1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ thanh thảo luận văn thạc sĩ ngữ văn

127 283 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 599,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua sưu tập tài liệu, chúng tôi thấy, thơ Thanh Thảo được nghiên cứu trên nhiều phương diện, đó là: quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo, những chủ đề tư tưởng nổi bật, những đặc sắc về p

Trang 1

Trờng đại học Vinh

Trang 2

NGhÖ an - 2012

2

Trang 3

Trong quá trình theo học ngành Ngôn ngữ học - khoa Ngữ văn - trường Đại học Vinh và quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, chúng tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, trường Đại học Vinh Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Đặc biệt, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo,

TS Đặng Lưu, người thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, chúng tôi đã hết sức

cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi sai sót Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn

Nghệ An, tháng 10 năm 2012.

Tác giả

Trang 4

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Đối tượng nghiên cứu 13

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Đóng góp mới của luận văn 15

7 Cấu trúc luận văn 15

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 16

1.1 Một số luận điểm cơ bản về ngôn ngữ thơ 16

1.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại 24

1.2.1 Ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường 26

1.2.2 Ngôn ngữ thơ tỉnh lược tối đa các dấu hiệu liên kết, gia tăng độ nhòe ngữ nghĩa 29

1.2.3 Sự gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ 30

1.2.4 Xuất hiện những trò chơi chữ nghĩa trong thơ 31

1.3 Thơ Thanh Thảo trong bối cảnh thơ Việt đương đại 33

1.3.1 Thanh Thảo và những nỗ lực cách tân thơ 33

1.3.2 “Dấu chân qua trảng cỏ”, “Khối vuông rubic” và “123” - ba tập thơ đánh dấu sự vận động của thơ Thanh Thảo trong nền thơ Việt đương đại 36

1.4 Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THỂ THƠ TRONG THƠ THANH THẢO 40

2.1 Tiểu dẫn 40

2.2 Vấn đề thể thơ trong thơ Thanh Thảo 41

2.2.1 Đặc điểm của thể thơ tự do trong thơ Thanh Thảo 43

2.2.2 Thể thơ văn xuôi trong thơ Thanh Thảo 61

2.3 Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CÂU THƠ VÀ TỪ NGỮ TRONG THƠ THANH THẢO 71

3.1 Đặc điểm câu thơ trong thơ Thanh Thảo 71

3.1.1 Khái niệm câu thơ và tiêu chí nhận diện câu thơ trong thơ Thanh Thảo .71

3.1.2 Một số kiểu câu thơ nổi bật trong thơ Thanh Thảo 73

Trang 5

3.2 Đặc điểm từ ngữ trong thơ Thanh Thảo 95

3.2.1 Từ ngữ trong thơ và một số hướng nghiên cứu 95

3.2.2 Một số lớp từ nổi bật trong thơ Thanh Thảo 96

3.2.3 Định ngữ nghệ thuật trong thơ Thanh Thảo 107

3.3 Tiểu kết chương 3 118

KẾT LUẬN 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học là nghệ thuật ngôn từ Đối với chủ thể sáng tạo, trong quá trình sáng tác, nhà văn bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ như chất liệu duy nhất Thông qua sự tổ chức ngôn ngữ, nhà văn bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, tài năng và sức sáng tạo của mình Đối với khách thể tiếp nhận, muốn hiểu được

ý nghĩa nghệ thuật của tác phẩm, người đọc cũng phải bắt đầu từ ngôn từ trong văn bản, hơn thế, còn phải tìm hiểu cách tổ chức ngôn từ trong tác phẩm theo từng thể loại Trong những năm gần đây, ngôn ngữ không chỉ được nghiên cứu theo hướng cấu trúc mà còn được nghiên cứu theo hướng hoạt động gắn liền với chức năng của từng loại ngôn bản và theo hướng tiếp cận liên ngành Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng, không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà phê bình văn học mà cả các nhà ngôn ngữ học Tìm hiểu đặc điểm thể thơ, câu thơ và

từ ngữ trong thơ Thanh Thảo cũng là đề tài nằm trong hướng đi cần thiết ấy

1.2 Nhìn từ thực tiễn, có thể thấy, lấy ngôn ngữ làm chất liệu sáng tạo, nhưng trong quá trình sáng tác, mỗi nhà thơ lại có cách lựa chọn, tổ chức, sắp xếp riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật của mình Dấu ấn về sự lựa chọn, tổ chức ấy được thể hiện trên nhiều phương diện, nhiều cấp độ, trong đó, thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ là 3 trong những phương diện cơ bản nhất của ngôn ngữ thơ Nghiên cứu thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ Thanh Thảo, chúng tôi mong muốn góp thêm cứ liệu về nét riêng của Thanh Thảo trong việc lựa chọn, tổ chức và sử dụng ngôn ngữ, qua đó góp phần nhận diện phong cách nghệ thuật của nhà thơ

1.3 Năm 1978, tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo ra đời,

đã ghi dấu ấn riêng trong đời sống văn học bằng một tiếng thơ mới lạ, cuốn hút Đó là tiếng thơ của một người sớm thức nhận ra được tính đa diện của

Trang 7

cuộc sống Từ đó đến nay, nhiều tập thơ của Thanh Thảo đã ra đời; với hình thức tổ chức ngôn từ đầy sáng tạo, thơ ông luôn thu hút sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu Tác phẩm của Thanh Thảo cũng đã được lựa chọn và đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông Vì thế, tìm hiểu thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ Thanh Thảo, chúng tôi hi vọng vừa góp thêm những nhận xét cụ thể về một số một phương diện cơ bản của ngôn ngữ thơ Thanh Thảo, vừa có thêm cứ liệu cho việc giảng dạy thơ Thanh Thảo trong nhà trường.

2 Lịch sử vấn đề

Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Cùng với Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy,… Thanh Thảo là nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Ngay trong những tập thơ đầu tiên, Thanh Thảo đã sớm cho thấy một hướng đi riêng, một giọng thơ riêng, một phong cách nghệ thuật được định hình Chính vì vậy, thơ Thanh Thảo đã nhận được không ít sự quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu phê bình văn học Qua sưu tập tài liệu, chúng tôi thấy, thơ Thanh Thảo được nghiên cứu trên nhiều phương diện, đó là: quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo, những chủ đề tư tưởng nổi bật, những đặc sắc về phương diện nội dung, những nét cách tân về hình thức thể hiện, trong đó có ngôn ngữ

Ngay từ khi tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ xuất hiện, chân dung nghệ

thuật thơ Thanh Thảo đã được phác họa trong nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Tiêu biểu là các bài “Thanh Thảo - thơ và

trường ca” của tác giả Thiếu Mai (tạp chí Văn học, số 2, năm 1980), “Thanh Thảo - một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975” của tác giả Bích Thu (tạp chí Văn học, số 5 + 6, 1985), “Một tiếng thơ quý của Phong Lan” (Văn nghệ quân đội, số 8, 1980), “Chất trẻ trong thơ chống Mĩ” của Nguyễn Trọng

Trang 8

Tạo (Văn chương và cảm luận, Nxb Văn hóa Thông tin, 1998)… Trong bài

viết “Thơ và trường ca”, Thiếu Mai đã nhận định: “Thơ Thanh Thảo có dáng riêng Đọc anh, dù chỉ mới một lần, thấy ngay cái dáng ấy… Thơ Thanh Thảo

là thơ của một tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí tuệ,… đầy đặn cả hai mặt cảm xúc và suy nghĩ” [38, tr.6] Nguyễn Trọng Tạo nhân đọc lại thơ Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh cũng nhấn mạnh đến “điệu thơ thâm trầm” và

“cái hay ở toàn bài” của trường ca Thanh Thảo, đồng thời, đưa ra một so sánh khá độc đáo về thơ Thanh Thảo Tác giả cho rằng: “Thơ Thanh Thảo không lạnh, thậm chí nóng bỏng, là giọt cồn ở nồng độ cao Thơ anh là “những tia chớp từ trời cao làm hiện lung linh tất cả sự vật chung quanh ta” [51, tr.75]

Bên cạnh những nhận xét mang tính khái quát về chân dung nghệ thuật, thơ Thanh Thảo còn được các nhà nghiên cứu phê bình nhìn nhận ở các phương diện khác

Nhận xét về quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo có thể kể đến

những bài viết, công trình của Vũ Quần Phương (“Thơ hôm nay”, tạp chí Văn nghệ quân đội, số 6, 1982), Nguyễn Văn Long (Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, 2003), Trần Đăng Suyền (Thế hệ các nhà thơ trẻ thời

kì chống Mĩ, Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, Nxb Đại học sư phạm, 2002), Trần Hoài Anh (“Thanh Thảo và thơ”, nhavantphcm.com.vn)… Trong những

bài viết và công trình này, mặc dù đứng ở những góc độ khác nhau nhưng hầu

hết, các tác giả đều khẳng định: Bài ca ống cóng là tuyên ngôn của Thanh

Thảo và cũng chính là tuyên ngôn của một lớp nhà thơ trẻ bấy giờ Gần đây

nhất, tác giả Đặng Thị Hương Lý trong luận văn thạc sĩ Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo (ĐHSP Hà Nội, 2006) cũng đã đi sâu nghiên cứu

quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo về bản chất thơ, hình thức thơ, nhà thơ

và công việc làm thơ Qua đó, tác giả khẳng định: “Quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo được biểu hiện sinh động và nhất quán trong sáng tác của ông

Nó cũng cho thấy quá trình vận động, đổi mới của thơ Việt Nam từ sau 1975

Trang 9

trên nhiều phương diện” [37, tr.26-27] Cũng đi sâu nghiên cứu quan niệm của Thanh Thảo về thơ, trong bài viết “Thanh Thảo và thơ”, sau khi chỉ ra một cách hệ thống quan niệm của Thanh Thảo về bản chất, nội dung, hình thức, chức năng của thơ ca, về mối quan hệ giữa thơ - nhà thơ - người đọc, tác giả Trần Hoài Anh đã nhận định: "quan niệm của Thanh Thảo về quá trình sáng tạo thơ chịu ảnh hưởng khá sâu sắc thuyết phân tâm học Freud cho rằng nghệ sĩ giống như người mắc bệnh tâm thần, rời bỏ thực tại để đi vào thế giới

