Viết kĩ hơn và chú ý nhiều đến giá trị thơ chữ Hán ngoài vấn đề con người và tư tưởng là các bài viết của: Mai Quốc Liên - Thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Nguyễn Lộc với Thơ chữ Hán Nguyễn D
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-***** -NGUYỄN THỊ HÀ
CẢM QUAN VĂN HÓA VÙNG MIỀN
CỦA NGUYỄN DU TRONG THƠ CHỮ HÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2
NGHỆ AN, 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-***** -NGUYỄN THỊ HÀ
CẢM QUAN VĂN HÓA VÙNG MIỀN
CỦA NGUYỄN DU TRONG THƠ CHỮ HÁN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Biện Minh Điền
Trang 4NGHỆ AN, 2014
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Với di sản văn học lớn lao, có giá trị trường tồn để lại cho đời,
Nguyễn Du được tôn vinh là Đại thi hào của dân tộc Việt Nam, được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du (bao hàm cả chữ Hán và chữ Nôm với nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau) là tài sản tinh thần hết sức quý giá đối với dân tộc ta Bên cạnh bộ
phận văn học Nôm với đỉnh cao là kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du còn để lại thơ chữ Hán với ba tập đặc sắc Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm
và Bắc hành tạp lục Có thể nói, đây cũng là những tác phẩm đạt tầm kiệt
tác, là “áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận
về ý nghĩa Nó mới lạ độc đáo trong một nghìn bài thơ chữ Hán của ông cha
ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán Trung Quốc nữa” [62, 7] Thơ chữ Hán của Nguyễn Du đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải được tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu
1.2 Thơ chữ Hán với những đặc điểm riêng của nó (bác học, kín đáo,
“chính thống”, tính chất nhật ký, ký thác,…) là bộ phận cơ bản của văn học Việt Nam trung đại Riêng ở bộ phận thơ chữ Hán, Nguyễn Du cũng là một cây đại bút Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một nguồn tài liệu vô cùng quý giá Đó không chỉ là tâm sự kín đáo của Nguyễn Du gửi gắm ở một loại thơ không phải mọi người đều biết, không chỉ là tài năng văn học của ông Đó
Trang 6còn là một kho tri thức văn hóa sâu rộng mang ý nghĩa dân tộc và nhân loại sâu sắc, chúng ta cần phải tìm hiểu, khám phá, tiếp nhận Thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã được nghiên cứu trên nhiều bình diện song chưa đủ, còn nhiều mảng, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ, trong đó có vấn đề nhận thức, phản ánh và thể hiện văn hoá các vùng miền…
1.3 Nguyễn Du là người đi nhiều, trải nhiều Có thể nói như Biện
Minh Điền, rằng “Nói đến Nguyễn Du là nói đến con người trải nghiệm, nếm trải, thấm lắm mọi lẽ đời, mọi biến thiên, dâu bể Trong rất nhiều tiền
đề góp phần tạo thành cảm quan nghệ thuật ấy của Nguyễn Du, sự trải nghiệm và tích hợp các yếu tố văn hóa vùng, miền đóng vai trò hết sức quan trọng Đến lượt, chính cảm quan nghệ thuật ấy khiến ông càng bao quát thấu đáo các yếu tố văn hóa vùng, miền, để rồi tích hợp, làm chúng sống dậy thành hình tượng, biểu tượng, gây ám ảnh khôn nguôi trong lòng người,
không chỉ trong Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh, mà còn cả trong thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp
lục)”…
2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cảm quan văn hoá vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán
2.2 Giới hạn của đề tài
- Đề tài bao quát toàn bộ thơ chữ Hán của Nguyễn Du, bao gồm 249 bài trong 3 tập thơ của tác giả:
Thanh Hiên thi tập
Nam trung tạp ngâm
Bắc hành tạp lục.
- Văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du dùng để khảo sát, luận văn dựa
vào cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du (In lần thứ hai; Lê Thước, Trương Chính
sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp; Phạm Khắc Khoan, Ngô Ngọc Can,
Vũ Tam Tập, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Hữu Bổng, Trần Thanh Mại, Vũ
Trang 7Mộng Hùng, Nguyễn Xuân Tảo, Hoàng Tạo dịch thơ; Nguyễn Sĩ Lâm hiệu đính; Trương Chính giới thiệu), Nxb Văn học, 1978.
Khác với Truyện Kiều cho đến nay đã có cả một quá trình tiếp nhận,
nghiên cứu phê bình trải dài trên dưới hai trăm năm, thơ chữ Hán Nguyễn
Du đến năm 1931 mới được ra mắt bạn đọc lần đầu tiên trên tạp chí Nam
Phong số 161 chỉ với 13 bài Trước Cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên
cứu Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim đã từng có bài viết về thơ chữ Hán Nguyễn Du Đến năm 1959 tập thơ chữ Hán Nguyễn Du đầu tiên ra đời có
tên Thơ chữ Hán Nguyễn Du do các ông Bùi Kỉ, Phan Võ, Nguyễn Khắc
Hanh sưu tầm biên soạn, in tại nhà in Hoàn Cầu, Hà Nội Như vậy lịch sử nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du mới bắt đầu từ khoảng những năm ba
mươi của thế kỉ XX, khá ngắn ngủi so với lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều.
Về thơ chữ Hán Nguyễn Du đã một số bài nghiên cứu, phần lớn các bài viết chú ý tìm hiểu chân dung tinh thần và con người Nguyễn Du qua thơ
chữ Hán Tiêu biểu có các bài như: Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ
chữ Hán (Hoài Thanh), Đôi nét về Nguyễn Du qua ba tập thơ chữ Hán lưu thế (Quách Tấn), Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán (Xuân Diệu), Nguyễn Du qua thơ chữ Hán (Hà Minh Đức), Nguyễn Du trong những bài thơ chữ Hán (Đào Xuân Quý) Các tác giả đã dựa vào nội dung các bài thơ
chữ Hán để nhận diện hình ảnh cuộc đời Nguyễn Du, đi từ Thanh Hiên thi
Trang 8tập đến Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục Vấn đề được quan tâm
nhiều nhất là nỗi buồn đau trước cuộc đời, thái độ Nguyễn Du đối với thời cuộc, tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du Quách Tấn viết về tâm
trạng Nguyễn Du “Thanh Hiên thì chan chứa buồn thương còn Nam Trung thì ngấm ngầm sầu hận”, lời thơ trong Bắc Hành tạp lục “bớt phần não ruột
nhưng thêm phần chua cay” Xuân Diệu khái quát “Nguyễn Du là người, như Khuất Nguyên, mang những vấn đề của ngàn năm, của triệu người, nên cái đau khổ của ông là một đau khổ lớn, có tính cách đại diện cho nhân loại”
Viết kĩ hơn và chú ý nhiều đến giá trị thơ chữ Hán ngoài vấn đề con
người và tư tưởng là các bài viết của: Mai Quốc Liên - Thơ chữ Hán của
Nguyễn Du, Nguyễn Lộc với Thơ chữ Hán Nguyễn Du và tâm sự của nhà thơ, Trương Chính - Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán, Nguyễn Hữu
Sơn - Thơ chữ Hán Nguyễn Du từ cõi hư vô nhìn lại kiếp người, Biện Minh Điền Sự trải nghiệm và tích hợp các yếu tố văn hóa vùng miền và cảm quan
nghệ thuật Nguyễn Du,v.v
Nguyễn Lộc đặt thơ chữ Hán trong thế đối sánh với Truyện Kiều Theo ông, “Truyện Kiều giống như một dòng sông lớn còn thơ chữ Hán
Nguyễn Du lại là những con suối nhỏ nhưng tất cả đều đổ vào đại dương mênh mông của chủ nghĩa nhân đạo của nhà thơ” Mai Quốc Liên gọi thơ
chữ Hán Nguyễn Du là thơ trữ tình - triết học, “khác với Truyện Kiều là một
trường ca tự sự, thơ chữ Hán là những bài thơ phần lớn là ngắn, theo thể luật Đường, trong đó Nguyễn Du bộc lộ cái tôi trữ tình của mình, chất trữ tình ở đây hòa quyện với chất triết học cho nên phần lớn thơ ở đây gọi là thơ trữ tình triết học” Giá trị thơ chữ Hán Nguyễn Du được Mai Quốc Liên Liên đánh giá: “thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa”, “thơ chữ Hán Nguyễn
Du là đỉnh cao của thơ chữ Hán Việt Nam trong mười thế kỉ Đó là một nguồn phong phú để ta tìm hiểu một vấn đề đặc thù: vấn đề thi pháp thơ chữ Hán Việt Nam”
Trang 9Trong bài viết Nguyễn Du và thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán,
Nguyễn Huệ Chi đã khái quát các kiểu nhân vật mà Nguyễn Du nhắc đến trong thơ chữ Hán, từ chính bản thân Nguyễn Du cho đến “con người có số phận cơ cực, hẩm hiu trong cuộc sống”, “nhân vật lừng danh mà mình hằng gần gũi, thân thuộc qua sách vở” Đối với các nhân vật phản diện “đặt những nhân vật loại này ở một vị trí rất phụ, có khi không đọc kỹ có thể lướt qua Nhưng mặc dù thế, bóng dáng của chúng vẫn không lẫn vào đâu được” Đối với những kẻ thống trị “ông không hề dành cho những kẻ đương thời nắm trong tay quyền sinh quyền sát đối với trăm họ”,… Tác giả bài viết đặc biệt chú ý tình cảm của Nguyễn Du tới những bậc tài hoa “Lòng thương xót của Nguyễn Du đối với những nhân vật kỳ tài bao giờ cũng đằm thắm, ẩn ngụ trong đó nỗi xót thương cho bản thân, vì như nhà thơ vẫn nói, ông đã tự xem mình là người có chung một mối “phong vận kỳ oan” với các bậc “giai nhân tài tử” Bài viết của Nguyễn Huệ Chi phân tích khá kỹ thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
Các công trình trên đây thể hiện tâm huyết của các nhà nghiên cứu đối với thơ chữ Hán Nguyễn Du Tuy nhiên hướng nghiên cứu chưa đi sâu vào vấn đề cảm quan văn hoá vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán, mới chỉ dừng lại ở các ý kiến, nhận định cơ bản cũng là bàn về con người Nguyễn Du, tâm sự Nguyễn Du
Cũng cần phải kể đến công trình khá tập trung trong nghiên cứu về
thơ chữ Hán Nguyễn Du là Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du
của tác giả Lê Thu Yến [67] Công trình có ba chương, chương một trình bày các vấn đề liên quan đến văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du như: quá trình thu thập di cảo, tình trạng các văn bản hiện có, cách sắp xếp cụ thể từng phần, sai biệt về từ ngữ, vấn đề dịch nghĩa Chương hai là chương đi sâu khám phá đặc điểm hình tượng nghệ thuật về con người, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Chương thứ ba
là những vấn đề ngôn ngữ thơ chữ Hán Nguyễn Du như câu thơ, từ ngữ Với
Trang 10việc chỉ ra cụ thể các đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du, tác giả
Lê Thu Yến đã cung cấp những hiểu biết chung cơ bản nhất để nhận định về
di sản văn học quý báu này Nhưng vấn đề cảm quan văn hóa vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán chưa được chú ý
