1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KHẢO SÁT PHÂN ĐỊNH TỪ LOẠI: TỪ “CÁI” VÀ TỪ “CON” TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM

41 385 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai từ “cái” và “con” là hai từ vô cùng quen thuộc và được sử dụng phổ biến trong tiếng Việt ở cả ngôn ngữ viết lẫn ngôn ngữ nói, nhưng không phải ai cũng nắm rõ đặc điểm từ loại của chúng. Việc làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp và phân định từ loại hai từ vựng “cái” và “con” sẽ giúp ích cho việc nhận thức, vận dụng các quy tắc ngữ pháp tiếng Việt vào cả sáng tác – nghiên cứu văn chương và sử dụng chính xác, hiệu quả hai từ vựng này trong lời nói

Trang 1

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Đề tài:

KHẢO SÁT PHÂN ĐỊNH TỪ LOẠI:

TỪ “CÁI” VÀ TỪ “CON”

TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM

 Tác phẩm: Truyện Kiều – Nguyễn Du

Chí Phèo – Nam Cao

Nhóm thực hiện ( Ca 2 – sáng thứ 2)

1 Nguyễn Thanh Kiều K40.601.055

2 Nguyễn Thị Thanh Nguyên K40.601.093

3 Huỳnh Thảo Nguyên K40.601.094

4 Nguyễn Hồng Thanh Thương K40.601.128

Nghiên cứu bộ môn Từ pháp học

Trang 3

MỤC LỤC

1 Đặt vấn đề……… ………4

1.1 Lí do chọn đề tài……….4

1.2 Phương pháp nghiên cứu……… 5

1.3 Đối tượng nghiên cứu………5

1.4 Nguồn ngữ liệu………5

2 Tiến trình khảo sát……….….6

2.1 Cơ sở lý thuyết……… 6

2.1.1 Tiêu chí phân định từ loại……… 6

2.1.2 Một số đơn vị kiến thức liên quan……… … 8

2.2 Kết quả khảo sát……….… 14

2.2.1 Khảo sát Truyện Kiều – Nguyễn Du ……….14

2.2.2 Khảo sát truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao … 16

2.3 Phân loại ngữ liệu ……… 23

2.2.1 Khảo sát Truyện Kiều – Nguyễn Du ………… ….23

2.2.2 Khảo sát truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao … 26

3 Nhận xét ……….…….34

3.1 Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên “cái” ……… …… 34

3.2 Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên “con”……….….….37

3.3 Kết luận……….… 40

Trang 4

Hai từ “cái” và “con” là hai từ vô cùng quen thuộc và được sử dụng phổ biến trong tiếng Việt ở cả ngôn ngữ viết lẫn ngôn ngữ nói, nhưng không phải ai cũng nắm rõ đặc điểm từ loại của chúng Việc làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp và phân định từ loại hai từ vựng “cái” và “con” sẽ giúp ích cho việc nhận thức, vận dụng các quy tắc ngữ pháp tiếng Việt vào cả sáng tác – nghiên cứu văn chương và

sử dụng chính xác, hiệu quả hai từ vựng này trong lời nói Nhóm lựa chọn khảo sát đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của hai từ vựng “cái” và “con” trong hai tác phẩm văn học nổi tiếng: Truyện Kiều của Nguyễn Du và Chí Phèo của Nam Cao Cả hai tác phẩm đều sẽ được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn bậc Trung học phổ thông, vì vậy trước hết bài khảo sát – tìm hiểu này sẽ giúp ích cho quá trình giảng dạy tác phẩm sau này Mặt khác, một bên là Truyện Kiều của Nguyễn Du – tuyệt tác truyện thơ Nôm sử dụng điêu luyện và sáng tạo ngôn ngữ dân tộc, một bên là Chí Phèo của Nam Cao – một tác phẩm văn xuôi hiện đại tiêu biểu và giá trị của văn chương Việt Nam; cả hai tác phẩm đều là lựa chọn lí tưởng cho việc khảo sát những sắc thái ngữ nghĩa, ngữ pháp của hai từ vựng “cái” và “con” Nhóm tin tưởng rằng đề tài mình lựa chọn sẽ là một đề tài thiết thực và hấp dẫn

Trang 5

1.2 Đối tượng nghiên cứu

Các từ vựng “cái” và “con” xuất hiện trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du và Chí Phèo của Nam Cao

