quan trong thơ của Tú Mỡ Bên cạnh tiếng nói ngợi ca sứcmạnh quật cờng của con ngời Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chốngPháp (1954-1954) và chống Mỹ (1954-1975 là những vần thơ đả kích, tố cáo

kẻ thù Tất cả làm cho nội dung cảm hứng của văn học dân tộc trở nên bất tận

Vai trò cơ bản thứ hai của thơ trào phúng là: Thơ trào phúng, nhất là thơtrào phúng những năm cuối thế kỉ XIX với sự xuất hiện của các tác giả NguyễnKhuyến, Tú Xơng đã tạo ra những bớc chuẩn bị quan trọng cho sự hình thànhcủa chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX(1930-1945) Vai trò này thực chất là một hệ quả đợc lẩy ra từ vai trò thứ nhất.Bởi vì , nh trên đã nói, thơ trào phúng không chỉ có chức năng trữ tình mà còn

có chức năng phản ánh hiện thực Mà đã phản ánh hiện thực thì nó phải luôntôn trọng những chi tiết của hiện thực khách quan, phải chú ý đến những điềukiện lịch sử xã hội cụ thể của đối tợng phản ánh Đây sẽ là những cơ sở ban đầu

Trang 20

cho sự hình thành những nguyên tắc phản ánh của chủ nghía hiện thực phêphán trong văn học Việt Nam.

Vai trò thứ ba của thơ trào phúng đối với lịch sử văn học dân tộc là nó

đã thực hiện một phần sứ mệnh lịch sử quan trọng đặt ra cho văn học dân tộc làbiến văn học thành một trong những vũ khí đấu tranh mạnh mẽ trớc các thế lựcthù địch với đời sống của con ngời Về phơng diện này, thơ trào phúng là bộphận văn học có tính chiến đấu mạnh mẽ hơn cả Nó đợc xem là một loại vũkhí đặc biệt Nó chiến đấu bằng cách gây d luận rộng rãi trong quần chúng màkhông một uy quyền nào có thể dập tắt đợc Thơ trào phúng biến kẻ thù thànhbia miệng, nói nh Hêghen: “Tiếng cời làm trúc nhào thần tợng, thổi bay hết cácvòng hoa, đồ trang sức trên thần tợng, làm cho thần tợng trở thành cục đất thó”(dẫn theo Trơng Chính) [6, 4]

Có lẽ nhận thấy đợc vai trò quan trọng đó mà trong lịch sử văn học dântộc thơ trào phúng bao giờ cũng đợc sử dụng nh một vũ khí lợi hại để đấu tranhchống lại mọi thế lực thù địch Còn những giai cấp thống trị phản động thì luôntìm mọi cách để trù dập những nhà thơ trào phúng có t tởng tiến bộ trớc thời

đại

Tóm lại, với những đặc điểm riêng trong cách phản ánh và thể hiện, thơtrào phúng đã thể hiện một vai trò đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc ở mỗithời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, nó đều làm cho văn học dân tộc trở nên sinh

động và có những khả năng đặc biệt trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sửcủa mình

1.3 Tú Mỡ trong dòng thơ trào phúng Việt Nam

1.3.1 Tú Mỡ trên con đờng đi đến hiện đại

Tuy đến với thơ ca vào lúc Thơ mới (1932- 1945) đã chiếm u thế tuyệt đốitrên thi đàn dân tộc, nhng thơ trào phúng của Tú Mỡ vẫn có sức hấp dẫn Nóhấp dẫn không chỉ vì nó đã khơi nối “một dòng thơ cũ chảy róc rách, nớc thậtngọt, vì nó là thứ nớc của nguồn xa mà ngời Việt Nam quen uống từ lâu” [19,9], mà còn vì nhà thơ đã không ngừng biến đổi thơ mình theo hớng hiện đạihoá Ta có thể hình dung về con đờng đến với hiện đại của Tú Mỡ là một con đ-ờng đầy thử thách

Trong bài Kinh nghiệm học tập và sáng tác thơ trào phúng in trong cuốn

Tú Mỡ toàn tập, tập 1, Tú Mỡ đã tự nói về con đờng đến với thơ trào phúng của

mình rằng: “ Trớc hết tôi mua quyển Việt Hán văn khảo để nghiên cứu các

thể thơ, ca, từ, phú, rồi mua những tập thơ của Hồ Xuân Hơng, Tú Xơng, Yên

Trang 21

Đổ, Tản Đà, Trần Tuấn Khải ở mỗi tác giả tôi rút ra đợc những đặc sắc màtôi thích thú để noi theo, do đó các nhà thơ tiền bối và các nhà thơ đàn anh đã

ảnh hởng tốt ít nhiều đến sáng tác của tôi sau này Ngoài những thi nhân kểtrên, tôi còn học ở ca dao, tục ngữ, truyện khôi hài, truyện tiếu lâm, một khotàng văn học vô cùng phong phú của dân tộc” [41, 618-520] Nh vậy, hànhtrang ban đầu của Tú Mỡ ngoài năng khiếu bẩm sinh ra là những kiến thức mà

ông đã học tập đợc từ thơ ca trào phúng dân tộc Tuy nhiên cần phải thấy rằngviệc học tập đó của nhà thơ không hề là một sự bắt chớc Nhà thơ đã vận dụngnhững yếu tố truyền thống một cách sáng tạo theo hớng hiện đại Xin đợc minhchứng cụ thể cho vấn đề này

Trớc hết, Tú Mỡ đã vận dụng một cách sáng tạo các thể thơ ca của vănhọc trào phúng dân tộc Trên cơ sở cái nhìn nghệ thuật, quan niệm nghệ thuậtcủa con ngời thời hiện đại, ông đã cải biến nó trên nhiều nét đại thể để biểuhiện một cách hiệu quả những cảm xúc mới trớc cuộc đời Ví dụ: Thể thơ thấtngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt là những thể loại phổ biến của thơ ca tràophúng truyền thống đã đợc Tú Mỡ kéo ra cho thật dài bằng cách thêm số dòngthơ vào để nó trở thành một thể loại mới Có thể thấy rõ hiện tợng này ở các bài

Tự thuật (thất ngôn thập bát cú), Thánh sợ cớp (thất ngôn thập nhị cú), Mỡ mà chẳng mỡ (thất ngôn thập nhị cú), Giỗ trận (thất ngôn thập nhị cú) ở một

số bài thơ khác, dựa vào kiểu t duy phân loại, phân khổ trong thơ hiện đại, Tú

Mỡ đã chia tách bài thơ của mình ra thành từng khúc đoạn khác nhau, mà mỗikhúc đoạn thực ra là do một bài thơ thất ngôn bát cú hợp thành Xin dẫn ra đâymột bài thuộc dạng này:

Trơ tráo kìa ai chẳng sợng sùng!

Mình trần trùng trục thú tinh không ? Nõn nà một tấm băng trong muốt Thỗn thện hai bầu tuyết trắng bong Ngọc thẹn làn môi e ấp miệng

Hồ ghen sóng mắt đắm say lòng Anh hoa phát tiết là nh thế

Ướm hỏi cô em đã mấy chồng?

Tởng băng trắng muốt, tuyết trong veo Tuyết lấm, băng nhơ, rõ chán phèo!