3.2 Vấn đề cảm quan văn hoá các vùng miền của Nguyễn Du trong
thơ chữ Hán
Trước hết, xin được nói rằng, đây còn là vấn đề mới Tuy nhiên một
số vấn đề về văn hóa Việt Nam, văn hóa Thăng Long thời đại Nguyễn Du, văn hóa dòng họ Nguyễn Tiên Điền đã được đề cập mà đáng chú ý nhất là gần đây có Hội thảo khoa học về Đại thi hào Nguyễn Du và các danh nhân dòng họ Nguyễn Tiên Điền với Thăng Long – Hà Nội do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND Tỉnh Hà Tĩnh dự định tổ chức vào tháng 10/2010 (sau, do mưa lũ tại miền Trung, nên hoãn) Các tham luận
chuẩn bị cho Hội thảo này đã được tập hợp và đăng Kỷ yếu với tên gọi Đại
thi hào Nguyễn Du và các danh nhân dòng họ Nguyễn Tiên Điền với Thăng Long – Hà Nội (Nxb Văn hóa Tông tin, Hà Nội, 2011) [63] Trong công
trình này, các bài viết đều tập trung vào nội dung như tên gọi của tập kỷ yếu
Chỉ có bài viết của Biện Minh Điền với tên gọi Sự trải nghiệm, tích hợp các
yếu tố văn hóa vùng miền và cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Du [63, 131
– 156] là gần gũi, sát với vấn đề mà luận văn này tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu Theo tác giả bài viết này, Nguyễn Du với tinh thần chủ đạo là “trông thấu cả sáu cõi”, nghĩ tới mọi kiếp người, những hiện tượng được ông nói đến vừa mang ý nghĩa thực, khắc dấu của lịch sử, văn hoá vùng miền, vừa vượt lên, mang ý nghĩa đại diện, biểu trưng Biểu trưng cho văn hoá vùng miền theo cái nhìn của Nguyễn Du cơ bản vẫn là là sơn - thuỷ Có thể thấy, xuyên qua văn hoá sơn thuỷ - như là biểu trưng cho cái bền vững, có thể làm chỗ tựa, và văn hoá đô thành - như là biểu trưng, chứng tích cho cái biến đổi, khôn lường, điều mà Nguyễn Du khôn nguôi day dứt, muốn tìm
Trang 11cách hóa giải là kiếp phù du của nhân gian, của phận người trước bao phen dâu bể Làm sao có thể thấu hiểu, thương cảm, xẻ chia? “Thiên hạ hà nhân
liên bạc mệnh ?” - Thiên hạ, ai người thương kẻ bạc mệnh, nhất là với người
tài sắc? Đây chính là cốt lõi trong nghiệm sinh, trong cảm quan của ông dẫu trải qua vùng nào, miền nào, xứ nào dưới gầm trời này
Các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo quý báu giúp chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài Chúng tôi cũng nhận thấy rằng tuy có những bài viết có một số nội dung liên quan song chưa có công
trình nào tập trung nghiên cứu vấn đề: Cảm quan văn hóa vùng miền của
Nguyễn Du trong thơ chữ Hán Luận văn này của chúng tôi tập trung tìm
hiểu, nghiên cứu vấn đề này với tư cách như một vấn đề có tính chuyên biệt
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, xác định dấu ấn văn hoá các vùng miền trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, xác định những nét riêng của nhà thơ trong cảm quan nghệ thuật ở loại hình thơ chữ Hán…
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Đưa ra một cái nhìn chung về Nguyễn Du và thơ chữ Hán trong
sự nghiệp sáng tác của thi hào, trên cơ sở đó, định hướng tìm dấu ấn của hiện thực văn hoá, đất và người các vùng miền trong nhận thức và phản ánh của Nguyễn Du
4.2.2 Khảo sát, xác định, phân tích đặc điểm của hiện thực văn hoá các vùng miền trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
4.3 Khảo sát, xác định, phân tích nghệ thuật bao quát và thể hiện hiện thực của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán
Cuối cùng rút ra một số kết luận về tính chất “nhật ký” của thơ chữ Hán Nguyễn Du và cái nhìn nghệ thuật độc đáo của nhà thơ…
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong
đó có các phương pháp chính: Phương pháp thống kê – phân loại, Phương pháp phân tích – tổng hợp, Phương pháp so sánh – loại hình, Phương pháp cấu trúc – hệ thống…
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp: Luận văn là công trình tập trung tìm hiểu văn hoá các
vùng miền và nghệ thuật bao quát nó của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán tác giả với cái nhìn hệ thống
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu di sản sáng tác của Nguyễn Du và việc tiếp nhận
và dạy - học tác gia, tác phẩm Nguyễn Du trong chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông
6.2 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du Chương 2: Dấu ấn văn hoá các vùng miền trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Chương 3: Cái nhìn nghệ thuật và phương thức thể hiện văn hoá vùng
miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo
Trang 13Chương 1 THƠ CHỮ HÁN TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN DU 1.1 Thơ chữ Hán trong văn học Việt Nam trung đại
1.1.1 Vị trí, vai trò của bộ phận thơ chữ Hán trong văn học Việt
Nam trung đại
Thời trung đại, văn học Việt Nam là một nền văn học song ngữ, vừa được viết bằng chữ Hán vừa được viết bằng chữ Nôm Chữ Hán là thứ chữ của tộc người Hán Trung Quốc Tuy nhiên, văn tự Hán là kiểu văn tự được thừa nhận trong các văn bản hành chính nhà nước nên nó được coi là văn tự chính thống Nền văn học bằng chữ Hán vì thế mà cũng được coi trọng hơn văn học viết bằng chữ Nôm Chữ Hán đã du nhập vào việt Nam, ảnh hưởng rất sâu vào văn học Việt Nam tạo ra bộ phận văn học chữ Hán
Vai trò của chữ Hán đối với ngôn ngữ văn hoá, văn học Việt Nam là rất lớn Tiếp thu với văn học chữ Hán, các nhà văn có cơ hội tiếp thu văn hoá, kinh nghiệm văn hoá, văn học Trung Quốc Chữ Hán được sử dụng như một lợi khí văn tự và từ đây hình thành nên bộ phận văn học chữ Hán Đây
là bộ phận giữ vị trí chính thống quan phương suốt thời trung đại ở Việt Nam Bộ phận văn học chữ Hán giữ vị trí vô cùng quan trọng với một khối lượng tác phẩm lớn Nhiều tác phẩm văn học chữ Hán đã trở thành những kiệt tác của văn học dân tộc
Thơ chữ Hán là loại hình thơ được sử dụng rộng rãi với nhiều thành tựu trong thời kì văn học trung đại ở Việt Nam Đó là sản phẩm của quá
Trang 14trình giao lưu và tiếp xúc giữa một “nền văn học trẻ” với một “nền văn học già” vào khoảng thời gian ngót một ngàn năm Bắc thuộc cùng chính sách Hán hóa Từ thế kỉ thứ X, cùng với sự ra đời của một quốc gia phong kiến độc lập tự chủ thì nền văn học viết Việt Nam cũng chính thức ra đời Văn học Việt Nam tiếp thu từ văn học Trung Quốc cả văn tự và hệ thống thể loại.
1.2 Một số đặc điểm của thơ chữ Hán trong văn học Việt Nam
trung đại
Thơ chữ Hán là sản phẩm của một nền văn chương kinh điển, bác học, khác với thơ chữ Nôm là thơ có thể đến với tầng lớp người bình dân Điều này có nguyên do từ đặc điểm thể loại và văn tự Thơ chữ Hán được viết bằng chữ Hán thì chỉ có những người được học hành thi thư lễ nghĩa trong môi trường Hán học mới có thể tiếp cận Đó là những vua, chúa, quan lại, thầy giáo, học trò và một số ít những người được đi học Thể thơ Đường luật lại là thể thơ vay mượn, không dành cho người bình dân Làm thơ chữ Hán phải đạt yêu cầu “tín, đạt, nhã”, nội dung thơ phải nói về “Tâm, Chí, Đạo” trong khuôn khổ sách vở Nho giáo Với rất nhiều những quy định về hình thức và nội dung như thế, thơ chữ Hán rất khó có thể có sự phá cách Ngược lại, thơ Đường luật viết bằng chữ Nôm lại có nhiều phá cách độc đáo
về hình thức và nội dung như thơ của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương
Thơ chữ Hán được coi là bộ phận văn học chính thống của nhà nước phong kiến Hầu như nhà nho nào làm thơ trước hết cũng làm thơ bằng chữ Hán và để lại nhiều thi tập Thành tựu thơ chữ Hán được khẳng định qua giá trị các tác phẩm của các Thiền sư thời Lí, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến,… Với truyền thống mười thế kỉ văn học trung đại, thơ chữ Hán Việt Nam đã có một chặng đường dài phát triển và đạt được nhiều thành tựu lớn trong việc biểu hiện tâm hồn, ý thức dân tộc cũng như góp phần vào sự phát triển nền văn hóa, văn học dân tộc
Trang 15Thơ chữ Hán mang trong mình những đặc điểm riêng của nó, so với văn học chữ Nôm thì văn học chữ Hán mang tính chất bất phân, đậm tính chất bác học, tính quy phạm, nặng tính chất giáo huấn Văn học chữ Hán hầu như sử dụng các thành tựu ngoại nhập trang nhã, cao quý.
Thơ chữ Hán được viết bằng nhiều thể, tuy nhiên Đường luật vẫn là thể chủ yếu Tuy là “ngoại nhập” nhưng thể loại và văn tự này lại có tính truyền thống trong hoạt động sáng tác văn học của các thi nhân trung đại Việt Nam Trước Nguyễn Du, tám thế kỉ văn học đã như thế Thi nhân trung đại thường dùng thơ chữ Hán như một phương tiện nghệ thuật hiệu quả để
kí gửi những nỗi niềm tâm sự kín đáo Thơ trung đại nói chung và thơ chữ Hán Nguyễn Du nói riêng trước hết là sự gửi gắm tâm sự, nỗi niềm của thi nhân trước cuộc đời Nhà thơ đến với thơ như đến với một người tri âm tri
kỉ, chia sẻ những điều khó có thể tâm sự cùng ai Bởi thế nhiều khi, thơ chính là nhật kí tâm trạng
1.2 Thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
1.21 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông là một nhà thơ song ngữ, sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm Những sáng tác này ra đời theo từng giai đoạn thăng trầm của cuộc đời nhà thơ Di sản văn học của Nguyễn Du hiện còn gần như đầy đủ và được tập hợp thành các tập thơ, truyện
Các tác phẩm chữ Nôm của Nguyễn Du gồm có:
Truyện Kiều (còn gọi là Đoạn trường tân thanh) Cho đến nay vẫn
chưa có sự thống nhất ý kiến về thời gian ra đời của tác phẩm này Có ý kiến nói Nguyễn Du viết lúc sống ở Thái Bình, quãng thời gian “mười năm gió bụi” sống nhờ quê vợ Ý kiến khác lại cho rằng ông viết vào khoảng thời gian dưới chân núi Hồng Lĩnh, những năm tháng ông về sống ở quê nhà Hà
Trang 16Tĩnh Và quan điểm được nhiều người đồng tình hơn cả là sau khi Nguyễn
Du đi sứ Trung Quốc trở về
Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu hồn), đến nay vẫn
chưa rõ thời điểm sáng tác Theo đoán định của Hoàng Xuân Hãn thì tác
phẩm này ra đời cùng thời với Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc (44, tr.1972).