ảo tưởng Và sản phẩm của nghệ sĩ là kết tinh của ẩn ức tính dục để biến thành những phút thăng hoa trong sáng tạo nghệ thuật"; "Thanh Thảo là nhà thơ vừa làm thơ lại vừa có những suy niệm khá độc đáo về thơ Tuy những suy niệm về thơ của Thanh Thảo chưa thành một hệ thống quan niệm hoàn chỉnh nhưng những điều anh nghĩ về thơ vẫn mang một giá trị đích thực về mặt lý luận và thực tiễn trong sáng tạo và tiếp nhận thơ" [1]

Đánh giá về nội dung của thơ Thanh Thảo, một số bài viết của các nhà phê bình, nghiên cứu đã tập trung vào việc khẳng định chiều sâu của thơ ông khi tác giả nói về thế hệ những người lính trong chiến trường, về nhân dân,

Tổ quốc Tiêu biểu là các bài viết: “Suy nghĩ về tính nhân dân trong Những ngọn sóng mặt trời của Thanh Thảo (Sử Hồng, Trần Đăng Suyền, Báo văn nghệ, tháng 6, 1983), “Dấu chân người lính trẻ trong thơ Thanh Thảo” (Lại Nguyên Ân, Văn nghệ Nghĩa Bình, 1980), tập tiểu luận phê bình Những vẻ đẹp thơ của Nguyễn Đức Quyền (Nxb Nghĩa Bình, 1980), "Cỏ xanh và lửa đỏ

- một đối lập lôgic trong thơ Thanh Thảo" của tác giả Mai Bá Ân (trang thơ

Bích Khê - bichkhe.org) Trong Những vẻ đẹp thơ, Nguyễn Đức Quyền nhận

định: “Thơ chống Mĩ đến Thanh Thảo đã lắng vào chiều sâu Cái xô bồ của chiến tranh, cái tàn bạo của giặc Mĩ, cái gian khổ của người lính được Thanh Thảo nhìn với cái nhìn trầm tĩnh lạ thường” [46, tr.59] Suy nghĩ về người lính trong thơ Thanh Thảo, Lại Nguyên Ân cũng có ý kiến tương tự: “Có thể nói, Thanh Thảo đã tìm được nhiều cung bậc, nhiều sắc thái để tô đậm nét vô

Trang 10

danh, bình thường của người lính cùng thế hệ” [2, tr.135] Bên cạnh những bài viết và công trình của các nhà nghiên cứu, còn có một số luận văn, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, học viên cao học cũng đã tìm hiểu về nội dung

này như Một số trường ca tiêu biểu về cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

(Nguyễn Thị Thu Hương, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội, 2002),

Hình tượng nhân dân và người chiến sĩ trong thơ Thanh Thảo (Đặng Thị

Thúy Nga, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội, 2005)

Ở phương diện hình thức nghệ thuật, thơ Thanh Thảo cũng nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình như các tác giả Bích Thu (“Thanh Thảo, một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975”, tạp chí

Văn học, số 5 +6, 1985), Chu Văn Sơn (“Trường hợp Thanh Thảo”, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb ĐHSP Hà

Nội), Phan Huy Dũng (“Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo dưới góc nhìn

liên văn bản", Văn học Việt Nam trong nhà trường - một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục, 2009), Nguyễn Thanh Tuấn ("Nhạc tính trong thơ Thanh Thảo", bichkhe.org),… Trong những bài viết và công trình dẫn trên, mặc dù

cùng xem xét những nét độc đáo trong hình thức nghệ thuật của thơ Thanh Thảo, nhưng mỗi tác giả lại chú ý đến một khía cạnh riêng Chu Văn Sơn sau khi đi sâu khám phá và lý giải những quan niệm đã sinh ra thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo cũng khẳng định: “Như một nghệ sĩ chân chính, ngay từ những bước đầu tiên trên thi đàn, Thanh Thảo đã là ngòi bút ham cách tân” [33, tr.415] Nét cách tân đầu tiên của Thanh Thảo là khi thơ chống Mĩ đang

“mạnh về thứ tâm tình ở bên trên”, “thứ nội tâm giản đơn được chuyển động bởi một chủ nghĩa lạc quan ít nhiều dễ dãi, rập khuôn, nhiều giáo điều, hô hào, ca tụng” [33, tr.416] thì Thanh Thảo đã đem đến một tiếng thơ đầy những bận tâm, toàn những chuyện day dứt nhân bản sâu kín về chuyện được

- mất, sống - chết, vinh - nhục, họa - phúc, chung - riêng, cá nhân - cộng đồng, gia đình - Tổ quốc,…, toàn những trải nghiệm rớm máu và kiên tâm”

Trang 11

[33, tr.416] Tuy nhiên, theo Chu Văn Sơn, “hướng cách tân đó chưa phải là điều đáng nói của Thanh Thảo Thanh Thảo được xem là tay cách tân chủ yếu

sự kiểm soát tuyệt đối của tâm thức mà nó còn được tạo ra từ những giây phút tiềm thức, tự động tâm linh" [58]

Bên cạnh những bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình về những đặc sắc trong hình thức thể hiện của thơ Thanh Thảo, còn có một số khóa luận và luận văn của sinh viên, học viên cao học đề cập về vấn đề này Trong luận văn

Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo, tác giả Đặng Thị Hương Lý

đã khái quát quan niệm của Thanh Thảo về ngôn ngữ, hình ảnh và nhịp điệu thơ, qua đó, tác giả khẳng định “ngôn ngữ thơ Thanh Thảo là ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, gần với văn xuôi” [37, tr.68] Lê Thị Ngân đã nhận xét tương

đối khái quát về đặc điểm ngôn ngữ thơ Thanh Thảo trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ thơ Thanh Thảo (ĐH Vinh, 2008): “Về ngôn ngữ, thơ Thanh

Thảo sử dụng hệ thống ngôn ngữ phong phú, giản dị nhưng vẫn đảm bảo tính hàm súc, truyền cảm… Nét nổi bật trong thơ Thanh Thảo là tác giả sử dụng nhiều định ngữ nghệ thuật, nhiều biện pháp tu từ so sánh và điệp ngữ Kết cấu bài thơ tự nhiên, thể hiện được suy nghĩ, cảm xúc và những rung động bất ngờ Nhờ vậy mà tô đậm được ấn tượng trong tâm hồn người đọc” [39, tr.99]

Ngoài những bài viết đánh giá khái quát về các phương diện hình thức, nội dung, quan niệm nghệ thuật trong thơ Thanh Thảo nói chung, còn

Trang 12

có khá nhiều bài viết đề cập về những điểm độc đáo, những đặc trưng nghệ

thuật trong từng tập thơ của ông Trong công trình Thơ trữ tình Việt Nam

1975 - 1990, khi xem xét sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam hiện đại, Lê Lưu Oanh cũng có những đánh giá toàn diện về tập thơ Khối vuông rubic Tác giả khẳng định: “Khối vuông rubic là một sự chuyển giọng,

chuyển cách nhìn vốn có mầm mống từ thơ viết trước 1975 khi anh vẽ chân dung thế hệ mình với cái nhìn gai góc, lí lẽ nhiều khi phức tạp Anh nhận thấy sự đổi giọng của chính mình, từ những lời thơ chiến tranh rất đỗi mượt

mà êm ái… đến những câu thơ trần trụi đầy suy nghĩ và lí sự, tỉnh táo và rạch ròi” [43, tr.148-149]; “chuyển cách nói uyển chuyển nhuần nhị sang thơ văn xuôi (có lúc chẳng ra thơ), Thanh Thảo đã thể nghiệm khả năng lí sự, biện luận, tranh cãi, tăng phần trí tuệ, cố gắng hạ nhiệt độ cảm xúc để đưa cái tỉnh táo của lí trí lên cao” [43, tr.149] Đó là về giọng thơ và thể loại, còn

về câu thơ, tác giả nhận xét: “câu thơ của Thanh Thảo mang nhiều định

nghĩa, nhiều tuyên bố: Thời chiến tranh là thời quá ít nhu cầu và quá nhiều khát vọng; thế hệ chúng tôi không thể sống bằng kỷ niệm, không dựa dẫm những hào quang có sẵn Nhiều khi lí sự với các lập luận: làm sao… nói cho cùng; coi chừng… nghĩa là; nói vậy… có lẽ, vậy mà… nhưng, phải nói, có

lẽ, như thế, thì ra Nhiều đối thoại, đặc biệt đối thoại với các giọng khác

khàng, kiên nhẫn và "hạ nhiệt" hơn để phát hiện được "tâm hồn em một đoá hoa

nở chậm" (Đám cháy) gần như đối lập với ngày xưa "cao giọng" có đôi lúc đến đại ngôn, thậm chí giờ anh thu mình đến mức "như con chim kia tập yêu chiếc lồng của mình/ nhưng không cần tập hót" (Khúc chậm 2000)" [TLKS 3, 11]

Trang 13

Không đi sâu vào việc đánh giá thơ Thanh Thảo trong từng tập thơ, tác

giả Phan Huy Dũng đã dành một sự quan tâm đặc biệt cho bài thơ Đàn ghita của Lorca - bài thơ tiêu biểu trong Khối vuông rubic đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông Trong bài “Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo dưới góc nhìn liên văn bản”, tác giả viết: “Đọc Đàn ghita của Lorca, có thể thấy, mỗi từ, mỗi chi tiết, mỗi hình ảnh và hình tượng trung tâm

trong đó đều là đầu mối của một quan hệ giao tiếp rộng lớn, mà nếu thiếu tri thức về các văn bản (hiểu theo nghĩa rộng) có trước đó thì độc giả không thể cảm nhận được, hiểu được ý nghĩa của chúng” [11, tr.207]

Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy rằng, đã có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về thơ Thanh Thảo Các ý kiến đều khẳng định tính độc đáo và chiều sâu của thơ Thanh Thảo Tuy nhiên, phần lớn các công trình và bài viết này đều đi vào tìm hiểu những đặc sắc về chủ đề, tư tưởng, quan niệm nghệ thuật và phác họa chân dung nghệ thuật thơ Thanh Thảo Về ngôn ngữ thơ Thanh Thảo, đặc biệt là về thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ còn ít được các tác giả bàn tới và chưa được nghiên cứu như một vấn đề, một đối tượng khảo sát độc lập Những nhận xét về ngôn ngữ thơ ông mới chỉ là những ý kiến rải rác nằm trong các bài viết về nội dung, về quan niệm nghệ thuật thơ của nhà thơ Cũng có luận văn đã đi vào nghiên cứu ngôn ngữ thơ Thanh Thảo nhưng do phạm vi của đề tài, tác giả mới chỉ tìm hiểu khái quát một số đặc điểm ngôn ngữ thơ Thanh Thảo nói chung chứ chưa có điều kiện

đi sâu nghiên cứu đặc điểm thể thơ, câu thơ và từ ngữ Như vậy, vấn đề thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ Thanh Thảo vẫn đang là một vấn đề còn bỏ ngỏ Và đó chính là cơ sở để chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài này

3 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tìm hiểu đặc điểm thể thơ, câu thơ và

từ ngữ trong thơ Thanh Thảo trong ba tập Dấu chân qua trảng cỏ, Khối vuông rubic và 123 Đây là ba tập thơ đánh dấu những mốc thời gian quan

Trang 14

trọng thể hiện sự vận động của thơ Thanh Thảo Do yêu cầu đối sánh để làm nổi bật những nét riêng của tổ chức bài thơ trong thơ Thanh Thảo, luận văn sẽ khảo sát thêm một số tập thơ của một số nhà thơ khác trong cùng một bối cảnh văn học, ở những phương diện mà đề tài quan tâm.