Trang 22

Tiết sạch coi nhàm, trăng gió nhỡn Hoa tàn vẫn rử bớm ông theo

Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn Ngọc vết thơng tình kẻ cố đeo Nhắn khách Băng Tâm ai đó tá

Mỹ danh hai chữ, nghĩ buồn teo

Ví dụ, mở đầu bài thơ Cái tính trừ sai, tác giả giới thiệu:

Có một bà thông

Xấu duyên lấy phải ông chồng trai lơ

Những câu thơ lục bát cứ tuôn tràn theo sự phơi bày đối tợng của tác giả

Đến khi kết thúc, nhà thơ đột ngột hạ xuống bằng một câu lục rất bất ngờ: Bà làm cái tính trừ sai Với kiểu tổ chức bài thơ theo lối này, Tú Mỡ đã biểu hiện

một kiểu kết cấu của thơ trữ tình hiện đại mở đầu rất đờng đột và kết thúc rấtchơi vơi Đó là hệ quả có đợc do chỗ nhà thơ muốn phá vỡ cấu trúc hài hoà củathơ lục bát truyền thống để nó có khả năng chuyển tải đợc những nội dungphức tạp hơn khi nói về các đối tợng trào phúng

Nh vậy, trên hành trình đến với thơ ca hiện đại, Tú Mỡ đã cấp cho cácthể thơ cũ một nguồn sinh lực mới, đủ sức làm nên những nét đặc sắc riêng

Bên cạnh việc cách tân thể thơ truyền thống, Tú Mỡ cũng đã có nhữngcải biến rất độc đáo khi sử dụng hình thức ngôn ngữ của thơ trào phúng xa

Ông nói ông đã từng học đợc ở Hồ Xuân Hơng “lối viết thanh mà tục, lối chơichữ lắt léo, tài tình học ở Tú Xơng lối châm biếm sâu cay, chua chát, nhữngngọn roi quật vào bọn rởm đời, lối tự trào mà hoá ra chửi đời học ở cụ TamNguyên Yên Đổ lối cời thanh cao của một nhà chí sĩ” [41, 616- 619] Đặc biệt

Tú Mỡ đã vận dụng một cách linh hoạt thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác củamình Cha bao giờ trong thơ trào phúng trớc đó ta thấy đợc khả năng vận dụng

Trang 23

thành ngữ, tục ngữ độc đáo đến nh thế này Hãy nghe trong lời khuyên chồngcủa bà Lý Toét xuất hiện đầy thành ngữ:

Suốt quanh năm anh chỉ xoay một mặt lý tài Bới bèo ra bọ, những toan bài mợn gió bẻ măng Anh lý ơi ! Bỗng dng anh làm cho dậy nổi đất bằng Xui Nguyên giục Bị, anh kéo chằng việc nọ việc kia

(Bà Lý Toét khuyên chồng)

Có thể thấy thành ngữ, tục ngữ đợc đặt rất đúng chỗ, đúng ngời làm cholời thơ có cái linh hoạt, bình dân dễ hiểu và rất gần gũi với mọi ngời Điều nàythể hiện một xu hớng mới trong thơ Tú Mỡ: Xu hớng dân chủ hoá ngôn ngữvào trong sáng tác thơ ca

Rõ là, những yếu tố của truyền thống qua sự sáng tạo của Tú Mỡ đãmang một màu sắc hiện đại rõ rệt Nó không hề là một thứ đã thành xa cũ mà

đã có thêm đợc những khả năng mới trong việc biểu hiện tâm hồn, xúc cảm củanhà thơ trớc đối tợng gây cời

Tuy nhiên cũng xin lu ý: Là một thanh niên trí thức tiểu t sản nghèo trớcCách mạng, Tú Mỡ mang trong mình cảm quan của con ngời hiện đại Sinh ra

và lớn lên trong buổi giao thời, Tú Mỡ có những điều kiện thuận lợi để học tậpnhững sáng tác trào phúng của văn học phơng Tây, chủ yếu là văn học Pháp

Ông tự nói về điều này: “Học văn học trào phúng của nớc nhà cha đủ, tôi cònphải học của nớc ngoài nữa Về sau tôi tìm đọc tác phẩm của Môlie, và học ở

đấy lối diễn tả cờng điệu hoá những cái xấu, cái rởm của ngời đời Tôi đã đọctác phẩm châm biếm của Vônte và học ở đó lối đả kích và chế nhạo cái thối nátcủa thời đại, dọn đờng cho Cách mạng Pháp” [41, 621]

Nếu quá trình tiếp thu những yếu tố truyền thống của Tú Mỡ đợc thựchiện theo nguyên tắc hiện đại hoá thì ở đây nhà thơ lại thực hiện sự sáng tạocủa mình theo nguyên tắc dân tộc hoá những yếu tố của văn học nớc ngoài.Thực tế này đã đem lại cho thơ Tú Mỡ những điều hấp dẫn

Đây là lối thơ giễu nhại Tú Mỡ học đợc từ thơ Pháp:

Ngậm một khối căm hờn trong buồng giấy

Ta ngáp dài trông ngày tháng dần qua Khinh bọn phán già lẩm cẩm, ngẩn ngơ

Giơng mục kính riễu cái oai tham biện

(Nhớ thời oanh liệt)

Trang 24

Còn hàng loạt các bài thơ Gà chọi , Chó với mèo, Dậu đổ bìm leo là

những bài thơ đợc sáng tác theo kiểu ngụ ngôn của La Phông Ten Nhng nhữngnhân vật, những câu chuyện, tình tiết trong truyện ngụ ngôn của Tú Mỡ lànhững tình tiết, câu chuyện gần gũi, dễ hiểu với ngời Việt Nam Nó mang đậmdấu ấn cách cảm, cách nghĩ rất dân tộc, một dân tộc gắn liền với nền nôngnghiệp lúa nớc lâu đời

Ngoài ra Tú Mỡ cũng tiếp thu nhiều đặc điểm của thơ ca Việt Nam thờihiện đại, cụ thể là Thơ mới (1932-1945) Đó là sự vận dụng các thể thơ tự do 8chữ, 7 chữ, sự tổ chức bài thơ theo những hình thức kết cấu đặc biệt: Kết cấutheo lối kể chuyện, theo hình thức nghị luận

Tất cả những điều trên đã làm sáng tỏ một vấn đề: Để đến với thơ hiện

đại, để khẳng định sức sống của thơ mình trong thơ ca hiện đại, Tú Mỡ đã cómột quá trình học tập vơn lên không mệt mỏi Ông tiếp thu nguồn văn học từnhiều phía: Từ truyền thống, từ hiện đại để làm cho thơ mình trở nên đặc sắc,

đa dạng có khả năng tạo nên một dấu ấn sâu đậm trong văn học nớc nhà

1.3.2 Tú Mỡ là nhà thơ trào phúng hiện đại xuất sắc

Để thấy đợc Tú Mỡ là nhà thơ trào phúng hiện đại xuất sắc phải có sựtìm hiểu, phân tích thơ ông trên nhiều phơng diện Công việc đó sẽ đợc chúngtôi làm rõ trong chơng 2 và chơng 3 ở đây chỉ xin đi vào một vài khía cạnh cótính chất nhận diện ban đầu về vị trí của nhà thơ trong thơ trào phúng Việt Namhiện đại

Nếu chỉ tính đến số tập thơ của Tú Mỡ đợc xuất bản và sự đánh giá của

độc giả dành cho những tập thơ đó cũng đủ thấy Tú Mỡ là một cây bút rất dồidào Trớc Cách mạng, Tú Mỡ có 3 tập thơ Giòng nớc ngợc nổi tiếng và một số

tập thơ khác; sau Cách mạng có Bút chiến đấu, Nụ cời kháng chiến, Nụ cời chính nghĩa Ông còn là tác giả của rất nhiều tập thơ viết về các anh hùng dân

tộc, tác giả của nhiều vở kịch Tú Mỡ cũng đã đợc Nhà nớc tặng giải thởng caoquý, giải thởng Hồ Chí Minh… Chứng tỏ Tú Mỡ đã xác định đợc một chỗ đứng

vẻ vang trong thơ trào phúng hiện đại Tuy nhiên để có sức thuyết phục chonhận định, công việc không chỉ dừng lại ở sự liệt kê ra một số tác phẩm lớn đ-