Văn tế hai cô gái Trường Lưu và Thác lời trai phường Nón, được viết
lúc Nguyễn Du sống ở Hà Tĩnh, thường đi hát phường vải ở Trường Lưu (Can Lộc, Hà Tĩnh)
Về thơ chữ Hán, Nguyễn Du để lại ba tập thơ:
Thanh Hiên thi tập (còn gọi là Thanh Hiên tiền hậu tập), gồm 78 bài
thơ chữ Hán làm trong một thời gian dài, từ lúc Nguyễn Du về Thái Bình sống “mười năm gió bụi”, những năm sống dưới chân núi Hồng cho đến những năm đầu ra làm quan cho nhà Nguyễn ở Bắc Hà
Nam trung tạp ngâm, gồm 39 bài, viết trong khoảng thời gian Nguyễn
Du làm quan cho nhà Nguyễn
Bắc hành tạp lục, gồm 131 bài được Nguyễn Du viết trong thời gian
đi sứ Trung Quốc Đây là tập thơ có số lượng bài nhiều nhất nhưng lại được viết trong thời gian ngắn nhất
1.2.2 Vị trí thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác Nguyễn Du
Có thể nói, thơ chữ Hán có một vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du Vào thời Nguyễn Du, Hán học cực thịnh, Nguyễn Du làm thơ chữ Hán, trút hết tâm huyết, tài năng vào đó là lẽ
thường Truyện Kiều là "diễn âm", "lỡ tay" mà thành kiệt tác, còn thơ chữ
Hán mới đích là "sáng tác", nên xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du [13, tr.2] Có thể nói, ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du:
Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục như là những
thước phim quay chậm nhằm tái hiện bức chân dung tinh thần con người Nguyễn Du từ những ngày vào đời cho đến khi nhắm mắt rời bỏ thế gian
Trang 17Là nhà thơ song ngữ, sáng tác văn học bằng cả chữ Hán và chữ Nôm,
nếu như với tác phẩm chữ Nôm Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đối
thoại cùng độc giả đương thời và hậu thế về số phận con người, về những nỗi niềm riêng tư, khát vọng tình yêu hạnh phúc thông qua nhân vật người con gái tài sắc là Thúy Kiều, thì với các tác phẩm viết bằng chữ Hán, Nguyễn Du đã tái hiện gần như trọn vẹn cuộc đời mình, từ những biến cố cho đến tất cả những nỗi niềm tâm sự Bằng những vần thơ tâm tình, Nguyễn Du khắc họa hình ảnh của chính mình, một hình ảnh rất động trước mọi biến cố của cuộc đời
Nhưng một nghệ sĩ vĩ đại, mỗi khi nói về mình không phải đơn thuần chỉ biết có mình mà thôi Trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, đằng sau hình ảnh Nguyễn Du với cõi lòng ủ ê tê tái, với cá tính rõ mồn một, một Nguyễn Du nghìn lần thực hơn cái con người chỉ biết vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện trước mặt vua Gia Long mà sử sách từng ghi lại, ta còn thấy nhiều điều lớn lao hơn nữa Ấy là những suy nghĩ sâu xa của nhà thơ về con người, về xã hội, về những hiện tượng lịch sử phong phú diễn ra trước mắt ông Đặc biệt Nguyễn Du đã thể hiện cảm quan văn hoá vùng miền rất riêng của mình trước mỗi vùng đất ông đã đi qua
Thơ chữ Hán Nguyễn Du vừa cụ thể hóa, vừa khái quát hóa về cuộc đời và tư tưởng Nguyễn Du qua từng thời kì, dưới sự tác động của các sự kiện, biến cố xã hội và đời riêng Có thể thấy, thơ chữ Hán là một bộ phận
vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du, là một nửa phần di sản những sáng tạo của Nguyễn Du Đó là những suy tư, những khắc khoải, đau đớn, xót xa trước bao vấn đề xảy ra trong cuộc đời mình và
“những điều trông thấy” Khảo sát thơ chữ Hán, độc giả có thể thấy được đâu là sự thống nhất, đâu là sự khác biệt, đâu là sự phát triển trong tư tưởng Nguyễn Du qua các giai đoạn Ngoài ra, điều thú vị trong quá trình nghiên cứu là ta sẽ biết được cảm quan văn hóa vùng miền của Nguyễn Du
Trang 18Mai Quốc Liên có lần viết: "Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa
Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa" Xuân Diệu từng nói: ''Chính thơ chữ Hán chứa đựng bóng hình, đời sống, nét mặt, mái tóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ của Nguyễn Du Thơ chữ Hán thuần là tâm tình bản thân, Nguyễn Du đã để con người của mình trong thơ; đã cho
ta thấy Tố Như, Tố Như bên sau cái vỏ ông quan, ông chánh sứ Ở đây, chúng ta quen thuộc với Tố Như, có thể nói là chúng ta vào dưới da của Nguyễn Du''[13, 49]
1.3 Các thời kỳ trong hành trình thơ chữ Hán của Nguyễn Du
1.3.1 Thời kỳ trước khi Nguyễn Du làm quan cho nhà Nguyễn:
Thanh Hiên thi tập
Hành trình sáng tạo của đại thi hào Nguyễn Du có thể tính từ lúc nhà thơ trưởng thành, bị “quăng” ra giữa cuộc đời, va đập và sống với muôn nỗi đời Dựa vào các tập thơ chữ Hán Nguyễn Du viết ra ta có thể hiểu những thăng trầm đời ông, những suy tư, trăn trở trong tâm hồn ông
Tác phẩm thơ chữ Hán Nguyễn Du có ba tập: Thanh Hiên thi tập,
Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục với 249 bài (có tài liệu nói 250 bài,
thêm một bài Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ (II) nhưng không chép trong sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du của nhóm biên soạn Lê Thước, Trương Chính
nên chúng tôi sẽ không nhắc tới ở đây) Mỗi tập thơ là một hành trình trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du
Thanh Hiên thi tập là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du Ban
đầu tập thơ có tên là Thanh Hiên tiền hậu tập nhưng trong quá trình sưu
tầm, các nhà nghiên cứu không xác định được bài nào là tiền tập, bài nào
hậu tập nên các soạn giả thống nhất gọi chung là Thanh Hiên thi tập Tập
thơ gồm 78 bài thơ sáng tác từ năm 1786 đến năm 1802, tức là từ lúc Nguyễn Du 21 tuổi đến năm 39 tuổi, giai đoạn từ năm Tây Sơn kéo quân ra
Trang 19Bắc (1786) cho đến những năm kết thúc giai đoạn Nguyễn Du làm quan ở Bắc Hà (1804) Tập thơ ghi lại tâm sự của một con người đầy hùng tâm, tráng chí nhưng thời vận lỡ làng, cảnh ngộ gặp nhiều điều bất như ý, đành
ôm trong lòng mối u uất không cách gì giải tỏa được Bao trùm cả tập thơ là điệp khúc buồn, u uẩn, day dứt khôn khuây Tập thơ chia làm ba phần theo
ba giai đoạn đầu cuộc đời Nguyễn Du: phần thứ nhất Mười năm gió bụi từ
1786 đến 1795; phần thứ hai Dưới chân núi Hồng từ 1796 đến 1802; phần thứ ba Làm quan ở Bắc Hà từ 1802 đến 1804.
Mười năm gió bụi (1786 – 1795) là những năm Nguyễn Du sống ở
quê vợ huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình Từ cuộc sống phong lưu, Nguyễn
Du bị đẩy ra giữa gió bụi cuộc đời Lúc này Nguyễn Du mới 21 tuổi và sống
ở đây đến năm ông 30 tuổi Trước đó, được tập ấm của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên, Nguyễn Du đã giữ một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên dưới triều nhà Lê Khi nhà Lê mất, Nguyễn Du có chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp Nguyễn Du đành về quê vợ sống nhờ người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn Ông đã sống mười năm ở Thái Bình với tâm trạng chán chường, bất đắc chí, và luôn canh cánh nỗi nhớ quê hương, anh em với biết bao nỗi lòng chất chứa mà không thể tâm sự với ai Trong quãng thời gian
“mười năm gió bụi”, nhà thơ sống nghèo túng, ăn nhờ ở đậu, tình cảnh đáng thương
Những bài thơ chữ Hán Nguyễn Du viết ở Thái Bình là những bài thơ
ảo não, buồn bã nhất của cuộc đời ông Ông sống những ngày tháng ủ dột, luôn mang trong mình cảm thức của một kẻ lang bạt nơi đất khách: “Thoan tuần hàn thử cố tương thôi/ Tha hương nhân dữ cố niên biệt” (Quanh quẩn hết mùa rét lại đến mùa nực/ Chốn tha hương, người cùng năm trước từ biệt)
(Xuân nhật ngẫu hứng); “Ki lữ đa niên đăng đa lệ/ Gia hương thiên lí,
nguyệt trung tâm” (Ở đất khách lâu năm, ngồi dưới đèn những rơi lệ/ Quê
nhà xa nghìn dặm, nhìn trăng mà đau lòng) (Xuân dạ) Vì thế, cũng dễ hiểu khi Nguyễn Du tự nhận mình là người khách bê trệ trong bài Trệ khách:
Trang 20“Trệ khách yêm lưu nam hải trung” (Người khách bê trệ nằm bẹp mãi ở vùng biển Nam)…
Ở nơi đây, Nguyễn Du vẫn luôn hướng về quê cha, nơi có sông Lam, núi Hồng và anh em ruột thịt Mỗi khi nhìn bóng trăng nguyên tiêu lại thấy mình cô độc: “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán/ Bạch đầu đa hận tuế thời thiên/ Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến/ Hải giác thiên nhai tam thập niên” (Ở Hồng Lĩnh không có nhà anh em tan tác/ Đầu bạc thường bực vì ngày
tháng trôi mau) (Quỳnh Hải nguyên tiêu); “Cố hương đệ muội âm hao tuyệt/
Bất kiến bình an nhất chỉ thư” (Em trai, em gái ở quê nhà bấy lâu bặt hẳn tin
tức/ Không được một lá thư nào cho biết có bình an hay không) (Sơn cư
mạn hứng) Nỗi buồn xa quê cùng nỗi nhớ quê hương luôn ám ảnh Nguyễn
Du, vì thế ông thường nhắc đến chuyện trở về Ngay cả khi tiễn bạn về quê, Nguyễn Du cũng chạnh nghĩ đến mình: “Hồng Lĩnh Hữu nhân lai tố chủ/ Bạch đầu vô lại bất hoàn gia” (Từ nay Hồng Lĩnh có người về làm chủ/ Còn
ta đầu bạc không nên trò trống gì mà vẫn không về nhà) (Tống Nguyễn Hữu
Sĩ nam qui).