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ Thanh Thảo, luận văn hướng đến hai mục đích sau:

Thứ nhất, nhận diện những nét đặc sắc nhất của thể thơ, câu thơ và từ

ngữ trong thơ Thanh Thảo, qua đó, thấy được đặc điểm phong cách ngôn ngữ thơ Thanh Thảo

Thứ hai, đặt trong tương quan với các tác phẩm của một số nhà thơ

khác cùng thời, luận văn xác lập một cái nhìn tổng quan về sự vận động của ngôn ngữ thơ Thanh Thảo, qua đó, nhận ra những nét cơ bản về sự vận động của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được hai mục đích nêu trên, chúng tôi đặt ra cho luận văn hai nhiệm vụ:

- Trình bày một số luận điểm cơ bản về ngôn ngữ thơ, đặc điểm của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại làm cơ sở về lý thuyết và thực tiễn cho đề tài

- Phân tích và đánh giá một cách có hệ thống những đặc điểm về cách cách tổ chức thể thơ, câu thơ, từ ngữ trong thơ Thanh Thảo trong sự đối sánh với tác phẩm của nhà thơ khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích diễn ngôn, phương pháp so sánh

Trang 15

6 Đóng góp mới của luận văn

Đây là luận văn đầu tiên đi sâu tìm hiểu và chỉ ra những đặc điểm nổi bật về thể thơ, câu thơ và sự tổ chức từ ngữ trong thơ Thanh Thảo Trên cơ sở

đó, luận văn rút ra những nhận xét bước đầu về phong cách ngôn ngữ thơ Thanh Thảo

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được

triển khai thành ba chương

Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2 Đặc điểm thể thơ trong thơ Thanh Thảo

Chương 3 Đặc điểm câu thơ và từ ngữ trong thơ Thanh Thảo

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số luận điểm cơ bản về ngôn ngữ thơ

Thơ ca là loại hình văn học sớm nhất của nhân loại Nó “ra đời hầu như cùng một lúc với nhạc, họa, múa nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh, ma thuật

thời nguyên thủy” [50, tr.254] So với loại hình tác phẩm tự sự, “thơ ca là

hiện tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ của nó” [14, tr.5] Đối với chủ thể sáng tạo, khi sáng tác văn học, nhà văn bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ như chất liệu sáng tác duy nhất Thông qua lăng kính ngôn ngữ, nhà văn bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, tài năng và sức sáng tạo của mình “Ngôn ngữ văn học thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn, vừa có tính trực giác, tính cá thể, vì vậy M.Gorki

(1868-1936) đã gọi ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” [50, tr.49] Đối

với khách thể tiếp nhận, muốn hiểu được ý nghĩa nghệ thuật của tác phẩm, không thể không chú ý đến văn bản ngôn từ, cũng tức là cách tổ chức ngôn ngữ của tác phẩm Ngôn ngữ thơ, vì thế, sớm trở thành đối tượng quan tâm của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là ngữ văn học Tuy nhiên, tùy vào từng giai đoạn lịch sử, từng quan điểm mà ngôn ngữ thơ được nghiên cứu với một mục đích riêng, một phương pháp tiếp cận riêng Cho đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về ngôn ngữ thơ Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, ở đây, luận văn chỉ trình bày một số luận điểm cơ bản của một số nhà nghiên cứu mà chúng tôi cho là tiêu biểu để có một cái nhìn khái quát về vấn đề ngôn ngữ thơ

Từ góc độ thi pháp học, trong công trình Ngôn ngữ học và thi pháp học, khi chỉ ra đối tượng của Thi pháp học, R Jakobson đã khẳng định: "Đối

tượng của Thi pháp học, trước hết, là phải trả lời cho câu hỏi: "Cái gì biến một thông điệp bằng lời nói thành một tác phẩm nghệ thuật?" [25, tr.9] Và để

Trang 17

trả lời cho câu hỏi này, ông đã phân tích các yếu tố tạo tác của mọi sự vận hành của ngôn ngữ, từ đó, trình bày lí thuyết của mình về các chức năng ngôn ngữ và phân biệt các chức năng này như chức năng biểu cảm (tập trung vào người gửi), chức năng kêu gọi (hướng vào người nhận), chức năng tiếp diện (xác lập, duy trì hoặc ngắt sự giao tiếp), chức năng siêu ngôn ngữ (nói về bản thân ngôn ngữ), chức năng biểu đạt, chức năng thi ca (hướng vào bản thân thông điệp) Như vậy, theo Jakobson, chức năng thi ca không phải chức năng duy nhất của nghệ thuật ngôn từ, tuy nhiên, khi "nhấn mạnh vào thông điệp vì bản thân nó, chính là điều nói lên đặc trưng thi ca của ngôn ngữ" [25, tr.21]

Vấn đề tiếp theo đặt ra ở đây là, chức năng thi ca hiện lên trong tác phẩm như thế nào? Dựa vào tiêu chuẩn nào mà người ta nhận biết một cách kinh nghiệm chức năng thi ca? Theo Jakobson, để trả lời cho câu hỏi này,

"chúng ta phải nhắc lại hai phương thức cơ bản sắp xếp được sử dụng trong cách ứng xử ngôn từ: sự tuyển lựa (sélection) và sự kết hợp" [25, tr.23] Trong đó, "sự tuyển lựa được tiến hành trên cơ sở của sự tương đương (équivalence), của sự tương tự (similarité) và phản nghĩa (antonyme); trong khi ấy, sự kết hợp, tức xây dựng lớp (séquence) ngôn ngữ, đặt trên tình trạng tiếp cận nhau (contiguité) Chức năng thi ca chiếu nguyên tắc tương đương của trục tuyển lựa lên trục của sự kết hợp Sự tương đương được nâng lên hàng biện pháp tạo tác (procédé constitutif) của lớp ngôn ngữ" [25, tr.24] Như vậy, chức năng thơ được xác lập dựa trên sự chiếu ứng của trục tuyển lựa

và trục kết hợp trong ngôn ngữ Trong một bài viết khác, Jakobson khẳng định: "Nhưng cái "poéticité (tính thơ) được biểu lộ ra như thế nào? Chính trong cái ấy, từ mới được cảm nhận (ressent) như là từ, chứ không phải cái thay thế (substitut) giản đơn của đối tượng được gọi tên, cũng như chẳng phải

là sự bùng nổ của cảm xúc Chính trong cái ấy, những từ ngữ và cú pháp của chúng, ý nghĩa của chúng, cái hình thức bên trong và bên ngoài của chúng mới không phải là những chỉ số (indies - dấu hiệu) vô tâm vô tính

Trang 18

(indiffrérents) của thực tại, mà là mang trọng lượng riêng và có giá trị riêng của chúng" [25, tr.78-79] Tác giả cũng so sánh: “nếu hội họa là cách tạo hình bằng những chất liệu của trực quan có giá trị tự tại, nếu âm nhạc là cách tạo

âm bằng chất liệu thuộc thính quan có giá trị tự tại, nếu vũ điệu tạo hình bằng chất liệu cử động của thân thể có giá trị tự tại, thì thơ là cách tạo hình với từ ngữ có giá trị tự tại Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mĩ của nó” [dẫn theo 57, tr.13] Ngoài ra, Jakobson còn khẳng định “ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằm phục vụ một đối tượng trong đời sống hàng ngày

Thơ trái lại là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” [dẫn theo 57, tr.16]

Quan điểm của Roman Jakobson về ngôn ngữ thơ thực chất đã làm rõ tương quan giữa âm và nghĩa, giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện trong thơ Ông khẳng định: "Câu thơ trước hết bao giờ cũng là hình tượng âm thanh được lặp lại, nhưng lại không bao giờ chỉ có thế Muốn giới hạn những quy ước thi ca vào những vận luật, láy phụ âm, gieo vần, chỉ trên bình diện âm thanh sẽ rơi vào thứ lí luận suông (ratiocination) mang tính tư biện, nó không

hề có sự chứng minh nào của kinh nghiệm Cái định thức của Valéry - "bài thơ, sự ngập ngừng (hésitation) kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa" mang tính hiện thực và khoa học hơn tất cả những hình thức của chủ nghĩa biệt lập ngữ

âm học" [25, tr.40-41] Như vậy, theo quan điểm của Jakobson, hình thức của thơ cũng chính là nơi biểu hiện rõ nội dung thơ Nói cách khác, tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện (ít nhất là trong ngôn ngữ thơ) là không hề võ đoán Quan điểm của Jakobson đã ảnh hưởng không ít tới quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thơ sau này

Chẳng hạn, ở Việt Nam, tác giả Đặng Tiến trong công trình Thơ - thi pháp - chân dung khi xem xét nội dung và hình thức ngôn ngữ thơ cũng

khẳng định: “Thơ là ngôn ngữ, vậy nó cũng truyền đạt một tình, một ý Nhưng đặc tính không nằm trong thông điệp truyền đi, mà nằm trong vỏ âm thanh của từ ngữ được sử dụng Ngôn ngữ thơ không chỉ là dụng cụ, mà còn

Trang 19

là thể chất Nó vừa là nội dung, vừa là hình thức: Nội dung đôi khi chính là hình thức của nó” [57, tr.11-12].