1.3 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập dẫn chứng từ ngữ liệu, liệt kê và thống kê số liệu dẫn chứng

- Phân loại và phân tích dẫn chứng

Trang 6

2 Tiến trình khảo sát

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Tiêu chí phân định từ loại

Từ với bản chất ký hiệu là sự kết hợp giữa hai mặt: cái biểu đạt và cái được

biểu đạt Để phân định từ loại vốn từ của một ngôn ngữ cần dựa vào sự tổng hợp của hai mặt này

 Ví dụ:

- Bàn, sách, hoa, cây, núi, sông : ý nghĩa sự vật (thực thể)

- Ăn, uống, cười, nói, đi, chạy : ý nghĩa hoạt động

- Yêu, ghét, giận, lo, sợ : ý nghĩa trạng thái

- Dài, rộng, vuông, tròn, thẳng : ý nghĩa tính chất

b Đối với những từ không có ý nghĩa từ vựng (hư từ), ý nghĩa từ loại là ý nghĩa thuần túy ngữ pháp (ý nghĩa ngữ pháp khong được tạo ra trực tiếp từ ý nghĩa

từ vựng) hay ý nghĩa quan hệ

- Loại ý nghĩa quan hệ được tạo nên từ mối quan hệ giữa các đơn vị cấu trúc

(2) Đây là sách (của) thư viện

=> của: biểu thị ý nghĩa quan hệ sở hữu giữa hai thực thể hoặc sự vật

Trang 7

- Loại ý nghĩa quan hệ được tạo nên từ mối quan hệ giữa nội dung được phản ánh trong câu với người nói (ý nghĩa tình thái)

 Ví dụ:

(1) Anh ấy vừa đi khỏi

=> vừa: biểu thị hoạt động đã hoàn tất, đã diễn ra và kết thúc trước

thời điểm nói không lâu

Trời lại mưa

=> lại: biểu thị hoạt động được lặp lại, diễn ra một lần nữa như đã

diễn ra những lần trước đó Từ này kết hợp trong cấu trúc dộng ngữ còn biểu thị thái độ không hài lòng, sự than phiền về sự tình (hay

sự thể) đang diễn ra

(2) Nhà tôi cách trường đến năm cây số

tới những

có chỉ

=> đến, tới, những, có, chỉ: biểu thị thái độ đánh giá của người

nói đối diện với hiện thực được phản ánh trong câu (5km là nhiều hay ít

 Tiêu chí về ngữ pháp

a Khả năng kết hợp trong ngữ

Ngữ là tổ hợp có quan hệ chính phụ, trong đó thường có một thành tố chính, một hay nhiều thành tố phụ thuộc Các từ tùy đặc điểm ngữ nghĩa có thể tham gia vào một vị trí nào đó trong ngữ Ở mỗi vị trí, một số từ có thể thay thế cho nhau và

ở các vị trí còn lại, các từ khác làm thành hoàn cảnh cho kết hợp đó

Tất cả các từ có thể thay thế cho nhau cùng một ví trí và có cùng hoàn cảnh kết hợp thì thuộc về một từ loại

Trang 8

Này

ấy

đó

đó

b Chức năng cú pháp trong câu

Mỗi từ thường đảm nhiệm những chức năng cú pháp trong câu, trong đó có chức năng thường xuyên và phổ biến Có thể căn cứ vào chức năng cú pháp thường xuyên của từ để phân định từ loại

Chẳng hạn như: chức năng cú pháp chủ yếu của danh từ là làm chủ ngữ và

bổ ngữ chỉ đối thể trong câu, chức năng chủ yếu của động từ là trực tiếp làm vị ngữ trong câu và làm định ngữ trong danh từ (cụm danh từ)

2.2.2 Một số đơn vị kiến thức liên quan

Ngoài các sự vật cụ thể, dah từ tiếng Việt còn biểu thị các khái niệm sự vật trừu tượng, tuy cũng tồn tại độc lập trong thực tế khách quan nhưng khó nhận thấy,

thường nằm ở bậc khái quát cao trong nhận thức của con người (Ví dụ: đạo đức, tinh thần, tình cảm, tư tưởng, văn hóa, khoa học, phương pháp, chính sách, chiến lược, sách lược )

Danh từ tiếng Việt cò có những từ chỉ đơn vị sự vật, là kết quả hoạt động phân

cắt hiện thực (thực thể) của người Việt như con, cái, bức, tấm, chiếc, quyển, lít, cân (kí)