Nguyễn Du có nhiều nỗi buồn, trong những nỗi buồn đó có nỗi buồn
về công danh sự nghiệp của một người theo đường thư kiếm mà phải sống cảnh nghèo nàn: “Thư kiếm vô thành sinh kế xúc” (Nghề văn nghề võ đều
không thành, sinh kế quẫn bách) (Tự thán II), “Văn tự hà tằng vi ngã dụng/
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Văn tự nào đã dùng được việc gì cho ta/ Đâu
ngờ phải đói rét để cho người thương) (Khất thực) Có nỗi buồn vì bệnh tật:
“Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu
ngày) (Xuân dạ), “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng ốm đau liên miên nghèo không có thuốc) (Mạn hứng I) Và cuối cùng là nỗi buồn thời thế đổi thay thể hiện trong Vị Hoàng doanh: “Cổ kim vị kiến thiên niên
quốc” (Xưa nay chưa từng thấy triều đại nào đứng vững nghìn năm)
Trong mười năm ở Thái Bình, Nguyễn Du vẫn mang một mối cô trung với triều đại cũ, nơi mà cha và anh trai ông đã từng làm quan to Ông
Trang 21coi thời Tây Sơn là thời loạn: “Loạn thế nam nhi tu đối kiếm” (Trai thời
loạn nhìn thanh gươm mà hận) (Lưu biệt Nguyễn đại lang) Khi Đoàn
Nguyễn Tuấn chia tay để vào làm quan nhà Tây Sơn, Nguyễn Du có ý chê trách “Bài bì nhưng lụy cựu phù danh” (Thì ông lại mang lụy vì danh hão
như con báo mang lụy vì lốt da) (Họa hải ông Đoàn Nguyễn Tuấn “Giáp
Dần phụng mệnh Phú Xuân kinh, đăng trình lưu biệt đắc thành chi hữu” thời tác).
Từ những nỗi niềm ấy, ta thấy hiện lên một con người cô đơn, nỗi niềm chỉ biết chia sẻ với dòng sông Lam sâu thẳm Trong mười năm, Nguyễn Du là kẻ “cùng đồ”, mới ba mươi tuổi mà đầu tóc bạc trắng, là người thông minh sắc sảo, ôm mộng thư kiếm mà sống nghèo hèn, bệnh tật không có thuốc chữa Đặc biệt, con người ấy lại càng cô đơn hơn khi lòng luôn hướng về quê hương với cảm thức của một người con tha hương khao khát trở về nhưng bất lực Sâu xa trong cõi lòng còn ôm mối cô trung với cựu triều
Phần thứ hai trong Thanh Hiên thi tập là Dưới chân núi Hồng gồm 26
bài thơ viết từ năm 1796 đến giữa năm 1802, những năm này Nguyễn Du 31
- đến 37 tuổi Được trở về với núi Hồng không khác gì con chim bay mãi đã
về tới tổ, Nguyễn Du không còn cảm giác kẻ tha hương nhưng lại mang nỗi buồn lớn vì sự đổi thay quá đỗi Bến Giang Đình ngày nào tấp nập thuyền
bè, cờ hoa cũng như cảnh gia tộc giàu sang uy vọng giờ chỉ còn là kí ức:
“Nhất tự y thường vô mịch khứ/ Lưỡng đê yên thảo bất tăng bi” (Từ khi bóng áo xiêm không còn thấy đâu nữa/ Trông làn khói trên ngọn cỏ ở hai
bên bờ sông mà không xiết bùi ngùi) (Giang Đình hữu cảm) Anh em phiêu
tán không biết khi nào gặp lại “Nhất biệt bất tri hà xứ trú/ Trùng phùng đương tác tái sinh khan” (Một phen từ biệt không biết nay ở nơi nào?/Cuộc
trùng phùng có lẽ phải đợi đến kiếp sau) (Ức gia huynh) Cũng có lúc ông
nhớ người vợ nơi xa ngái “Kinh niên bất tương kiến/ Hà dĩ úy tương ti (tư)”
(Bao nhiêu năm không gặp nhau, biết lấy gì yên ủi nỗi nhớ mong) (Kí
Trang 22mộng) Lúc muốn vào Nam theo Nguyễn Ánh, Nguyễn Du bị bắt lại giam
trong ngục mười tuần, ông viết những bài thơ uất ức về thực tại và lòng vẫn tưởng nhớ cựu triều “Bình Chương di hận hà thời liễu/ Cô trúc cao phong bất khả tầm” (Bao giờ mới hết mối hận Bình Chương/ Khó mà tìm được
phong cách cao thượng của con người nước Cô Trúc) (Mi trung mạn hứng)
Bởi thế nên khi lên thành ông Ninh, Nguyễn Du vẫn ngậm ngùi về chiến tích cũ “Thập niên nhị tiết nam nhi hận/ Đàn kiếm trường ca đối bạch vân” (Mười năm trôi qua, chưa rửa được mối hận của nam nhi/ Gõ nhịp vào
gươm, ca hát hoài trước chòm mây trắng) (Ninh Công thành) Ông nói lên
tấm lòng mình “Trạm trạm nhất phiến tâm/ Minh nguyệt cổ tỉnh thủy” (Tấm
lòng trong vằng vặc/ Như ánh trăng sáng, như nước giếng xưa) (Đạo ý).
Qua những biến cố ấy, Nguyễn Du vẫn mang nỗi buồn về văn chương
sự nghiệp và con đường công danh sự nghiệp trước những vấn đề cơm áo đời thường “Thanh chiên cựu vật khổ trân tích/ Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Chiếc nệm xanh, vật cũ, khư khư giữ mãi/ Tóc bạc rồi, dù có hùng
tâm cũng ngồi than thở suông mà thôi) (Khai song), “Nhất sinh từ phú tri vô
ích/ Mãn giá cầm thi đồ tự ngu” (Một đời chuyên về từ phú biết là vô ích/
Sách đàn đầy giá, chỉ mình làm ngu mình) (Mạn hứng).
Trong thời kì này, Nguyễn Du có một số bài thơ tâm tình với bạn bè
về chí lớn không thành “Nhãn để phù vân khan thế sự/ Yêu gian trường kiếm quải thu phong” (Mắt xem việc đời như phù vân/ Kiếm dài đeo lưng
trước gió thu) (Kí hữu) Còn trong Kí Huyền Hư tử, Kí giang bắc Huyền Hư
tử, Độ Long Vĩ giang, Biệt Nguyễn đại lang Nguyễn Du thể hiện một tình
cảm bằng hữu chân thành tha thiết, luôn hướng về nhau bằng sự đồng cảm, trọng thị “Trân trọng hảo tự ái/ Thu cao sương lộ đa” (Xin anh hãy trân
trọng giữ mình/ Càng vào thu sương móc càng nhiều) (Kí giang bắc Huyền
Hư tử), “Thân bằng tân khẩu vọng/ Vị ngã nhất triêm cân” (Bạn bè thân
thích đứng trên bến nhìn theo/ Vì ta mà nước mắt ướt khăn)
Trang 23Dưới chân núi Hồng còn ghi lại cuộc sống đời thường của Nguyễn
Du Lúc này, ông như một bậc ẩn sĩ hay một “Hồng Sơn liệp hộ”, “Nam Hải
điếu đồ” Nguyễn Du có hai bài Hành lạc từ nói về sự “hành lạc” của ông
khi về núi Hồng nhưng sự hành lạc ở đây chỉ là một cách nói chỉ việc đi săn trên núi, đi câu ngoài biển không màng đến thời cuộc, công danh Trong bài
Liệp Nguyễn Du nói về thú đi săn “Y quan đạt giả chí thanh vân/Ngô diệc
lạc ngô mi lộc quần” (Những người làm quan hiển đạt thì chí ở đường mây/ Còn ta, ta cũng vui với lũ hươu nai của ta) Ông tự hào về vẻ đẹp của sông Lam núi Hồng “Mạc sầu tịch địa giai vô khách/ Lam thủy, Hồng sơn túc vịnh ngâm” (Chớ lo nơi hẻo lánh không có bạn/ Sông Lam, núi Hồng đủ để
ngâm vịnh) (Tặng Thực Đình), “Lam thủy, Hồng sơn vô vạn thắng/ Bằng
quân thu thập trợ thanh ngâm” (Sông Lam núi Hồng đẹp vô cùng/ Tha hồ
anh nhặt nhạnh để làm đề tài ngâm vịnh) (Phúc Thực Đình) Cảnh sông núi
hữu tình như thế, cuộc đời lại lắm nỗi niềm không thể tỏ cùng ai, Nguyễn
Du đã có lúc bày tỏ ý định muốn làm một ẩn sĩ trong rừng sâu “Hồng Sơn nhất sắc lâm binh cừ/ Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư” (Núi Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng/ Nơi thanh tú tịch mịch này kẻ hãn sĩ có thể ở
được) (Tạp thi II), “Ná đắc kiêu kì phù thế ngoại/ Trường tùng thụ hạ tối
nghi nhân” (Ước gì thoát được vòng trần tục/ Ngồi dưới gốc tùng thú biết
bao nhiêu) (Sơn thôn).
Về với núi Hồng, về với quê cha đất tổ, tuy tinh thần có vẻ phấn chấn hơn những năm tháng sống ở Thái Bình song Nguyễn Du cũng không thể tránh khỏi những chuyện đời thường vẫn vây quanh mình là chuyện nghèo túng và đau ốm Mới hơn ba mươi tuổi mà bệnh tật luôn đeo đuổi “Tái bệnh
thượng tu nhiều nhiếp lực” (Bệnh trở lại, phải lo điều dưỡng) (Khai song),
“Đa bệnh đa sầu, khí bất thư/ Thập tuần khốn ngọa Quế Giang cư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái/ Mười tuần nay nằm co bên
bờ Quế Giang) (Ngọa bệnh I), “Thập niên túc vật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm không ai thăm hỏi) (Ngọa bệnh II).