ợc ngợi ca của Tú Mỡ, quan trọng hơn là phải đi vào một số phơng diện cụ thểnhững sáng tác của ông trong sự đối sánh với một số nhà thơ trào phúng cùngthời (chủ yếu là thơ của Đồ Phồn)

Trang 25

Nếu bao quát toàn bộ thơ trào phúng của Tú Mỡ trong tơng quan với thơtrào phúng cùng thời, ta thấy đề tài trong thơ Tú Mỡ rất đa dạng, phong phú, cókhả năng bao quát cả một bức tranh đời sống xã hội Việt Nam dới thời Phápthuộc Tuy cùng viết về những đề tài chung nh đế quốc, quan lại, nghị viên, hủtục, tệ nạn, nhng Tú Mỡ xuất sắc hơn ở khả năng khai thác chúng Tú Mỡ cótrên 35 bài viết về bọn nghị viên , 9 bài về bọn thực dân Pháp, trong khi đó với

đề tài nghị viên Đồ Phồn chỉ có khoảng trên 5 bài, đề tài về thực dân cũng rất

ít Một số bài thơ tiêu biểu đợc nhắc đến của Đồ Phồn là: Cụ thừa, Khóc cụ Tô

- Lăng- Sơ, Cái mề đay, Phạm Lê Bổng bà… oán Còn Trần Minh Tớc (tức

Xích Điểu) chỉ nổi tiếng với bài Hội nghị tăng thuế… Tản Đà cũng là ngời rất

hay làm thơ trào phúng Nhng thơ ông chủ yếu hớng tiếng cời đến cái tôi cátính, đầy ngông ngạo của mình Cho nên chất hiện thực khách quan của đờisống không đợc đậm nh thơ của Tú Mỡ

Tú Mỡ không chỉ viết về những đề tài quen thuộc mà còn mở rộng biên

độ sang các đề tài mang tính thời sự quốc tế: Chuyện chiến tranh giữa các nớcphơng Tây (Việc vạn quốc bên Tây), chuyện Tàu - Nhật chiến tranh, (Tàu Nhật chiến tranh), chuyện Hítle dùng chính sách phát xít, chuyện hội quốc liên

Những đề tài này không thấy xuất hiện trong thơ trào phúng của các nhà thơ khác

Xin đợc lu ý thêm: Với khả năng khai thác đề tài phong phú, cha hẳn Tú

Mỡ đã thể hiện đợc sự vợt trội của mình so với những nhà thơ trào phúng cùngthời Dẫu vậy đây vẫn là một con số biết nói, không hoàn toàn vô nghĩa Nó nóivới chúng ta về một cây bút trào phúng có khả năng quan sát tinh tế, linh hoạt

đời sống; khả năng phát hiện vấn đề từ nhiều cái rất đỗi thân quen Cho nêntrong số hơn 35 bài viết về bọn nghị viên ta thấy không bài nào giống bài nào.Mỗi bài khai thác ở đối tợng một khía cạnh đặc biệt; khi thì ông nhìn bọnchúng nh những kẻ sính h danh (Thẻ nghị viên, Cái mề đay, Ngôi thứ các ông nghị), khi thì nhìn chúng nh những kẻ hám tiền, hám lợi (Cái chuông ông trùm, Dân biểu tranh năng) Đôi khi chúng hiện lên nh một lũ bất tài vô dụng, chỉ

thích chè chén no say, chơi bời trác táng (Ông nghị đi hội đồng về, Các ông nghị đi thăm đồn điền di dân) Rõ ràng qua một đề tài mà nhà thơ đã tô đậm

cái xấu, làm cho chúng trở nên xấu xa, lố bịch bằng nhiều bài thơ, nhiều gócnhìn Điều đó khiến những sáng tác của Tú Mỡ có sức ám ảnh hơn nhiều

Cùng với sự bao quát các phạm vi đề tài trong đời sống, trình độ hiện đạihoá trong thơ trào phúng cũng đợc Tú Mỡ thể hiện một cách xuất sắc Nói

Trang 26

đúng hơn, sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong thơ Tú Mỡ trở nênnhuần nhuyễn mà nhiều nhà thơ trào phúng cùng thời không có đợc Điều đóthể hiện ở chỗ thơ Tú Mỡ có nhiều giọng điệu: Giọng bình dân của ca dao,giọng cổ điển của Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Tú Xơng, giọng điệu củathời thơ hiện đại mà giọng nào cũng tự nhiên, trong sáng không chút gò bó

Nếu đọc thơ Đồ Phồn ta thấy “cái khuynh hớng cổ điển và bao giờ cũngmang tính cách Việt Nam” (Vũ Ngọc Phan) [24, 585], thì đọc thơ Tú Mỡ ngoàigiọng thơ có vẻ cổ điển, ta còn bắt gặp cái giọng thơ rất hiện đại Có đợc điềunày là do ông đã học tập một cách sáng tạo kiểu t duy thơ hiện đại Kiểu t duy

đó thể hiện ở ngôn ngữ thơ mang hơi thở của đời sống trực tiếp, ở lối phân tích

tỉ mỉ rạch ròi, ở các thể Thơ mới, ở những lối thơ du nhập từ phơng Tây (nhại,ngụ ngôn ngợc sách) Tất cả làm cho thơ Tú Mỡ mang rõ đặc trng của thơ hiện

đại Còn Đồ Phồn rất hay sử dụng thơ cổ điển, ngôn ngữ thơ cũng rất cổ điểnkhiến ta có cảm giác ông quá thiên về truyền thống Thử đọc một bài thơ sau

đây của Đồ Phồn ta sẽ thấy rõ điều đó:

ở đất Hà Đông, tôi: khoá hủ Con cha, cháu ông, chắt bà cụ.

Hán văn cha bén cửa tam trờng.

Quốc học biết mần văn bát cú.

Nghĩ phẫn nhân tài bị nớc quên.

Quyết về dật sĩ cho đời đổ.

Chẳng may gặp bữa đói ăn mày.

Đầu gối phải bò ra ra bán chữ.

(Tự giới thiệu)

Đây là cái tôi tự trào mang khuynh hớng “tỏ lòng” của thơ trào phúng cổ

điển Còn những câu thơ tự trào của Tú Mỡ mang tính chất bông đùa tự nhiên:

Tú Mỡ nghe tên rõ chớng phè Làm thiên hạ tởng béo xù ghê Chẳng thua cụ ỷ luồn nung núc Cũng hệt ông Vâm béo lặc lè

Trang 27

Nh vậy, với việc tìm hiểu những vấn đề lý thuyết về thơ trào phúng vàtình hình thơ trào phúng Việt Nam, cũng nh mối quan hệ giữa Tú Mỡ với thơtrào phúng Việt Nam nh trên, ở chơng 1 này chúng tôi đã cố gắng xác lập mộtcơ sở lý thuyết cần thiết cho việc đi vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ ông

Chơng 2

Đặc sắc cảm quan trào phúng của Tú Mỡ

trong Giòng nớc ngợc

2.1 Khái niệm cảm quan trào phúng

Nghiên cứu cảm quan của nhà văn trong tác phẩm văn học không còn làmột vấn đề mới mẻ Nó là một khái niệm trung tâm của nghiên cứu văn học