Trang 9

Đặc biệt trong tiếng Việt, có hiện tượng danh từ có quan hệ về ngữ nghĩa và

có cùng vỏ ngữ âm với động từ, tính từ như suy nghĩ, nhận thức, hành động, đóng góp, chủ trương, thắng lợi, thành công, quyết định, khó khăn

 Ví dụ:

(1) Nhà nước chủ trương là tạo mọi điều kiện để phát triển kinh tế

(2) Đó là một chủ trương mới của nhà nước

(1’) Cuộc sống của chị ấy rất khó khăn

(2’) Những khó khăn của đất nước ta còn nhiều

Trong những trường hợp này (như ví dụ (2), (2’)), ý nghĩa hoạt động trạng thái, tính chất đã được sự vật hóa, thực thể hóa; nói cách khác là đã được người bản ngữ nhận thức và phản ánh vào tư duy như những sự vật

Như vậy, Danh từ là lớp từ biểu thị khái niệm sự vật và cả những cái mà con

người nhận thức và phản ánh vào ngô ngữ như những sự vật

Từ “cái”

chỉ xuất

Danh từ chỉ đơn

vị

Danh từ chỉ chủng loại, sự vật

Từ chỉ đặc trưng

Từ chỉ định

Cái Cái Cái Cái

Ngôi Bức Con

Nhà Tranh Người Quan điểm

Mới xây

Bị mất cắp

Kỳ lạ Hẹp hòi

ấy

đó

ấy này

Sơ đồ trên chủ yếu dựa vào sơ đồ của tác giả Nguyễn Tài Cẩn (Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại - 1975)

Trang 10

Nếu chỉ dựa vào các thành tố ngôn liệu (loại trừ thành tố tình thái), có thể có

sơ đồ cấu trúc của danh ngữ như sau:

Danh từ chỉ đơn vị

Danh từ chỉ chủng loại

sự vật

Từ chỉ đặc trưng

Ngôi Bức Con

Nhà Tranh Người Quan điểm

Mới xây

Bị mất cắp

Kỳ lạ Hẹp hòi

ấy

đó

ấy này

 Danh từ đơn vị

 Về ngữ nghĩa

DT đơn vị là những danh từ chỉ những hình thức tồn tại phân lập của thực thể dùng để tách các chủng loại sự vật ra thành từng đơn vị (Có thể là đơn vị cá thể hoặc tập hợp)

 Ví dụ:

1 Hai lít nước

ly

chai thùng

2 Mét vải

Khúc Cây

Trang 11

b Danh từ đơn vị bắt bụôc được chỉ rõ về tính xác định hay không xác định

- Tính chính xác của đơn vị sự vật được thể hiện ở sự có mặt của các từ chỉ định sau đó

- Tính không xác định của đơn vị sự vật thể hiện ở sự có mặt của các từ như: một, vài mấy, dăm, ở sau danh từ hay từ phiếm chỉ nào đấy, gì, gì, đấy, ở sau

danh từ

 Ví dụ: Hôm qua có cô nước ngoài gì đó đến tìm chị

c Danh từ đơn vị không độc lập làm thành phần câu mà thường có định ngữ đi kèm theo

Định ngữ có thể là từ chỉ lượng, từ chỉ sự vật, từ chỉ đặc trưng dùng để miêu

tả, xác định hay từ chỉ định

Tuy nhiên vẫn có trường hợp ngoại lệ:

+ Câu có hai vế tương phản

+ Khi làm bổ ngữ cho một vài động từ như đếm, tính, thành

 Danh từ đơn vị gồm danh từ chỉ đơn vị quy ước và danh từ chỉ đơn vị chỉ đơn

Trang 12

Anh Pháp Việt

Three books trois liveres ba sách (-)

Two cats deux chats hai mèo (-)

Người bản ngữ xây dựng hệ thống các đơn vị tự nhiên để cá thể hóa các chủng loại sự vật chủ yếu dựa vào những đặc đỉêm tự nhiên của sự vật (như đặc đỉêm chủng loại, đặc đỉêm về hình dạng tự nhiên của sự vật)

 Từ "con" thuộc nhóm từ chỉ đơn vị động vật

Từ “con” dùng để chỉ các đơn vị động vật

 con ( - gà, - chó, - heo, -người,…)