Trang 24Mặc dù đã về sống ở quê hương, nơi ông từng ao ước, nhớ mong, song thơ chữ Hán Nguyễn Du sáng tác trong thời kì này vẫn còn đó những tâm sự thời cuộc, còn đó nỗi niềm hoài Lê, những nhọc mệt của bệnh tật nghèo khó, còn vương nợ công danh và có ý thoát tục Tuy nhiên trong thời
kì này vẫn có những bài thơ mang thần thái tươi sáng hơn là những bài thơ
ca ngợi say đắm cảnh đẹp quê nhà, là cuộc sống vui cùng sông núi biển trời cùng tình cảm bằng hữu chân tình và cảm động
Giai đoạn thứ ba là những bài thơ viết khi Nguyễn Du làm quan cho nhà Nguyễn tại Bắc Hà, những năm 1802 đến 1804, từ lúc ông 37 tuổi đến
39 tuổi Trong suốt hai năm này, Nguyễn Du chỉ viết 17 bài thơ chữ Hán Những ngày tháng đi xa nhà, với tâm hồn Nguyễn Du thì trước hết vẫn là nỗi niềm nhớ quê da diết Nguyễn Du nhớ về Quỳnh Côi quê vợ “Chinh hồng ảnh lí gia bà tại/ Ẩn ẩn Quỳnh vân tâm lưỡng phong” (Trong bóng chim hồng bay kia, nhà mình ở đâu/ Chỉ thấy vài ba ngọn núi thấp thoáng
trong mây miền Quỳnh Côi) (Ngẫu hứng II) Nhưng hơn hết là nỗi nhớ núi
Hồng sông Lam, nơi quê cha đất tổ “Hồng sơn sơn nguyệt nhất luân minh/ Thiên lí Trường An dạ thử tình” (Đêm nay trên núi Hồng Lĩnh vầng trăng
tròn sáng vằng vặc/ Ở Trường An nghìn dặm, lòng tôi thật là ngao ngán) (Kí
hữu), “Hồng sơn thiên lí ỷ lan tâm” (Tựa lan can, lòng nhớ núi Hồng nghìn
dặm xa) (La Phù giang thủy các độc tọa), “Bồi hồi chính ức Hồng sơn dạ” (Bồi hồi nhớ đêm nào ở Hồng Lĩnh) (Sơ nguyệt),… Đi làm quan xa quê,
Nguyễn Du lại buồn nỗi buồn lữ khách và cho đó là một cuộc lang thang, vất vả “Lục xích câu mi trường dịch dịch/ Tứ thời phao trịch thái thông thông” (Tấm thân sáu thước bị câu thúc cứ vất vả mãi/ Bốn mùa thoi đưa mà
sao mau thế) (Ngẫu hứng II), “Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn” (Ở noi lữ xá đã
buồn lắm rồi) Ông cũng chẳng còn coi trọng công danh “Phù thế công danh khan điều quá/…Phù lợi vinh danh chung nhất tán” (Công danh ở đời xem như mây bay vút qua/…Danh lợi hão huyền cuối cùng rồi sẽ tiêu tan hết)
(Mộ xuân mạn hứng), còn muốn làm một ẩn sĩ trong rừng trúc hay về lại núi
Trang 25Hồng làm bạn hươu nai Bởi vì cuộc đời là phù sinh, là áng mây nổi rồi sẽ tan biến.
Trong thời gian làm quan ở Bắc Hà, Nguyễn Du có một lần đi tiếp sứ đoàn Trung Quốc ở Lạng Sơn Trên đường, ông chú ý đến cuộc sống của con người bình thường với vẻ đẹp của sự bình yên gợi cảm giác muốn trở về
(Lạng sơn đạo trung, Quỷ Môn đạo trung) Nhân thấy con công múa hay con bướm chết mà suy nghĩ về thật giả, thiện ác ở đời (Khổng tước vũ, Điệp
tử thư trung) Thấy hòn đá vọng phu ông ca ngợi tấm lòng người phụ nữ
chung thủy “Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân” (Tấm thân giữ trọn được tiết
trinh mãi mãi) (Vọng phu thạch) Vào động Nhị Thanh ông suy ngẫm về đạo
Phật, con người, thời cuộc Bài thơ cuối cùng của tập thơ này, Nguyễn Du dành nói về số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh cùng mối đồng cảm đối với con người tài sắc
Thanh Hiên thi tập gồm 78 bài thơ viết trong suốt 18 năm của cuộc
đời Nguyễn Du cho thấy đây là một con số không nhiều Vì thế, có thể coi những vần thơ viết ra là gan ruột nhất, trút bỏ tất cả nỗi lòng Đó trước hết là nỗi đau, nỗi buồn trước cuộc đời, là những ẩn ức không biết ngỏ cùng ai, là tình cảm quê hương, gia đình, là những tâm sự về lí tưởng, thời cuộc hay những mối đồng cảm đối với con người,…Những điều này, độc giả chỉ có thể tìm thấy trong thơ chữ Hán mà không thể ở một mảng thơ nào khác của Nguyễn Du
Cuộc đời của Nguyễn Du đã chứng kiến bao phen thay đổi sơn hà đến chóng mặt Chuyện thay đổi trước mắt, con người bị cuốn vào thực tại không sao cưỡng lại được nên chỉ thấy cuộc đời này đáng buồn, đáng thương Có thể nói ở Nguyễn Du nổi bật nhất là nét lo đời, lo cho tất cả mọi người - con người suốt đời đau thế thái nhân tình Nhà thơ chứng kiến giữa cuộc đời loạn lạc, ông càng hiểu rõ nỗi khổ của nhân dân, càng đau đớn trước sự suy tàn của cuộc đời Trên con đường đầy ngã rẽ, Nguyễn Du vẫn
Trang 26bế tắc không thể chọn cho mình một hướng đi nhưng vượt lên tất cả là tấm lòng “sáng tỏ như vầng trăng” là nỗi ưu ái dành cho cuộc đời và con người.
1.3.2 Thời kỳ Nguyễn Du làm quan ở một số tỉnh miền Trung:
Nam trung tạp ngâm
Tập thơ chữ Hán thứ hai của Nguyễn Du là Nam trung tạp ngâm gồm
40 bài thơ viết trong 9 năm (từ năm 1804 đến 1813, ông 39 tuổi đến 48 tuổi), giai đoạn từ lúc nhà thơ được thăng hàm Đông các điện học sĩ vào làm quan ở kinh đô Phú Xuân (gần bốn năm) đến hết thời kỳ làm Cai bạ dinh Quảng Bình (ba năm, năm tháng) trong suốt 9 năm ông chỉ viết 40 bài thơ Điều đó cho thấy thời gian này Nguyễn Du viết không nhiều, những gì được thể hiện ra trang giấy là những tâm tư, tình cảm thôi thúc nhất trong tâm hồn
Nhà thơ gửi gắm ở tập thơ này về nỗi thất vọng ở chốn quan trường, nơi đây đầy những rối ren, ganh đua, lòng người hiểm ác khiến nhà thơ của chúng ta luôn phải cẩn thận giữ gìn Năm 1802, Nguyễn Du bắt đầu ra làm quan cho nhà Nguyễn, ông thăng chức nhanh và có lúc giữ chức vụ quan trọng trong triều đình (theo gia phả chép lại) Làm quan là con đường có thể thỏa chí nguyện tang bồng của thời trai trẻ mà sao giọng thơ vẫn rặt một nỗi
bi thương? Chúng ta nghe lời bộc bạch của Nguyễn Du về cuộc sống chốn
quan trường: “Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc” (Tống nhân) (Những con
oanh đẹp trong vườn thượng uyển ghen nhau vì sắc đẹp) Quan trường như vườn thượng uyển những con oanh ghen nhau sắc đẹp Ở đó nhà thơ không
có ai làm bầu bạn nay trở thành con người cô độc Con người cô độc ấy muốn gò mình trong thế giới sầu muộn riêng, từ chỗ không ai để trò chuyện
đã tự mình đóng cửa không muốn trò chuyện với ai Chính cuộc sống ấy, nhà thơ cất lên những câu thơ như ai oán: “Phàm sinh phụ kỳ khi, Thiên địa
phi sở dung” (Điệu khuyển) (Phàm những người sinh ra có khí phách khác
thường, Thì trời đất vẫn hay ghen ghét) Có lúc tự mỉa mai mình: “Hữu hình
đồ dịch dịch, Vô bệnh cố câu câu” (Thu chí) (Có thân luống vất vả, Không
Trang 27bệnh mà lưng cứ lom khom) Một mình cô đơn chốn chân trời, thân bị một chức quan cột chặt, nhà thơ không khỏi nuối tiếc những năm tháng cũ Vì vậy mà nhà thơ một mực ngoảnh về phía quê hương: “Vọng vọng gia hương
tự nhật biên, Hoành sơn chỉ cách nhất sơn điên” (Nễ Giang khẩu hương vọng) (Đứng trông ngóng quê nhà tựa như ở bên mặt trời, Nhưng chỉ cách một ngọn núi trong dãy Hoành Sơn thôi)
Không gian lúc này đâu còn là không gian của địa lý mà đã trở thành không gian của tâm tưởng Người càng trông ngóng thì càng xa diệu vợi, cố hương ở đây không đơn thuần là quê cũ Đó là hình ảnh một thế giới mà nhà thơ đang hiện diện, nơi đó nhà thơ có những ngày tự do bay nhảy cùng sông Lam núi Hồng, cùng rau thuần cá vược, cùng đàn âu trắng… Cuộc sống ở
đó đạm bạc, giản dị đã qua cho nên tấm lòng nhớ quê càng tiếc nuối và ám ảnh, da diết
Tiếp nối những cảm xúc khi đi làm quan ở Bắc Hà, vào Huế hay Quảng Bình, Nguyễn Du vẫn không thôi nhớ quê hương, nhớ núi Hồng sông Lam, muốn trở về cuộc sống vô ưu nơi thôn dã: “Hồi thủ Lam giang phố/ Nhàn tâm tạ bạch âu” (Ngoảnh đầu về bến sông Lam/ Bụng muốn nhàn mà
phải phụ với chim âu trắng) (Thu chí), “Hồn hề quy lai tư cố hương” (Hồn
ơi, về đi, nhớ quê hương) (Ngẫu thư công quán bích I), “Giang thành nhất
tọa nguyệt tam chu/ Bắc vọng gia hương thiên tận đầu” (Nằm ở thành bên
sông chốc đã ba năm/ Trông về bắc quê nhà ở tận cuối trời) (Tân thu ngẫu
hứng),…Nguyễn Du vẫn tự thấy mình là kẻ lang thang “Nhân ỷ thiên thai
trệ nhất quan” (Người lần lữa bên chân trời vì một chức quan) (Ngẫu thư
công quán bích II) Thêm vào đó là cảnh quan trường làm ông chán ngán
“Thù phương độc thác hữu quan thân/ Sự lai đồ lệ giai kiêu ngã” (Cái thân làm quan riêng gửi chốn xa lạ/ Khi có việc, bọn nha lại đều lên mặt với ta),
“Bất tài đa khủng tốc quan vi” (Bất tài nên làm việc quan hay sợ mắc sai
lầm) (Giang đầu tản bộ) Nhưng Nguyễn Du vẫn luôn đề cao cốt cách thanh
cao, không đua tranh, bon chen “Ngã dục quải quan tòng thử thệ/ Dữ ông
Trang 28thọ tuế, lạc cầm tôn” (Ta cũng muốn từ đây treo mũ áo từ quan mà ra đi/
Cùng ông hưởng thọ vui với đàn với rượu) (Tặng nhân) Những điều này
làm ông cảm thấy mình vẫn là một kẻ cô đơn, độc hành “Nguyệt lạc viên thanh ngoại/ Nhân hành hổ tích trung” (Kẻ lữ hành nghĩ đến đường phía
trước/ Người đi trong vùng có nhiều vết chân hổ) (Phượng Hoàng lộ thượng
tảo hành) Bởi thế, ông luôn ám ảnh chuyện trở về với núi Hồng, sông Lam
để làm một người đi săn, câu cá hay một ẩn sĩ trong rừng sâu “Khả liên quy
lộ tài tam nhật/ Độc bão hương tâm di tứ niên” (Đáng buồn, đường về nhà chỉ ba ngày là đến/ mà ôm nỗi nhớ quê đã bốn năm trời) Nói thay người lính thú, ông vận vào tâm hồn mình “Lũng thiên tuế tuế qua điền thực/ Khổ tận cam lai thượng hữu kì” (Năm này qua năm khác ruộng dưa lại chín/ Hết
khổ đến sướng, tất có ngày được về) (Đại tác cửu thú tư quy).