Và khi dùng nó ngời ta thờng phải đặt sau từ “cảm quan” những định ngữ nhất

định để xác định đặc điểm cho thật cụ thể, rõ ràng, nh cảm quan hiện thực, cảmquan cách mạng Vậy cảm quan của nhà văn là gì ? Nó biểu hiện trên nhữngbình diện nào ? có vai trò ra sao trong việc chi phối sự sáng tạo của ngời nghệ

sĩ ? Cho đến nay vẫn cha có nhà nghiên cứu văn học nào định nghĩa khái niệm

đó cho thật đầy đủ Cho nên thao tác của chúng tôi ở đây là xuất phát từ cáchdùng khái niệm “cảm quan” của một số nhà nghiên cứu có uy tín để từ đó lẩy

ra những vấn đề có tính chất lý thuyết, mong bớc đầu xác lập đợc cái nhìn rõràng về nội hàm của khái niệm Đây là điều hết sức quan trọng, bởi một khi đã

có đợc sự hình dung sơ bộ về cảm quan của ngời nghệ sĩ, ta sẽ có đợc chiếcchìa khoá để mở ra những con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn

Trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học G.N.Pospelov sau khi tìm hiểu Nội dung t tởng của tác phẩm văn học đã khẳng định : “mỗi nhà văn bao giờ

cũng có thiên hớng lựa chọn và miêu tả những tính cách nhất định Thiên hớng

ấy hình thành không chỉ do đặc điểm kinh nghiệm sống riêng của nhà văn, dotài năng cá nhân mà trớc hết là do nhà văn thuộc về một trào lu t tởng xã hộinào đó Và do đó mà có đợc một thế giới quan nhất định” [48, 134] Theo

ông, sự quan tâm của nhà văn về mặt này hay mặt khác của cuộc sống khôngphải do thiện cảm của anh ta, mà là do “những đặc điểm trong cảm quan về thếgiới” của anh ta quy định Cảm quan đó sẽ quy định cái nhìn, sự đánh giá bằngcảm xúc khác nhau của các nhà văn khi họ cùng viết về một đối tợng Rõ ràngnhà nghiên cứu đã xác định vai trò cảm quan của nhà văn trong mỗi liên hệbiện chứng với thế giới quan t tởng Cảm quan của nhà văn bắt nguồn từ thế

Trang 28

giới quan của anh ta, và nó chi phối mạnh mẽ anh ta trong việc lựa chọn đề tài,xác định chủ đề, và sự miêu tả biểu hiện.

ở Việt Nam, ngời ta cũng nói nhiều về các loại cảm quan cụ thể: Cảmquan trào phúng, cảm quan cách mạng Khi nghiên cứu tập thơ Nhật kí trong

tù của Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu đều nhất trí khẳng định: Tập thơ biểu

hiện rõ nét cảm quan cách mạng của Bác Hình tợng thơ luôn luôn vận độngmột cách mạnh mẽ từ buồn đến vui, từ bóng tối ra ánh sáng Cảm hứng thơ làcảm hứng cách mạng, cảm hứng nhân đạo đợc hình thành trên cơ sở lòng lạcquan, tin tởng, ở tình yêu ngời, yêu đời bao la Trong những sáng tác trớc Cáchmạng của Nam Cao, ta nhận ra một cảm quan hiện thực nhạy bén sắc sảo Nóthể hiện ở sự quan tâm và lý giải của nhà văn về số phận con ngời trong nhữngbiến động xung đột giai cấp dữ dội của xã hội Nhìn chung khi tìm hiểu cảmquan của một nhà văn nào đó, các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đều đặt nótrong nhiều bình diện, và luôn quan tâm đến sức mạnh chi phối của nó đối với

sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

Trần Đình Sử lại quan tâm nhiều hơn đến cái nhìn nghệ thuật Bởi theo

ông, cái nhìn nghệ thuật là phơng diện quan trọng nhất biểu hiện cảm quan củangời nghệ sĩ Nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật về con ngời của Nguyễn Du trong

Truyện Kiều, tác giả đã có một sự phân biệt rất có ý nghĩa: “Mâu thuẫn trong

thế giới quan có thể là một nhợc điểm, một hạn chế Nhng cái nhìn nghệ thuậtnhiều chiều lại là một u điểm, nó cho phép thể hiện thực tại trong tất cả cácmâu thuẫn, trong tính đa thanh, phức điệu của nó Và đấy là một đặc sắc quantrọng trong cảm quan hiện thực của Nguyễn Du” [53, 370] Rõ ràng theo Trần

Đình Sử, cái nhìn là phơng diện đặc biệt trong cảm quan của nhà văn Nó cóquan hệ với thế giới quan, nhng không phải thuần tuý là vấn đề lập trờng, t tởng Nó là cái nhìn nghệ thuật, là một phơng diện nghệ thuật, thể hiện sự kết tinhgiữa t tởng và quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con ngời và cuộc đời

Nh vậy, từ những dẫn giải trên đây có thể kết luận: Cảm quan tràophúng, cảm quan hiện thực nói chung là cảm quan của nhà văn là một vấn đề

đợc biểu hiện trên nhiều phơng diện Song những phơng diện chính làm nêncảm quan là: Cảm hứng, cái nhìn và đối tợng của sự quan sát miêu tả Với tấtcả những biểu hiện này nó sẽ xác định sự hiện diện của nhà văn, góp phần giúpnhà văn xác định đợc gơng mặt riêng của anh ta trong thế giới nghệ thuật củamình

Trang 29

Hiểu đợc vai trò ý nghĩa to lớn đó, khi nghiên cứu tìm hiểu thơ tràophúng Tú Mỡ, chúng tôi đã xem xét cảm quan trào phúng nh là một phơngdiện biểu hiện phong cách của nhà thơ Theo đó các vấn đề cụ thể: Cảm hứng,cái nhìn, đối tợng và nội dung trào phúng sẽ đợc trình bày nh là những nhân tốlàm nên cảm quan của Tú Mỡ

2.2 Cảm hứng trào phúng của Tú Mỡ trong Giòng nớc ngợc

2.2.1 Cảm hứng châm biếm, đả kích

Theo G.N.Popeslov: “Cảm hứng là từ dùng để chỉ trạng thái hng phấncao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh đợc bản chất của đời sống mà họ miêutả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tởng xã hội của nhà vănnhằm phát triển và cải tạo thực tại” [48, 168] Còn cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên phát

biểu: “Cảm hứng là trạng thái tình cảm mãnh liệt , say mê xuyên thấm suốt tácphẩm nghệ thuật, gắn liền với một t tởng xác định, một sự đánh giá nhất định cảm hứng thống nhất với đề tài và t tởng của tác phẩm, đem lại cho tác phẩmmột không khí xúc cảm tinh thần nhất định” [16, 38] Soi những vấn đề lýthuyết đó vào sáng tác của Tú Mỡ trong Giòng nớc ngợc, ta thấy ở đây tồn tại

nhiều loại cảm hứng Tuy nhiên cảm hứng chủ đạo nhất, nổi bật nhất vẫn làcảm hứng châm biếm đả kích khi phanh phui những xấu xa trớc thực tại của xãhội đơng thời

Châm biếm, theo G.N.Popeslov là một trong những loại cảm hứng chínhcủa nghệ thuật Đó là “sự phủ định nhạo báng, công phẫn, mạnh mẽ và gay gắtnhất đối với những phơng diện nhất định của đời sống xã hội” [48, 192] Hơn ở

đâu hết, loại cảm hứng này đặc biệt phổ biến trong thơ trào phúng mọi thời.Song ở từng tác giả, từng giai đoạn lịch sử nó cũng có đợc những đặc điểmriêng