Bên cạnh đó từ này có thể dùng chỉ đơn vị các sự vật không phải là động vật nhưng có đặc đỉêm hoạt động hay có hình thể giống động vật

 con (- tàu, - thuyền,- đò, - mắt, - ngươi, - tim, - tem, - dấu, )

 con ( - sông, - kênh, - rạch, - mương, - nước, - sóng, - trăng, )

 con ( - đường, - đê, - dốc, - đèo, - hẻm, )

 con ( - dao, - số, - bài, - cờ, - thoi, - tạo, )

 con ( - quay, - rối, - lăn, - lắc, - lật đật, )

Để lý giải hiện tượng ngôn ngữ này, cần khảo sát những cách sử dụng của người Việt về các tổ hợp này để thấy được đặc điểm tri nhận của người Việt, ví dụ

như: con tạo xoay vần, con sông hung hãn tràn bờ, con sông uốn khúc, sóng vỗ vào mạn thuyền, suối chảy róc rách, con kênh dẫn nước vào ruộng, con nước lên xuống, tàu chạy trên sông, tàu chuyển bánh, thuyền trôi lênh đênh, con số nhảy múa, con

cờ đi, con đê chạy quanh làng, con mắt mở to, con tim xao xuyến, bồi hồi, ; lưng đèo, sườn núi, chân núi, lưỡi dao

 Từ "cái" thuộc nhóm từ chỉ đơn vị bất động (đồ vật, hiện tượng tự

nhiên )

 Từ “cái” chỉ xuất

 Là hư từ, không phải danh từ

 Đặc điểm ngữ nghĩa: Nhấn mạnh, tăng tính xác định của sự vật mà người nói muốn làm nổi bật đặc điểm, tính chất nào đó

 Đặc điểm ngữ pháp:

Trang 13

- Đứng trước danh từ chỉ đơn vị hoặc danh từ chỉ sự vật có ý nghĩa đơn vị

- Thường có định ngữ chỉ định: “cái” chỉ xuất + Danh từ chính + Định ngữ

 Ngoài các đại từ chuyên dùng, người Việt còn dùng một số danh từ chỉ

quan hệ thân thuộc như đại từ Tuy nhiên các từ này vẫn còn đặc điểm ngữ pháp như danh từ

 Chuyển loại

Chuyển loại là hiện tượng một từ vốn thuộc một từ loại hoặc một tiểu loại trong

một số cấu trúc ngữ pháp nhất định được dùng với đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của một từ loại hoặc tiểu loại khác

Trong tiếng Việt hiện tượng chuyển từ loại khá phong phú và đa dạng: Chuyển

từ thực từ sang hư từ - Chuyển trong nội bộ thực từ - Chuyển tiểu loại

Trang 14

2.2 Kết quả khảo sát

2.2.1 Khảo sát Truyện Kiều – Nguyễn Du

- 5 từ “cái” / 3254 câu thơ (chưa phân loại)

Có thể liệt kê chi tiết như sau:

Con ong, cái kiến kêu gì được oan

Cái thân liệu những từ nhà liệu đi

Còn chi là cái hồng nhan

Có làm chi nữa, cái mình bỏ đi!

Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi

- 47 từ “con” / 3254 câu thơ (chưa phân loại)

Có thể liệt kê chi tiết như sau:

Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Thì con người ấy ai cầu làm chi!

Làm con trước phải đền ơn sinh thành Thương lòng con trẻ thơ ngây

Thương tình con trẻ, cha già Nuôi con những ước về sau Lời con dặn lại một hai Trên yên sẵn có con dao Mập mờ đánh lận con đen Thân con chẳng kẻo mắc tay bượm già Ngắm ra cho kỹ như hình con buôn Thôi con, còn nói chi con

Xót con lòng nặng chề chề

Dạy rằng: Con lạy mẹ đây

Con kia đã bán cho ta

Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà

Mụ rằng: Con hãy thong dong

Trang 15

Mà xem con tạo xoay vần đến đâu!

Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?

Nọ nghe mới có con nào ở đây Này con thuộc lấy làm lòng Chàng như con bướm lượn vành mà chơi Rằng: Con biết tội đã nhiều

Mà con người thế là người đong đưa Mượn màu son phấn đánh lừa con đen Dâu con trong đạo gia đình

Chìu con, mới dạy mặc dầu ra tay Sắn bìm chút phận con con

Nghĩ con vắng vẻ, thương người nết na

Con người thế ấy, thác oan thế này Con này chẳng phải thiện nhân Con ong, cái kiến kêu gì được oan

Mẹ con trò chuyện lân la Phận con hầu, giữ con hầu dám sai Làm ra con ở, chúa nhà đôi nơi

Con tằm đến thác, cũng còn vương tơ

Thiếp như con én lạc đàn Khen cho con mắt tinh đời

Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm Trông trời con nước mênh mông

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời Chàng Kim về đó, con thì ở đâu?