Trong bài viết Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi dường như cũng

có sự gặp gỡ với quan điểm của Jakobson và Đặng Tiến khi ông cho rằng:

“Chữ và tiếng trong thơ phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm Người làm thơ chọn chữ và tiếng không phải vì ý nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy đóng lại trong một khung sắt Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái ý nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến chung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra chung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy” [54, tr.55]

Mặc dù cách diễn đạt có khác nhau nhưng các tác giả trên đều có chung một quan điểm, đó là: ngôn ngữ thơ không chỉ là một hệ thống kí hiệu thuần túy dùng để biểu đạt một thông tin\ một nội dung ý nghĩa nhất định mà còn có giá trị thẩm mĩ tự tại

Bên cạnh việc nhìn nhận ngôn ngữ thơ trong chức năng thẩm mĩ của

nó, nhiều nhà nghiên cứu còn tìm bản chất của ngôn ngữ thơ bằng cách đối lập nó với ngôn thông thường và ngôn ngữ trong tác phẩm ngôn ngữ tự sự Jan Makarovsy - một thành viên của “Nhóm ngôn ngữ Praha”, trong công

trình Ngôn ngữ chuẩn và ngôn ngữ thơ (Standard language and poetic language, 1948) đã viết: “Ngôn ngữ thơ, vì thế không phải là ngôn ngữ

chuẩn Nói vậy không phải để phủ nhận mối quan hệ mật thiết giữa hai thứ ngôn ngữ, trong đó, đối với thơ, ngôn ngữ chuẩn là cái nền phản ánh sự bóp méo có dụng ý thẩm mĩ của các thành tố ngôn ngữ của tác phẩm; nói cách khác, sự phá hoại cố ý vi phạm của ngôn ngữ chuẩn” [dẫn theo 31, tr.52-53]

Trong tiểu luận “Thơ là gì?”, cũng đem đối lập ngôn ngữ thơ với các

hình thức ngôn ngữ khác như ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ giao tiếp, tác giả Phan Ngọc đã đi đến kết luận: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái

Trang 20

đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này Nói rằng hình thức tổ chức của ngôn ngữ thơ hết sức quái đản là bởi trong ngôn ngữ giao tiếp không ai tổ chức như thế”

[40, tr.23] Trong Thơ thi pháp chân dung, Đặng Tiến cũng có ý kiến tương

tự: “Thơ là ngôn ngữ nghịch với lẽ thường” [57, tr.18]

Việc đối lập nói trên có cơ sở thực tế từ chính sự khác biệt giữa hình thức tổ chức của ngôn ngữ thơ với hình thức tổ chức ngôn ngữ nói thông thường và ngôn ngữ của tác phẩm tự sự Mặc dù vậy, quan niệm này đã bị rất nhiều học giả bác bỏ Chẳng hạn, tác giả Marry Louise Pratt, nhà lí luận

Hoa Kì, trong cuốn Towarda Speech Act Theory of Literary Discourse (1977) đã dành hẳn chương đầu tiên có nhan đề The “Poetic Language” Fallacy (Ngụy biện về ngôn ngữ thi ca) để bác bỏ định nghĩa thơ dựa trên

sự đối lập giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ giao tiếp Bà viết: “Điều khiến học thuyết về ngôn ngữ thơ đáng ngờ nhất là ở chỗ, mặc dù các môn đồ của

nó luôn khẳng định cơ sở thực chứng cho sự đối lập ngôn ngữ thơ/ không thơ, thật ra họ chưa bao giờ kiểm chứng giả định của họ về diễn ngôn phi văn học so với các dữ liệu ngôn ngữ thực tế, “thông thường”, và trên thực

tế họ cũng không có nhu cầu kiểm chứng… Nếu một sự kiểm chứng như thế được tiến hành, những giả định đó sẽ sụp đổ hoàn toàn và cùng với chúng sẽ sụp đổ luôn hai ý niệm nòng cốt đối với thi pháp học cấu trúc: niềm tin rằng văn học khác hẳn với các phát ngôn khác về mặt chức năng

và hình thức” [dẫn theo 31, tr 54-55] Đây là một ý kiến có thể gây tranh

luận Như chúng tôi đã khẳng định ở trên, sự khác biệt giữa hình thức tổ chức của ngôn ngữ thơ với hình thức tổ chức của tác phẩm tự sự và ngôn ngữ nói thông thường là có cơ sở thực tế Quả thật, ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó có rất nhiều cách tổ chức Mô hình kết hợp và kiểu kết cấu ngữ pháp của nó vì thế cũng rất đa dạng Tuy nhiên, trong sự đa dạng ấy, ở bất kì ngôn ngữ nào, chúng ta cũng có thể tìm thấy những hình

Trang 21

thức tổ chức phổ biến, quen thuộc và những hình thức tổ chức không phổ biến, có phần mới lạ, độc đáo Trong đó, ngôn ngữ giao tiếp thông thường

và ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự thường sử dụng những mô hình tổ chức thông dụng phổ biến còn ngôn ngữ thơ lại thường khai thác những kết hợp độc đáo, bất ngờ, những cách tổ chức ngôn từ mới lạ Mặc dù trong văn học nghệ thuật, khi lấy ngôn ngữ làm chất liệu để sáng tác, người cầm bút bao giờ cũng cố gắng tạo ra tính thẩm mĩ, giá trị nghệ thuật cho ngôn từ, nhưng so với tác phẩm tự sự, tác phẩm thơ bao giờ cũng là lĩnh vực dung chứa nhiều hơn cả những kết hợp lạ, những hình thức cú pháp độc đáo Sở

dĩ có hiện tượng này là vì trong tác phẩm tự sự, dù nhà văn luôn hướng đến

“viết câu chuyện” chứ không phải là “kể câu chuyện”, nhưng họ không lấy ngôn từ làm cứu cánh Nếu không tạo được nét độc đáo trong cách sử dụng ngôn từ thì nhà vẫn có thể tạo ấn tượng thẩm mĩ cho người đọc bằng cách tạo nên sự hấp dẫn trong cách tổ chức câu chuyện, tình huống truyện, các chi tiết nghệ thuật… Trong khi đó, thơ là loại hình lấy ngôn ngữ làm phương tiện và cũng là cứu cánh, nên nhà thơ thường chú ý sử dụng các cách tổ chức ngôn từ độc đáo để khai thác tối đa giá trị thẩm mĩ của ngôn

từ khiến cho người đọc không bị “trượt” qua câu thơ, bài thơ một cách “hờ hững” Do đó, theo chúng tôi, việc nhấn mạnh chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ thơ và đi tìm đặc điểm của ngôn ngữ thơ qua việc đối lập nó với ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thông thường vẫn là một quan điểm có tính khoa học Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà tuyệt đối hóa quan điểm này Nhà thơ là người luôn có ý thức làm “lạ hóa” ngôn từ nhưng không phải ngôn ngữ thơ lúc nào cũng “quái đản” (chữ dùng của Phan Ngọc) Có những câu thơ, bài thơ có ngôn từ vô cùng giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày nhưng vẫn đậm chất thơ Ngược lại, có những tác phẩm văn xuôi của một số tác giả (chẳng hạn như truyện và kí Nguyễn Tuân), lại có cách tổ chức ngôn ngữ hết sức độc đáo nhưng vẫn là văn xuôi tự sự

Trang 22

Cũng đối lập ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ

văn xuôi nhưng tác giả Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn Ngôn ngữ thơ (Nxb

Văn hóa Thông tin, 2000) lại tìm đặc điểm của ngôn ngữ thơ trước hết ở cách nhà thơ tư duy trên chất liệu ngôn ngữ: “Nhà thơ tư duy trên chất liệu ngôn ngữ một cách khá đặc thù: hình thành các hệ hình…, từ hệ hình xây

dựng các phương trình…, rồi biến phương trình thành các chiết đoạn’ [5, tr.55] Do cách tư duy đặc biệt ấy nên ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có

sự khác biệt Tác giả viết: “Để có thể giao tế, chúng ta không được để xuất hiện ở những thời điểm sát nhau những định vị trong cùng một hệ hình… Đấy chính là nguyên lí làm việc của văn xuôi” [5, tr.51], tức là trong văn xuôi, lặp lại là điều tối kị và phương trình không được dùng để xây dựng các

thông báo” Nhưng “chính cái điều mà văn xuôi rất kị ấy lại là thủ pháp làm

việc của thơ: trong thơ, tính tương đương của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo [5, tr.52] Theo tác giả, thơ là một ngôn ngữ

đã được loại trừ nét dư đến mức tối đa để chỉ còn giữ lại nét khu biệt nữa mà

thôi” [5, tr.61] Quan điểm này thực chất đã kế thừa quan điểm của

Jakobson, chú trọng đến hai phương thức tuyển lựa và kết hợp, đồng thời, nhấn mạnh đến nguyên lí song song và tính hàm súc, hai đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ

Không nhấn mạnh vào tính thơ và chức năng thơ như Jakobson, cũng không đối lập ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ thông thường, I U Lotman trong

công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật quan tâm đến những nguyên tắc kết

cấu văn bản nghệ thuật, trong đó có văn bản thơ Ông cho rằng: "Văn bản nghệ thuật được xây dựng trên cơ sở hai kiểu quan hệ, việc đặt tương phản - tương đồng thành những yếu tố lặp lại tương đương và đặt tương phản - tương đồng thành những yếu tố kề cận (không tương đương)… Có thể giải thích khuynh hướng hướng tới tính lặp lại được coi như một nguyên lí mang tính cơ cấu của thi ca, còn khuynh hướng hướng tới tính có thể hợp nhất được như là

Trang 23

nguyên lí mang tính cơ cấu thuộc văn xuôi" [34, tr 192 - 193] Như vậy, theo

I U Lotman, nguyên lí cấu trúc nên văn bản thơ chính là sự lặp lại Từ luận điểm này, ông lần lượt chỉ ra các cấp độ biểu hiện sự lặp lại trong văn bản thơ Cũng giống như Jakobson, Lotman nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa hình thức tổ chức văn bản và ngữ nghĩa của nó Ông khẳng định: "Khi những

sự lặp lại về âm trở nên là đối tượng chú ý của nhà thơ thì cũng là lúc xuất hiện ý định gắn cho chúng một ý nghĩa khách quan nào đấy" [34, tr.200];

"Những cái lặp lại thuộc âm thanh có thể thiết lập nên những mối quan hệ bổ túc giữa các từ, mang vào trong sự tổ chức ngữ nghĩa của văn bản những cái đồng - đối - tịnh lập, được thể hiện ít ra rõ ràng hơn hay nói chung vắng mặt ở cấp độ của ngôn ngữ tự nhiên" [34, tr.201] Như vậy, quan niệm của Lotman phần nào có kế thừa quan niệm của Jakobson Những phân tích của ông về cấu trúc văn bản nghệ thuật cũng như nguyên lí lặp lại trong thơ là những cơ

sở lí thuyết hết sức quan trọng, mở ra một hướng tiếp cận và nghiên cứu văn bản thơ từ góc độ cấu trúc Ở Việt Nam, đã có một số nhà nghiên cứu người Việt chịu ảnh hưởng quan niệm của Lotman như Nguyễn Hưng Quốc,

Nguyễn Phan Cảnh, Thụy Khuê… Chẳng hạn, trong Cấu trúc thơ, Thụy Khuê

đã chỉ ra tính chất song song trong ngôn ngữ thơ và nhận định: "Song song không phải là sự lặp lại tầm thường mà đó là một cấu trúc nghệ thuật có tổ chức, nằm trong một tổ chức rộng lớn hơn: hệ thống ngôn ngữ" [26, tr 133] Nguyễn Phan Cảnh cũng có quan điểm tương tự: "…Trong thơ, tính tương đương của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo" [5, tr.52] Theo tác giả, "thơ là một ngôn ngữ đã được loại trừ nét dư đến mức tối

đa để chỉ còn giữ lại nét khu biệt nữa mà thôi” [5, tr.61].