Trong Giòng nớc ngợc, cảm hứng châm biếm của Tú Mỡ thể hiện trớc

hết ở chỗ nhà thơ đã miêu tả một cách châm biếm đối tợng của tiếng cời Chândung của bọn quan lại, bọn nghị viên bù nhìn, những tên s giả hiệu, những gáimới tân thời luôn đợc đặt trong vô vàn những tình huống lố bịch ở trongnhững tình huống đó, bọn chúng bỗng chốc trở thành đối tợng của sự bêu giễu

Và ta nhận ra niềm say mê chế nhạo của chính tác giả ngay từ những câu giớithiệu ban đầu

Trang 30

Rất sang quan phán đầu toà Ngất ngởng xe nhà chân bắt chéo queo

(Quan phán)

Nớc nam có hai ngời tài

Thứ nhất sừ Vĩnh, thứ hai sừ Quỳnh

(Nam Hải nhị dị nhân)

Có rất nhiều bài thơ cùng vào đầu bằng những lời giới thiệu kiểu ấy: Bộ hàm của ông Đỗ Thận, Ông trùm Phạm Lê Bổng, Nhà lang sáu biển ở

những bài thơ này, thoạt tiên ngời đọc nh bị lầm tởng, rằng đây là sự khẳng

định, ngợi ca, không dấu nổi thiện cảm của ngời cầm bút trớc các nhân vật vừa

đợc giới thiệu Song thực ra không phải vậy Ta thấy rõ nỗi ác cảm, khinh ghétcủa nhà thơ lộ rõ ra trong từng lời giới thiệu Tuy đợc coi là “rất sang”, nhng

cái bản chất dốt nát, vô học của tên quan phán đã bị lột tẩy sau chính hành vicủa y: “Ngất ngởng xe nhà chân bắt chéo queo” Đợc giới thiệu là “hai ngời tài” của nớc Nam , nhng Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh lại xuất hiện một

cách trơ trẽn trong những lời nói cộc lộc, thiếu thành kính của tác giả

ở những trờng hợp khác, ông thể hiện thâm ý của mình trong một lốiviết hết sức nghiêm túc Nhà thơ tỏ ra rất quan trọng khi dẫn dắt độc giả hồihộp theo dõi đối tợng trong từng chi tiết, để rồi cuối cùng đi đến nhận thức racái trống rỗng tầm thờng Bài thơ Cái giây kim tòng, Anh đốc là những thí dụ

tiêu biểu

Làng kia có bác kỳ hào

Kể trong thứ vị cũng vào bậc trung

Nhng khi đi họp hội đồng Thờng đeo cổ áo lòng thòng sợi dây

Hẳn là ân tứ chi đây Kim tiền ? kim thánh ? mề đay ? thẻ ngà ?

Đầu giây lẫn dới áo là

Đố ai biết đợc đó là cái chi

(Cái giây kim tòng)

Nh vậy, sự miêu tả một cách châm biếm nh trên là biểu hiện của nhữngtình cảm căm ghét của nhà thơ đối với những cái xấu xa, thấp hèn

Cảm hứng châm biếm còn thể hiện ở thái độ nhiệt tình phê phán của tácgiả trớc những mặt trái, mặt tiêu cực của xã hội đơng thời Thơ trào phúng thờinào cũng thiên về phê phán, phủ nhận Bởi vì thơ trào phúng là “một thể loại

Trang 31

trữ tình diễn tả sự phẫn nộ, căm giận của nhà thơ đối với các mặt tiêu cực trong

đời sống xã hội nhà thơ dờng nh là ngời phát ngôn của một bộ phận tiên tiếntrong xã hội lo ngại về tình trạng tiêu cực của nó” [49, 293] Do đó cách duynhất để đấu tranh, tiêu diệt cái xấu là miêu tả nó một cách phê phán Từ mấythế kỷ trớc Hồ Xuân Hơng đã lớn tiếng phê phán xã hội phong kiến với chế độnam quyền, thần quyền đã vùi dập số phận của bao ngời phụ nữ tài hoa, nhansắc Tú Xơng quyết liệt phủ nhận xã hội thực dân nửa phong kiến đã làm đảolộn các giá trị truyền thống Cũng là một sự phê phán đầy nhiệt tình ấy, nhngtrong thơ Tú Mỡ nó biểu hiện ở những cung bậc khác, trên những phơng diệnkhác Xuất phát từ cái nhìn của một trí thức tiểu t sản nghèo trớc Cách mạng,nhà thơ tỏ rõ sự bất bình của mình trớc tệ quan liêu, hách dịch (Hách, Bông xua quan lớn ), thói sính h danh (H danh, Lấy chồng ông Phán ) Tuy nhiên

cảm hứng phê phán vẫn thể hiện mãnh liệt nhất ở những bài thơ đề cập trựcdiện đến thói h tật xấu, hủ tục, tệ nạn xã hội đang tràn lan trong đời sống củacon ngời Các bài thơ Đốt vàng đốt mã, Sòng bạc công khai, Văn chầu quan t- ớng đổ bác, Bỏ cái đình sẽ là những minh chứng cụ thể giúp ta làm sáng tỏ

nhận định này

Mở đầu bài thơ Bỏ cái đình ta thấy phì cả ra ngoài cái thái độ lên án, dè

bỉu của tác giả:

Bỏ đình đi ! Bỏ đình đi ! Còn đình hủ tục còn di hại nhiều

Điệp khúc ấy còn trở đi trở lại nhiều lần trong bài thơ Và mỗi lần xuấthiện nhà thơ lại gắn vào đó sự phê phán đối với một mặt trái của cái đình.Trong quan niệm của ông, cái đình nh thể là nguyên nhân gây ra mọi xấu xatrong đời sống nông thôn thuở trớc

Còn đối với những tên quan lại bù nhìn, đối với bọn thực dân Pháp, tiếngnói phê phán ấy đôi khi đã biến thành sự tố cáo đầy phẫn nộ

Quan đợc tăng lơng dân cũng tăng Tăng su tăng thuế đến nhân răng Còn manh khố rách càng thêm rách

Đời sống lầm than ai thấu chăng

Trang 32

Đi vay bạc triệu về phòng thủ Sau ngày đóng góp chết cha dân Khốn nạn thân ông, cha chúng nó

(Sát khí)

Tuy nhiên so với Tú Xơng trớc đây, những vần thơ chửi đời của Tú Mỡvẫn còn rất chừng mực Nhà thơ sông Vị thở trớc vừa giận đời, vừa giận mình,

và muốn đợc giải thoát khỏi những bi kịch của bản thân

Trên đây là sự phân tích lý giải về cảm hứng châm biếm của Tú Mỡ trong

Giòng nớc ngợc Qua sự phân tích đó, có thể rút ra nhận định chung: Tuy đây là

một loại cảm hứng của thơ văn trào phúng mọi thời đại, nhng Tú Mỡ đã tạo ra

đợc những biểu hiện riêng trong sáng tác của mình Có đợc điều đó là do cảmhứng châm biếm trong thơ Tú Mỡ bắt nguồn từ thế giới quan, lập trờng, tìnhcảm yêu ghét rõ ràng của một công chức nghèo trớc Cách mạng

2.2.2 Cảm hứng hài hớc, vui đùa

Sự phân biệt cảm hứng hài hớc và cảm hứng châm biếm trong thơ tràophúng nhiều khi rất tơng đối Sự phân biệt đó trong thơ Tú Mỡ lại càng trở nênkhó khăn hơn, bởi vì ranh giới giữa chúng nhiều khi không thật rạch ròi Ví dụ,

sự miêu tả của nhà thơ về các đối tợng lố bịch nh bọn nghị viên bù nhìn, nhữngtên s giả hiệu, bọn gái mới tân thời là sự miêu tả một cách hài hớc (Quan phán, Cậu phán chí thú, Ông Nguyễn Văn Tố tế búi tóc, Một tấm lòng vàng ) Nh-

ng khi nào sự miêu tả đó bao hàm thái độ khích bác, phủ nhận đối tợng thì lúc

đó nhà thơ đã thể hiện cảm hứng châm biếm (Hách, Lấy chồng già, Lỡm cô Ngọc Hồ, Khẩu khí ông quan ).