Từ con lưu lạc quê nhà

Trang 16

2.2.2 Khảo sát truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao

- Có tổng cộng 114 từ “cái” trên toàn văn bản (chưa phân loại)

Có thể liệt kê cụ thể như sau:

1 Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi của ngày xưa, hắn thấy quá

táo bạo

2 Hắn làm cái ông gì ở làng này?

3 Thử hỏi hắn có mặt trong cái làng hơn hai nghìn xuất đinh này làm được thế?

4 Hắn bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại lừa

hắn và nhà rồi lôi thôi?

5 Này nó hãy lôi ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng, đồ bạc ra khoác vào

cổ hắn, rồi cho vợ ra kêu làng lên rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om xương, rồi vu cho là ăn cướp thì sao?

6 Cái thằng Bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đớp cái nước gì mà phải chịu

lép như trấu thế?

7 Và rồi hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả

8 Chí Phèo không là anh hùng nhưng nó là cái thằng liều lĩnh

9 Cái nghề làm việc quan, nếu nhất nhất cái gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán

nhà đi cho sớm

10 Cái nghề quan bám thằng có tóc ai bám kẻ trọc đầu?

11 Cụ phải cái thằng Năm Thọ mà, mãi đến bây giờ chưa quên

12 Vẫn tưởng một người vai vế như Năm Thọ mà thất cơ lỡ vận đến nỗi tội tù

làm gì còn dám vác cái mặt mo về làng?

13 Nó đứng chặn lấy cửa và bảo: nếu kêu lên một tiếng thì đâm chết liền, thì ra

nó vượt ngục và về đây nhờ ông lý một cái thẻ mang tên một người lương

thiện và một trăm đồng bạc để trốn đi

14 Cái nghề đời hiền quá cũng hoá ngu, ở đâu chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì

chúng nó ấn cho đến không còn ngốc đầu lên được

15 Bởi vì chị vợ ở nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng

đôi má, bỗng nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt

ai mà chịu được?

16 Thậm chí đến cái thằng hương điền, đầu hai thứ tóc, già đời làm đầy tớ cho

các ông lý trưởng, cũng mon men vào gạ gẫm

17 Thế là mấy đồng bạc lương di đời; mấy đứa con của chị ngày mai chỉ được

mấy cái kẹo đạn mút, hay hậu hĩnh ra thì được mấy cặp bánh giầy giò ăn

Trang 17

18 Hắn có thể giết người được lắm, mà không phải chỉ có giết vợ và con thôi,

khi hăn đã có gan đâm chết vợ con hắn thì hắn có kiêng gì đến cái cổ của

người khác nữa

19 Mười thằng đã đi ra thì chín thằng trở về với cái vẻ hung đồ, cái tính ương

ngạnh học từ phương xa

20 Cụ lại nhận ra rằng ở cái đất nhà quê, bọn dân hiền lành chỉ è cổ làm nuôi

bọn lý hào, nhưng chính bọn lý hào, nhiều khi lại phải ngậm miệng cung cấp cho những thằng cùng hơn cả dân cùng liều lĩnh, lúc nào cũng có thể cầm dao đâm người hay đâm mình

21 Than thở chẳng ích gì cho ai, cái bọn dân đinh suốt đời bị đè nén kia sợ hãi

bị đè nén suốt đời chỉ vì khi bị đè nén chúng chỉ biết than thở chứ không biết làm gì khác

22 Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo

23 Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng,

hai mắt gườm gườm trông gướm chết!

24 Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng

25 Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng

cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế

26 Rồi say khước, hắn xách một cái vỏ chai đến nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra

mà chửi

27 Mắc cái phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say, tay nó lại nhăm nhăm cầm

cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả.

28 Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chắc rồi mặc thây cha nó, nó có chửi thì

tai liền miệng đấy, chửi rồi lại nghe

29 Đấy, có tiếng người sang sảng quát: “Mày muốn lôi thôi gì… cái thằng không

cha không mẹ này !