Tóm lại, có thể thấy, có rất nhiều quan điểm về ngôn ngữ thơ Trên đây chỉ là một số luận điểm cơ bản tiêu biểu cho một số quan điểm ấy Những luận điểm này mặc dù có những hạn chế riêng nhưng phần nào đã cho ta thấy

sự đa diện của ngôn ngữ thơ và tính phức tạp của vấn đề Về cơ bản, chính

Trang 24

những luận điểm này đã góp phần làm cho chúng ta thấy rõ hơn đặc điểm của ngôn ngữ thơ Có thể xem những luận điểm này là những tiền đề lý thuyết, và khi soi chiếu vào thơ Việt đương đại, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về đặc điểm của ngôn ngữ thơ Việt Nam giai đoạn này nói chung, ngôn ngữ thơ Thanh Thảo nói riêng.

1.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, mỗi loại hình thơ khác nhau có một kiểu sử dụng ngôn ngữ khác nhau Bàn về vấn đề này, tác giả Phan Huy Dũng viết: "Đối với nhà thơ dân gian, lời nói là thứ "chẳng mất tiền mua", là "của kho vô tận" cứ mặc nhiên "lựa lời" mà sử dụng Bởi vậy, ngôn ngữ của ca dao

là thứ ngôn ngữ hồn nhiên, tự nhiên, dễ dàng, gần với khẩu ngữ Đối với nhà thơ cổ điển, ngôn ngữ có một vẻ đẹp thiêng liêng đòi hỏi anh ta phải đối xử với nó theo một cách khác… Chính vì thế, ngôn ngữ thơ cổ điển mang vẻ đẹp của một công trình chế tác công phu… Đến nhà thơ hiện đại, nhãn quan về

ngôn ngữ không hoàn toàn giống trước Thay thế cho câu thơ điệu ngâm trước đây là câu thơ điệu nói (hai thuật ngữ này do Trần Đình Sử đề xuất)

Với câu thơ điệu nói, giọng điệu cá thể của người sáng tạo được giải phóng để trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của thơ…" [10, tr 82]

Sau 1975, hoàn cảnh xã hội nước ta có nhiều biến động lớn, do vậy, văn học giai đoạn này nói chung, thơ nói riêng có nhiều thay đổi Nếu trước

đó, gắn với vận mệnh giải phóng dân tộc nên văn học nhiều khi đã phải “hy sinh” tính nghệ thuật của mình để hướng về phục vụ chính trị, thì giờ đây, khi đất nước trở về với cuộc sống hòa bình, văn học lại có điều kiện tìm về với bản thể của chính mình với những đặc điểm và quy luật vận động khác trước Thực tiễn cho thấy, hơn ba mươi năm qua, văn học Việt Nam đã thực sự bước vào quĩ đạo đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ, tạo nên diện mạo khác trước Đối với thơ ca, sự đổi mới này bắt đầu trước hết từ sự đổi mới tư duy nghệ thuật và

Trang 25

quan niệm nghệ thuật thơ; sau đó, nó thể hiện ở những cách tân mới mẻ trong hình thức thể hiện, trong đó có phương diện ngôn ngữ Trong thời kì này, khi tinh thần dân chủ trở thành một đặc điểm chính của văn học và tác động mạnh

mẽ đến tư duy nghệ thuật của nhà văn, khi cái tôi trữ tình trong thơ từ cái tôi công dân trở về với cái tôi cá nhân, thì nhiều nhà thơ đã tìm đến với những lối

viết mới, các hình thức thể hiện mới Trong tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ,

Nguyễn Đình Thi khẳng định: “Thơ chúng ta ngày nay đang ở tuổi trẻ nhất của thời đại mới Nhịp sống của chúng ta từ sau cách mạng đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ào ạt Chúng ta không sống khoan thai như một thời nào trước Nhịp điệu cũ, theo tôi, không còn đủ cho chúng ta Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm nghìn phía

nhưng lúc nào cũng là một sức sống đang lên” [54, tr.55] Trần Ngọc Hiếu trong bài viết Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ trong thơ Việt Nam đương đại cũng cho rằng: “Có lẽ cũng không khó khăn lắm để nhận ra

nhiều cây bút thơ hiện nay đã không còn thỏa mãn với lối viết, hệ thi pháp đã định hình và dường như đã biến thành lối mòn Khao khát bứt phá, đổi mới đã khiến nhiều nhà thơ hoài nghi, muốn xem xét lại những định nghĩa tưởng chừng như đã xong xuôi, ổn định Đâu là yếu tính của thơ? Câu hỏi mang tính bản thể ấy đã không dẫn đến những câu trả lời thống nhất, và thực tế cho thấy, những tìm tòi thể nghiệm cách tân thơ hiện nay đang đi theo nhiều ngả khác

nhau” [33, tr.368] Những nhận định này phần nào đã cho ta thấy sự vận động

mạnh mẽ và phức tạp của thơ Việt Nam đương đại Có thể nói, sau 1975, văn học Việt Nam nói chung và thơ Việt Nam nói riêng vẫn đang trong thời kì

“tìm đường”, thể nghiệm Xác định những động hình mới của ngôn ngữ thơ trong một giai đoạn văn học đầy biến động như vậy, quả thực không phải là

chuyện đơn giản Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Thơ Việt Nam sau 1975 - diện mạo và khuynh hướng phát triển, sau khi nêu ra một số khuynh hướng

Trang 26

nổi bật của thơ ca đương đại cũng đã chỉ ra một số đặc điểm ngôn ngữ nổi bật của thơ ca giai đoạn này, cụ thể là:

- Ngôn ngữ đậm chất đời thường

- Ngôn ngữ giàu chất tượng trưng

- Những “trò chơi” ngữ nghĩa trong thơ

Từ ý kiến trên đây, chúng tôi sẽ đi vào luận giải một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại, đó là: ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường; ngôn ngữ thơ lược các dấu hiệu liên kết, gia tăng độ nhòe nghĩa; sự gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ và sự xuất hiện những “trò chơi ngữ nghĩa” trong thơ

1.2.1 Ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường

Có thể nói, sau 1975, ngôn ngữ thơ thực sự đã vận động, thay đổi Nhiều nhà thơ sử dụng những cách nói dân gian, cách nói mang đậm phong cách khẩu ngữ - một thứ ngôn từ thô ráp, trần trụi, đậm chất đời thường - làm cho thơ trở nên hóm hỉnh, hài hước, gần gũi với người đọc Thật khó tìm

trong thơ trước 1975 những câu, những đoạn tếu táo, trần trụi thế này:

Tạnh men là tạnh la đà Tạnh cơn một bóng ảo ra chính mình

Phàm trần bớt chút lung linh Các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần

(Nguyễn Duy)

tiếng nước đái nhỏ giọt

trong bồn cầu tí tách thứ nước ấm sóng sánh vàng

hổ phách trong người tôi tuôn ra phải rồi

Trang 27

tôi là đàn bà hạng đàn bà đái không qua ngọn cỏ bây giờ

được ngồi rồi trên bồn cầu chễm chệ tương lai không chừng tôi sẽ

to con mập phệ

tí tách như mưa ngọn cỏ gió đùa

(Ngọn cỏ - Nguyễn Thị Hoàng Bắc)

Việc sử dụng ngôn ngữ đậm chất đời thường đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong nền thơ Việt Nam đương đại Bàn về vấn đề này, tác giả Nguyễn Đăng Điệp đã nhận xét: "Thơ ca Việt Nam trước đây có phần quá nghiêm trang và đậm chất giáo huấn Việc tạo nên những cách nói “xẩm giọng” và giọng điệu “bụi bặm” đã khiến cho thơ trở nên “tếu táo” hơn và

cũng gần gũi với người đọc hơn" [33, tr.385]

Trong thơ Việt Nam đương đại, các nhà thơ có xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, với những lo toan của đời sống thường nhật Họ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt Nhưng để tái hiện những nỗi buồn, sự lo âu ấy, các nhà thơ không nói bằng giọng điệu thâm trầm, đau đớn mà thể hiện bằng một giọng điệu đầy chua chát, mỉa mai Và để có được giọng điệu ấy, không có phương thức nào tốt hơn bằng việc sử dụng những hình thức tổ chức ngôn ngữ mang đậm phong cách khẩu ngữ, sinh hoạt

Việc sử dụng ngôn ngữ đậm chất đời thường có nguyên nhân từ việc

“giải thiêng” quan niệm về ngôn ngữ thơ Nếu trước đây, người ta quan niệm ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ được chắt lọc từ “hàng tấn quặng ngôn từ”, thì giờ đây, bằng cái nhìn đầy dân chủ, các nhà thơ đương đại đã đưa vào trong thơ tất cả những ngôn từ mà người ta vẫn kiêng kị, né tránh Có thể nói, việc

Trang 28

sử dụng ngôn ngữ đậm chất đời thường thể hiện mong ước đem lại cho thơ một diện mạo mới Bằng cách đó, một số nhà thơ đương đại muốn đối thoại với quan niệm thơ trước đó Thu Bồn khẳng định:

Tôi lột hết ngữ ngôn bóng bảy Những xống áo triều thần trong những tụng ca Nguyễn Hữu Hồng Minh có bài thơ Đề cao hiện thực miêu tả cái bồn cầu Trần Tiến Dũng có Bầu trời lông gà lông vịt, hoặc táo bạo hơn, nhóm

Mở miệng gọi thẳng tên bộ phận sinh dục và hành vi tính giao bằng các từ ngữ thông tục mà người ta vẫn sử dụng hàng ngày Xuất phát từ ý tưởng không thể làm ra cái mới, họ tuyên bố làm thơ là một hành động phá phách:

“Thơ nhiều khi chỉ là chuyện gây hấn, một chút hài hước, một cú sốc nhận thức, thậm chí là một trò đùa vui nơi bàn nhậu, chẳng kém phần nhảm nhí” [21, tr.44] Việc đưa những từ ngữ thô tục vào trong thơ một cách phổ biến đã thể hiện hành động “gây hấn” với dư luận của họ Nó làm ta nhớ đến trường phái Dada đầu thế kỉ ở phương Tây hoặc nhóm Sáng tạo ở Sài Gòn những năm 60,… Dù sao, đây cũng là “một hiện tượng còn đang vận động và lời phán quyết thuộc về tương lai” [21, tr.44]

Thực ra, việc sử dụng ngôn ngữ đậm chất đời thường không chỉ diễn ra trong thơ mà là một hiện tượng có tính phổ biến của văn học Việt Nam giai đoạn này Ở truyện ngắn và tiểu thuyết, kiểu sử dụng ngôn ngữ này được thể hiện qua những tiếng chửi, những lời văn đầy tính thô tục, sự giễu nhại trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà… Sự xuất hiện của kiểu ngôn ngữ đậm chất đời thường trong tác phẩm văn học, đặc biệt là trong thơ không những góp phần đưa thơ ca trở về gần hơn với cuộc sống thường nhật, mà còn góp phần khẳng định sự bình đẳng của các thành tố ngôn ngữ trong nghệ thuật Thơ ca giờ đây không còn chú tâm những yếu tố ngôn từ có tính đặc tuyển, mà dung nạp tất cả các từ ngữ thuộc các

kiểu phong cách chức năng khác nhau Trong công trình Ngôn ngữ học và thi

Trang 29

pháp học, R Jakobson đã đưa ra một câu chuyện khá thú vị về vấn đề này, tác

giả viết: "Ở châu Phi, một nhà truyền giáo trách con chiên là không mặc áo quần Những người thổ dân chỉ vào mặt của Cha và nói: "Cả Cha nữa, Cha không để trần trụi chỗ nào cả ư?" "Đúng rồi, nhưng đây là khuôn mặt của Cha mà" Các thổ dân cãi lại: "Này cha, trong người chúng con thì đâu cũng

là mặt cả" [25, tr.59] Từ câu chuyện này, Jakobson đã khẳng định: "Thơ ca không phải là ở chỗ thêm vào lời nói những trang trí tu từ học; nó bao hàm một sự đánh giá lại toàn bộ lời nói và tất cả những thành tố bất kể chúng là thế nào" [25, tr.59] Như vậy, có thể nói, việc xuất hiện ngôn ngữ đậm chất đời thường là một hiện tượng không hề ngẫu nhiên mà là hiện tượng phản ánh quy luật phát triển tất yếu của ngôn ngữ thơ trong lịch sử thơ ca của nhân loại

1.2.2 Ngôn ngữ thơ tỉnh lược tối đa các dấu hiệu liên kết, gia tăng độ nhòe ngữ nghĩa

So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có một đặc điểm khác hẳn đó

là sự ngắn gọn, súc tích Nếu ngôn ngữ văn xuôi được nhà văn tổ chức một cách đầy đặn để tái hiện bộ mặt cuộc sống như nó vốn có, thì ngôn ngữ thơ lại được tổ chức một cách cô đúc để đạt được độ hàm súc, gợi mở cao Việc sử dụng dày đặc các phép tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, ước lệ… trong thơ đã “chứng tỏ một cố gắng đầy ý thức của các nhà thơ nhằm uốn vặn ngôn ngữ thông thường tạo nên hiện tượng “lệch chuẩn” có giá trị, hướng tới việc biểu đạt những rung động thơ đầy phong phú, phức tạp trong một hình thức súc tích, kiệm lời và mang tính gián tiếp” [10, tr.48] Ở bất cứ giai đoạn nào của lịch sử văn học, các nhà thơ cũng luôn cố gắng để tăng cường sức chứa, sức biểu đạt, biểu cảm cho ngôn từ Trong thơ Việt Nam đương đại, tình hình cũng diễn ra tương tự như vậy Tuy nhiên, nếu trước đây các nhà thơ sử dụng những hình thức ngôn từ mang tính tượng trưng, ước lệ, các biện pháp tu từ

ẩn dụ, hoán dụ… để tăng cường tính hàm súc, tỉnh lược chủ ngữ để tạo ra tính phiếm chỉ thì trong thơ đương đại, ngoài những hình thức này, một số nhà thơ

Trang 30

có xu hướng tỉnh lược tối đa các dấu hiệu liên kết ngôn từ, dồn nén từ ngữ để tạo cho câu thơ độ mở về nghĩa, từ đó, gia tăng tính hàm súc cho ngôn ngữ thơ Chính vì điều này, trong thơ thường xuất hiện những cách kết hợp từ ngữ độc đáo, không tuân theo logic ngữ pháp thông thường, khiến cho ngữ nghĩa của câu thơ, bài thơ trở nên mơ hồ, rất khó nắm bắt Sở dĩ có hiện tượng này

là vì trong thời gian gần đây, một số tác giả có xu hướng trở về với cái tôi bản thể, cố gắng phát hiện chiều sâu bí ẩn của tâm linh con người, đặc biệt là những phần bản năng, vô thức nên họ muốn khước từ và loại bỏ áp lực của lí trí, của tư duy logic trong thơ, ngôn ngữ thơ vì thế mà không còn tuân theo logic trật tự thông thường mà biến hóa theo sự vận động của cảm xúc và dòng

ý thức Quan hệ giữa dòng thơ, câu thơ, đoạn thơ trong bài thơ vì thế cũng bị gián đoạn, thậm chí có lúc rời rạc, lỏng lẻo Tuy nhiên, bên trong cái bề ngoài

có vè lỏng lẻo ấy, ngôn ngữ thơ vẫn có một mạch liên kết ngầm ẩn, được tạo nên bởi dòng cảm xúc Trên thực tế, cách tổ chức ngôn từ này là một hướng tìm tòi của không ít nhà thơ và đã trở thành một đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

1.2.3 Sự gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ

Song song với xu hướng tỉnh lược tối đa các dấu hiệu liên kết và dồn nén từ ngữ, tạo nên tính đa nghĩa, hàm súc cho ngôn ngữ thơ, trong thơ ca đương đại, nhiều nhà thơ còn chủ trương cách tân ngôn ngữ thơ bằng cách gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ Trong ngôn ngữ của loại thơ này, mạch cảm xúc, chất trữ tình ẩn đi dưới bề mặt của những yếu tố thiên về những giải bày, thuật tả, biện luận kiểu tự sự Nhiều nhà thơ không ngần ngại đưa vào tác phẩm những mẩu đối thoại, các yếu tố ngôn ngữ sinh hoạt hoặc

để cho ngôn ngữ văn xuôi tràn vào thơ Bài thơ không phân khổ, phân đoạn

mà được trình bày như một văn bản tự sự Câu thơ, bài thơ được nới rộng Cấu trúc các thể loại thơ truyền thống cũng được nới lỏng Nếu trước đây, bài thơ được tổ chức một cách chặt chẽ, gắn chặt với vần, nhịp thì giờ đây, vần

Trang 31

thơ gần như không được chú ý, thậm chí bị lược bỏ Dấu hiệu để nhận ra tác phẩm thơ lúc này là nhịp thơ, hình ảnh thơ, cách cấu tứ bài thơ Nhiều nhà thơ muốn tung phá, thoát ra khỏi quy ước về dòng thơ, câu thơ, bài thơ để đi tìm một khuôn dạng thích hợp với những tìm tòi phóng túng, cách tân trong tư duy và biểu đạt ngôn từ thi ca Thể thơ văn xuôi và thơ tự do vì thế trở thành một thể được nhiều nhà thơ đương đại lựa chọn Sở dĩ có hiện tượng này là vì sau chiến tranh, con người trở về với muôn mặt đời thường với những tình cảm, suy nghĩ mới, đa dạng và phức tạp Hình thức ngắn gọn, súc tích của câu thơ, thể thơ truyền thống giờ đây không thể dung chứa hiện thực rộng lớn của đời sống thế sự cũng như những tình cảm phức tạp của con người Để phản ánh và thể hiện được điều đó, các nhà thơ đã tìm đến với những hình thức biểu hiện mới Sự gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ là một hướng tìm tòi có hiệu lực là thực sự đã trở thảnh một đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại.

1.2.4 Xuất hiện những trò chơi chữ nghĩa trong thơ

Khi vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật thơ ca được chú ý nhiều hơn thì tất yếu sẽ dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau Nếu trước đây, người ta cho

rằng, văn chương, mà đặc biệt là thi ca là một thứ vũ khí: Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền (Sóng Hồng), thì đến thời

hiện đại, văn chương, trong đó có thi ca không chỉ là một thứ vũ khí để đấu tranh, một thứ phương tiện để biểu đạt tâm trạng cá nhân, mà với nhiều người,

nó còn là một trò chơi Với quan niệm như vậy, nhà thơ có thể thoải mái thể hiện ý tưởng sáng tạo của mình một cách tự do nhất Nó “đối trọng” với quan niệm coi văn chương, trong đó có thơ ca là là phương tiện “tải đạo” đầy sự trang nghiêm Nhiều nhà thơ đương đại xếp đặt ngôn từ như một trò chơi - trò chơi ngữ âm và trò chơi chữ nghĩa Cách làm thơ độc âm của Trần Dần trong

tập Mùa sạch, cách sắp đặt chữ nghĩa của Lê Đạt trong Bóng chữ, cách khai thác vẻ đẹp diện mạo, hình dáng con chữ của Dương Tường trong tập Đàn… là