Tú Mỡ thờng giành tình cảm hài hớc vui đùa nhiều nhất đối với những

đối tợng hết sức gần gũi với nhà thơ Đó chính là cái tôi của ông, là vợ, là bạn.Tất cả hiện lên trong tiếng cời rộn ràng, khoái chá Ta hãy nghe sự hài hớc củanhà thơ về mình trong những vần thơ tự hoạ:

ở sở phi năng có một thầy Ngời cao dong dỏng lại gầy gầy Mặc thờng xoàng xĩnh a làm sạch

Ăn chỉ thều thào thích tịnh chay ( Tự thuật)

Có lần ông vẽ chân dung mình trong t cách một thầy phán (Bài phú thầy phán)

Trang 33

Có một điều lạ là từ xa đến nay không một nhà thơ trào phúng nào khônglàm thơ hài hớc về mình Phải chăng điều đó bắt ngồn từ một quan niệm chorằng cái tôi chủ thể là đối tợng dễ hớng đến nhất của tiếng cời trào phúng ? Bởitrong những hoàn cảnh sáng tác gắt gao của xã hội , tiếng cời tự trào là tiếng c-

ời không thể bắt bẻ Mặt khác nó cũng chuẩn bị một tâm thế nhất định cho chủthể trớc cuộc đời Tuy nhiên đối với loại tiếng cời này, ngời đọc phải “cảnhgiác” cao độ, khoan hãy “vội tin” những gì nhà thơ nói về mình Bởi lẽ khi viết

về mình, tác giả cố tình làm méo mó đi hình ảnh của mình theo chiều hớnghoặc là xấu xí hoá, thô kệch hoá, hoặc là tô vẽ thêm cho sinh động để gợi ranhững liên tởng bất ngờ Trở lại những ví dụ vừa trích dẫn trên về Tú Mỡ ta sẽthấy rõ điều đó ở đây Tú Mỡ nhận mình là một kẻ nhiều tật: ăn diện, chơi bời

đủ các hạng nh tom chát, dập dìu tài tử giai nhân Nhng so với Tú Xơng trớc

đây thì Tú Mỡ còn “hiền lành” lắm Tú Xơng vẽ mình xấu xí hơn

Trong nhiều trờng hợp tiếng cời hài hớc ấy lại bộc lộ rõ nét, sâu đậmtrong những bài thơ viết về bạn Đó là những bài thơ đùa nghịch với Tản Đà,với Cả Mốc, với Tú Xơn, với những ông chủ bút các tờ báo cùng thời Nếutìm hiểu một loạt các bài thơ: Trời đày Nguyễn Khắc Hiếu, Anh bán hũ, Tản

Đà cốc tử, Cùng bác Tú Xơn, Những bức th tình gửi ngời tình nhân không quen biết, và nhiều bài văn tế khác ta sẽ nhận ra một điểm chung là tình cảm của nhà

thơ ở đây là sự cợt đùa trong sáng, không hề có ác ý

Cảm hứng hài hớc của Tú Mỡ trong Giòng nớc ngợc biểu lộ ra muôn

hình muôn vẻ Nó chủ yếu là tình cảm đùa cợt, bông lơn, không thiên về bắt bẻ

đối tợng So với cảm hứng châm biếm thì cảm hứng hài hớc có phần nhẹ hơn

Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì bất kỳ một nhà thơ trào phúng nào cũng khôngmuốn dừng bút lại trớc tiếng cời hài hớc Muốn cho tác phẩm của mình nói lên

đợc sự phẫn nộ căm giận trớc cái xấu thì nhà thơ phải đào sâu, xuyên thấm vàobản chất của đối tợng để châm biếm,phê phán

2.3 Cái nhìn của Tú Mỡ trong Giòng nớc ngợc

2.3.1 Một cái nhìn năng động, linh hoạt với tinh thần khái quát, chiếm lĩnh đối tợng từ nhiều phía

Trong nghệ thuật, cái nhìn là một phơng diện đặc biệt quan trọng Trần

Đình Sử nói: “cái nhìn có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó

mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lu đợc sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật” [55, 106].Nhà văn Pháp Mác Xen Pruxt coi: “Đối với nhà văn, cũng nh đối với nhà hoạ

sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn” (dẫn theo

Trang 34

Trần Đình Sử) [55, 106] Chính vì lẽ đó, khi tìm hiểu phong cách của một nhàvăn ta không thể không tìm hiểu cái nhìn nghệ thuật của nhà văn trong tácphẩm của họ Nó mang t tởng, cảm xúc quan niệm nghệ thuật của anh ta về thếgiới và con ngời

Khảo sát vấn đề này trong Giòng nớc ngợc, điều dễ nhận thấy là Tú Mỡ

đã thể hiện một cái nhìn năng động, đa chiều Cái nhìn đó đợc xác lập do chỗnhà thơ đã xuất phát từ những góc nhìn khác nhau để quán chiếu sự vật Có lúc

ông nhìn đối tợng từ bên ngoài vào, bắt đầu bằng những quan sát miêu tả Cólúc ông lại tựa vào sự tự quan sát, tự phơi bày của nhân vật để phanh phui, mổ

xẻ nh là một cái nhìn từ bên trong Và ở nhiều chỗ, cả hai cái nhìn đó kết hợplại tạo nên một sức mạnh trong quá trình thâm nhập bản chất đối tợng của nhàthơ

Thật vậy, chỉ cần soát qua một lợt những bài thơ trong Giòng nớc ngợc ta

thấy luôn hiển hiện một cái nhìn khách quan, bề ngoài độc đáo Có thể làmsáng tỏ cho vấn đề đó khi tìm hiểu bình diện thứ nhất của cái nhìn: Điểm nhìncủa nhà thơ

Đối với ngời nghệ sĩ sáng tạo, xác định điểm nhìn là điều hết sức cầnthiết Bởi vì điểm nhìn sẽ quy định tâm thế của nhà văn trong thế giới nghệthuật, sẽ quy định việc anh ta can dự nh thế nào đối với đời sống đang diễn ratrong thế giới tác phẩm của mình Còn đối với ngời thởng thức nghệ thuật, vấn

đề cũng không kém phần quan trọng Khi xác định đợc điểm nhìn của chủ thểrồi, ngời đọc có thể khai mở ra những con đờng lý giải phù hợp với quan niệm

và t tởng của nhà văn Xem xét thơ Tú Mỡ ta nhận thấy ông thờng bắt đầu quansát đời sống từ điểm nhìn khách quan, bề ngoài Nghĩa là nhà thơ thờng chọnlấy điểm nhìn của một ngời khách quan, ngoài cuộc để miêu tả đời sống Điều

đó làm cho màu sắc chủ quan đợc giảm thiểu, và tính thuyết phục của sự phêphán đợc tăng lên nhờ những yếu tố khách quan

Có thể lấy những bài thơ mang hình thức kể chuyện nh Duyên con vồ, Cái tính trừ sai, Xoay hòn đất, Nuốt xu để làm sáng tỏ cho vấn đề đang bàn.