30 Bỗng “choang” một cái, thôi phải rồi, hắn đập cái chai vào cột cổng

31 Cụ cất tiếng rất sang sảng hỏi: “Cái gì mà đông thế này?”

32 Nhưng tiếng cười giòn giã lắm; người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái cười

33 Cái anh này nói mới hay!

34 Có cái gì, ta nói chuyện tử tế với nhau

35 Cụ biết rằng mình đã thắng, đưa nháy mắt con một cái

36 Thế là hắn rút dao diêm đánh cái xoè, châm lên mái lều của mụ

37 Hắn uống rượu với cái gì cũng ngon

38 Cái mặt hắn không trẻ cũng không già: nó không còn phải là mặt người: nó

Trang 18

39 Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm màu gió; nó vằn dọc vằn ngang,

không thứ tự, biết bao nhiêu là vết sẹo

40 Vì thế cho nên hắn chửi hay là chẳng vì cái gì hắn cũng chửi, cứ rượu xong

là hắn chửi

41 Chí Phèo bỗng nảy ra một ý: tạt vào đây và đập cái bàn chầu của lão tự nửa

mùa này ra

42 Cái đàn của lão lừng phừng, nghe còn chối tai hơn là lợn kêu

43 Nhưng lúc nào thì lão tự lại đang uống rượu; lão uống rượu ngay ở sân, vừa

uống vừa vuốt râu, vừa rung rung cái đầu

44 Lão tự duỗi cái cổ gà vặt lông ra, trố mắt lên, nhưng không nói gì

45 Hắn tu có một hơi, rồi khà một cái, chép cái miệng như còn thèm

46 Rồi hăn nắm lấy mấy cái râu lờ phờ của lão tự, nâng soi lên trăng mà cười

47 Chỉ có cái mả, cái mả đất

48 Ai chết cũng thành cái mả, say sưa chết cũng thành cái mả, lo gì?

49 Chí Phèo vần ngửa lão ra, vuốt cái râu lờ phờ của lão mấy cái, rồi để mặc lão

thế, hắn lảo đảo ra về

50 Có lúc hắn phải đứng lại giữa đường mà gãi, ghệch chân lên mà gãi, hắn bứt

rứt quá, ngứa ngáy quá, và chợt nghĩ đến cái bờ sông gần nhà

51 Bởi vì cái vườn của hắn ở gần một con sông con, nước lặng và torng, khắp

bãi trồng toàn dâu, gió đưa đẩy những thân mềm oặt ẹo, cuộn theo nhau thành làn

52 Những đêm trăng như đêm nay, cái vườn phẳng ngổn ngang những bóng chuối đen đen như những cái áo nhuộm vắt tung trên bãi