Trang 32

những ví dụ sinh động Với những cách sắp đặt ngôn từ như một trò chơi, những nhà thơ này đã thực sự “chơi” với chữ, với âm và qua đó chứng minh khả năng kì diệu của con chữ, của âm thanh trong việc tạo nên những liên tưởng nhiều chiều cho người đọc Với họ, thơ cần được cảm nhận hơn là được hiểu Tất nhiên, trò chơi chữ nghĩa này thể hiện một quan niệm nghệ thuật mới của các nhà thơ về ngôn từ thơ ca, rộng hơn là quan niệm nghệ thuật về thế giới, về con người Nó gắn với quan niệm “giải thiêng” chức năng thi ca trong văn học Việt Nam đương đại Thực ra, hình thức tổ chức ngôn ngữ này không còn quá mới lạ với thơ ca nhân loại Người ta có thể nhìn thấy thơ thị giác của Apooline hay cách xếp đặt âm thanh, hình khối khác lạ trong thơ châu Âu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khi xem thơ ca như một thứ trò chơi, các nhà thơ không hoàn toàn đơn giản hóa, tầm thường hóa vị trí của thơ ca, trái lại, là một trò chơi, cũng có nghĩa là ngôn ngữ thơ đòi hỏi có một hình thức thức tổ chức đặc biệt với quy tắc riêng, tạo hứng thú cho người tham gia Trò chơi ấy không chỉ đơn thuần được thể hiện ở từ ngữ, ở ngữ nghĩa, ở ngữ âm như nghệ thuật chơi chữ đã xuất hiện trong thơ ca trước đây

mà nó được thể hiện ở sự sắp xếp, tổ chức trên toàn bộ văn bản thơ, thậm chí

cả tập thơ Để tham gia được vào trò chơi đó, tức là để giải mã được tác phẩm,

tư duy của người tiếp nhận phải thay đổi, phải tự mình tìm hiểu quy tắc riêng của hình thức tổ chức mà nhà thơ đã đặt ra - tức là phải hiểu quy tắc của trò chơi Với độc giả Việt Nam, vốn quen với cách tiếp nhận thơ kiểu truyền thống nên hình thức tổ chức ngôn ngữ này vẫn còn mới lạ Tuy nhiên, có thể nói, ở một khía cạnh nào đó, sự xuất hiện những trò chơi chữ nghĩa trong thơ đã góp phần tạo nên diện mạo mới mẻ cho ngôn ngữ thơ giai đoạn này

Trên đây là sự trình bày sơ lược một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ đương đại Ở một thời kì mà thơ vẫn đang trên hành trình tìm đường và thể nghiệm, những đặc điểm này phần nào đã cho ta thấy sự phát triển đa dạng, phong phú và phức tạp của ngôn ngữ thơ đương đại Việt Nam Về cơ

Trang 33

bản, những đặc điểm này có thể cấp cho ta một cái nhìn tổng quan về thơ Việt Nam sau 1975 nói chung và ngôn ngữ thơ Việt Nam sau 1975 nói riêng Đặt những đặc điểm của thể thơ, câu thơ và từ ngữ thơ Thanh Thảo trong tương quan với những đặc điểm nêu trên, chúng ta sẽ thấy được rõ hơn những đóng góp quan trọng của Thanh Thảo trong hành trình cách tân thơ Việt.

1.3 Thơ Thanh Thảo trong bối cảnh thơ Việt đương đại

1.3.1 Thanh Thảo và những nỗ lực cách tân thơ

Cách tân và sáng tạo, đó là con đường duy nhất cho các nghệ sĩ chân chính, cho dù đó là con đường đầy chông gai, hiểm nguy và đơn độc Hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ là hành trình tìm đến cái mới, đến sự cách tân Là một nhà thơ luôn có ý thức trách nhiệm với nghề nghiệp, “như một nghệ sĩ chân chính, ngay từ những bước đầu tiên trên thi đàn, Thanh Thảo đã

là ngòi bút ham cách tân” [33, tr.415] Trong các tập thơ và tiểu luận của

mình, Thanh Thảo thường nhắc tới hình ảnh Kinh thành Cordoba xa thẳm và đơn độc trong thơ G Lorca như là biểu tượng cho bản chất bí mật của thơ ca

mà con người không thể khám phá hết được Nhưng cho dù khám phá được hay không thì vị trí mà Thanh Thảo lựa chọn vẫn là vị trí tiên phong với tinh thần táo bạo của một bản lĩnh dám dấn thân Nhà thơ quan niệm, số phận của một nhà thơ cách tân là luôn luôn ở vạch xuất phát và luôn phải biết quên

Ngay từ khi Thanh Thảo mới bắt đầu con đường thơ của mình thì Dấu chân qua trảng cỏ, Những người đi tới biển, Những ngọn sóng mặt trời của ông đã

là một tiếng thơ mới đầy ấn tượng Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, sau những bước đi ban đầu ấy, nhà thơ vẫn không ngừng theo đuổi những dự định sáng

tạo mới Ông sẵn sàng quên đi tất cả để trở về với vạch xuất phát (chữ dùng của Thanh Thảo), để cặp mắt được tái sinh (Khối vuông Rubic) với những

nẻo đường mới, những khó khăn mới, chấp nhận mọi rủi ro thua thiệt Và Thanh Thảo đã thực sự thành công với những thể nghiệm, những sáng tạo

Trang 34

mới của mình Đúng như nhà phê bình Chu Văn Sơn nhận xét: “Đến nay, dấu

ấn mạnh mẽ anh gieo vào lòng người đọc cũng là những bản lĩnh dám dấn thân, dám tiên phong Đó không phải là những dấu chân in trên trảng cỏ thời gian hiền lành, mà là những dấu chân mở lối giữa chông gai nhiều khi rớm máu Và những giọt máu rỏ xuống con đường tìm kiếm do giẫm vào gai sắc,

do bước qua cả mõm chó vó ngựa, không phải là không kết nên những đóa hoa sáng tạo” [33, tr.415]

Nói về những cách tân của Thanh Thảo đối với thơ Việt, trước hết phải nói đến những cách tân về nội dung thơ Giữa lúc thơ Việt Nam đang “mạnh

về thứ tâm tình ở bên trên” (chữ của Chu Văn Sơn), đang vận động theo quán tính của nền văn học sử thi, lãng mạn đầy những lời hô hào, tụng ca có phần

dễ dãi, thì Thanh Thảo đã mang đến cho thơ Việt Nam một luồng sinh khí mới, bằng cách đưa vào thơ một tiếng nói mới đầy băn khoăn, day dứt, đầy lo

âu, bận tâm về lẽ nhân sinh Trong thế hệ mình, Thanh Thảo thuộc số ít người

đã có những băn khoăn như thế ngay từ những sáng tác đầu tay:

Hạnh phúc nào cho tôi?

Hạnh phúc nào cho anh?

Hạnh phúc nào cho chúng ta?

Hạnh phúc nào cho đất nước?

Những câu hỏi chưa bao giờ nguôi được?

(Thử nói về hạnh phúc)

Nỗi niềm trăn trở của Thanh Thảo thực ra cũng là nỗi niềm trăn trở của

cả một thế hệ, nỗi niềm của bao con người đã từng vượt qua “những trải nghiệm rớm máu”:

Chúng tôi không tiếc đời mình Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc?

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi đất nước?

Trang 35

Nhưng đó mới chỉ là một phần nhỏ trong những nỗ lực cách tân của Thanh Thảo Nhà phê bình Chu Văn Sơn nhận định: "Thanh Thảo được xem là tay cách tân chủ yếu ở chuyện khác: chuyện hình thức" [33, tr.416] Trong hình thức thể hiện, Thanh Thảo tập trung nỗ lực cách tân của mình trước hết vào việc phá vỡ cấu trúc của tác phẩm Nhà thơ quan niệm:

Rubic- đó là cấu trúc của thơ Thơ Thanh Thảo mới xem tưởng như chỉ là

những mảnh đoạn được lắp ghép một cách rời rạc, không có sự liên kết, nhưng đọc kĩ, chúng ta sẽ thấy, những mảnh đoạn tưởng như rời rạc ấy lại được liên kết bởi một cấu trúc bề sâu vô cùng chặt chẽ, giống như khối vuông rubic dù muôn màu, muôn mặt nhưng đều châu tuần xung quanh một trục kết hợp nhất định Ngoài ra, Thanh Thảo còn không ngừng nỗ lực đổi mới ngôn ngữ thơ Ông là một trong những nhà thơ đầu tiên đưa vào thơ Việt thứ ngôn ngữ mang phong cách khẩu ngữ, sinh hoạt, mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống Bên cạnh đó, nhà thơ giản lược tối đa các phương tiện liên kết trong ngôn ngữ thơ, sử dụng kiểu ngôn ngữ gián cách, vận động theo mạch cảm xúc Ngôn ngữ thơ Thanh Thảo, vì thế, thường chứa nhiều khoảng trống, giàu khả năng gợi mở, đa nghĩa Đặc biệt, trong một số sáng tác gần đây của mình, Thanh Thảo thường tổ chức câu thơ theo từng đoạn, từng chuỗi ngôn từ, các dấu câu bị lược bỏ hoàn toàn Những cách tân này của Thanh Thảo đã góp phần làm nên diện mạo mới cho thơ Việt Nam đương đại và có ảnh hưởng không nhỏ đến các nhà thơ thế hệ sau Đúng như Chu Văn Sơn khái quát: “Cách Thanh Thảo làm cho thơ cũng không khác cách Nguyễn Tuân làm cho tùy bút trước đây, Nguyễn Đình Thi làm cho thơ và kịch, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp làm cho truyện ngắn, Nguyễn Khải, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh làm cho tiểu thuyết, hay lớp người kế tiếp đang hăng hái làm cho bao thể khác nữa Những nỗ lực như thế bao giờ cũng thuộc về tương lai” [33, tr.422]

Trang 36

1.3.2 “Dấu chân qua trảng cỏ”, “Khối vuông rubic” và “123” - ba tập thơ đánh dấu sự vận động của thơ Thanh Thảo trong nền thơ Việt đương đại

Con đường nghệ thuật của Thanh Thảo có thể chia làm hai chặng chính: trước và sau 1985 Ngay sau 1975, Thanh Thảo đã thực sự tạo nên

tiếng vang trên thi đàn Việt Nam với tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ Trong

tập thơ này, Thanh Thảo đã cho thấy sự táo bạo trong cách cảm, cách nghĩ của mình về những vấn đề lớn của dân tộc Tập thơ đã gây xôn xao diễn đàn văn học lúc bấy giờ, bởi cách nói táo bạo, cách lột tả chiến tranh đúng như nó vốn có, bởi một kiểu nói lạ chỉ có ở Thanh Thảo:

tốt nhất là cha gởi cho con gói kẹo mua sẵn cho con vài thứ đồ chơi năm con chưa ra đời

cuộc chiến tranh vừa kết thúc chưa đủ kẹo và đồ chơi cho tất cả trẻ con

có những em bé bảy, tám tuổi đầu phải đổ xô vào

cuộc mưu sinh đất nước còn đau trong dạ

cha hiểu gói kẹo phần con rất thiêng liêng nhưng bây giờ có lẽ còn thiêng liêng hơn

là ao ước của nhiều bạn nhỏ ở Điện Bàn, Gio Linh được ăn những bữa cơm no đủ

mâm cơm có một đĩa cá chuồn

(Gửi con năm con chưa ra đời)