ở những bài thơ này nhà thơ đóng vai trò là ngời trần thuật, kể lại những câuchuyện của ngời khác Điểm nhìn của ngời trần thuật đó buộc anh ta “mặcnhiên” để cho các tình tiết, sự kiện tự nó phơi bày ra những mặt cần phê phán

Có thể kết luận tơng tự khi tìm hiểu những bài thơ miêu tả trực tiếp đối ợng nh: Cái chuông ông trùm, Kiệu bay, Thánh sợ cớp, Vua bà sợ thần lửa

t-Đám rớc làng ta đã tới đền Vía bà động cỡn tốc bay lên

Trang 35

Các cô chân kiệu xiêu lơ chạy Mấy mụ đồng quan lẽo đẽo rên Pháo đốt nhang bay mù đảo địa Con công cái cán lễ luyên thuyên (Kiệu bay)

Cảnh tợng diễn ra thật sinh động Và dới sự miêu tả của nhà thơ ta nhận

ra điểm nhìn khách quan của chủ thể Nhà thơ những lúc nh thế này luôn giữmột khoảng cách cần thiết với đối tợng để quan sát cho thật tinh tờng

Nh vậy, điểm nhìn khách quan, bề ngoài là vấn đề có thật, luôn hiện diệntrong nhiều bài thơ của Tú Mỡ Nó chính là cơ sở để xác định cái nhìn của tácgiả trong Giòng nớc ngợc chính là cái nhìn bề ngoài Tuy nhiên để làm rõ cái

nhìn đó, ta không chỉ dừng lại ở việc xác định điểm nhìn của nhà thơ Vấn đềcần thiết là phải khẳng định nó trong hệ thống các chi tiết của đối tợng đợcmiêu tả Bởi vì hơn ở đâu hết “hệ thống các chi tiết chính là điểm rơi của cáinhìn” [55, 106] Và khi nhận ra những điều mà nhà văn chú ý tức là ta đã nhận

ra đặc sắc cái nhìn của anh ta Đây chính là phơng diện mà ngời đọc dễ nhận ra

sự khác biệt giữa Tú Mỡ với các nhà thơ trào phúng khác về cái nhìn bề ngoài

Điều dễ quan sát là trong Giòng nớc ngợc, các đối tợng miêu tả phần lớn

đều đợc quan tâm thể hiện bởi những chi tiết bề ngoài: Trang phục, hành vi, cửchỉ, lời nói Ví dụ, miêu tả một quan phán, nhà thơ viết:

Rất sang quan phán đầu toà Ngất ngởng xe nhà, chân bắt chéo queo

họ đều nhận thức đợc rằng đối với cái xấu, với cái đáng cời thì sự thể hiện tâm

Trang 36

lý, nội tâm là điều không cần thiết Bởi vì chúng là những kẻ tầm thờng, trốngrỗng nên nguyên tắc duy nhất giành cho chúng là sự phô diễn ở bề ngoài? Có lẽxuất phát từ quan niệm đó mà trong thơ trào phúng của họ xuất hiện rất phongphú những chi tiết của ngoại hình Hồ Xuân Hơng miêu tả một tên s hổ mang:

Nào là gấm đỏ gấm lam Cái khăn mảnh bát úp ngang phè phè

Nào là áo sịch panh se.

Cổ cồn cứng nhắc, giữa toè nơ đen

(Ông trùm Phạm Lê Bổng)

Cái nhìn chi tiết kiểu này hiện lên nh biểu hiện của một kiểu t duy củathời hiện đại - kiểu t duy a phân tích rạch ròi và chẻ đến tận cùng đặc điểm của

Trang 37

sự vật, hiện tợng Bên cạnh những u điểm, cái nhìn quan sát tỉ mỉ lắm lúc cũnglàm cho thơ Tú Mỡ rơi vào một nhợc điểm lớn: Chi tiết quá bề bộn, và ngời đọc

đôi khi cảm giác nhà thơ nói quá nhiều Nhng nhìn chung cái nhìn bề ngoàikhông hề là một cái nhìn hời hợt, thiếu chiều sâu ở đây, tác giả đã biết lựachọn những chi tiết có ý nghĩa, phù hợp với quan niệm của mình để miêu tả,nhằm làm sống dậy các mâu thuẫn hài vốn ẩn chìm trong sự vật Cho nênkhông phải tất cả mọi yếu tố của ngoại hình đều đợc chú ý Ông chỉ đa vào tầmmắt những chi tiết biết nói, có khả năng lột tả đợc cái thần Ví dụ miêu tả chândung của một tên s giả hiệu, nhà thơ tập trung khắc họa nổi bật cái vẻ lẳng lơ,tình tứ: Xanh xanh mái tóc, hồng hồng nớc da, giọng nói duyên ngầm chứa chan Miêu tả tên quan thị Nguyễn Tiến Lãng, ông chú ý những chi tiết thể

hiện tính chất luồn cúi, nịnh bợ của tên quan này: Lng gù lợn khúc tôm he Sống lng khúm núm xum xoe nậc cời

Những bằng chứng vừa nêu cho thấy cái nhìn bề ngoài không phải làkhông có ý nghĩa Trong thơ trào phúng nó đặc biệt quan trọng khi mỉa maichâm biếm Nó giúp nhà thơ có thể thổi phồng đối tợng lên bằng cái mã bềngoài để ngời đọc thấy đợc cái trống rỗng của nó , hoặc xấu xí hoá, thô lỗ hoá

Nh vậy trên đây ta đã phân tích và chỉ ra đợc những nét độc đáo trong cáinhìn khách quan, bề ngoài của Tú Mỡ Song nếu chỉ dừng lại ở đó thì vẫn chathấy đợc tính năng động, linh hoạt trong cái nhìn của ông khi ông có khátvọng chiếm lĩnh đối tợng từ nhiều phía Cái làm cho cái nhìn của Tú Mỡ đachiều, năng động, linh hoạt chính là bên cạnh cái nhìn bề ngoài, tác giả đã thểhiện một cái nhìn bên trong sắc sảo

Cái nhìn bên trong thể hịên trớc hết ở hình thức tự quan sát, tự biểu hiệncủa cái tôi tác giả Đọc những bài thơ Tự thuật, Chồng gàn, Mỡ mà Chẳng

mỡ , Tâm bất lão Ngời đọc sẽ thấy đợc cái nhìn độc đáo này.

Tôi vốn trời sinh tính khác ngời

Trang 38

Không a bôn tẩu nh ai ai Phàm danh, tục lợi lòng không bợn Chỉ thích cuộc đời giản dị thôi.