53 Nhưng hắn không vào cái túp lều úp xúp mà ra thẳng bờ sông

54 Hai tay trần của mụ buông xuôi, cái mồm mụ há hốc lên trăng mà ngủ hay là

chết

55 Đôi chân thì duỗi thẳng ra trước mặt, cái váy đen xộc xệch

56 Bên kia, có lẽ vì mụ giẫy cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nây

57 Tất cả những cái ấy phơi ra trăng, rười rượi những trăng làm trắng những cái

đó có lẽ ban ngày không trắng: trăng làm đẹp lên

58 Chí Phèo tự nhiên thấy ứ đầy miệng bao nhiêu là nước dãi, mà cổ thì lại khô,

hắn nuốt ừng ực, hắng thấy cái gì rộn rạo ran khắp người

59 Cái mặt của thị thực sự là một sự mỉa mai của hoá công

60 Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua cái

mũi: có lẽ vì cố quá nên chúng nứt nở như rạn ra

Trang 19

61 Đã thế những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa

được một vài phần cho sự xấu

62 Ở cái làng Vũ Đại này người ta kết bạn từ khi lên tám, và có khi có con từ

lúc mười lăm; không ai đợi đến năm hai mươi đẻ đứa con thứ nhất

63 Hai cô cháu ở trong một cái nhà tre cánh vườn của Chí Phèo bởi một con đê

64 Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo cái ngẩn ngơ của

mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy

65 Thoạt tiên hắn hãy xách cái lọ để xa xa, rồi hắn lẳng lặng ngồi xuống bên

sườn thị

66 Nhưng cái đó là cái đập yêu, bởi vì đập xong, cái tay ấy lại giúi lưng hắn

xuống

67 Cái óc nặng nề ấy phai lâu mới nhớ ra và lâu mới hiểu

68 Nhưng cái đầu không động đậy, chỉ có cái mí mắt là nhích thôi

69 Muỗi nhắc cho thị cái áo quên ngoài vườn

70 Nhưng trong cái lều ẩm thấp vẫn mới chỉ hơi lờ mờ

71 Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời

72 Là vì lúc còn đêm, thị trằn trọc một lát, thị bỗng nhiên nghĩ rằng: cái thằng

liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm cong queo một mình

73 Cái thằng trời đánh không chết ấy, nó còn sợ ai mà hòng kêu

74 Thị nấu bỏ vào cái rổ, mang ra cho Chí Phèo

75 Xưa nay nào hắn thấy ai tự nhiên cho cái gì

76 Và một cái gì nữa giống như là ăn năn

77 Hắn nhớ đến “bà ba”, cái con quỷ cái hay bắt hắn bóp chân mà lại cứ bắt hắn

bóp lên trên, trên nữa

78 Người ta không thích cái gì người ta khinh

79 Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch

mặt mà đâm chém người

80 Đó là cái bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi, nay trận ốm thay đổi hắn

về sinh lí cũng thay đổi cả tâm lí nữa

81 Thị không đáp nhưng cái mũi đỏ của thị như càng bạnh ra

82 Bằng một cái giọng nói và một vẻ mặt rất phong tình theo ý hắn, hắn bảo thị

83 Bà nghĩ đến cái đời dài dằng dặc của bà, không có chồng

84 Nhưng rồi đổ cái uất ức ngay lên cháu bà

85 Thị cần đổ cái tức ấy lên một người

Trang 20

88 Hắn tự phải đến cái nhà con đĩ Nở kia

89 Đến để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó

90 Cái gì đã làm hắn quên rẻ vào nhà Thị Nở?

91 Chúng đùa nhạt như nước ốc, chỉ được cái thô tục, mà gặp ai đâu cũng cười!

92 Lè bè vừa vừa chứ, tôi không phải là cái kho

93 Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và

vắng người lại qua

-Có tổng cộng 50 từ “con” trên toàn văn bản (chưa phân loại)

Liệt kê cụ thể như sau:

1 Bẩm cụ… Con đến cửa nhà cụ để kêu cụ một việc ạ!

2 Bẩm cụ từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù, bẩm có thế, con

có nói gian thì trời tru đất diệt, bẩm quả đi ở tù sướng quá!

3 Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù…

4 Con đến xin cụ cho con đi ở tù mà nếu không được thì… thì… thưa cụ…

5 Vâng, bẩm cụ không được thì con phải đâm chết ba thằng, rồi cụ bắt con giải

huyện

6 Người đàn bà goá mù này bán cho hắn một bác phó cối không con, và khi

bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ

7 Ông lý đây là ông lí Cường, con giai cụ bá nổi tiếng là hách dịch, coi người

như rơm như rác

8 Cụ bà biết rằng mình đã thắng, đưa nháy mắt con một cái

9 Vợ lão chết đến bảy tám năm nay rồi, con gái lão chữa hoang bỏ lão đi, lão

chỉ có một mình…

10 Ở cái làng Vũ Đại này người ta kết bạn từ khi lên tám, và có khi có con từ lúc mười lăm; không ai đợi đến năm hai mươi đẻ đứa con thứ nhất

11 Đội Tảo không cần kín đáo, nói toang toang ngoài chợ trước mặt bao nhiêu

người: “Thằng bố chết, thằng con lớp này không khỏi người ta cho ăn bùn.”

12 Bởi vì chị vợ ở nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng

đôi má, bỗng nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt

ai mà chịu được?

13 Thế là mấy đồng bạc lương di đời; mấy đứa con của chị ngày mai chỉ được

mấy cái kẹo đạn mút, hay hậu hĩnh ra thì được mấy cặp bánh giầy giò ăn

14 Hắn đến nhưng lại dẫn theo cả vợ và hai con

15 Và cũng phải tuỳ mặt nữa: những thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn chính

là những thằng sợ quan và dễ bóp

Ngày đăng: 02/03/2017, 00:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cấu trúc của danh ngữ như sau: - KHẢO SÁT PHÂN ĐỊNH TỪ LOẠI: TỪ “CÁI” VÀ TỪ “CON” TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM
Sơ đồ c ấu trúc của danh ngữ như sau: (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w