Về thái độ với thời cuộc, Nguyễn Du vẫn còn những nỗi buồn vì đời dâu bể nhưng dường như ông có phần chấp nhận “Phù thế kỉ kinh tang lỗ biến/ Sàng đầu y cựu tửu doanh tôn” (Cuộc đời trải bao phen ruộng dâu hóa
thành ruộng muối/ Đầu giường luôn có chai rượu đầy như trước) (Tái thứ
nguyên vận) Tuy còn chút hoài nhớ nhà Lê “Kí đắc niên tiền tằng nhất
đáo/Cảnh Hưng do quải cựu thời chung” (Nhớ lại năm trước từng đến thăm đây/ Còn thấy treo quả chuông thời Cảnh Hưng) nhưng cũng đã nói về sự thống nhất “Hán đoạt Tần tranh sự dĩ không” (Nhà Hán, nhà Tần tranh
giành nhau chuyện đã qua) (Pháo đài) Trong thời gian này, Nguyễn Du
cũng có những bài thơ gửi bạn bè với tấm lòng tha thiết, chân thành “Ỷ biến lan can vô dữ ngữ/ Kỉ hồi kinh tọa ức Trần Tuân” (Tựa khắp lan can không
biết chuyện trò cùng ai/ Bao lần giật mình tưởng Trần Tuân đến) (Giản công
bộ Thiêm sự Trần), “Đồng niên giao nghị thượng y y” (Tình bạn thân từ
thuở trẻ nay vẫn như cũ) (Y nguyên vận khí Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên)
Tiễn Ngô Nhữ Sơn về Nghệ An, ông mừng vì quê mình có một vị quan tốt
(Tiễn Ngô Nhữ Sơn công xuất trấn Nghệ An).
Trang 29Tuy làm quan nhưng Nguyễn Du vẫn trăn trở với cảnh nghèo khổ, bệnh tật “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc/ Nhất thân ngọa bệnh đế thành đông” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành Sơn/ Ta một
mình đau ốm nằm phía đông thành) (Ngẫu đề), “Cố hương cang hạn cửu
phương nông/ Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nơi quê hương nắng hạn
lâu ngày làm hại việc nông/ Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau) (Ngẫu
hứng IV).
Nhìn chung, tâm sự Nguyễn Du trong thơ chữ Hán trước và sau khi làm quan không nhiều thay đổi, vẫn là sự khắc khoải nhớ nhung về quê hương, những chuyện thương hải tang điền, cảnh nghèo khó, bệnh tật, nỗi niềm hoài cựu, chưa làm quan thì trăn trở chuyện chưa có công danh nhưng
đã làm quan thì coi đó chỉ là phù vân (Những phức tạp trong tư tưởng Nguyễn Du, chúng tôi xin phân tích ở phần sau)
Cuộc sống an nhàn, ấm áp không phải dành cho thi nhân Nhà thơ luôn phải đau lòng vì “mười miệng trẻ đói mặt càng xanh như rau” lo lắng đến thắt ruột vì “quê hương nắng hạn lâu ngày”, trong khi mình thì “một thân nằm bệnh ở thành phía đông” Cho nên ước mơ vẫn chỉ là ước mơ, hiện thực khô khan giấc mộng phiêu bồng Chuyện cơm áo của nhà thơ nay cột chặt nơi đất khách Đành “thay cái cày bằng cái lưỡi” (Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên) để sinh kế song không thể yên lòng trước cuộc đời, trước những người hành khuất đến từ thành Thăng Long “áo rách nón
xơ sắc mặt xám như tro” (Ngẫu hứng V), trước “xương tàn trăm trận đánh nằm trong bãi cỏ xanh” (Độ Linh Giang) Nhà thơ cảm thấy hổ thẹn “thẹn mình đã phụ làn mây núi Hồng” (Giản Công bộ thiêm sự Trần), đành nhờ hoa cúc vàng, chim âu trắng gửi lời từ tạ
Có thể nói, trong quãng thời gian làm quan ở phía Nam, Nguyễn Du không hề có giây phút thanh thản Nhìn hiện thực chốn quan trường, con người muốn thoát ra nhưng càng vùng vẫy thì càng bế tắc, càng bế tắc càng đau khổ
Trang 301.3.3 Thời kỳ Nguyễn Du sang Trung Quốc: Bắc hành tạp lục
Bắc hành tạp lục là tập thơ chữ Hán thứ ba của Nguyễn Du với 131
bài viết chỉ trong hai năm từ 1813 đến 1815, khi đó Nguyễn Du được nhà Nguyễn cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc tuế cống Lúc này Nguyễn Du
đã 48 tuổi và phải trải qua chặng hành trình dài với nhiều khó khăn, khắc nghiệt của thời tiết Song đây lại là thời kì ông sáng tác nhiều nhất, nhiều hơn số thơ chữ Hán ông đã viết trong 27 năm qua Tập thơ không chỉ ghi lại những điều tai nghe, mắt thấy trên đường đi sứ mà còn bày tỏ những điều suy nghĩ, chiêm nghiệm bấy lâu nay của Nguyễn Du
Dõi theo những bài thơ trong Bắc hành tạp lục có thể vẽ lại con
đường đi sứ của Nguyễn Du bắt đầu từ lúc trở ra Thăng Long để đi lên biên giới phía Bắc Từ bài 1 đến bài 10, Nguyễn Du tái hiện con đường từ Thăng Long lên Quỷ Môn quan Đây là những bài Nguyễn Du viết về những cảnh, những người, nhiều tâm trạng của ông lúc còn đang ở quê nhà vì điều này điều kia mà không thể bày tỏ Trở lại Thăng Long, gặp lại cảnh cũ người xưa nhưng tất cả đã đổi thay: Những người ca nữ Long Thành xưa kia vốn nổi tiếng tài sắc thì nay đã tàn tạ, héo úa: “Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa/ Nhan xú thần khô hình lược tiểu/ Lang tạ tàn my bất sức trang/ Thùy tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu” (Duy ở phía cuối có một người tóc hoa râm/ Nét mặt võ vàng, thần sắc khô khan, thân hình hơi bé nhỏ/ Đôi mày phờ phạc không điểm tô/Ai biết đó là người tài hoa nhất thành hồi bấy
giờ? (Long Thành cầm giả ca); “Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử/ Khả liên do
trước khứ thời y” (Nghe nói lấy người khác đã được 3 con/ Đáng ái ngại vẫn
còn mặc chiếc cao ngày trước!) (Ngộ gia đệ cựu ca cơ) Đất Thăng Long đã
đổi khác, không còn dấu tích xưa “Thiên niên cự thất thành quan đạo/ Nhất phiến tân thành một cố cung” (Ngôi nhà đồ sộ nghìn năm xưa, nay thành
đường cái/ Một dải thành mới làm mất dấu vết cung điện cũ) (Thăng Long
I), “Cù hạng tứ khai mê cựu tích/ Quản huyền nhất biến tạp tân thanh”
Trang 31(Đường sá ngang dọc, lạc mất dấu vết cũ/ Tiếng đàn sáo cũng đổi khác, xen
lẫn âm thanh mới) (Thăng Long 2).
Qua Thăng Long, đường lên Lạng Sơn hiểm trở gợi lại những cuộc chiến trong quá khứ “Chung cổ hàn phong truy bạch cốt/ Kì công hà thủ Hán tương quân” (Từ xưa gió lạnh thổi xương trắng/ Kì công của tướng
quân nhà Hán có gì đáng khen!) (Quỷ Môn quan), phê phán Mã Viện đem
quân xâm lược nước Nam “Tinh danh hợp thướng Văn đài họa/ Do hướng Nam trung sách tuế thì?” (Tên tuổi ông chỉ đáng được ghi ở gác Vân đài
thôi/ Chứ sao lại còn đòi nước Nam hàng năm cúng tế?) (Giáp thành Mã
Phục Ba miếu) Đứng ở biên giới mà lòng nhớ nước, nhớ quê “Đế khuyến
hồi đầu bích vân biểu/ Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm” (Quay đầu trông về cửa khuyết ở ngoài tầng mây biếc/ Bên tai còn vẳng tiếng nhạc quân thiều)
(Trấn Nam quan); “Hồng Lĩnh thân bằng nhật tiệm dao” (Bầu bạn non Hồng càng ngày càng xa) (Lạng thành đạo trung) Từ đây, tâm hồn Nguyễn Du
hướng đến cảnh và người mà ông gặp suốt dọc đường đi Gần như đi đến đâu Nguyễn Du cũng tức cảnh nhớ người mà làm thơ ngâm vịnh, thể hiện cảm xúc thái độ Cảnh chủ yếu là đền, đài, tông miếu, là sông núi đường trường, người cũng chỉ là người xưa hiện về trong lòng người lữ thứ
Nguyễn Du nhớ đến rất nhiều người trên đất nước Trung Quốc, mỗi người gợi lên một câu chuyện, một suy ngẫm về cuộc đời Ông ca ngợi con người tài năng và phẩm cách Ông đến với những nhà thơ, nghệ sĩ bằng sự
đồng cảm và quý trọng tài năng: Lư Chiếu Lân, Vi Ứng Vật (Đề Vi, Lư Tập
Hậu), thương tiếc Khuất Nguyên (Ngũ nguyệt Quan Cạnh Độ; Tương Đàm điếu Tam Lư Đại Phu I; Tương Đàm điếu Tam Lư Đại Phu II; Phản chiêu hồn; Biện Giả; Trường Sa Giả Thái Phó; Tương Âm dạ) nhưng không muốn
Khuất Nguyên trở về, thương tiếc Liễu Tông Nguyên (Vĩnh Châu Liễu Tử
Hậu cố trạch) mà liên hệ đến mình, thể hiện mối đồng cảm với bậc thầy văn
chương Đỗ Phủ (Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ), nhớ Lí Bạch sống ung dung giữa cuộc đời (Đào hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích), thương tiếc Kê
Trang 32Khang tài hoa mà bị bức tử làm cho điện Quảng Lăng không còn (Kê Khang
cầm đài).