Có thể nói, trong Dấu chân qua trảng cỏ, Thanh Thảo đã phản ánh toàn

bộ hiện thực chiến tranh qua những khúc ca bi tráng về số phận dân tộc Tập thơ tái hiện một cách toàn diện cả một thời mà máu lửa cùng nước mắt đã hoà lẫn với nhau thành màu “cờ đỏ” oanh liệt Khi bước ra khỏi cuộc chiến bi hùng ấy, con người trở lại đời sống hằng ngày với nhiều đổ vỡ, mất mát và

Trang 37

khiếm khuyết về mọi mặt… So với những tập thơ theo khuynh hướng sử thi,

lãng mạn cùng thời, Dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo thực sự là tiếng

thơ mới lạ, độc đáo Tuy nhiên, trên đại thể, thơ Thanh Thảo thời kì này vẫn

chưa thoát hẳn khỏi âm hưởng sử thi Phải đến khi tập thơ Khối vuông rubic

ra đời, những nỗ lực cách tân thơ của Thanh Thảo mới được bộc lộ Được nhà

xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1985, sự ra đời của tập thơ Khối vuông rubic là bước chuyển quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Thanh thảo Với Khối vuông rubic, Thanh Thảo đã tìm được lối ra cho những cơn xuất hứng (chữ dùng của Thanh Thảo), và đây là tập thơ khiến ông vui Trên nền

tảng của sự thống nhất cơ bản trong phong cách sáng tác, so với giai đoạn

trước, trong Khối vuông rubic, Thanh Thảo đã có những tìm tòi đổi mới mang

tính sáng tạo trên nhiểu phương diện Tất cả những nỗ lực cách tân thơ của Thanh Thảo, từ việc phá vỡ cấu trúc tác phẩm truyền thống đến việc sử dụng ngôn từ đa phong cách, giản lược tối đa phương tiện liên kết của câu thơ, bài

thơ… đều hội tụ trong tập thơ này Từ Khối vuông rubic, Thanh Thảo đã mở

ra chặng đường sáng tạo mới cho sự nghiệp của mình, đồng thời, góp phần

mở ra những ngả đường mới cho thơ Việt đương đại

Sau Khối vuông rubic, 123 là tập thơ tiếp tục đánh dấu nỗ lực cách tân thơ của Thanh Thảo So với Khối vuông rubic, ở 123, những điểm cách

tân trước đó của Thanh Thảo như việc sử dụng ngôn từ đa phong cách, giản lược phương tiện liên kết của câu thơ, bài thơ,… vẫn được phát huy Tuy

nhiên, ở 123, những đặc điểm này được thể hiện rõ ràng hơn Ngoài ra,

trong tập thơ này, người ta dường như cũng nhận ra một sự khác biệt rõ

ràng của phong cách thơ Thanh Thảo Nếu trước đây, trong Khối vuông rubic, những nỗi đau đớn, sự chua xót,… của hiện thực xã hội được Thanh

Thảo nhắc đến bằng cái nhìn duy lí và thái độ ngang tàng, thì giờ đây,

trong 123, giọng thơ Thanh Thảo vẫn mạnh mẽ nhưng dịu dàng, đằm thắm

hơn, khẽ khàng, kiên nhẫn và "hạ nhiệt" hơn để nói lên sự thăng trầm của

Trang 38

thời cuộc: con lặng như cây dừa/ không hiểu sao mình đậu quả (Không đề),

để phát hiện được tâm hồn em như một đóa hoa nở chậm (Đám cháy), để thu mình lại trước cuộc đời: như con chim kia tập yêu chiếc lồng của mình/ nhưng không cần tập hót (Khúc chậm 2000) Tập thơ 123 là "một cuộc chiến mới được khơi dậy bằng sự cô độc của chính mình" [III, tr.13]; "nó

lặng lẽ hơn, khiêm nhường hơn, nhưng đau đớn và thấm thía hơn, nghèo lời

hơn mà giàu có âm hưởng hơn" [III, tr.15]

Như vậy, có thể nói, ba tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ, Khối vuông rubic và 123 là ba tập thơ đánh dấu từng chặng đường trên hành trình cách tân

thơ của Thanh Thảo Tìm hiểu đặc điểm thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ Thanh Thảo trong ba tập thơ này, chúng tôi mong muốn tìm được nét phong cách chung của thơ Thanh Thảo, đồng thời, chỉ ra sự vận động, đổi mới của thơ Thanh Thảo, từ đó, góp thêm một cái nhìn thấu đáo về sự vận động của thơ Việt đương đại

1.4 Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi nhằm làm rõ một số luận điểm về thơ, ngôn ngữ thơ và đặc điểm của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại Đồng thời, luận văn cũng giới thiệu khái quát những nỗ lực của Thanh Thảo trên con đường cách tân thơ Việt và sự vận động của thơ Thanh Thảo qua ba tập thơ Từ đó,

có thể rút ra một số luận điểm cụ thể như sau:

Thứ nhất, có nhiều quan niệm về thơ và ngôn ngữ thơ, điều đó cho thấy

thơ và ngôn ngữ thơ mang nhiều đặc điểm Trong tương quan với ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có giá trị thẩm mĩ tự tại, có hình thức tổ chức đặc biệt

Thứ hai, ngôn ngữ thơ vận động theo sự phát triển của cái tôi trữ tình

và thay đổi trong từng giai đoạn văn học, và vì vậy, sau 1975, khi hoàn cảnh lịch sử xã hội của Việt Nam có nhiều thay đổi, ngôn ngữ thơ cũng chuyển mình và vận động theo những quy luật và đặc điểm khác trước

Trang 39

Thứ ba, trong nền thơ ca đương đại, Thanh Thảo là nhà thơ có đóng

góp to lớn cho sự nghiệp cách tân thơ Việt Thơ Thanh Thảo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thơ Việt giai đoạn này và những nỗ lực của ông về cách tân thơ

đã được ghi nhận Ba tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ, Khối vuông rubic và

123 là ba tập thơ đánh dấu sự vận động của thơ Thanh Thảo và cũng là minh

chứng cho những nỗ lực cách tân thơ của ông

Trang 40

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THỂ THƠ TRONG THƠ THANH THẢO

2.1 Tiểu dẫn

Thể loại là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành, tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học Vì thế, thể loại như cái khuôn cấu trúc định hình, chi phối việc lựa chọn và tổ chức ngôn ngữ cũng như các yếu tố khác của tác phẩm Mỗi nhà văn, nhà thơ khi sáng tác, dù muốn hay không đều phải lựa chọn một thể loại nhất định để tổ chức tác phẩm Nghiên cứu tổ chức ngôn từ của tác phẩm vì vậy không thể không chú ý đến vấn đề thể loại

Xét về tính chất, thể loại vừa mang tính ổn định bền vững, vừa không ngừng vận động, biến hóa Mỗi thể loại khi đã định hình đều tạo thành một hệ thống phép tắc, chuẩn mực hình thức nhất định để đảm bảo cho sự tồn tại của

nó trong lịch sử phát triển của văn học Tuy nhiên, tính ổn định của thể loại không phải là sự ổn định vĩnh hằng, bất biến mà là sự ổn định gắn liền với tính kế thừa và phát triển Thể loại văn học bao giờ cũng là sản phẩm của thời đại văn học nhất định, gắn liền với sự nghiệp sáng tạo của các thế hệ cầm bút

Do vậy, ngoài những đặc điểm có tính phổ quát, thể loại còn là chỗ bộc lộ dấu

ấn sáng tạo của nhà thơ, nhà văn Việc tìm hiểu đặc điểm thể loại trong sự nghiệp của một tác giả không chỉ nhằm rút ra nét riêng trong cách cảm thụ đời sống, cách chiếm lĩnh hiện thực, mà còn cách thể hiện riêng của ông ta, in dấu

ở mọi yêu tố hình thức, trong đó có ngôn ngữ

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thể loại là “dạng thức của tác phẩm

văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Hoài Anh (2012), “Thanh Thảo và thơ”, nhavantphcm.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Thảo và thơ”
Tác giả: Trần Hoài Anh
Năm: 2012
2. Lại Nguyên Ân (1980), “Dấu chân người lính trẻ trong thơ Thanh Thảo”, Văn nghệ Nghĩa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu chân người lính trẻ trong thơ Thanh Thảo”
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1980
3. Mai Bá Ấn (2012), “Cỏ xanh và lửa đỏ - một đối lập logic trong thơ Thanh Thảo”, Trang thơ Bích Khê (bichkhe.org) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cỏ xanh và lửa đỏ - một đối lập logic trong thơ Thanh Thảo”
Tác giả: Mai Bá Ấn
Năm: 2012
4. Thu Bồn (2003), Thơ và trường ca, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và trường ca
Tác giả: Thu Bồn
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
5. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
6. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
7. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vỹ dịch), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
8. Mai Ngọc Chừ (1990), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1990
9. Nguyễn Đức Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
10. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
11. Phan Huy Dũng (2009), “Đàn ghita của Lorca dưới góc nhìn liên văn bản”, Văn học Việt Nam trong nhà trường - một góc nhìn, một cách đọc , Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàn ghita của Lorca dưới góc nhìn liên văn bản”, "Văn học Việt Nam trong nhà trường - một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
12. Nguyễn Duy (1984), Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ánh trăng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
13. Lê Đạt (2011), Đối thoại với đời và thơ, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại với đời và thơ
Tác giả: Lê Đạt
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2011
14. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2000
15. Trĩnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trĩnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học
Năm: 2002
16. Nguyễn Hoàng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (tuyển chọn và biên soạn) (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (tuyển chọn và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
17. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
18. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
19. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 777 khái niệm ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn họ
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thống kê số lượng thể thơ trong ba tập thơ - Thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ thanh thảo  luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 2.1. Thống kê số lượng thể thơ trong ba tập thơ (Trang 42)
Bảng 2.3. Thống kê sự thay đổi số tiếng ở mỗi dòng thơ - Thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ thanh thảo  luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 2.3. Thống kê sự thay đổi số tiếng ở mỗi dòng thơ (Trang 45)
Bảng 2.4. Thống kê vần thơ và trung bình số lượt hiệp vần - Thể thơ, câu thơ và từ ngữ trong thơ thanh thảo  luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 2.4. Thống kê vần thơ và trung bình số lượt hiệp vần (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w