(Chồng gàn)

Đây không phải là bản tự thuật tâm trạng hiểu theo đúng nghĩa của từ

này Song đó cũng chính là một sự phô diễn- sự phô diễn chân thật về tính cáchcủa chủ thể nhằm giúp ngời đọc nhận biết đợc rõ hơn, chính xác hơn về con ng-

ời mình Rõ ràng nhà thơ không nhìn sâu vào nội tâm mình, nhng đã nhìn trựctiếp, thẳng thắn về tính cách, lý tởng sống của mình nh là nhìn vào những yếu

tố bên trong So với Nguyễn Khuyến, Tú Xơng trớc đó, cái nhìn bên trong của

Tú Mỡ ở phơng diện này còn thiếu sức ám ảnh Nó cha đánh thức dậy ở ngời

đọc những trăn trở, day dứt Trong thơ Hồ Xuân Hơng bên cạnh tiếng nói bấtbình với xã hội là nỗi lòng khát khao của ngời phụ nữ trớc cuộc sống Nhữngvần thơ tự trào của Nguyễn Khuyến cho ta thấy thấm thía nỗi đau của con ngờiluôn thấy mình bất lực trớc thời cuộc Còn thơ Tú Xơng thể hiện nỗi xót xa của

kẻ luôn bắt gặp những bi kịch trong cuộc đời Có lẽ do không ở trong hoàncảnh ấy, thời đại ấy mà tiếng nói nội tâm trong thơ Tú Mỡ không có sức ám

ảnh nh là trong thơ của những nhà thơ thời trớc

Không chỉ thể hiện ở nguyên tắc cái tôi tự biểu hiện, cái nhìn bên trongcủa Tú Mỡ còn tỏ ra sắc sảo trong những trờng hợp nhà thơ mợn lời đối tợng,

để cho đối tợng tự quan sát, tự bộc lộ mình Đây chính là biểu hiện của nguyêntắc tự “lột mặt nạ” Đối tợng tự nói về mình, tự phơi bày bản chất trống rỗngcủa mình qua độc thoại hoặc đối thoại Ví dụ, một ông nghị đã từng nói vớimọi ngời về nghề của mình:

Rằng tôi đi họp hội đồng Mỗi năm một bận hết lòng vì dân

Gật gù, nghe đọc diễn văn

Vì dân ráng sức mấy lần vỗ tay

(Ông Nghị đi hội đồng về)

Còn đây là lời thở than của một ông tham lơng mới về những “ớc mơ”,

“hoài bão” không thành hiện thực và cái thực trạng đáng buồn của cuộc đời:

Ta sống mãi trong tình thơng nỗi nhớ

Trang 39

Mong mai sau công toại danh thành

Chiếm một chỗ làm có lợi có danh

Trong công sở ta bình sinh toại chí

(Nhớ thời oanh liệt)

Ta thấy lời thở than của anh tham lơng mới không có gì đặc biệt ngoài sựliệt kê, kể lể những công việc Song nó chân thật hơn bao giờ hết, bởi nó chongời đọc thấy rõ đợc sự thấp hèn, kém cỏi, sự tầm thờng, trống rỗng của nhữngcon ngời ở đây Đặc biệt qua lời của ông nghị, bản chất bù nhìn, dốt nát, ănchơi xa xỉ của ông đợc phơi lộ ra một cách sáng rõ Nh vậy, với hình thức đểcho đối tợng tự biểu lộ bản chất qua lời nói, nhà thơ đã tìm ra đợc một cơ hộitiếp cận và nhìn sâu vào bên trong đối tợng Đó là một cái nhìn rất đặc biệt Ngoài ra ta còn thấy Tú Mỡ rất tài tình khi sử dụng hình thức “nhữngngời trong cuộc lột mặt nạ nhau” để nhập vào chiều sâu của đối tợng ở nhữngtrờng hợp này, cũng là hình thức mợn lời nhân vật nhng là hình thức nhân vậtnày lột mặt nạ nhân vật kia Các bài thơ Khuyên chồng ông nghị khi đi hội

đồng, Phụ bạc, Bà Lý Toét khuyên chông sẽ là những minh chứng cho vấn đề

này

Có thể thấy rằng với hình thức mợn lời đối tợng, Tú Mỡ đã có những bớc

đột phá trong quá trình thâm nhập vào bản chất của cái hài Hình thức này ítthấy ở thơ trào phúng trớc đó, và cũng ít xuất hiện trong thơ trào phúng của cácnhà thơ cùng thời Nó là kết quả của quá trình Tú Mỡ chịu ảnh hởng nhiều củaloại hình thơ trữ tình hiện đại Bởi trong thơ trữ tình hiện đại, hình thức nhậpvai đối tợng đợc sử dụng rất nhiều Với hình thức này, trong thơ Tú Mỡ nóiriêng, thơ trữ tình hiện đại nói chung thờng xuất hiện những đối thoại, nhữngdấu gạch đầu dòng mang tính chất văn xuôi

Nh vậy, khi quan sát, chiếm lĩnh đối tợng trào phúng, cái nhìn của Tú

Mỡ tỏ ra đa chiều, linh hoạt Khi thì ông nhìn đối tợng từ bên trong, khi thìquan sát từ bên ngoài Đặc biệt ở một số bài thơ cái nhìn bên trong và cái nhìnbên ngoài đợc kết hợp với nhau một cách rất chặt chẽ, tạo nên sức mạnh có khảnăng bóc trần sự thực Đó là trờng hợp các bài thơ Vợ quý; Thầy mạt ca, trò m-

ớp đắng ở đây có sự miêu tả từ ngoài vào của tác giả, lại có sự tự biểu lộ của

đối tợng, và có cả những lời tố cáo nhau của những ngời trong cuộc

Tóm lại, cái nhìn năng động, đa chiều của Tú Mỡ có một sức mạnh đặcbiệt Tuy có lúc nó thiên về cái nhìn bề ngoài hơn là sự lột tả từ bên trong, nhngnhìn chung nó vẫn tạo ra đợc sức xuyên thấm vào bản chất của đối tợng đáng c-

ời

Trang 40

2.3.2 Một cái nhìn tỉnh táo luôn gắn với sự phân tích, đánh giá sắc sảo

Cái nhìn này thực ra không tồn tại biệt lập với cái nhìn năng động, đachiều vừa phân tích ở trên Song chúng tôi vẫn muốn nhấn mạnh nó nh một cáinhìn độc đáo riêng của Tú Mỡ khi quan sát thơ ông trong thơ trào phúng mọithời

Tác phẩm văn học nào cũng bao hàm trong đó “sự đánh giá đời sốngmang t tởng cảm xúc” của ngời nghệ sĩ [49, 149] Nhà văn không chỉ có nhiệm

vụ tái hiện và giải thích đời sống, mà còn phải bày tỏ “sự phán xử các hiện tợngcủa đời sống” theo quan điểm t tởng của mình Tuy nhiên trong thơ văn tràophúng, vấn đề này trở nên nổi bật và dễ thấy hơn cả Nó là nhân tố làm nên sựsắc sảo, nhạy bén trong cái nhìn của mỗi nhà thơ Có thể thấy rõ điều này quamột số ví dụ về thơ trào phúng thời trung đại

Khi nói về hiện thực xã hội đơng thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng đánhgiá:

Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử Hết cơm, hết rợu, hết ông tôi

Bằng một cái nhìn tỉnh táo, Nguyễn Khuyến đã nhìn thấy bản chất xấu

xa của một tên đốc học giả vờ ngây thơ, khờ dại:

Ai rằng ông dại với ông điên

Ông dại sao ông biết lấy tiền?

Những câu hỏi kiểu này không hiếm gì trong thơ Nguyễn Khuyến, Tú

X-ơng Nó là biểu hiện của một kiểu t duy sắc bén luôn tỏ ra ngờ vực với tất cảmọi vấn đề

Nh vậy thông qua những câu hỏi trực tiếp, những lời đánh giá của chủthể, những so sánh, liên tởng, đối lập nhà thơ trào phúng xa đã biểu hiện mộtcái nhìn lý trí tỉnh táo Cái nhìn đó không cho phép tác giả gửi gắm niềm tinmột cách ngây thơ vào những gì hào nhoáng, mà luôn muốn dò sâu vào bêntrong để thấu hiểu bản chất của đối tợng Rõ ràng ta hoàn toàn tin rằng cái nhìn

lý trí tỉnh táo luôn hiện ra nh một đặc trng của thơ trào phúng Cho nên nhiệm

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w