Đối với những bậc tiên hiền, người trung nghĩa, dũng tướng, Nguyễn
Du bày tỏ lòng khâm phục sâu xa: Khổng Tử, Mạnh Tử (Đông lộ) Vua Ngu, Thuấn (Đế Nghiêu miếu; Thương Ngô Tức Sự, Thương Ngô mộ Vũ), ông các
bộ họ Cù không chịu khuất phục (Quế Lâm Cù các bộ), Hàn Tín, Dự Nhượng trọng ân nghĩa (Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu tác; Dự Nhượng
Chủy thủ hành; Dự Nhượng kiều), Tấn Công văn võ toàn tài (Bùi Tấn Công mộ), Tỉ Can ngay thẳng mà bị giết (Tỉ Can mộ), thăm mộ Nhạc Vũ Thương
người anh hùng gặp phải tiểu nhân (Nhạc Vũ Mục mộ), Lạn Tương Như và Liêm Pha vì nước mà gạt bỏ hiềm khích riêng (Lạn Tương Như cố lí; Liêm
Pha bi), thương cảm người có tài như Hạng Vũ mà trời không cho thành
công (Sở Bá Vương mộ I, II), Kinh Kha dám chết một cách ý nghĩa (Kinh
Kha cố lí), Liễu Hạ Huệ lấy chữ hòa làm đạo (Liễu Hạ Huệ mộ) hai ông họ
sợ coi thường công danh (Nhị Sơ cố lí).
Bên cạnh đó, ông lên tiếng phê phán những người vì quyền lợi, danh
vị mà tranh đoạt để khổ cho nhân dân, để rồi cuối cùng chẳng lưu tiếng tốt
cho đời sau: Mã Viện đem quân xâm lược (Giáp thành Mã Phục ba miếu;
Đề Ðại Than Mã Phục ba miếu), Triệu Đà (Triệu Vũ Đế cố cảnh), Lưu Bị,
Tôn Quyền (Sở Vọng), vợ chồng Tần Cối gian xảo, mưu mô (Tần Cối tượng
I, II; Vương Thị tượng), Tào Tháo không xứng đáng là trượng phu (Đồng Tước đài; Thất thập nhị nghi trủng), Nhạc Phi (Yển Thành, Nhạc Vũ Mục ban sư xứ), Tô Tần tranh giành (Nhị thủ Tô Tần đình).
Về số phận người phụ nữ, Nguyễn Du ca ngợi hai bà phi của vua Ngu
(Thương Ngô mộ Vũ), ca ngợi ba người liệt nữ giữ lòng trung trinh, bên
cạnh đó phê phán Trác Văn Quân, Thái Diễm không giữ lòng trung, còn
Ngu Cơ trinh tiết (Sở Bá Vương mộ II) Đối với nhân vật Dương Quý Phi vốn bị lên án, Nguyễn Du lại có ý bênh vực (Dương Phi cố lí).
Trang 33Với trái tim nhân đạo, Nguyễn Du không chỉ cảm thương cho những con người tài năng bất hạnh mà ông còn đến với cuộc đời của những người nghèo khổ, bất hạnh “Thái Bình cổ sư thô bố y/ Tiểu nhi khiến vãn hành giang mi/ Vân thị thành ngoại lão khất tử/ Mại ca khất tiền cung thần xuy” (Thành Thái Bình có người mặc áo vải to/ Một em bé dắt đi theo bờ sông/ Nghe nói đó là người hành khất ở ngoài thành/ Hát rong xin tiền để kiếm ăn)
(Thái Bình mại ca giả) hay như số phận của mấy mẹ con nghèo khổ dắt díu nhau đi kiếm ăn (Sở kiến hành) Hai bài này ông đều đặt trong sự đối lập với
tiệc tùng thừa mứa của quan lại
Suốt cuộc hành trình, Nguyễn Du cũng cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người Thiên nhiên nước bạn hiện lên hùng vĩ, hiểm trở Thiên nhiên ấy luôn gợi lên trong lòng người những suy nghĩ về triết lí
cuộc sống (Ninh Minh giang chu thành; Vãn há Đại Than, tân lạo bạo
trướng, chư hiểm câu thất; Thương Ngô tức sự; Bất tiến hành; Tín Dương tức sự; Đồ trung ngẫu hứng; Tây Hà dịch) Những bài thơ miêu tả thiên
nhiên đẹp mà không u buồn (Thương Ngô trúc chi ca I - XV; ) Mười lăm
bài thơ này như những nét vẽ đẹp về thiên nhiên và con người, chủ yếu trên sông Đây là khoảnh khắc hiếm hoi thơ chữ Hán Nguyễn Du không có nỗi buồn thương, nhớ nhà, cảm giác tha hương, ước muốn trở về
Nhìn cảnh đất khách với mây núi, sông, thuyền, Nguyễn Du luôn hướng về quê hương với tất cả buồn thương, nhung nhớ và khao khát trở về Cùng với đó là nỗi buồn, cô đơn của người lữ khách nơi chân trời góc bể
Nhìn cảnh sông núi mà nhớ quê (Tam Giang khẩu đường dạ bạc; Thái Bình
thành hạ văn xuy địch; Chu hành tức sự; Đăng Nhạc Dương lâu; Hàm Đan tức sự; Từ Châu đạo trung; Tổ Sơn đạo trung; Hoàng Mai đạo trung) Nghe
tiếng vượn hú, ve sầu, quạ nhớ quê (Vọng Quan Âm miếu; Sơ thu cảm hứng
II; An Huy đạo trung) Nhìn thấy xóm làng nhớ quê (Tín Dương tức sự)
Mùa thu nhớ quê (Sơ thu cảm hứng I; Lạng thành đạo trung; Ngẫu hứng)
Lại có lúc ông một mình ôm nỗi cô đơn, đối diện với chính mình suy nghĩ
Trang 34về thời cuộc (Bất tiến hành; Quế Lâm công quán; Tương Giang dạ bạc; Độ
Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng; Đào Hoa dịch đạo trung I; Hoàng Mai sơn thượng thôn) Nguyễn Du vẫn hướng đến cuộc sống của người ẩn sĩ (Lý gia trại tảo phát; Tiềm Sơn đạo trung; Đào Hoa dịch đạo trung II) Bài thơ cuối
cùng là bài “Chu Phát” có nghĩa là thuyền ra đi, ra đi ấy là để trở về
Nguyễn Lộc nhận xét: Khi có dịp đi sứ Trung Quốc, nhà thơ tìm thấy một nguồn đề tài vô tận để nói những điều mình muốn nói (… ) mỗi một cảnh, mỗi một di tích, mỗi một con người của quá khứ và hiện tại trên đất nước Trung Hoa như xác nhận thêm một lần nữa những điều nhà thơ từng nghiền ngẫm, nung nấu [33, tr.417] Cái tâm sự sâu thẳm như nước sông Lam dưới chân núi Hồng mà khi còn ở nhà, thi nhân không thể bộc bạch, không thể giải tỏa thì nay được giãi bày tự nhiên, chân thật trên trang giấy Những điều tai nghe mắt thấy trên đường đi sứ thấm sâu vào cảm xúc và chiêm nghiệm, được thể hiện bằng ngòi bút trác tuyệt của bậc đại thi hào
cho nên Bắc hành tạp lục vượt lên trên những tập thơ đi sứ khác về độ chín
của cảm xúc và sự tài hoa
249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong ba tập thơ vừa là hành trình cuộc đời vừa là hành trình tư tưởng của ông
Trang 35Chương 2 DẤU ẤN VĂN HOÁ CÁC VÙNG MIỀN TRONG THƠ
CHỮ HÁN NGUYỄN DU
2.1 Dấu ấn văn hoá xứ Nghệ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
2.1.1 Thiên nhiên, cảnh quan xứ Nghệ trong mối quan hệ với con
Thiên nhiên qua cách nhìn của Nguyễn Du đâu đâu cũng hiện lên với một thần thái tươi sáng, sinh động, tràn đầy sức sống Nhưng dường như
Trang 36riêng đối với quê hương, ông có cái nhìn trìu mến đặc biệt như một ánh trăng, một đám mây trôi, một làn gió, một bóng hươu nai Trăng được ông
quan tâm, trăng rất thân thiện và gần gũi: An đắc huyền quan minh nguyệt
hiện (Ước gì trước cửa huyền vầng trăng sáng hiện ra - Ngọa bệnh II); Thiên
lý bạch vân sinh kỷ tịch / Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư (Mây trắng
từ nghìn dặm đến, bay trên giường chiếu / Trăng sáng soi qua cửa sổ, chiếu
vào cặp sách túi đàn - Tạp thi, bài II) Có khi lại làm bạn với hươu nai, cùng đàn âu trắng: Lão nạp an niên Hồng Lĩnh vân / Phù âu tĩnh túc noãn sa tân/
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý (Vị sư già ngủ ngon trong mây núi Hồng/
chim âu cũng nằm yên trên bãi cát ấm/ Bóng trăng tàn giập giờn trên biển
nam, xa nghìn dặm) hay: Xạ miên thiểu thảo hương do thấp / Khuyển độ
trùng sơn phệ bất văn (Con xạ ngủ bãi cỏ non, hương thơm còn đượm ướt/
Chó săn chạy băng qua núi, không còn nghe rõ tiếng sủa);… Thiên nhiên quê hương dường như đã làm cho tâm hồn nhà thơ được hồi sinh cho nên tất
cả hiện lên trong thơ ông thật đẹp
Có thể nói, Nguyễn Du không chỉ nhìn thiên nhiên như vốn có của nó
mà thiên nhiên tươi đẹp còn là đối tượng để hưởng thụ ngâm vịnh Với Núi Hồng, nơi Nguyễn Du đã có những ngày tháng bay nhảy Trong bao quát của thi nhân, thiên nhiên trước hết là đẹp, là nguồn cảm hứng vô tận cho
sáng tạo nghệ thuật: Lam thủy Hồng sơn vô hạn thắng (Sông Lam núi Hồng đẹp vô cùng - Phúc Thực Đình), Lam thủy Hồng sơn túc vịnh ngâm (Sông Lam núi Hồng đủ để ngâm vịnh - Tặng Thực Đình) Núi Hồng soi bóng
xuống sông Lam, gắn với sông Lam vừa là hình ảnh thực vừa là một biểu trưng độc đáo cho thiên nhiên và văn hoá xứ Nghệ:
Hồng sơn nhất sắc lâm binh cừ
Thanh lịch khả vi hàn sĩ cư
(Núi Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng/Nơi thanh tú tĩnh
mịch này, kẻ hàn sĩ có thể ở được - Tạp thi, bài II)
Trang 37Nhờ có một thời gian về quê, trong tư cách là một kẻ Hồng Sơn liệp
bộ (phường săn núi Hồng), Nguyễn Du càng có dịp phát hiện và cảm nhận
sâu sắc hơn nét riêng của đất, người và con nơi đây
Núi, ngoài vẻ đẹp thanh tú, tĩnh mịch, hùng vĩ, cùng chung một chính khí, còn có bao nhiêu điều thú vị khác Núi Hồng thuở ấy thiêng lắm Ở đây
có nhiều loài con Đêm tối sói, hổ hoành hành (dạ hắc sài hổ kiêu); cáo vàng béo đẫy, cáo trắng khoẻ chắc (Hoàng hồ phì mãn bạch hồ kiêu), Con xạ
hương ngủ bãi cỏ non, hương thơm còn đượm ướt/ Chó săn chạy băng qua
núi không còn nghe rõ tiếng sủa (Xạ miên thiển thảo hương do thấp/
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn); Núi phía nam lắm nai hương, huyết thơm
thịt lại béo (Nam sơn đa hương my, huyết nhục cam thả phì); Chó tốt, lông vàng đốm trắng (Tuấn khuyển hoàng bạch mao)
Hồng Lam, nhìn từ phương diện là một “thiên nhiên thứ nhất”, tức
thiên nhiên khi chưa có bàn tay con người chạm tới, còn là một thiên nhiên hết sức hung dữ, luôn đe doạ cuộc sống con người Nếu Núi Hồng nhiều hổ báo, đêm tối sói hổ hoành hành "dạ hắc sài hổ kiêu", thì Sông Lam lại lắm thuồng luồng "Lam thuỷ đa giao ly" Đây là vùng phải chịu nhiều lũ lụt, hạn hán Lam giang về mùa lũ càng trở nên nguy hiểm: ''Lam Giang trướng thu thủy, /Ngư miết du khâu lăng, /Ngưu mã mê nhai sĩ /Dĩ ngạn băng bạo
lôi, /Hồng đào kiến kỳ quỉ''(Lam Giang) (Sông Lam tràn đầy nước lụt mùa
thu /Cá giải bơi đùa nơi gò đẫy /Trâu ngựa không nhận ra bờ nước /Bờ sông
lở ầm ầm như sấm dữ, /Sóng dâng lên trông như những con quỷ kỳ dị).Đi trên thuyền lúc nào cũng có cảm giác thấp thỏm, lo âu: ''Lam thuỷ đa giao ly/ đạo lộ hiểm thả ác"(Sông Lam nhiều thuồng luồng/ Đường sá hiểm lại dữ) nên "Thốn tâm thường chuỷ chuỷ/ Thường khủng nhất thất túc/ Cốt một
vô để chỉ"( Lòng thường lo ngay ngáy/ Nếu không may sảy chân/ Sẽ chìm lỉm không biết đâu là cùng) Nhìn dòng sông sâu về mùa lũ mà ông càng lo
âu cho số phận con người trước hiểm hoạ của thiên nhiên, người trước ào ào
đi, người sau ùn ùn tới (Khứ giả hào thao thao/ Lai giả thượng vị dĩ)
Trang 38Nguyễn Du tận mắt chứng kiến những cơn giận dữ của thiên nhiên nên chỉ
mong Nghĩ khu Thiên Nhận sơn / Điền bình ngũ bách lý (Muốn làm sao đẩy
dãy núi thiên nhận/ Lấp bằng năm trăm dặm đường sông này) Thiên nhiên trong thơ chữ Hán không chỉ là vẻ đẹp diệu kỳ, tao nhã cho con người ngâm hoa vịnh nguyệt mà còn kỳ quái khiến con người phải khiếp sợ
Thiên nhiên, cảnh quan xứ Nghệ còn đi vào tâm tưởng của thi nhân và được thi nhân vẽ lại bằng ngôn từ rất độc đáo Một trong những biểu hiện đó
là cảnh đẹp Giang Đình (nằm trong bát cảnh của huyện Nghi Xuân) Giang
Đình hữu cảm là bài thơ kể lại câu chuyện của thân phụ Nguyễn Nghiễm
nhưng đồng thời cũng khắc họa đây là điểm hội tụ của văn hoá tôn vinh người tài một thời: Tại bến sông này, xe bồ ngựa tứ, vinh hạnh biết bao nhiêu/ Đoàn thuyền xô nước như rồng thần đấu nhau/ Chiếc tàn quý phấp phới trên không như chim hạc báo điềm lành bay…
2.1.2 Con người và đời sống văn hoá sinh hoạt, ăn mặc, văn hoá
tâm linh
Tuy chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Bắc Hà, nhất là kinh thành Thăng Long nhưng trong ký ức và đặc biệt là những năm tháng về sống ở quê nhà Nghi Xuân, không gian văn hóa xứ Nghệ cùng thiên nhiên, phong tục sinh hoạt của quê hương đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới cảm quan nghệ thuật cũng như tư tưởng chủ đạo trong rất nhiều sáng tác của Nguyễn Du Trong những vần thơ chữ Hán viết về quê hương xứ Nghệ thì hình ảnh con người và đời sống văn hoá sinh hoạt, ăn mặc, văn hoá tâm linh hiện lên khá rõ nét
Đầu tiên là con người Con người xứ Nghệ trong thơ ông hiện lên với
nhiều đối tượng khác nhau nhưng trước hết và đặc biệt là hình ảnh thân phụ của nhà thơ Tình cảm của Nguyễn Du dành cho người cha thân yêu của
mình được bộc lộ trong bài Giang Đình hữu cảm, Đây là hình ảnh lẫy lừng
của phụ thân ông được tiếp rước trọng thể ở bến Giang Đình: ''Ức tích ngô ông tạ lão thì/ Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi /Tiên chu kích thủy thần long
Trang 39đấu /Bảo cái phù không thụy lạc phi'' (Giang Đình hữu cảm) (Nhớ xưa, cha
ta khi cáo lão về hưu/ Xe bồ ngựa tứ về bến sông này oai làm sao / Đoàn thuyền tiên xô nước như rồng thần đấu nhau /Chiếc tàn quý phấp phới trên không như chim hạc báo điềm lành) Đứng trước bến Giang Đình, Nguyễn
Du nhớ lại người cha đã từng đi xe, đi thuyền, đi ngựa cùng với chiếc lộng quý phấp phới tưng bừng tại bến sông này Có thể gọi đây là biểu hiện đẹp của văn hóa, văn hiến (văn hóa ứng xử với người tài) xứ Nghệ
Nguyễn Du cũng nói đến nhiều những đứa con của ông – những số phận đói khát nơi quê nhà Với mười tám đứa con nheo nhóc “đói xanh như tàu lá”, từ nơi làm quan xa, mỗi lần nghĩ đến là ông quặn thắt ruột gan Đối với con, Nguyễn Du là một người cha rất mực thương con và luôn nghĩ đến trách nhiệm Hai lần miêu tả cái đói của đàn con mình ở quê nhà, ông xót xa viết: ''Cố hương cang hạn cửu phương nông/ Thập khẩu hài nhi thái sắc
đồng'' (Ngẫu hứng IV ) (Quê hương nắng hạn lâu làm hại việc nông /Mười
miệng trẻ đói mặt cùng xanh như rau)
Nguyễn Du cũng dành một phần thơ chữ Hán viết về vợ Mỗi lần nói tới vợ, ông đều nói với một giọng rất trìu mến, chân thành điều đó được thể
hiện trong bài Kí mộng Lâu năm xa cách vợ, khiến ông nhớ thương về
người vợ hiền chắc chắn đang “chờ đợi héo hon Ông đã hình dung ra điều
ấy Gặp lại vợ trong giấc mơ, bao nhiêu nỗi niềm trong tưởng tượng được dịp tuôn chảy dạt dào” Dẫu chỉ gặp vợ trong mơ nhưng lời thơ đầy hình ảnh
và cảm xúc chân thành: ''Mộng trung phân minh kiến /Tầm ngã giang chi
mi Nhan sắc thị trù tích,/ Y sức đa sâm mi, /Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn, Kế
ngôn cửu biệt ly'' (Ký mộng) (Nay trong mộng thấy rõ ràng/Tìm ta ở bến
sông/ Vẻ mặt vẫn như xưa/ Nhưng áo quần trông xốc xếch/ thoạt tiên kể những nỗi ốm đau/ Rồi than thở nỗi lâu ngày xa cách) Vì nhớ chồng, người
vợ bất chấp tất cả những khó khăn: ''Điệp Sơn đa hổ trĩ, Lam thủy đa giao
ly./ Đạo lộ hiểm thả ác, /Nhược chất tương hà y ?'' (Ký mộng) (Núi Tam điệp
nhiều hổ báo/ Sông Lam lắm thuồng luồng/Đường đi hiểm trở khó khăn/
Trang 40Thân yếu đuối biết nhờ cậy ai?) Nguyễn Du vẽ ra bao nhiêu chuyện đi tìm
chồng cực kỳ khó khăn nhưng vì nhớ nhau người vợ đành phải liều Tình cảm ấy thật đẹp! Người vợ Nguyễn Du vượt qua tất cả chỉ để nói lên tiếng nói tình yêu Và người chồng càng tuyệt vời hơn tưởng tượng ra tất cả những điều ấy trong giấc mộng Phải yêu thương vợ biết bao thì Nguyễn
Du mới có những dòng chân thành, xúc động đến như vậy
Cuộc sống của Nguyễn Du phiêu bạt nay đây mai đó, nên ông luôn lo lắng cho những người anh em của mình: ''Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán''
(Quỳnh Hải nguyên tiêu) ( Chốn non Hồng không còn nhà, anh em tan tác)
Không nhà cửa, không người thân, anh em xiêu lạc mỗi người một ngả ông cảm thấy buồn vì đã lâu lắm rồi ông không có tin tức gì về Tiên Điền Số anh em trong quê hoàn toàn không tin tức: ''Cố hương đệ muội âm hao
tuyệt / Bất kiến bình an nhất chỉ thư'' (Em trai em gái nơi quê nhà bặt hẳn tin tức, Chhẳng thấy một bức thư báo bình an - Sơn cư mạn hứng).
Ngoài những người ruột thịt thân thích, nhà thơ xót thương những người có tài và có tình như các ca nữ đất La thành (thành Nghệ An) đẹp thắm như từ cõi tiên xuống mà bạc mệnh: “Nhất chi nùng diệm há bồng doanh / Xuân sắc yên nhiên động lục thành” (Cành hoa đẹp thắm từ cõi tiên
xuống / Sắc đẹp uyển chuyển làm rung động sáu thành) (Điếu La thành ca
giả: Viếng ca nữ đất La thành) Nguyễn Du thương cảm sâu sắc đối với
những kẻ tài hoa bạc mệnh: Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh ? (Thiên hạ, ai
người thương kẻ bạc mệnh ?)
Nguyễn Du đặc biệt xót thương những người lao động nghèo khổ ở quê hương mình, những người đầu tắt mặt tối “đòn gánh tre chín dạn hai vai” Cuộc sống của “chúng sinh” Hồng Lam nhiều lần đi vào thơ ông dưới góc nhìn đầy nhân ái bao dung: “Đoản sa ngư chẩm cô chu nguyệt” (Người dân chài nằm gối áo tơi trong chiếc thuyền lẻ loi dưới ánh trăng), “Khả tích Hồng sơn thuộc vãn tiều” (Người tiều phu núi Hồng hái củi buổi chiều) Lúc
đi qua núi Phượng Hoàng, ông đã từng viết: “Dã túc phùng tiều giả / Tương